1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội cá nhân đối với người già neo đơn mắc chứng bệnh viêm khớp dạng thấp tại khoa xương khớp của bệnh viện bạch mai

107 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công tác xã hội cá nhân đối với người già neo đơn mắc chứng bệnh viêm khớp dạng thấp tại khoa Xương khớp của Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thúy
Người hướng dẫn TS. Vũ Thị Thanh Nhàn
Trường học Trường Đại Học Thăng Long
Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại Báo Cáo Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÍ THUYẾT ÁP DỤNG (17)
    • 1. Khái niệm nghiên cứu (17)
    • 2. Phương pháp luận (22)
      • 2.1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng (22)
      • 2.2. Chủ nghĩa duy vật lịch sử (23)
      • 2.3. Hướng tiếp cận nghiên cứu (23)
    • 3. Các lý thuyết vận dụng trong khóa luận (24)
    • 4. Luật pháp, Chính sách của Nhà nước (25)
      • 4.1. Luật pháp liên quan đến người cao tuổi (25)
      • 4.2. Chính sách của Nhà nước Việt Nam về người cao tuổi (26)
  • CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (33)
    • 1. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu (33)
      • 1.1. Chức năng nhiệm vụ của khoa (33)
      • 1.2. Các hoạt động chính (33)
        • 1.2.1. Công tác điều trị (33)
        • 1.2.2. Công tác đào tạo (34)
        • 1.2.3. Nghiên cứu khoa học (34)
        • 1.2.4. Chỉ đạo ngành (35)
        • 1.2.5. Hợp tác quốc tế (35)
    • 2. Đánh gia thực trạng vấn đề nghiên cứu – các yếu tố tác động (38)
      • 2.1. Những vấn đề khó khăn của đối tượng là người già neo đơn khi mắc bệnh xương khớp dạng thấp (38)
      • 2.2. Nhu cầu của đối tượng đối với NVCTXH (42)
  • CHƯƠNG 3: CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI GIÀ NEO ĐƠN MẮC CHỨNG BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP TẠI KHOA XƯƠNG KHỚP CỦA BỆNH VIỆN BẠCH MAI (43)
    • II. Tiến trình thực hành CTXH cá nhân gồm 7 bước (44)
      • 1. Khuyến nghị (67)
      • 2. Kết luận (68)
        • 2.1. Qua nghiên cứu lý luận cho thấy ..................... Error! Bookmark not defined. 2.2. Kết quả nghiên cứu thực tiễn ra chỉ ra rằng ..... Error! Bookmark not defined. 2.3. Việc can thiệp của CTXH cá nhân đối với đối tượng (0)
  • PHỤ LỤC (70)

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÍ THUYẾT ÁP DỤNG

Khái niệm nghiên cứu

Công tác xã hội (CTXH) đã trở thành một nghề chuyên nghiệp tại nhiều quốc gia trong suốt gần một thế kỷ qua Nghề này ra đời để giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách như nghèo đói, bất bình đẳng giới và hỗ trợ những nhóm dễ bị tổn thương, bao gồm trẻ mồ côi, người tàn tật, trẻ em đường phố và trẻ em bị lạm dụng.

Tại Việt Nam, công tác xã hội (CTXH) thường bị hiểu lầm là hoạt động từ thiện đơn thuần Tuy nhiên, CTXH không chỉ là việc làm thiện nguyện mà còn bao gồm nhiều khía cạnh phức tạp hơn Để hiểu rõ hơn về CTXH, cần có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về ý nghĩa của nó Dưới đây là một số định nghĩa khác nhau về CTXH, giúp làm rõ bản chất và vai trò của lĩnh vực này trong xã hội.

Công tác xã hội, theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW), là một nghề nghiệp nhằm hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng nâng cao hoặc khôi phục tiềm năng của họ để thực hiện chức năng xã hội và tạo ra điều kiện xã hội phù hợp với mục tiêu của họ Mục đích của công tác xã hội là cung cấp dịch vụ xã hội hiệu quả và nhân đạo, giúp cải thiện cuộc sống và tăng cường năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng.

Theo Nguyễn Thị Oanh trong tài liệu hội thảo 2004, CTXH (Công tác xã hội) nhằm mục đích hỗ trợ cá nhân và cộng đồng trong việc tự giúp mình Đây không phải là hành động từ thiện mà là cách phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ, bao gồm cá nhân, nhóm và cộng đồng, giúp họ tự giải quyết các vấn đề của chính mình.

Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000, công tác xã hội (CTXH) chuyên nghiệp có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự thay đổi xã hội và giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ con người CTXH tập trung vào việc tăng cường quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của họ Đồng thời, CTXH áp dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, can thiệp tại những điểm giao thoa giữa con người và môi trường xung quanh.

Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ, công tác xã hội (CTXH) đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người, giảm thiểu các vấn đề xã hội phát sinh CTXH nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho các đối tượng cần hỗ trợ, hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, lành mạnh và hạnh phúc, đồng thời phát triển hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.

Nhân viên công tác xã hội

Nhân viên công tác xã hội (social worker) là những chuyên gia được đào tạo chuyên sâu, hoạt động trong nhiều lĩnh vực nhằm hỗ trợ các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống Họ tạo điều kiện cho các cá nhân tiếp cận nguồn lực cần thiết và thúc đẩy sự tương tác giữa cá nhân với môi trường xung quanh Bên cạnh đó, nhân viên công tác xã hội còn ảnh hưởng đến chính sách xã hội và các tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua nghiên cứu và thực tiễn.

Nhân viên công tác xã hội là những chuyên gia có kiến thức vững vàng và khả năng phát triển kỹ năng cần thiết, đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn và đạo đức nghề nghiệp theo DuBois và Miley (2005: 5).

Trình độ tối thiểu yêu cầu đối với nhân viên công tác xã hội ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Canada, Australia và Philippines là tốt nghiệp đại học Để hành nghề, nhân viên công tác xã hội cần đăng ký và tại một số khu vực, họ còn phải thi để lấy bằng hành nghề Những người tham gia hoạt động công tác xã hội nhưng chưa có bằng cấp chuẩn được gọi là nhân viên công tác xã hội bán chuyên nghiệp hoặc cộng tác viên.

 Nhân viên CTXH có một số vai trò sau đây:

Vai trò của người vận động nguồn lực là hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồng trong việc tìm kiếm các nguồn lực cần thiết, bao gồm cả nội lực và ngoại lực, nhằm giải quyết các vấn đề mà họ đang đối mặt.

 Vai trò là người kết nối - khai thác, giới thiệu thân chủ tiếp cận tới các dịch vụ, chính sách nguồn tài nguyên đang sẵn có trong cộng đồng

Người biện hộ/vận động chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các đối tượng, giúp họ tiếp cận các dịch vụ, chính sách và quyền lợi mà họ đáng được hưởng Điều này đặc biệt quan trọng trong những trường hợp mà họ bị từ chối quyền lợi hoặc dịch vụ mà lẽ ra họ phải nhận.

Vai trò của người giáo dục là cung cấp kiến thức và kỹ năng nhằm nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua các chương trình tập huấn và giáo dục cộng đồng.

Họ có kiến thức sâu rộng, sự tự tin và khả năng tự đánh giá, phân tích vấn đề cũng như tìm kiếm nguồn lực cần thiết để giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả.

Người tham vấn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ những cá nhân gặp khó khăn về tâm lý, tình cảm và xã hội Họ giúp những người này vượt qua căng thẳng và khủng hoảng, đồng thời duy trì hành vi tích cực để đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt hơn.

 Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp đối tượng như trực tiếp cung cấp dịch vụ chăm sóc đối tượng yếu thế

Nhân viên công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cộng đồng xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động Dựa trên nhu cầu đã được xác định, họ giúp cộng đồng phát triển chương trình phù hợp với điều kiện và tiềm năng của địa phương nhằm giải quyết các vấn đề hiện tại.

Phương pháp luận

2.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng

Phương pháp duy vật biện chứng, được Karl Marx phát triển, là một phần quan trọng trong triết học Phương pháp này nhấn mạnh rằng mọi sự vật và hiện tượng đều trong trạng thái phát triển liên tục và cần được xem xét trong mối quan hệ với các sự vật và hiện tượng khác Cốt lõi của chủ nghĩa duy vật biện chứng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng.

Trong nghiên cứu về công tác xã hội cá nhân đối với bệnh nhân cao tuổi mắc viêm khớp dạng thấp, mối quan hệ tương tác giữa bệnh nhân và các yếu tố như cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn và chính sách y tế là rất quan trọng Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chăm sóc và hỗ trợ cho bệnh nhân.

16 sách, Những giải pháp đề xuất hướng tới củng cố lại hoạt động công tác xã hội thực hiện tốt các vai trò, đạt hiệu quả cao

2.2 Chủ nghĩa duy vật lịch sử

Chủ nghĩa duy vật lịch sử, một phần quan trọng trong triết học Marxist, là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội Nó được hình thành từ việc áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại.

Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, mọi sự kiện đều trải qua quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong, với sự biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội ở từng giai đoạn Nghiên cứu cần được thực hiện theo trục thời gian lịch sử, so sánh và đối chiếu các yếu tố liên quan để đảm bảo tính xác thực Đối tượng nghiên cứu là công tác xã hội cá nhân đối với bệnh nhân cao tuổi mắc viêm khớp dạng thấp tại khoa Xương khớp, cần được đánh giá theo thời điểm hiện tại Phòng công tác xã hội tại bệnh viện Bạch Mai, thành lập từ 28/5/2015, đã đạt nhiều thành tựu, nhưng công tác xã hội cá nhân vẫn còn hạn chế và mang tính chất từ thiện.

2.3 Hướng tiếp cận nghiên cứu

Trong nghiên cứu đề tài, tác giả tập trung vào vai trò của công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ và can thiệp cho bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt là những người già neo đơn mắc bệnh viêm khớp dạng thấp Nghiên cứu được thực hiện tại Phòng Công tác xã hội, Bệnh viện Bạch Mai, với mục tiêu thu thập thông tin chính xác và xác thực trong bối cảnh kinh tế, xã hội, cơ sở vật chất, và trình độ chuyên môn hiện tại.

Qua những yếu tố ảnh hưởng công tác xã hội cá nhân tại Bệnh viện Bạch Mai, tác giả đưa ra những đề xuất hoạt động phù hợp.

Các lý thuyết vận dụng trong khóa luận

Abraham Maslow (1908 - 1970) là nhà tâm lý học người Mỹ, nổi tiếng với trường phái tâm lý học nhân văn, nhấn mạnh giá trị, tự do và sự sáng tạo của con người Ông phát triển lý thuyết “thang bậc nhu cầu” (Hierarchy of Needs), cho rằng con người cần đáp ứng các nhu cầu cơ bản như nhu cầu thể chất, an toàn, tình cảm xã hội, tôn trọng và hoàn thiện để tồn tại và phát triển Những nhu cầu này được sắp xếp theo thứ tự từ cơ bản đến cao hơn, với xu hướng thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất trước tiên.

Có thể mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A Maslow như sau:

Hình 1 Tháp nhu cầu Maslow n

Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội

Nhu cầu vật chất Nhu cầu hoàn thiện

Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi

Tầng thứ hai trong tháp nhu cầu của Maslow là nhu cầu an toàn, bao gồm cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, công việc, gia đình, sức khỏe và tài sản Để đáp ứng nhu cầu này, con người cần có sự đảm bảo về môi trường sống và làm việc, cũng như sự ổn định trong các khía cạnh quan trọng của cuộc sống.

Tầng thứ ba trong thang nhu cầu của Maslow là nhu cầu được giao lưu tình cảm và thuộc về, thể hiện mong muốn được kết nối trong một cộng đồng, có một gia đình ấm áp và những người bạn thân thiết, đáng tin cậy.

Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng

Tầng thứ năm trong thang nhu cầu của Maslow là nhu cầu tự thể hiện bản thân, nơi con người khao khát sáng tạo và thể hiện khả năng cá nhân Họ mong muốn được công nhận và chứng tỏ bản thân, từ đó đạt được thành công và sự thỏa mãn trong cuộc sống.

Thuyết thân chủ trọng tâm:

Thuyết thân chủ trọng tâm, thuộc trường phái nhân văn, được hình thành vào những năm 1940, với trọng tâm là khẳng định "cái tôi" của mỗi cá nhân trong mọi hoàn cảnh.

Trong công tác xã hội, thân chủ là trung tâm của mọi hành vi và phương pháp làm việc của nhân viên Dù thân chủ có làm gì đi nữa, họ luôn cần được chấp nhận Nhân viên xã hội có trách nhiệm khuyến khích và hỗ trợ thân chủ vượt qua những rào cản để phát huy khả năng của mình Nhiệm vụ chính của nhân viên là giúp thân chủ giải tỏa những rào cản tâm lý, từ đó tăng cường sự sáng tạo, tự chủ và sức mạnh của họ.

Luật pháp, Chính sách của Nhà nước

4.1 Luật pháp liên quan đến người cao tuổi

Quan điểm của Đảng và Bác Hồ về trách nhiệm xã hội được thể hiện rõ trong các bản Hiến pháp qua các năm Hiến pháp năm 1946 quy định tại Điều 14 rằng công dân già cả hoặc tàn tật cần được giúp đỡ Tiếp theo, Điều 32 của Hiến pháp 1959 nhấn mạnh việc hỗ trợ người già, người đau yếu và tàn tật, đồng thời mở rộng bảo hiểm xã hội và cứu trợ xã hội Hiến pháp 1992 cũng xác định trách nhiệm nuôi dạy con cái của cha mẹ và nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc ông bà, cha mẹ của con cái tại Điều 64 Điều 87 của Hiến pháp cũng tiếp tục khẳng định những giá trị nhân văn này.

“Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”

Theo Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 36 quy định rằng con cái có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu hoặc tàn tật Đồng thời, khoản 2 Điều 47 cũng nêu rõ rằng cháu có bổn phận chăm sóc và phụng dưỡng ông bà nội, ngoại.

Luật Bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã quy định riêng về bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi, cụ thể tại khoản 1 Điều 41 Theo đó, người cao tuổi được ưu tiên trong việc khám và chữa bệnh, đồng thời được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của họ.

Luật Lao động tại Điều 124 quy định rằng người sử dụng lao động phải chăm sóc sức khỏe cho người lao động cao tuổi và không được giao cho họ công việc nặng nhọc hay nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe Ngoài ra, Điều 151 của Bộ luật Hình sự cũng quy định về tội ngược đãi hoặc hành hạ các thành viên trong gia đình, bao gồm ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái và những người có công nuôi dưỡng mình, trong khi Điều 152 tiếp tục quy định các hình thức xử lý liên quan.

Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng Luật quy định rằng trong trường hợp người phạm tội là người già, có thể áp dụng một số tình tiết giảm nhẹ để xem xét trách nhiệm hình sự.

4.2 Chính sách của Nhà nước Việt Nam về người cao tuổi

Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 117/CP nhằm chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động của Hội người cao tuổi Việt Nam, khẳng định tầm quan trọng của việc bảo vệ và nâng cao đời sống cho người cao tuổi trong xã hội.

“Kính lão đắc thọ” thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, với sự quan tâm chăm sóc người cao tuổi được Đảng và Nhà nước coi là đạo lý và trách nhiệm của toàn xã hội Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người cao tuổi Để phát huy truyền thống này và thực hiện các chủ trương của Đảng, Thủ tướng đã chỉ thị hỗ trợ hoạt động của Hội Người cao tuổi.

- Về chăm sóc người cao tuổi

Uỷ ban nhân dân các cấp cần chỉ đạo các cơ quan chức năng chú trọng công tác chăm sóc người cao tuổi, đảm bảo được tích hợp trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn và dài hạn của địa phương Đồng thời, trong việc xây dựng gia đình văn hoá và cuộc sống mới tại khu dân cư, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan văn hoá, thông tin, giáo dục và đào tạo để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi.

20 tuyên tryền, giáo dục nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về ý thức, thái độ và nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ kính trọng người cao tuổi

Các cấp chính quyền và cơ quan quản lý nhà nước cần chú trọng đến việc phát huy nguồn lực của người cao tuổi trong quá trình hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội Hàng năm, cần dành một tỷ lệ ngân sách hợp lý để giải quyết các vấn đề xã hội, chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi, đồng thời hỗ trợ Hội người cao tuổi.

- Đối với Hội Người cao tuổi

Hội có tư cách pháp nhân và hoạt động theo điều lệ phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhận được sự hỗ trợ từ Chính phủ về kinh phí cũng như điều kiện hoạt động.

- - Đối với các Bộ, ngành

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với Hội Người cao tuổi, đảm bảo Hội hoạt động đúng theo đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Bộ Tài chính và Uỷ ban nhân dân các địa phương hỗ trợ Hội Người cao tuổi ở Trung ương, xã, phường và thị trấn bằng cách cung cấp cơ sở vật chất và một phần kinh phí hoạt động.

Các Bộ, ngành cần tham khảo ý kiến của Hội Người cao tuổi Việt Nam khi soạn thảo văn bản pháp luật liên quan đến chính sách đối với người cao tuổi trước khi trình Chính phủ và Quốc hội.

Chỉ thị đã yêu cầu Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Ngoại giao, Tổng cục Thể dục Thể thao, và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp chặt chẽ để tạo điều kiện thuận lợi trong việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi.

 Pháp lệnh Người cao tuổi của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được ban hành năm

2000 Pháp lệnh Người cao tuổi ra đời là bước đi thích hợp để chăm sóc người cao tuổi

Chương 2 của Pháp lệnh Người cao tuổi quy định về trách nhiệm của gia đình, Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong việc phụng dưỡng và chăm sóc người cao tuổi, đặc biệt nhấn mạnh chính sách chăm sóc sức khoẻ Các điều khoản liên quan bao gồm khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 12, Điều 13, khoản 1 và 2 Điều 14, cùng với Điều 15 và Điều 16, thể hiện sự quan tâm toàn diện đến vấn đề này.

PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Lịch sử hình thành Khoa Xương Khớp của bệnh viện Bạch Mai

Khoa Cơ Xương Khớp Bệnh viện Bạch Mai là đơn vị hàng đầu tại Việt Nam về nội khoa xương khớp, đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động của Hội thấp khớp học Việt Nam và Hội loãng xương Hà Nội.

1.1 Chức năng nhiệm vụ của khoa:

Khoa Cơ Xương Khớp có 5 nhiệm vụ chức năng chính :

Cơ quan tham mưu của Bộ Y tế có nhiệm vụ thành lập chương trình quản lý và phát triển chuyên ngành thấp khớp học trên toàn quốc, đồng thời là trung tâm nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, phòng ngừa và điều trị các bệnh cơ xương khớp Cơ quan này cũng đề xuất phác đồ chẩn đoán, điều trị và quy trình thủ thuật hiệu quả.

(2) Khám và điều trị các bệnh bộ máy vận động ở tuyến cao nhất

Kết hợp với Trường Đại học Y Hà Nội, chúng tôi cung cấp đào tạo đại học và sau đại học cho các chuyên ngành xương khớp nội khoa, bao gồm cao học, nghiên cứu sinh, chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II và nội trú tại các bệnh viện.

(4) Chỉ đạo ngành: Giúp tuyến dưới trong chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ chuyên ngành xương khớp nội khoa

Hợp tác trao đổi song phương trong lĩnh vực thấp khớp học với các cá nhân và tổ chức là nền tảng quan trọng cho sự phát triển của hội Thấp khớp học châu Âu (EULAR), Hội khớp học châu Á Thái Bình Dương (APLAR), Hội khớp học thế giới (ILAR), Hội khớp học Đông Nam Á (ASEAN) và Hội loãng xương thế giới (IOF).

Khoa có 70 giường bệnh nội trú, phục vụ cho khoảng 1.500 lượt bệnh nhân nội trú mỗi năm Ngoài ra, khoa còn có phòng điều trị ngoại trú, tiếp nhận khoảng 95.000 bệnh nhân ngoại trú hàng năm.

Khoa áp dụng các kỹ thuật hiện đại trong chẩn đoán và điều trị, bao gồm siêu âm phần mềm, cộng hưởng từ, chụp cắt lớp vi tính, sinh thiết dưới màng tăng sáng, máy đo mật độ xương, nội soi khớp, và một số xét nghiệm sinh học, miễn dịch như RF, kháng thể kháng CCP, kháng thể kháng nhân, kháng thể kháng dsDNA, và kháng thể kháng cardiolipin.

- Kết hợp với trường Đại học Y Hà nội:

 Khoa đã xây dựng trương trình giảng dạy chuyên ngành thấp khớp học nội khoa cho cả đối tượng đại học và sau đại học của trường

Khoa Y của Đại học Y Hà Nội là nơi thực tập và nghiên cứu khoa học cho sinh viên đại học và sau đại học, đã đào tạo hàng nghìn bác sĩ và các chuyên gia y tế.

 Đào tạo về cơ xương khớp nội khoa cho các đối tượng đại học và sau đại học với số lượng học viên hàng năm như sau:

 Kết hợp với trường Đại học Y Hà nội

 Đào tạo sinh viên, điều dưỡng viên

 Đào tạo sau ĐH: Tiến sĩ Y học, thạc sỹ, BSCK I, BSCK II, BS nội trú

 Tham gia đào tạo SV nước ngoài:Thụy Điển, Pháp, Úc, Nga, Lào, Cam- pu-chia, Mông Cổ

Số lượng đào tạo sinh viên Y3,Y4, Y6: 1500 sinh viên/năm; sau đại học: >100 lượt người/ năm; nội trú: >20 lượt người/ năm

Chúng tôi đào tạo các chuyên gia về Cơ xương khớp thông qua chương trình Nghiên cứu sinh, Cao học và Bác sĩ Nội trú chuyên khoa Cơ Xương Khớp Đến nay, đã có 12 tiến sĩ và 24 thạc sĩ bác sĩ chuyên khoa cấp II trong lĩnh vực Cơ xương khớp bảo vệ thành công.

Từ năm 1973, khoa đã thực hiện hơn 100 đề tài nghiên cứu khoa học, bao gồm 1 đề tài cấp Nhà nước, 3 đề tài cấp bộ, 1 đề tài hợp tác quốc tế và nhiều đề tài cấp cơ sở Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các bệnh lý như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, loãng xương, thoái hóa khớp, bệnh gút và lupus ban đỏ hệ thống Một số công trình tiêu biểu bao gồm nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm Chlamydia trachomatis trong viêm khớp phản ứng, tổn thương dạ dày ở bệnh nhân khớp điều trị bằng thuốc chống viêm không steroid, hiệu quả của Methotrexat trong điều trị viêm khớp dạng thấp, giá trị nội soi khớp trong chẩn đoán thoái hóa khớp gối, và các biểu hiện lâm sàng cũng như mật độ xương gót ở phụ nữ mãn kinh tại Hà Nội.

Nghiên cứu về 28 ti CCP trong bệnh viêm khớp dạng thấp đã phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tỷ lệ nhiễm Chlamydia trachomatis trong bệnh viêm khớp phản ứng và viêm cột sống dính khớp Các bác sĩ trong khoa luôn cập nhật thông tin chuyên ngành, thực hiện điểm báo chuyên môn hàng tháng, tổ chức sinh hoạt khoa học hàng quý và tích cực đóng góp các đề tài nghiên cứu khoa học cho Hội Thấp khớp học Việt Nam.

Khoa Cơ Xương Khớp đã tích cực tham gia hội chẩn và chỉ đạo chuyên môn với nhiều bệnh viện tại khu vực Hà Nội, bao gồm các cơ sở như Bệnh viện Hai Bà Trưng, St Paul, Bệnh viện 198, Bệnh viện 108, Bệnh viện Thanh Nhàn, Bệnh viện Giao thông vận tải, Bệnh viện Hữu nghị, Bệnh viện Quốc tế, Việt Pháp, cùng với các bệnh viện ở các tỉnh như Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định, Tuyên Quang và các tỉnh phía Nam.

Khoa Cơ Xương Khớp đã tích cực thực hiện công tác chỉ đạo tuyến bằng cách đào tạo và hỗ trợ cho các cơ sở y tế tuyến dưới, cung cấp chương trình giảng dạy cho hàng trăm bác sĩ chuyên khoa và đào tạo sau đại học về các bệnh xương khớp trên toàn quốc.

Khoa đã cử cán bộ xuống các tỉnh miền Bắc như Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hưng Yên, Nam Định, Nam Hà, Vĩnh Phúc và Nghệ An để cập nhật kiến thức và chuyển giao kỹ thuật Mục tiêu là hỗ trợ các cơ sở y tế thành lập phòng tiêm và thực hiện kỹ thuật siêu âm khớp, đồng thời hướng dẫn phương pháp nghiên cứu khoa học.

Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cộng đồng về các bệnh cơ xương khớp thông qua các hoạt động như nói chuyện tại các câu lạc bộ, viết sách chuyên đề và báo chuyên ngành Đồng thời, phổ biến kiến thức qua các phương tiện thông tin đại chúng như VTV2, O2, và 2HTV để nâng cao nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về vấn đề này.

Khoa Cơ Xương Khớp bệnh viện Bạch Mai đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động của Hội Thấp khớp học Việt Nam (VRA) và Hội Thấp khớp học Hà Nội Khoa có mối quan hệ tốt với các tổ chức quốc tế như APLAR, RAA, ILAR, và IOF, đồng thời là uỷ viên ban chấp hành của những hội này Ngoài ra, khoa cũng là thành viên của các hội thấp khớp học tại Pháp, Vương quốc Anh và Nhật Bản.

Đánh gia thực trạng vấn đề nghiên cứu – các yếu tố tác động

2.1 Những vấn đề khó khăn của đối tượng là người già neo đơn khi mắc bệnh xương khớp dạng thấp:

Với sự thay đổi về tâm lý và xã hội, người cao tuổi thường gặp phải nhiều khó khăn trong cuộc sống, ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các chức năng xã hội Điều này khiến họ trở thành đối tượng yếu thế cần sự hỗ trợ chuyên nghiệp Nhân viên công tác xã hội, đặc biệt là khi làm việc với người già neo đơn mắc bệnh, cần phải tìm hiểu và đánh giá các vấn đề cụ thể của họ để giúp phục hồi và phát triển các chức năng xã hội Qua đó, người cao tuổi có thể hòa nhập cộng đồng và tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của địa phương và đất nước Dưới đây là ba vấn đề khó khăn chính mà người cao tuổi, đặc biệt là người già neo đơn, đang phải đối mặt.

Khi bước vào giai đoạn cao tuổi, nhiều người thường đối mặt với giai đoạn nghỉ ngơi, nhưng chỉ một số ít có điều kiện kinh tế tốt như cán bộ, viên chức nhà nước nghỉ hưu hoặc được con cháu hỗ trợ Đa số người cao tuổi, đặc biệt là những người sống một mình, gặp khó khăn về tài chính do thu nhập suy giảm.

- Nhu cầu của người cao tuổi, nhất là khám chữa bệnh hay chế độ dinh dưỡng đòi hỏi những chi phí nhất định

- Vấn đề kinh tế cũng ảnh hưởng đến các vấn đề khác trong cuộc sống của người caotuổi: tâm lý, sức khỏe…

- Thu thập thôn tin về thu nhập của người cao tuổi và gia đình: từ người cao tuổi, giađình, cán bộ địa phương

- Quan sát bữa ăn hàng ngày

- Quan sát, tính toán các nguồn thu cũng như các chi phí

TC là một người già neo đơn, mắc bệnh viêm khớp từ năm 13 tuổi, dẫn đến khó khăn trong di chuyển và không có nguồn thu nhập hay lương hưu Dù Nhà nước hỗ trợ 500.000đ mỗi tháng cho bà, nhưng số tiền này chỉ đủ cho sinh hoạt hàng ngày ở quê Khi nhập viện, mặc dù được hưởng 100% bảo hiểm, bà vẫn phải đối mặt với nhiều chi phí khác, đặc biệt là chi phí ăn uống, mà bà không đủ khả năng chi trả cho 3 bữa mỗi ngày trong thời gian điều trị.

Bà sống một mình, không có chồng con và tự mình đến bệnh viện khi cần Bà đã tự bắt xe buýt và đi bộ vào viện mà không có ai đi cùng Do bị viêm khớp từ nhỏ, bà không thể làm việc và không có lương hưu Hiện tại, bà chỉ phụ thuộc vào khoản trợ cấp hàng tháng từ Nhà nước và sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm, với số tiền trợ cấp dao động từ 500.000đ đến 2.000.000đ.

Quá trình lão hóa không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động mạnh mẽ đến tâm lý và sinh lý của người cao tuổi Trong giai đoạn này, họ thường cảm thấy cô đơn, có xu hướng hồi tưởng về quá khứ, và có thể trải qua những cảm xúc như giận dỗi hay chuyển từ trạng thái tích cực sang tiêu cực Những vấn đề tâm lý này dẫn đến nhiều thay đổi trong cảm xúc và tư duy của người cao tuổi.

Vấn đề tâm lý đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của người cao tuổi, vì khi tâm lý ổn định và vui vẻ, họ sẽ cảm thấy khỏe mạnh hơn và có xu hướng tham gia vào nhiều hoạt động hơn.

Nhiều người cao tuổi cảm thấy không còn có ích và thiếu sự tôn trọng do sự thay đổi vai trò của bản thân và ảnh hưởng của “hội chứng về hưu” Họ thường than trách về những sai lầm trong quá khứ mà khó chia sẻ với con cháu hoặc người thân.

- Trò chuyện, lắng nghe người cao tuổi

- Quan sát hành vi của người cao tuổi với mọi người xung quanh

Qua quan sát và trò chuyện, tác giả nhận thấy thân chủ rất hòa đồng với mọi người Tuy nhiên, khi đi sâu vào cuộc sống cá nhân, tác giả nhận ra sự cô đơn trong bà, thể hiện qua nét mặt khi nhắc đến cuộc đời mình và ánh mắt luôn nhìn chằm chằm về một hướng.

Bà đã sống cả đời mà không có ai quan tâm, không có tình yêu thương hay sự chăm sóc từ con cháu Trong những lúc bệnh tật hành hạ, bà cảm thấy cô đơn và đau đớn, không có ai bên cạnh để giúp đỡ Cơn đau lan tỏa khắp cơ thể khiến bà không thể ngủ, và có lúc bà chỉ ước mong được giải thoát khỏi nỗi đau này.

TC đang đối mặt với vấn đề tâm lý cần sự hỗ trợ từ nhân viên xã hội Trong thời gian nằm viện, TC cần một người bên cạnh để trò chuyện và chia sẻ, giúp giảm bớt cảm giác cô đơn và quên đi những suy nghĩ tiêu cực.

TC cần vượt qua những suy nghĩ tiêu cực như cô đơn và muốn chết, vì điều này sẽ quyết định sự sống còn của em Khi TC tìm thấy nghị lực sống, em sẽ có khả năng mạnh mẽ hơn để tiếp tục chiến đấu với bệnh tật.

Khi bước vào giai đoạn cuối của cuộc đời, người cao tuổi thường gặp phải sự suy giảm sức khỏe do lão hóa, dẫn đến việc khởi phát nhiều bệnh lý như tim mạch, phổi, huyết áp và xương khớp.

Sức khỏe là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người cao tuổi Khi người cao tuổi có sức khỏe tốt, họ sẽ tham gia tích cực hơn vào các hoạt động vui chơi, giải trí và các sự kiện xã hội tại địa phương.

Người cao tuổi thường có xu hướng giấu diếm bệnh tật và các vấn đề sức khỏe của mình Do đó, việc quan tâm và theo dõi sức khỏe thường xuyên là rất cần thiết để kịp thời phát hiện và hỗ trợ điều trị cho họ.

- Nhận thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi và gia đình còn nhiều hạn chế nhất là ở nông thôn

- Quan sát cử chỉ, nét mặt và khả năng hoạt động trong cuộc sống thường nhật của người cao tuổi

Khi nghi ngờ về một bệnh lý cụ thể, việc thu thập thông tin liên quan đến triệu chứng là rất quan trọng Hãy quan sát cẩn thận và đặt câu hỏi cho người cao tuổi cũng như bạn bè và gia đình của họ để có cái nhìn toàn diện hơn về tình trạng sức khỏe.

- Phối hợp với ngành Y tế tổ chức các cuộc khám chữa bệnh định kỳ

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI GIÀ NEO ĐƠN MẮC CHỨNG BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP TẠI KHOA XƯƠNG KHỚP CỦA BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Ngày đăng: 06/09/2023, 00:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tháp nhu cầu Maslow - Công tác xã hội cá nhân đối với người già neo đơn mắc chứng bệnh viêm khớp dạng thấp tại khoa xương khớp của bệnh viện bạch mai
Hình 1. Tháp nhu cầu Maslow (Trang 24)
SƠ ĐỒ CÂY VẤN ĐỀ - Công tác xã hội cá nhân đối với người già neo đơn mắc chứng bệnh viêm khớp dạng thấp tại khoa xương khớp của bệnh viện bạch mai
SƠ ĐỒ CÂY VẤN ĐỀ (Trang 50)
SƠ ĐỒ PHẢ HỆ CỦA TC - Công tác xã hội cá nhân đối với người già neo đơn mắc chứng bệnh viêm khớp dạng thấp tại khoa xương khớp của bệnh viện bạch mai
SƠ ĐỒ PHẢ HỆ CỦA TC (Trang 52)
SƠ ĐỒ SINH THÁI - Công tác xã hội cá nhân đối với người già neo đơn mắc chứng bệnh viêm khớp dạng thấp tại khoa xương khớp của bệnh viện bạch mai
SƠ ĐỒ SINH THÁI (Trang 54)
BẢNG ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU CỦA TC - Công tác xã hội cá nhân đối với người già neo đơn mắc chứng bệnh viêm khớp dạng thấp tại khoa xương khớp của bệnh viện bạch mai
BẢNG ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU CỦA TC (Trang 56)
Hình sức khỏe của bà thế nào rồi - Công tác xã hội cá nhân đối với người già neo đơn mắc chứng bệnh viêm khớp dạng thấp tại khoa xương khớp của bệnh viện bạch mai
Hình s ức khỏe của bà thế nào rồi (Trang 76)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w