i MỤC LỤC DANH MỤC VIẾT TẮT v PHẦN MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài 1 2 Mục đích nghiên cứu 2 3 Phạm vi nghiên cứu 3 4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3 5 1 Đối tượng nghiên cứu 3 5 2 Khách thể nghiên cứu[.]
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại trường Tiểu học Bình Hòa, nhóm nghiên cứu dự kiến
- Tìm hiểu thực trạng kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường TH Bình Hòa, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
Để nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh tiểu học Bình Hòa, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, cần đề xuất một số biện pháp như: tăng cường đào tạo giáo viên về phương pháp giảng dạy kỹ năng tự nhận thức, xây dựng chương trình học phù hợp và hấp dẫn, tổ chức các hoạt động ngoại khóa nhằm phát triển kỹ năng sống cho học sinh, cũng như khuyến khích sự tham gia của phụ huynh trong quá trình giáo dục.
Đối tượng, khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức của học sinh lớp 3
Khách thể nghiên cứu
Học sinh khối 3 tại trường Tiểu học Bình Hòa ,Thành phố Thuận An,tỉnh Bình Dương
Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh tiểu học
Tại Trường TH Bình Hòa, TP Thuận An, tỉnh Bình Dương, hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 đang được tổ chức với nhiều hình thức đa dạng Thực trạng cho thấy rằng việc triển khai các chương trình giáo dục này gặp một số thách thức, nhưng cũng đã đạt được những kết quả tích cực trong việc nâng cao nhận thức và phát triển kỹ năng cho học sinh Các giáo viên đã áp dụng các phương pháp dạy học sáng tạo, giúp học sinh tự tin hơn trong việc thể hiện bản thân và nhận diện giá trị cá nhân.
5.3 Đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh Trường tiểu học Bình Hòa, TP Thuận An, tỉnh Bình Dương
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Mục đích: thu thập các dữ liệu liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu nhằm cung cấp cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, cần đọc và tra cứu tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như Internet, sách và báo Từ đó, phân tích và tổng hợp thông tin liên quan đến tính tự giác trong học tập của học sinh nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
- Mục đích: Thu thập thông tin thực tiễn để tìm hiểu tinh thần tự giác của học sinh tại trường
Vào thứ Hai và thứ Sáu hàng tuần trong tháng, chúng tôi sẽ thực hiện quan sát thực tế quá trình học tập của học sinh lớp 3 tại trường Tiểu học Bình Hòa.
6.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục
Tiến hành khảo sát và điều tra các đối tượng như giáo viên, tổng phụ trách đội và học sinh tại trường tiểu học nhằm thu thập thông tin cần thiết cho nghiên cứu đề tài.
- Mục đích: Thu thập thông tin từ phía học sinh, giáo viên, tổng phụ trách đội
- Cách tiến hành: Cho toàn bộ giáo viên, tổng phụ trách đội và học sinh trả lời trên phiếu bằng các câu hỏi
6.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Mục đích: Thu nhập tin khoa học, nhận định, đánh giá của các chuyên gia giáo dục liên quan đến đề tài nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, cần tìm đọc và chắt lọc các nhận định, đánh giá từ tài liệu của các chuyên gia, đồng thời phỏng vấn Ban giám hiệu, một số giáo viên và tổng phụ trách đội tại trường tiểu học Bình Hoà, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Qua đó, chúng ta sẽ tổng hợp những ý chính liên quan đến đề tài nghiên cứu.
6.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Mục đích của nghiên cứu là khám phá tính chất và đặc điểm của con người, cũng như hoạt động sản xuất ra các sản phẩm như sổ sách, nhật ký và sản phẩm lao động của học sinh, giáo viên và cán bộ giáo dục.
Nghiên cứu sản phẩm học tập của học sinh giúp xác định ý thức, trình độ phát triển trí tuệ, thái độ, hứng thú và xu hướng học tập cũng như sinh hoạt của các em.
Phương pháp thống kê toán học
Mục đích của việc xử lý các số liệu thu thập từ khảo sát là để phân tích và đánh giá thực trạng, từ đó tạo cơ sở vững chắc cho việc đề xuất các giải pháp hiệu quả.
Để tiến hành phân tích dữ liệu, bạn cần sử dụng phần mềm Microsoft Excel để nhập liệu và kiểm tra Sau đó, thực hiện thao tác Pivot nhằm tính tần số và tần suất (tỷ lệ phần trăm) cho các tiêu chí như tự giác hoàn thành bài tập về nhà, chuẩn bị bài và phát biểu ý kiến.
Khái quát về khảo sát thực trạng
Mục đích khảo sát
Khảo sát này nhằm đánh giá thực trạng giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường TH Bình Hòa, làm rõ những thành tựu và hạn chế hiện có Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình hình này, từ đó đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hiệu quả hơn cho học sinh.
TP Thuận An, tỉnh Bình Dương trong thời gian tới.
Nội dung khảo sát
Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát để phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường TH Bình Hòa, TP Thuận An, tỉnh Bình Dương Các hoạt động khảo sát nhằm thu thập thông tin thực tiễn liên quan đến giáo dục kỹ năng này.
Khảo sát giáo viên tại Trường TH Bình Hòa, TP Thuận An, tỉnh Bình Dương cho thấy tầm quan trọng của việc tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 Những hoạt động này không chỉ giúp học sinh phát triển khả năng tự đánh giá bản thân mà còn nâng cao sự tự tin và khả năng giao tiếp Việc giáo dục kỹ năng tự nhận thức là cần thiết để hình thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của học sinh trong tương lai.
Khảo sát ý kiến phụ huynh về tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường TH Bình Hòa, TP Thuận An, tỉnh Bình Dương, nhằm nâng cao nhận thức và phát triển toàn diện cho trẻ.
Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường Tiểu học Bình Hòa, TP Thuận An, tỉnh Bình Dương cho thấy nhu cầu phát triển kỹ năng này là rất cần thiết Việc giáo dục tự nhận thức giúp học sinh hiểu rõ bản thân, từ đó nâng cao khả năng học tập và phát triển toàn diện Các hoạt động giáo dục cần được thiết kế phù hợp với độ tuổi và tâm lý của trẻ, nhằm khuyến khích sự tham gia tích cực và tạo ra môi trường học tập hiệu quả.
Phương pháp nghiên cứu thực trạng
Đề tài thiết kế phiếu khảo sát nhằm phục vụ cho các cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh tại trường Tiểu học Bình Hòa Quy trình thiết kế bảng hỏi được thực hiện qua ba giai đoạn chính.
* Giai đoạn 1: Thiết kế phiếu khảo sát
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường TH Bình Hòa Từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm cải thiện và tổ chức hiệu quả hơn hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại trường này.
Tại TH Bình Hòa, TP Thuận An, tỉnh Bình Dương, việc thu thập dữ liệu ban đầu từ giáo viên và học sinh là rất quan trọng Do đó, cần thiết lập một bảng khảo sát để ghi nhận ý kiến và thông tin từ những người đang giảng dạy và học tập tại trường.
Tiểu học Bình Hòa Thông qua bảng hỏi mở, tác giả tổng hợp, phân tích để tiến hành giai đoạn
* Giai đoạn 2: Thiết kế và hoàn thiện bảng khảo sát chính thức
Từ kết quả thu được sau khi phát bảng hỏi mở, kết hợp với những lý luận của đề tài, tiến hành thiết kế bảng hỏi thử
Sau đó bảng hỏi thử được phát cho giáo viên hướng dẫn để góp ý về hình thức
Bảng hỏi đã được chỉnh sửa dựa trên ý kiến của giáo viên hướng dẫn về ngôn ngữ, số lượng, nội dung và thiết kế Đồng thời, các câu hỏi chính thức cũng đã được hoàn thiện để khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường TH Bình Hòa, TP Thuận An, tỉnh Bình Dương.
* Giai đoạn 3: Tiến hành khảo sát chính thức
Chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra chính thức cho hai nhóm đối tượng, bao gồm cán bộ quản lý và giáo viên giảng dạy, cùng với học sinh tại trường Tiểu học Bình Hòa (xem phụ lục 1 và phụ lục 2)
Mẫu khảo sát
Mẫu khảo sát được chọn tổng thể giáo viên và học sinh lớp 3 đang học tại trường Tiểu học Bình Hòa
Sau khi khảo sát, tác giả đã xử lý phiếu trưng cầu ý kiến và số liệu thống kê để phân tích và so sánh Việc này bao gồm việc xây dựng các bảng biểu phục vụ cho nghiên cứu, đồng thời đánh giá các nội dung được hỏi thông qua việc tổng hợp số lượng và tỷ lệ các phương án, nội dung trả lời từ phiếu trưng cầu.
Khảo sát tất cả cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh viên đang học trường Tiểu học Bình Hòa kết quả thu được như sau:
Bảng mô tả mẫu nghiên cứu
Tổng số học sinh lớp 3 399 /798
Tổng số giáo viên đang công tác tại trường Tiểu học Bình Hòa 104
Kế hoạch nghiên cứu
STT Nội dung thực hiện Thời gian thực hiện Người thực hiện
1 Phát thảo ý tưởng 14 – 20/6/2022 Cả nhóm
2 Xây dựng đề cương 25 – 28/6/2022 Cả nhóm
Nghiên cứu các tài liệu, văn bản liên quan đến đề tài nghiên cứu
Tình hình triển khai tìm hiểu “tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường TH Bình Hòa, TP
Thuận An, tỉnh Bình Dương
Hoàn thành chương 3 21/5/2022 – 20/6/2022 Cả nhóm
Chỉnh sửa và hoàn thiện đề tài
In ấn chuẩn bị báo cáo trước hội đồng
Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kêt luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài nghiên cứu gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh tiểu học
Chương 2: Thực trạng triển khai các hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường TH Bình Hòa
Chương 3: Đề xuất những biện pháp nhằm cải thiện các hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường TH Bình Hòa
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
Lịch sử về vấn đề nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự phát triển của tự nhận thức bản thân, như công trình của JB Asendorpf và các cộng sự vào năm 1993, cho thấy trẻ hai tuổi bắt đầu có dấu hiệu tự nhận thức trước khi sử dụng ngôn ngữ Nghiên cứu của Kenneth B Clark và Mamie K Clark từ Đại học York cũng cho rằng trẻ em khám phá bản thân qua việc so sánh cơ thể mình với người khác, đồng thời bắt chước hành vi để hiểu rõ hơn về chính mình.
Nhà tâm lý học A Pfender đã phát triển khái niệm tự ý thức từ sự phân biệt giữa "Cái tôi" và tự ý thức Ông cho rằng tất cả các hiện tượng tâm lý đều là cảm xúc trực tiếp gắn liền với ý thức, mà ý thức không chỉ là sự phản ánh mà là một cái bên trong có sẵn Chủ thể tâm lý có khả năng tự nhận thức về bản thân, với hình ảnh của chính mình bao gồm hạt nhân và ngoại biên Hạt nhân là cuộc sống quá khứ và ý thức về khả năng hành động, trong khi ngoại biên bao gồm những yếu tố bên ngoài như quần áo, thân thể và tài sản Khi hình ảnh này trở thành đối tượng của ý thức, tự ý thức xuất hiện như một màn ảnh phản chiếu biểu tượng về bản thân của chủ thể tâm lý.
GS Philippe Rochat, thuộc khoa Tâm lý học tại Đại học Emory, Mỹ, đã nghiên cứu về tự ý thức và công bố công trình "Năm mức độ tự ý thức mà trẻ bộc lộc ở những năm đầu đời" Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển tự ý thức ở trẻ nhỏ.
[12] Trong đó, ông đã phân tích năm mức độ tự ý thức của trẻ gồm có:
Nhà tâm lý học P Janet đã có những đóng góp quan trọng trong việc hiểu bản chất của tự ý thức, cho rằng tâm lý con người bị ảnh hưởng bởi sự tương tác xã hội Trong quá trình giao tiếp và hoạt động tập thể, con người tiếp thu các hành vi, quan hệ và thái độ từ người khác, từ đó hình thành nên hành vi của chính mình Quan điểm của Janet nhấn mạnh tự ý thức như một thuộc tính cơ bản của nhân cách, được hình thành trong bối cảnh các mối quan hệ xã hội phức tạp, góp phần vào việc phát triển quan niệm duy vật về tự ý thức.
Nghiên cứu của S Franz đã chỉ ra sự khác biệt giữa "Tự nhận thức" và "Tự ý thức" trong quá trình hình thành nhân cách Ông khẳng định rằng tự nhận thức là một thành phần quan trọng của tự ý thức, diễn ra qua quá trình nhận thức bản thân và kết quả của quá trình này Tự nhận thức được coi là một quá trình phong phú và phức tạp, bao gồm các quá trình thành phần liên quan chặt chẽ với nhau, tuy nhiên có thể tách rời một cách tương đối về mặt lý thuyết.
Ngoài các nghiên cứu của các nhà khoa học quốc tế đã đề cập, các nhà khoa học và nhà giáo dục Việt Nam cũng đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đáng chú ý.
Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, tự ý thức của trẻ em bắt đầu hình thành từ cuối giai đoạn nhà trẻ và tiếp tục phát triển trong suốt thời kỳ mẫu giáo Tác giả nhấn mạnh rằng khả năng tự ý thức đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động vui chơi và học tập của trẻ ở lứa tuổi mầm non.
Ngô Công Hoàn nghiên cứu sự hình thành và phát triển tự ý thức ở trẻ mẫu giáo, coi đây là hạt nhân quan trọng trong nhân cách trẻ Tự ý thức không chỉ là mầm mống mà còn là tiền đề để gia đình và xã hội thúc đẩy quá trình giáo dục thành tự giáo dục cho trẻ và người lớn sau này.
Các tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển khả năng tự ý thức ở trẻ em Họ chỉ ra rằng, khả năng tự ý thức là điều kiện cần thiết để trẻ hoàn thiện nhân cách trong giai đoạn mầm non và tiếp theo là trong trường phổ thông.
Tác giả Lê Ngọc Lan đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tự đánh giá và các yếu tố nội tại của nhân cách, cũng như sự khác biệt giới tính và tính chất môn học, ảnh hưởng đến cách đánh giá của cá nhân qua các giai đoạn khác nhau.
Nổi bật có công trình nghiên cứu về sự tự ý thức của học sinh tiểu học như đề tài TS
Vũ Thị Nho đã nghiên cứu khả năng tự đánh giá của học sinh tiểu học, nhấn mạnh rằng sự tự nhận thức bản thân là cơ sở cho quá trình tự đánh giá của các em Tác giả chỉ ra rằng tự nhận thức ở lứa tuổi này chưa ổn định và dễ bị ảnh hưởng bởi đánh giá từ thầy cô và bạn bè Mặc dù kết quả nghiên cứu gần gũi với đề tài, nhưng chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về tự nhận thức của học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 3.
Nghiên cứu cho thấy kỹ năng tự nhận thức của học sinh tiểu học còn hạn chế từ góc nhìn của học sinh, phụ huynh và nhà trường Điều này củng cố giả thuyết nghiên cứu của tôi Một gợi ý tích cực là cần cụ thể hóa các câu hỏi dành cho học sinh và phụ huynh để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình.
Trong giáo dục tiểu học, phát triển kỹ năng tự nhận thức là yếu tố then chốt, giúp xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển cá nhân của trẻ.
Kỹ năng tự nhận thức là yếu tố quan trọng giúp học sinh tiểu học hiểu rõ bản thân, quản lý cảm xúc và tư duy hiệu quả, từ đó nâng cao khả năng tự quản lý và phát triển tinh thần tích cực.
Tạo môi trường học tập ủng hộ và an toàn là cơ sở lý luận quan trọng trong việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh tiểu học Trường học cần khuyến khích học sinh thể hiện ý kiến, quan điểm và cảm xúc một cách tự do Việc tham gia vào các hoạt động tự nhận thức không chỉ giúp học sinh phát triển lòng tự tin mà còn khuyến khích sự chia sẻ giữa các em.
Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm về ý thức Ý thức theo tâm lý học được định nghĩa là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con người Ý thức là sự phản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người đã tiếp thu trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác-Lenin là một phạm trù song song với phạm trù vật chất Theo đó, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cái biến và sáng tạo Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất”
1.2.2 Khái niệm về nhận thức
Nhận thức là trạng thái có ý thức về một cái gì đó, cụ thể là khả năng biết và cảm nhận các sự kiện Nó được định nghĩa là trạng thái mà chủ thể nhận thức thông tin khi thông tin đó sẵn có để thực hiện các hành động Khái niệm này thường đồng nghĩa với ý thức và cũng được hiểu là bản thân ý thức.
Nhận thức liên kết chặt chẽ với kinh nghiệm, phản ánh cấu trúc của thế giới khách quan trong ý thức con người Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam”, nhận thức là quá trình biện chứng từ trực quan đến tư duy trừu tượng và ngược lại, trải qua các giai đoạn nhận thức cảm tính, lý tính và thực tiễn Thực tiễn không chỉ là tiêu chuẩn của chân lý mà còn là động lực và mục đích của nhận thức Mục tiêu cuối cùng của nhận thức là không chỉ giải thích mà còn cải tạo thế giới.
Sự nhận thức trong giai đoạn này có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn thực tiễn, vì nó là một quá trình liên tục và không ngừng phát triển, gắn liền với các hoạt động thực tiễn.
Có nhiều quan niệm khác nhau khi xây dựng khái niệm “Nhận thức”, nhưng đều cùng khẳng định rằng nhận thức là một quá trình
Theo triết học Mác-Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng của thực tiễn khách quan vào tư duy con người, thể hiện tính tích cực, năng động và sáng tạo dựa trên kinh nghiệm thực tiễn.
Theo quan điểm của tâm lý học nhận thức, nhà tâm lý học và giáo dục học Jean Piaget
Theo Jean Piaget (1896 – 1986), sự phát triển nhận thức của trẻ em liên quan đến việc thu thập các cấu trúc nhận thức và nguyên tắc để hiểu và tương tác với thế giới xung quanh, từ đó tư duy và giải quyết vấn đề Các nguyên tắc này được thể hiện qua hai hình thức: sơ đồ và hệ lý thuyết Sơ đồ là tập hợp các quy tắc xác định cách thức và điều kiện hành xử, thể hiện qua chuỗi hành động cảm giác – vận động có tổ chức Chuỗi hành động trong sơ đồ là cố định và không thể đảo ngược Ví dụ, cấu trúc nhận thức của trẻ sơ sinh bao gồm các sơ đồ như mút, với và nhìn.
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh và cộng sự [18] định nghĩa:
Giáo dục là quá trình có tổ chức và có kế hoạch, nhằm tác động đến người học thông qua nội dung và phương pháp khoa học, với mục tiêu hình thành nhân cách cho họ trong các cơ sở giáo dục.
Giáo dục, theo nghĩa hẹp, là quá trình hình thành lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, và tính cách cho người học Quá trình này giúp họ phát triển những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức các hoạt động và giao lưu.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi hiểu giáo dục theo nghĩa hẹp, tập trung vào việc hình thành nhân cách thông qua tổ chức các hoạt động và giao lưu, nhằm áp dụng những kiến thức và kỹ năng đó vào thực tiễn cuộc sống.
Khi nghiên cứu về khái niệm kỹ năng, có nhiều quan điểm khác nhau và không có một định nghĩa cụ thể nào Mỗi cá nhân có thể có những cách hiểu và định nghĩa riêng về kỹ năng.
Theo Thái Duy Tiên, kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động, bao gồm các thao tác trí tuệ và thực hành Việc thực hiện đầy đủ hệ thống thao tác này giúp đạt được các mục tiêu đã đề ra Quan trọng là sự thực hiện kỹ năng luôn được kiểm tra qua ý thức, nghĩa là mỗi kỹ năng cần phải hướng tới một mục đích cụ thể.
Theo L.Đ.Lêvitôv, kỹ năng được định nghĩa là khả năng thực hiện hiệu quả một động tác hoặc hoạt động phức tạp thông qua việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp phù hợp, dựa trên những điều kiện nhất định Ông nhấn mạnh rằng những người có kỹ năng không chỉ cần hiểu lý thuyết mà còn phải biết vận dụng chúng một cách chính xác trong thực tiễn để đạt được hiệu quả cao trong hành động.
Kỹ năng được định nghĩa là khả năng áp dụng kiến thức và sự hiểu biết của con người để thực hiện một công việc, từ đó tạo ra kết quả mong muốn.
1.2.5 Khái niệm kỹ năng tự nhận thức
Sự tự nhận thức là khả năng hiểu rõ về bản thân, bao gồm việc nhận biết nhu cầu và mong muốn của chính mình, xác định điểm mạnh và điểm yếu, cũng như nhận thức về tư duy, niềm tin, cảm xúc và động lực thúc đẩy trong cuộc sống.
Kỹ năng nhận thức bản thân không chỉ giúp bạn hiểu rõ về chính mình mà còn tạo điều kiện để bạn thấu hiểu người khác, bao gồm cách họ nghĩ về bạn và cách bạn phản ứng với họ.
Vai trò của kỹ năng tự nhận thức đối với học sinh tiểu học
Kỹ năng tự nhận thức đóng vai trò quan trọng đối với học sinh, giúp họ phát triển bản thân và thích nghi với xã hội hiện đại Việc hiểu rõ về bản thân không chỉ nâng cao khả năng học tập mà còn tạo điều kiện cho sự thành công trong tương lai.
+ Hiểu rõ bản thân có thể làm được điều gì?
Xã hội hiện đại với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ đã tạo ra nhiều thiết bị thông minh như điện thoại và máy tính, mang lại tiện lợi cho con người Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào công nghệ đang khiến nhiều học sinh trở nên thụ động, dẫn đến việc sao nhãng học tập và thiếu sự sáng tạo Hệ quả nghiêm trọng hơn là học sinh không nhận thức được khả năng, mong muốn và những gì cần làm để phát triển bản thân.
Để trẻ có thể tự làm chủ cuộc sống, việc dạy kỹ năng tự nhận thức bản thân là rất quan trọng Trẻ cần xác định đúng đắn giá trị bản thân, từ đó hiểu rõ vị trí, năng lực và khả năng phát triển của chính mình.
Khi trẻ nhận thức được khả năng của bản thân, sự tự tin trong học tập, công việc và cuộc sống sẽ được nâng cao Điều này giúp trẻ dám thử thách, sẵn sàng thay đổi và nỗ lực hết mình để đạt được mục tiêu.
+ Xác định đâu là thế mạnh và điểm yếu của bản thân?
Kỹ năng tự nhận thức là nền tảng quan trọng giúp bạn xây dựng cuộc sống mong muốn Nó giúp xác định những thế mạnh và điểm yếu của bản thân, từ đó phát huy sở trường và khả năng tiềm ẩn Nhờ vào sự tự nhận thức, bạn có thể sống tích cực hơn và tránh những ảo tưởng về giá trị của mình, đồng thời biết cách thay đổi và khắc phục những khuyết điểm.
Kỹ năng tự đánh giá giúp học sinh nhận thức rõ về khả năng của bản thân, từ đó xác định mục tiêu phấn đấu cho tương lai Nhờ vậy, các em có thể đưa ra lựa chọn đúng đắn và lập kế hoạch cụ thể phù hợp với khả năng, hoàn cảnh thực tế và nhu cầu của xã hội.
Xác định sở thích và ước mơ là động lực quan trọng giúp mỗi người phát triển và sống tích cực Kỹ năng tự nhận thức đóng vai trò then chốt trong việc nhận diện đam mê và ước mơ của bản thân Điều này không chỉ giúp trẻ hiểu rõ những gì cần làm để hiện thực hóa ước mơ, mà còn xác định các yếu tố cần phát triển để chinh phục những mục tiêu mong muốn.
Nội dung giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh tiểu học
Để phát triển kỹ năng tự nhận thức, giáo viên và phụ huynh nên hỗ trợ trẻ khám phá bản thân thông qua việc đặt ra những câu hỏi quan trọng.
- Con thấy mình như thế nào?
- Con có những đức tính tốt đẹp nào?
- Con thích cái gì và không thích cái gì?
- Con thường làm tốt những việc gì và chưa làm tốt những Việc gì?
Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh tiểu học
Trong tài liệu "Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh tiểu học", tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã giới thiệu 6 phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho giáo viên tiểu học.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống
Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh tiểu học 15 1.7 Tầm quan trọng của kỹ năng tự nhận thức
Trong tài liệu "Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh tiểu học", tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã nêu rõ 7 hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng sống dành cho giáo viên tiểu học.
- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền truyền thống dân tộc, đất nước, nhà trường
- Giảng dạy lồng ghép giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự nhận thức vào các môn học
- Tổ chức hoạt động phong trào nuôi heo đất, phong trào kế hoach nhỏ, đền ơn đáp nghĩa
- Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh để giúp đỡ các em học hành tiến bộ và có thêm niềm vui khi đến trường
- Phối hợp với Đội TNTP, giáo viên trong việc tăng cường giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn
- Tham gia các hoạt động: tập thể, hát hoa dân chủ, lao động, bảo vệ môi trường
- Thực hiện công tác khen thưởng, tuyên dương đối với cá nhân, tập thể thực hiện tốt và có tiến bộ trong quá tập luyện, thi đua
1.7 Tầm quan trọng của kỹ năng tự nhận thức
Tự nhận thức là một trong những thuộc tính của trí tuệ cảm xúc và là một yếu tố quan trọng trong việc đạt được thành công
Tự nhận thức là một kỹ năng thiết yếu giúp bạn đối diện với những khó khăn trong cuộc sống một cách bình thản và tự tin Nó không chỉ xây dựng sự đồng cảm mà còn giúp bạn nhận ra những sai lầm của bản thân và phát triển lòng khoan dung Kỹ năng này còn giúp bạn tránh xa các tệ nạn xã hội, đồng thời là nền tảng cho các năng lực tư duy cảm xúc khác Việc phát triển kỹ năng tự nhận thức không chỉ quan trọng đối với học sinh mà còn là chìa khóa dẫn đến thành công, giúp họ tin vào mục tiêu và phát triển toàn diện về trí tuệ, cảm xúc và hành vi.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học
Học sinh tiểu học bắt đầu tiếp cận thế giới qua lý trí, hình thành suy nghĩ và quan điểm riêng, không còn hoàn toàn phụ thuộc vào cảm xúc Tuy nhiên, nhận thức của các em vẫn còn non nớt, với sự tò mò và ham muốn tìm hiểu nhưng dễ bị xúc động, thiếu kiên nhẫn và chưa hiểu rõ về sự vật, hiện tượng.
Theo Bệnh viện Quốc tế Vinmec (2022), tuổi nhi đồng từ 6 đến 10 tuổi là giai đoạn quan trọng trong cuộc đời trẻ Đây là thời điểm trẻ bắt đầu đi học, đánh dấu một sự kiện lớn trong cuộc sống Trẻ phải thích nghi với những quy tắc và phương thức học tập nghiêm ngặt, đồng thời tiếp thu kiến thức trừu tượng cùng với kỹ năng đọc và viết.
Trí thông minh được thể hiện qua tư duy logic và khả năng hệ thống hóa các kiến thức trừu tượng liên quan đến các đối tượng cụ thể Suy nghĩ mở rộng và các hoạt động tương tác giúp trẻ giảm tình trạng tự tập trung vào bản thân Đây là lần đầu tiên trẻ nhỏ sống trong môi trường mới bên ngoài gia đình, nơi mà mối quan hệ với thầy cô giáo trở nên quan trọng, cũng như khả năng hợp tác với bạn bè cùng lứa, hiểu và tôn trọng luật chơi, mặc dù trẻ vẫn chưa có bạn thân.
Tư duy là khả năng hiểu và áp dụng các nguyên lý cơ bản như bảo tồn vật chất và trọng lượng, cùng với việc nắm vững tính đảo ngược Điều này bao gồm việc phát triển khái niệm về thời gian và không gian, cũng như thực hiện các phép toán cộng, trừ, nhân, chia một cách hiệu quả.
Tư duy trừu tượng và có khả năng khái quát hóa
Tình cảm đạo đức bao gồm hợp tác và sự tự tin cá nhân, với việc hiểu rõ giá trị của trung thực, công bằng và hợp tác Đối với học sinh lớp 3, trí nhớ trực quan phát triển mạnh mẽ hơn so với trí nhớ từ ngữ; ví dụ, các em dễ dàng mô tả một chú chim bồ câu sau khi xem hình ảnh hơn là khi chỉ nghe định nghĩa bằng lời nói về đặc điểm của nó.
Trẻ em thường bị thu hút bởi những môn học có đồ dùng học tập sinh động, tranh ảnh hấp dẫn, trò chơi thú vị và sự hướng dẫn tận tình từ giáo viên Tuy nhiên, trẻ vẫn gặp khó khăn trong việc tập trung, ghi nhớ và chú ý có chủ định, đồng thời có tính hiếu động và dễ xúc động Chúng có khả năng ghi nhớ nhanh nhưng cũng dễ dàng quên đi kiến thức đã học.
Học sinh tiểu học thường có tâm trạng vui tươi và sảng khoái, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục chuẩn mực đạo đức và hình thành phẩm chất trí tuệ cần thiết.
Các đặc điểm tiêu biểu về tâm lý của học sinh tiểu học
➢ Thích tìm hiểu những điều mới mẻ
Trẻ em tiểu học thường rất hiếu động và tò mò, điều này tạo cơ hội cho phụ huynh dạy trẻ những kiến thức và kỹ năng mới Việc này không chỉ giúp trẻ tiếp thu tri thức cơ bản một cách hiệu quả mà còn xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai.
➢ Đặc điểm về tri giác
Tri giác của học sinh tiểu học còn yếu và thường dựa vào cảm tính, chưa phân tích rõ bản chất vấn đề Do đó, phụ huynh và giáo viên cần kết hợp các kỹ năng khác ngoài phương pháp dạy truyền thống Sử dụng hình ảnh, vật dụng hoặc cho trẻ thực hành trực tiếp sẽ giúp bé rèn luyện kỹ năng quan sát, xem xét và nhận biết thuộc tính của sự vật, hiện tượng, từ đó phát triển tri giác tốt hơn.
➢ Đặc điểm về tính cách
Tính cách của trẻ, như sự trầm lặng, sôi nổi hay mạnh dạn, thường hình thành từ rất sớm, ngay cả trước khi đến trường Tuy nhiên, những đặc điểm này chưa ổn định và có thể thay đổi do ảnh hưởng từ môi trường giáo dục, gia đình và xã hội Học sinh tiểu học thường có nhiều đặc trưng tích cực như sự hồn nhiên, chân thực, lòng vị tha và tính ham hiểu biết Vì vậy, phụ huynh nên tạo điều kiện để trẻ phát triển những mặt tích cực này.
Tính hay bắt chước là đặc trưng của trẻ em, khi chúng thường bắt chước hành vi và cử chỉ từ những người xung quanh hoặc nhân vật trong phim Tuy nhiên, nếu không được hướng dẫn đúng cách, tính bắt chước này có thể trở thành "con dao hai lưỡi" Do đó, bố mẹ cần lưu ý tạo ra một môi trường tích cực và cung cấp những tấm gương tốt để trẻ có thể noi theo.
Trẻ nhỏ rất thích được khen ngợi và công nhận từ bố mẹ, thầy cô và những người xung quanh Việc dành lời khen chân thành trong quá trình học tập và rèn luyện sẽ giúp trẻ có thêm động lực để phát triển.
➢ Có sự thay đổi về tâm sinh lý
Tâm sinh lý của học sinh tiểu học thường thay đổi liên tục và chưa ổn định, dẫn đến những biểu hiện cảm xúc bất thường như cười khi đang khóc hoặc giận dỗi khi vui Do đó, bố mẹ cần chú ý và quan tâm hơn đến con cái để nhận biết và hiểu rõ những thay đổi này.
➢ Tư duy và trí tưởng tượng
Tư duy của học sinh tiểu học thường mang tính trực quan và chưa phát triển khả năng suy luận logic, dẫn đến việc các em dễ dàng đi lệch khỏi vấn đề và dựa vào các mối liên hệ ngẫu nhiên để tư duy Tuy nhiên, qua quá trình học tập và giảng dạy bài bản, trẻ sẽ dần chuyển từ việc nhận thức bề nổi của hiện tượng sang hiểu rõ bản chất của chúng Đặc biệt, trí tưởng tượng của trẻ ở bậc tiểu học phát triển phong phú hơn so với lứa tuổi mầm non, mặc dù vẫn còn tản mạn và ít tổ chức Khi tiến gần đến cuối cấp tiểu học, khả năng tưởng tượng của trẻ sẽ trở nên gần gũi hơn với thực tế và đầy đủ hơn về các yếu tố khách quan.
Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể diễn ra trong một môi trường xã hội nhất định Lý thuyết và thực tiễn đã chỉ ra rằng nhân cách con người chỉ được hình thành và phát triển khi có sự tương tác với môi trường xung quanh Đặc biệt, lứa tuổi học sinh chịu ảnh hưởng từ gia đình, nhà trường và cộng đồng, cùng với các yếu tố văn hóa, kinh tế và chính trị.
Có hai loại môi trường ảnh hưởng đến nhân cách của con người: môi trường tự nhiên, bao gồm điều kiện tự nhiên, địa lý và khí hậu, và môi trường xã hội, liên quan đến hệ thống quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội - lịch sử, đặc biệt là giáo dục Hai yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Hoàn cảnh sống sẽ được ghi dấu trong tâm lý của học sinh thông qua phương thức sống của mỗi cá nhân.
Để xây dựng nội dung giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho trẻ, cần đảm bảo tính đơn giản, dễ hiểu và phù hợp với khả năng tiếp thu của trẻ Phương pháp tổ chức nên linh động và sáng tạo, sử dụng hình ảnh và video minh họa sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh.
Thông qua cơ sở lý luận và thực tiễn về kỹ năng tự nhận thức của học sinh ở chương
Việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 3, là rất quan trọng Bài viết đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến sự tự nhận thức bản thân, làm rõ khái niệm này thông qua phân tích định nghĩa, vai trò và nội dung của tự ý thức Nghiên cứu cũng xem xét các vấn đề liên quan đến tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức và tham khảo các đề tài nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của lứa tuổi tiểu học, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho các nội dung tiếp theo của nghiên cứu.
THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 3 TIỂU HỌC TẠI TRƯỜNG TH BÌNH HÒA
Thực trạng của trường tiểu học Bình Hòa
Trường TH Bình Hòa tọa lạc tại số 1, đường Nguyễn Du, phường Bình Hoà, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
Toàn trường có tổng số 104 cán bộ - giáo viên – nhân viên và 82 lớp học và tổng số học sinh là 3528 học sinh
- Khối 1: Có 17 lớp (672 học sinh)
- Khối 2: Có 14 lớp (630 học sinh)
- Khối 3: Có 18 lớp (798 học sinh)
- Khối 4: Có 18 lớp (798 học sinh)
- Khối 5: Có 15 lớp (630 học sinh)
Trong những năm qua, nhờ sự chỉ đạo sát sao từ Ban giám hiệu và Chi uỷ, nhà trường đã chú trọng đến việc giáo dục đạo đức song song với nhiệm vụ dạy học Đặc biệt, nội dung giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 đang được ưu tiên phát triển, nhằm trang bị cho các em những kỹ năng cần thiết.
1.2.6 Những thuận lợi và khó khăn
Chính quyền địa phương, bao gồm Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến nhà trường, đặc biệt là từ ngành Giáo dục và Đào tạo Thành phố Thuận An.
Ban đại diện cha mẹ học sinh thể hiện sự nhiệt tình và quan tâm, đồng thời tạo điều kiện hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động giáo dục, góp phần quan trọng vào việc giúp nhà trường hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành giáo dục và địa phương.
Ban giám hiệu nhà trường gồm đội ngũ lãnh đạo trẻ, nhiệt huyết, luôn chú trọng cập nhật kiến thức và nội dung giáo dục, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện theo chương trình giáo dục phổ thông mới 2018.
Đội ngũ giáo viên tại trường chủ yếu là người địa phương, giúp họ nắm bắt tốt đối tượng học sinh Nhiều giáo viên thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, tận tâm với nghề và luôn nỗ lực học hỏi để nâng cao chuyên môn và kỹ năng giảng dạy.
Cơ sở vật chất của trường hiện đang bị hạn chế, không đủ khả năng đáp ứng cho việc học 2 buổi/ngày Học sinh chỉ có thể học một buổi với thời gian 5 tiết/ngày, và số lượng phòng học chỉ vừa đủ để phục vụ cho việc giảng dạy kiến thức chung.
Nhiều trẻ em, đặc biệt là học sinh lớp 3, thường có tính nhút nhát và chưa tự tin trong các hoạt động Ở độ tuổi này, khả năng tập trung của các em còn hạn chế, và khả năng tiếp thu kiến thức cũng khác nhau giữa các học sinh trong cùng một lớp học.
Dịch Covid-19 đã buộc các trường học phải thực hiện nhiệm vụ kép: vừa dạy học vừa phòng chống dịch Do đó, nhiều hoạt động giáo dục tập trung vào ôn tập kiến thức cũ và giảng dạy kiến thức mới Tuy nhiên, một số hoạt động giáo dục yêu cầu tính tập trung và sự hợp tác của tập thể vẫn gặp khó khăn trong việc tổ chức.
Các khóa học kỹ năng ngoài giờ học chính khóa thường khiến phụ huynh lo ngại về việc tốn thời gian và không phù hợp với lịch trình đưa đón.
Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát để thu thập ý kiến về tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường TH Bình Hòa, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Kết quả khảo sát được trình bày chi tiết trong bảng 2.1 và bảng 2.2.
1.2.7 Thực trạng nhận thức của cán bộ - giáo viên về mức độ quan trọng về việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường TH Bình Hòa, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương”
Bảng 2.1 trình bày kết quả khảo sát của cán bộ giáo viên về tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường Tiểu học Bình Hòa, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Quan trọng Rất quan trọng
1 Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh tiểu học
2 Giúp học sinh hiểu đúng về bản thân, tự tin và sống hạnh phúc hơn
3 Tổ chức các hoạt động tuyên truyền truyền thống dân tộc, đất nước, nhà trường…
4 Tổ chức phong trào thi đua, noi gương người tốt việc tốt, trường học thân thiện, học sinh tích cực
5 Xây dựng môi trường học tập than thiện, động viên, khen thưởng học sinh kịp thời, đúng đối tượng
6 Tham mưu cho BGH và phối hợp với Đội TNTP, giáo viên trong việc tăng cường giúp đỡ
7 Giảng dạy lồng ghép giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự nhận thức vào các môn học
8 Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh để giúp đỡ các em học hành tiến bộ và có thêm niềm vui khi đến trường
Kết quả khảo sát cho thấy giáo viên tại Trường TH Bình Hòa, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 Cụ thể, tỷ lệ các câu hỏi khảo sát về vấn đề này đạt từ 75.66% đến 89.24%, cho thấy rằng việc giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh là cần thiết và rất quan trọng.
Giáo viên thông qua việc tổ chức các hoạt động nhằm phát triển năng lực của học sinh, đồng thời rèn luyện tác phong, đạo đức và ý thức trách nhiệm cá nhân.
Biểu đồ 2.1 thể hiện mức độ quan trọng của việc tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại Trường TH Bình Hòa, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Việc này không chỉ giúp học sinh phát triển bản thân mà còn nâng cao khả năng tự nhận thức, góp phần vào quá trình học tập và rèn luyện kỹ năng sống.
1.2.8 Nhận định của giáo viên về khả năng tự nhận thức của học sinh lớp 3 tại trường TH Bình Hòa
Trong một cuộc khảo sát với 18 giáo viên chủ nhiệm khối lớp 3 tại trường TH Bình Hòa, nhóm nghiên cứu phát hiện rằng các giáo viên thường có cái nhìn tích cực về khả năng tự nhận thức của học sinh.
Bảng 2.2 – Khảo sát giáo viên khối lớp 3 về khả năng tự nhận thức của học sinh lớp 3 tại trường TH Bình Hòa
MỨC ĐỘ Hoàn toàn Phân vân Hoàn toàn không đồng ý đồng ý
1 Học sinh có khả năng nhận biết em giỏi (hay chưa giỏi) điều gì
2 Học sinh có khả năng nhận biết rõ về năng khiếu và khả năng đặc biệt của bản thân
3 Học sinh biết rõ cảm xúc
(vui, buồn, lo lắng…) của mình trong các tình huống
4 Học sinh cảm thấy không tự tin khi sử dụng các điểm mạnh của mình trong việc thực hiện các hoạt động trên lớp
5 Học sinh hiểu được những khó khăn của mình trong học tập
6 Học sinh biết cách để khắc phục những khó khăn của mình trong học tập
Kết quả từ bảng 2.2 cho thấy rằng đa số giáo viên khối lớp đồng ý với khả năng tự nhận thức của học sinh lớp 3, với tỷ lệ 60.13% hoàn toàn đồng ý, 30.34% có ý kiến phân vân và chỉ 11.1% hoàn toàn không đồng ý.
Phần lớn giáo viên nhận định rằng học sinh lớp 3 tại trường TH Bình Hòa có khả năng tự nhận thức tốt, thể hiện qua việc nhận biết rõ cảm xúc và năng khiếu của bản thân Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân là rất quan trọng, đòi hỏi quá trình rèn luyện dài hơi với sự kiên trì, quyết tâm, và ham học hỏi để phát triển toàn diện.
Biểu đồ 2.2: - Nhận định của giáo viên về khả năng tự nhận thức của học sinh lớp 3 tại trường TH Bình Hòa
Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức của thức của học
Bảng 2.3: Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức của thức của học sinh lớp 3 tại trường TH Bình Hòa
Thường xuyên Không thường xuyên
1 Tham gia sinh hoạt dưới cờ thứ hai đầu tuần 399 100 0 0 0 0
2 Tham gia hoạt động trồng cây, tái chế chai nhựa, bảo vệ môi trường
3 Tham gia phong trào nuôi heo đất, phong trào kế hoach nhỏ… 211 52,75 145 36.25 43 10.75
4 Tham gia sinh hoạt tập thể và một số hoạt động khác của sao nhi đồng
5 Tìm hiểu về truyền thống đội
TNTP HCM và chương trình rèn luyện đội viên
6 Tham gia các hoạt động: tập thể, hát hoa dân chủ, khéo léo, nhanh trí, đồng đội…
7 Sinh hoạt các ngày lễ lớn, làm công ích xã hội, công tác đền ơn, đáp nghĩa, về nguồn…
8 Hoạt động thể dục, thể thao: kéo co, đá bóng, đá cầu, nhảy dây… 277 69.25 87 21.75 35 8.75
9 Hoạt động văn hóa, văn nghệ: làm báo tường, ca nhạc, vẽ, cành mai,cành đào ngày tết…
10 Tham quan, học tập, cắm trại, dã ngoại, tổ chức hoạt động trải nghiệm
Kết quả khảo sát cho thấy hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức của học sinh lớp 3 tại trường TH Bình Hòa diễn ra thường xuyên và rất thường xuyên Cụ thể, các nội dung khảo sát 1, 2, 5, 9, 10 đạt tỷ lệ cao từ 78.75% đến 100%, chứng tỏ rằng việc tổ chức hoạt động này cho học sinh là rất phổ biến.
Qua khảo sát thực tế về việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại trường TH Bình Hòa, chúng tôi nhận thấy rằng Ban Giám Hiệu đã chú trọng và thường xuyên tổ chức các hoạt động giáo dục cụ thể nhằm phát triển kỹ năng này cho các em học sinh.
Biểu đồ 2.3: Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức của thức của học sinh lớp 3 tại trường TH Bình Hòa
Qua quá trình quan sát và khảo sát giáo viên cùng học sinh về khả năng tự nhận thức, tôi nhận thấy sự không đồng nhất giữa nhận thức của giáo viên và thực tế tự đánh giá của học sinh lớp 3 tại trường TH Bình Hòa Giáo viên có cái nhìn tích cực hơn về kỹ năng tự nhận thức của học sinh, với phần lớn đồng ý rằng học sinh có khả năng tự nhận thức Tuy nhiên, thực tế chỉ có 50% học sinh có nhận định tương đồng, đặc biệt trong các khía cạnh như nhận biết cảm xúc, hiểu khó khăn trong học tập, và cảm giác tự tin khi sử dụng điểm mạnh trong lớp Điều này sẽ là cơ sở quan trọng để đề xuất biện pháp phù hợp trong chương 3.
ĐỀ XUẤT NHỮNG BIỆN PHÁP NHẰM CẢI THIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC CHO HỌC SINH LỚP 3 TẠI TRƯỜNG TH BÌNH HÒA
Cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp
Một biện pháp thực tiễn cần được xây dựng dựa trên những nguyên tắc nhất định và phải tuân thủ các nguyên tắc đó để đảm bảo tính hiệu quả và khả thi trong quá trình triển khai.
3.1.1 Nguyên tắc bảo đảm tính khoa học Đảm bảo tính khoa học trong quá trình rèn luyện và học tập là vô cùng quan trọng điều này giúp các em có thời gian học tập nhất định và những nội dung được trau dồi phù hợp với khả năng của từng học sinh
3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính mục tiêu
Khi xây dựng các biện pháp, cần xác định mục tiêu rõ ràng, đầy đủ, cụ thể Đây là
“kim chỉ nam” để xây dựng những hành động cụ thể phục vụ những mục tiêu, định hướng được xây dựng trước đó
3.1.3 Nguyên tắc bảo đảm tính kế thừa
Quan sát các biện pháp giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh trong các khóa học trước, cần đặt ra câu hỏi với giáo viên về những khó khăn trong quá trình giảng dạy Điều này giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp và áp dụng các biện pháp phù hợp hơn, từ đó tối ưu hóa nguồn tài nguyên hiện có và nâng cao hiệu quả giáo dục.
3.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống
Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống giúp học sinh hệ thống hóa quá trình học tập, từ đó nhận diện các kỹ năng đã được trang bị Điều này cho phép các em áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống một cách hiệu quả.
Đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại trường TH Bình Hòa – Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
3.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động tuyên truyền truyền thống dân tộc, đất nước, nhà trường
Tổ chức các hoạt động tuyên truyền về truyền thống dân tộc, đất nước và nhà trường là cách hiệu quả để giúp học sinh nhận thức về việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống Những hoạt động này không chỉ tăng cường tình yêu quê hương mà còn ghi nhớ công lao của những người anh hùng và các sự kiện quan trọng, từ đó xây dựng tinh thần đoàn kết trong cộng đồng Qua đó, chúng khơi gợi lòng tự hào dân tộc và hình thành ý thức cũng như trách nhiệm xã hội Việc này góp phần vào việc bảo tồn văn hóa, đồng thời xây dựng một cộng đồng đoàn kết, tự hào và phát triển bền vững.
Các hoạt động tuyên truyền đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Chúng giúp chia sẻ và truyền đạt những nét đẹp văn hóa, tập quán, lịch sử và ngôn ngữ, giữ cho di sản văn hóa sống động và bền vững theo thời gian Những hoạt động này không chỉ góp phần bảo tồn văn hóa mà còn thúc đẩy sự đoàn kết, lòng yêu nước và trách nhiệm xã hội Qua đó, chúng xây dựng ý thức cộng đồng, tạo ra một xã hội nhân văn, tự hào và phát triển bền vững.
Để tiến hành các hoạt động tuyên truyền hiệu quả, cần đi vào chi tiết và lựa chọn phương pháp, hình thức truyền thông phù hợp với mục tiêu và đối tượng tham gia Các hoạt động này cần được tổ chức một cách chuyên nghiệp nhằm tối ưu hóa hiệu quả trong việc tuyên truyền và bảo tồn truyền thống dân tộc, đất nước và nhà trường.
Xác định mục tiêu: Xác định rõ mục tiêu của hoạt động tuyên truyền
Lập kế hoạch cụ thể cho từng hoạt động dựa trên các mục tiêu đã xác định, bao gồm việc xác định loại hoạt động, địa điểm, thời gian tổ chức, số lượng người tham gia và các nguồn lực cần thiết.
Để tiến hành hoạt động tuyên truyền hiệu quả, việc thu thập tài nguyên là rất quan trọng, bao gồm vật liệu giáo dục, nội dung truyền thông, sự hỗ trợ từ nhà trường hoặc cộng đồng, cùng với các thiết bị cần thiết.
Để đảm bảo thành công cho các hoạt động, việc liên hệ và hợp tác với các bên liên quan như giáo viên, nhà quản lý, tổ chức xã hội và đại diện truyền thống dân tộc là rất quan trọng Đồng thời, cần chuẩn bị nội dung cho các hoạt động, bao gồm tài liệu, trình diễn nghệ thuật, kịch bản, bài thuyết trình và các hoạt động thực hành liên quan đến văn hóa và truyền thống.
Để tạo ra một không gian tương tác hiệu quả, cần thiết lập một môi trường phù hợp cho các hoạt động, có thể là trong trường học, phòng trưng bày, sân trường hoặc những không gian văn hóa đặc biệt.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động, việc tuyên truyền và quảng bá là rất quan trọng Chúng ta cần sử dụng các kênh truyền thông phù hợp như truyền thông địa phương, trang web, mạng xã hội và bản tin trường học để giới thiệu và quảng bá các hoạt động một cách hiệu quả.
Để đảm bảo hoạt động diễn ra suôn sẻ và hiệu quả, việc tổ chức và điều phối công việc một cách chặt chẽ là rất cần thiết Sau khi hoàn thành hoạt động, cần tiến hành đánh giá kết quả và hiệu quả để có cơ sở cải thiện và điều chỉnh cho các lần tổ chức tiếp theo.
3.2.2 Biện pháp 2: Giảng dạy lồng ghép giáo dục kỹ năng sống,kỹ năng tự nhận thức vào các môn học
Nội dung giảng dạy hiện nay cần lồng ghép giáo dục kỹ năng sống và kỹ năng tự nhận thức vào từng môn học, nhằm phát triển toàn diện cá nhân và xã hội của học sinh Việc tích hợp các khái niệm, kỹ năng và hoạt động liên quan đến sự phát triển này sẽ giúp học sinh áp dụng kiến thức vào thực tiễn Dưới đây là một số ví dụ cụ thể về nội dung có thể được lồng ghép trong các môn học để nâng cao hiệu quả giáo dục.
Môn Tiếng Việt tổ chức các hoạt động nhằm cải thiện kỹ năng giao tiếp, thuyết trình và viết văn cho học sinh Học sinh được khuyến khích thảo luận và trao đổi ý kiến về các vấn đề xã hội, văn hóa và môi trường Đồng thời, việc đọc các tác phẩm văn học giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa, lịch sử quốc gia và truyền thống dân tộc.
Môn Khoa học tập trung vào việc thảo luận các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu, đồng thời đề xuất các biện pháp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Học sinh sẽ tham gia vào các hoạt động thực nghiệm và quan sát, nhằm nâng cao tinh thần tò mò và phát triển tư duy nghiên cứu.
Môn Lịch sử và Địa lý giúp người học nghiên cứu về lịch sử và địa lý của đất nước, tìm hiểu các sự kiện quan trọng và văn hóa truyền thống Qua việc khám phá các khía cạnh địa lý và văn hóa của các quốc gia trên thế giới, người học sẽ nâng cao sự hiểu biết về sự đa dạng văn hóa và lịch sử của nhân loại.
Môn Đạo đức khuyến khích học sinh thảo luận về các vấn đề xã hội và đạo đức, từ đó giúp các em hình thành quan điểm riêng và định hướng hành động tích cực trong cuộc sống.
Tích hợp giáo dục kỹ năng sống và tự nhận thức vào các môn học không chỉ giúp học sinh phát triển kiến thức mà còn khuyến khích tư duy sáng tạo và nâng cao nhận thức về bản thân và xã hội, từ đó tạo điều kiện cho họ tự tin và đạt được thành công trong cuộc sống.
Kết luận
Trong nghiên cứu đề tài "Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại trường Tiểu học Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương," chúng tôi nhận thấy rằng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 là rất quan trọng và hiệu quả Những hoạt động này giúp học sinh hiểu rõ hơn về bản thân, phát triển nhận thức về trách nhiệm và xây dựng lòng tự tin trong cuộc sống hàng ngày.
Chúng tôi đã nghiên cứu và triển khai các hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại trường Tiểu học Bình Hòa Các hoạt động này được thiết kế sáng tạo, phù hợp với độ tuổi và sự phát triển của học sinh, giúp tăng cường sự chú tâm và hứng thú của các em trong quá trình tham gia.
Sự hỗ trợ mạnh mẽ từ ban giám hiệu, giáo viên và phụ huynh đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức một cách thành công và hiệu quả.
Học sinh lớp 3 tại trường Tiểu học Bình Hòa đã tham gia các hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức, giúp các em trải nghiệm những bài học ý nghĩa về bản thân và xã hội Qua đó, các em phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề, nâng cao ý thức trách nhiệm và tự tin trong giao tiếp cũng như thể hiện ý kiến của mình.
Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại trường Tiểu học Bình Hòa là một quá trình quan trọng, mang lại hiệu quả tích cực Để nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô hoạt động này, cần có sự đầu tư và nỗ lực liên tục, giúp học sinh phát triển toàn diện và tự tin trong cuộc sống.
Khuyến nghị
Dựa trên nghiên cứu và thực tiễn, chúng tôi đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh lớp 3 tại trường Tiểu học Bình Hòa.
2.1 Đối với các tổ chức giáo dục
Cần tập trung vào giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học và phổ thông, thông qua việc tích hợp các hoạt động ngoại khóa vào chương trình giảng dạy Điều này không chỉ mở rộng cơ hội rèn luyện kỹ năng cho học sinh, mà còn giúp phát triển kỹ năng tự nhận thức bản thân Hơn nữa, cần đẩy mạnh áp dụng phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm để nâng cao hiệu quả giáo dục.
Cải tiến hệ thống đánh giá năng lực và hạnh kiểm của học sinh theo chiều dọc giúp so sánh kết quả của học sinh theo thời gian Việc này khuyến khích học sinh tạo thói quen so sánh bản thân để nhận diện sự tiến bộ hoặc thoái lùi Từ đó, học sinh có thể tự xây dựng kế hoạch phấn đấu cho bản thân.
Bố mẹ nên khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động ngoại khóa như câu lạc bộ bóng đá, sinh hoạt tại nhà văn hóa thiếu nhi, và các chương trình dã ngoại vào cuối tuần để phát triển kỹ năng xã hội và tăng cường sức khỏe.
Trẻ em cần có cơ hội giao lưu với bạn bè đồng trang lứa để học hỏi và khám phá những điều mới mẻ từ môi trường xung quanh Qua những trải nghiệm này, trẻ sẽ phát triển khả năng tự nhận thức về bản thân một cách rõ ràng hơn.
Bố mẹ nên trở thành bạn của trẻ, chia sẻ những tâm tư và ước mơ của trẻ để hiểu rõ hơn về nhận thức của trẻ về bản thân Qua đó, bố mẹ có thể phân tích và định hướng cho trẻ một cách hiệu quả.
Việc cho trẻ tham gia vào các công việc gia đình như dọn dẹp, nấu ăn, tổ chức tiệc và lập kế hoạch du lịch giúp trẻ nhận thức rõ vai trò của mình trong gia đình Điều này không chỉ làm tăng trách nhiệm của trẻ đối với bố mẹ và bản thân mà còn đối với công việc chung của gia đình và những người xung quanh.
Tăng cường hoạt động ngoại khóa trong chương trình học của nhà trường là rất cần thiết Việc mở các lớp kỹ năng sống vào mùa hè sẽ tạo cơ hội cho trẻ em rèn luyện và trải nghiệm những bài học bổ ích về kỹ năng sống.
Tăng cường tổ chức các hoạt động tập thể, hoạt động Đội để tạo cơ hội cho trẻ được tham gia vào các hoạt động tập thể
Phương pháp giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm giúp trẻ tự do bày tỏ quan điểm, từ đó tạo cơ hội cho các em thể hiện khả năng trước tập thể Qua đó, trẻ có thể nhận diện điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, từ đó phấn đấu hoàn thiện hơn.
Phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong lớp để trẻ tự tin, dạn dĩ hơn khi tham gia vào các hoạt động tập thể
Khuyến khích và động viên kịp thời những học sinh có sự nỗ lực và tiến bộ sẽ giúp trẻ tự tin hơn vào khả năng của bản thân Đồng thời, việc phê bình nghiêm khắc những lỗi sai của học sinh sẽ giúp các em có cái nhìn chính xác hơn về bản thân mình.