NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TẠI DOANH NGHIỆP
Những vấn đề chung về vốn bằng tiền trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ hạch toán vốn bằng tiền
Vốn bằng tiền là một thành phần quan trọng trong tài sản lưu động, bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ở ngân hàng và công ty tài chính, cùng với tiền đang trong quá trình chuyển khoản.
Vốn bằng tiền đóng vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh, vừa phục vụ thanh toán nợ, vừa là kết quả của hoạt động mua bán và thu hồi nợ Quy mô vốn này phản ánh khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp và là phần thiết yếu của vốn lưu động Tuy nhiên, doanh nghiệp cần quản lý vốn bằng tiền một cách chặt chẽ để tránh rủi ro như tham ô và mất mát Việc sử dụng vốn này phải tuân thủ các nguyên tắc và chế độ quản lý tiền tệ của Nhà nước, chẳng hạn như không vượt quá mức tồn quỹ đã thỏa thuận với ngân hàng và phải nộp tiền thu bán hàng vào ngân hàng kịp thời.
Xuất phát từ những đặc điểm quản lý vốn bằng tiền, hạch toán vốn bằng tiền phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Hàng ngày, cần phản ánh chính xác tình hình thu chi và quỹ tiền mặt, đồng thời giám sát việc tuân thủ định mức tồn quỹ Việc đối chiếu thường xuyên giữa số tiền mặt tồn quỹ thực tế và sổ sách là rất quan trọng Điều này giúp phát hiện và xử lý kịp thời các sai sót trong quản lý và sử dụng tiền mặt.
Phản ánh tình hình tăng, giảm và số dƣ tiền gửi ngân hàng hàng ngày, giám sát việc chấp hành chế độ thanh toán không dùng tiền mặt
Theo dõi các khoản tiền đang chuyển giúp doanh nghiệp nhanh chóng phát hiện nguyên nhân gây ách tắc, từ đó có biện pháp phù hợp để giải phóng tiền kịp thời.
1.1.2 Những yêu cầu cơ bản để quản lý nội bộ vốn bằng tiền: Để quản lý tốt vốn bằng tiền trong nội bộ doanh nghiệp thì trước hết cần tách biệt bảo quản vốn bằng tiền khỏi việc ghi chép các nghiệp vụ này Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải phân công một số nhân viên làm nhiệm vụ ghi sổ để kiểm tra công việc của người này thông qua công việc của người kia, việc phân chia trách nhiệm nhƣ trên là nhằm hạn chế bớt tình trạng gian lận cũng nhƣ sự móc ngoặc giữa các nhân viên trong việc tham ô tiền mặt Các bước chính để thực hiện việc quản lý nội bộ đối với vốn bằng tiền gồm:
Tách biệt nhiệm vụ giữ tiền mặt với việc quản lý sổ sách kế toán là rất quan trọng Nhân viên giữ tiền mặt không được phép tiếp cận sổ sách kế toán, trong khi đó, các nhân viên kế toán cũng không được giữ tiền mặt.
Lập bản danh sách ghi hóa đơn thu tiền mặt tại thời điểm và nơi nhận tiền mặt
Thực hiện thanh toán bằng séc, chỉ nên dùng tiền mặt chi tiêu cho các khoản nhỏ, không đƣợc chi trả tiền mặt thay cho việc chi trả séc
Trước khi phát hành một tờ séc để thanh toán, phải kiểm tra số lượng và giá trị các khoản chi, tránh việc phát hành quá số dƣ
Tách chức năng duyệt chi khỏi chức năng ký séc
1.1.3 Nguyên tắc hạch toán vốn bằng tiền
Kế toán vốn bằng tiền phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
Kế toán vốn bằng tiền phải sử dụng Đồng Việt Nam làm đơn vị tiền tệ thống nhất, trừ khi có sự cho phép bằng văn bản của Bộ Tài chính để sử dụng đơn vị tiền tệ khác Đối với vàng, bạc, kim khí quý và đá quý, việc ghi chép trong nhóm tài khoản vốn bằng tiền chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh các loại tài sản này.
Vàng bạc, kim khí quý và đá quý cần được theo dõi chặt chẽ về số lượng, trọng lượng, quy cách, phẩm chất và giá trị Giá trị của những tài sản này được tính dựa trên giá thực tế, bao gồm giá hóa đơn hoặc giá thanh toán Khi xuất kho, có thể áp dụng một trong bốn phương pháp: Bình quân gia quyền, nhập trước - xuất trước, nhập sau - xuất trước, hoặc giá thực tế đích danh Do giá trị lớn và tính chất đặc biệt của chúng, phương pháp giá thực tế đích danh thường được ưa chuộng Nếu có sự chênh lệch giữa giá xuất bán và giá thanh toán tại thời điểm giao dịch, sự chênh lệch này sẽ được ghi nhận vào tài khoản 515 hoặc 635.
Theo Thông tư số 179/2012/TT-BTC ban hành ngày 24 tháng 10 năm 2012, quy định về kế toán vốn bằng tiền liên quan đến ngoại tệ bao gồm các hướng dẫn ghi nhận, đánh giá và xử lý các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái trong doanh nghiệp.
Một giao dịch bằng ngoại tệ là giao dịch được xác định hoặc yêu cầu thanh toán bằng ngoại tệ, bao gồm các giao dịch phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện các hoạt động tài chính quốc tế.
- Mua hoặc bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà giá cả đƣợc xác định bằng ngoại tệ
- Vay hoặc cho vay các khoản tiền mà số phải trả hoặc phải thu đƣợc xác định bằng ngoại tệ
- Trở thành một đối tác (một bên) của một hợp đồng ngoại hối chƣa đƣợc thực hiện
Giao dịch ngoại tệ liên quan đến việc sử dụng một loại tiền tệ để mua, bán hoặc trao đổi với loại tiền tệ khác Để hạch toán và ghi nhận giao dịch này, cần áp dụng tỷ giá hối đoái giữa đơn vị tiền tệ kế toán và ngoại tệ vào ngày giao dịch.
Tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch được gọi là tỷ giá giao ngay, cho phép doanh nghiệp sử dụng tỷ giá gần đúng với tỷ giá thực tế Vào cuối năm tài chính, doanh nghiệp cần đánh giá các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá hối đoái bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố.
Nguyên tắc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ và đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập Bảng Cân đối kế toán vào cuối năm tài chính rất quan trọng Việc này đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong báo cáo tài chính, giúp các doanh nghiệp phản ánh đúng giá trị tài sản và nghĩa vụ tài chính của mình.
Doanh nghiệp cần theo dõi chi tiết nguyên tệ trong sổ kế toán, bao gồm các tài khoản như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản phải thu, các khoản phải trả và tài khoản 007 “ngoại tệ các loại” (tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán).
Khi phát sinh nghiệp vụ kinh tế bằng ngoại tệ đối với các tài khoản doanh thu, hàng tồn kho, TSCĐ, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác, cần ghi sổ kế toán bằng Đồng Việt Nam hoặc đơn vị tiền tệ chính thức, theo tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.
Tổ chức công tác kế toán tiền mặt tại quỹ
1.2.1 Nguyên tắc quản lý tiền mặt tại quỹ
Xuất phát từ những đặc điểm nêu trên, hạch toán tiền mặt tại quỹ phải thực hiện các nguyên tắc sau:
Tôn trọng nguyên tắc bất kiêm nhiệm giữa 2 nhiệm vụ giữ tiền và lập chứng từ, ghi sổ kế toán tiền mặt
Chỉ nên sử dụng tiền mặt cho các chi phí thường xuyên, trong khi đó cần tập trung vào việc quản lý tiền một cách hiệu quả và thực hiện các giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt thông qua hệ thống ngân hàng thương mại và kho bạc Nhà nước.
Các khoản tiền, vàng bạc, kim khí quý, và đá quý được ký cược hoặc ký quỹ tại doanh nghiệp xây lắp cần được quản lý và hạch toán như các tài sản bằng tiền Đối với vàng bạc, kim khí quý, và đá quý, trước khi nhập quỹ, cần thực hiện đầy đủ các thủ tục cân đo, đong đếm số lượng và trọng lượng, sau đó tiến hành niêm phong và có xác nhận của người ký cược, ký quỹ trên dấu niêm phong.
Khi thực hiện nhập hoặc xuất quỹ, cần phải có phiếu thu, phiếu chi hoặc chứng từ liên quan đến vàng bạc, kim khí quý và đá quý Tất cả các tài liệu này phải được ký bởi người nhận, người giao và người có thẩm quyền theo quy định Trong một số trường hợp, cần kèm theo lệnh nhập hoặc xuất quỹ.
Mỗi doanh nghiệp đều cần một lượng tiền mặt tồn quỹ để chi tiêu hàng ngày trong hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm giấy bạc ngân hàng, ngoại tệ, vàng bạc kim khí quý và đá quý Để hạch toán chính xác, tiền mặt được tập trung tại quỹ, nơi thủ quỹ chịu trách nhiệm quản lý các nghiệp vụ thu, chi và bảo quản tiền mặt Kế toán quỹ tiền mặt phải mở sổ kế toán, ghi chép liên tục các khoản thu, chi, xuất, nhập quỹ và tính toán số tồn quỹ tại mọi thời điểm Đặc biệt, vàng bạc, kim khí quý và đá quý nhận ký cược, ký quỹ cần được theo dõi riêng trong sổ kế toán.
Thủ quỹ có nhiệm vụ quản lý và thực hiện việc nhập, xuất tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc, kim loại quý và đá quý tại quỹ tiền mặt Mỗi ngày, thủ quỹ cần kiểm kê số dư quỹ tiền mặt thực tế và đối chiếu với số liệu trong sổ quỹ và sổ kế toán Trong trường hợp phát hiện chênh lệch, kế toán và thủ quỹ phải tiến hành kiểm tra để xác định nguyên nhân và đề xuất biện pháp xử lý phù hợp.
1.2.2 Chứng từ, sổ sách kế toán sử dụng
Việc quản lý thu chi tiền mặt yêu cầu có lệnh thu, chi được ký bởi giám đốc hoặc người ủy quyền cùng kế toán trưởng Thủ quỹ thực hiện thu, chi dựa trên các lệnh này và sau đó ký, đóng dấu “đã thu tiền” hoặc “đã chi tiền” trên phiếu Những phiếu này được sử dụng để ghi vào sổ quỹ tiền mặt và báo cáo quỹ Cuối ngày, thủ quỹ kiểm tra số tiền mặt, đối chiếu với báo cáo quỹ và nộp lại báo cáo cho kế toán.
Phiếu chi, bên cạnh phiếu thu, là tài liệu quan trọng để hạch toán vào tài khoản 111 “tiền mặt” Để đảm bảo tính hợp lệ, cần kèm theo các chứng từ gốc liên quan như giấy đề nghị tạm ứng, giấy thanh toán tiền tạm ứng, hóa đơn bán hàng và biên lai thu tiền.
Phiếu thu Mẫu số 01-TT
Phiếu chi Mẫu số 02-TT
Giấy thanh toán tiền tạm ứng Mẫu số 04-TT
Giấy đề nghị thanh toán Mẫu số 05-TT
Biên lai thu tiền Mẫu số 06-TT
Bảng kê vàng,bạc, kim khí quý, đã quý Mẫu số 07-TT
Bảng kiểm kê quỹ(dùng cho VNĐ) Mẫu số 08a-TT
Bảng kiểm kê quỹ(dùng cho ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý)
Bảng kiểm chi tiền Mẫu số 09-TT
- Phiếu thu: Đƣợc sử dụng làm căn cứ để hạch toán số tiền mặt Việt Nam, ngoại tệ đã thu trong kỳ theo từng nguồn thu
Phiếu chi là tài liệu quan trọng dùng để ghi nhận số tiền đã chi của đơn vị trong một kỳ kế toán, đồng thời cũng là căn cứ để xác định trách nhiệm vật chất của người nhận tiền.
- Giấy đề nghị tạm ứng: Là căn cứ để xét duyệt tạm ứng làm thủ tục lập phiếu chi xuất quỹ cho tạm ứng
Giấy thanh toán tạm ứng là một chứng từ quan trọng, ghi lại các khoản tiền đã nhận tạm ứng Nó không chỉ làm căn cứ để thanh toán số tiền tạm ứng mà còn giúp ghi sổ kế toán một cách chính xác.
Giấy đề nghị thanh toán là tài liệu cần thiết khi đã chi tiền nhưng chưa nhận được thanh toán, hoặc trong trường hợp chưa nhận tạm ứng Giấy này giúp tổng hợp các khoản đã chi kèm theo chứng từ (nếu có) để thực hiện thủ tục thanh toán một cách hợp lệ và hiệu quả.
Biên bản kiểm kê tiền Việt Nam là tài liệu xác nhận số tiền mặt thực tế trong quỹ và sự chênh lệch với sổ quỹ Nó có vai trò quan trọng trong việc xác định trách nhiệm vật chất, bồi thường và điều chỉnh số tiền tồn quỹ trên sổ kế toán theo số liệu thực tế.
Biên lai thu tiền là tài liệu chứng nhận việc thu tiền hoặc séc từ người nộp tiền, được phát hành bởi đơn vị hoặc cá nhân Nó không chỉ là căn cứ để lập phiếu thu và nộp tiền vào quỹ mà còn giúp người nộp tiền thực hiện thanh toán với đơn vị thu tiền hoặc lưu giữ trong quỹ.
Bảng kê chi tiền là tài liệu quan trọng dùng để quyết toán kinh phí cho các đại biểu tham dự hội thảo tập huấn Nó áp dụng cho những cuộc hội thảo và tập huấn kéo dài nhiều ngày, với quy định rằng tiền chỉ được thanh toán một lần vào ngày cuối cùng của sự kiện.
+Tài khoản sử dụng để hạch toán tiền mặt tại quỹ là TK 111”tiền mặt” Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản này:
Các khoản tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý nhập quỹ, nhập kho
Số tiền mặt, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý thừa ở quỹ phát hiện khi kiểm kê
Chênh lệch tăng tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dƣ ngoại tệ cuối kỳ(đối với tiền mặt là ngoại tệ)
Các khoản tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hiện xuất quỹ
Số thiếu hụt ở quỹ phát hiện khi kiểm kê
Chênh lệch giảm tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dƣ ngoại tệ cuối kỳ(đối với tiền mặt ngoại tệ)
- Số Dƣ bên Nợ: các khoản tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hiện còn tồn quỹ
- TK 111 gồm 3 tài khoản cấp 2:
TK 1111 “Tiền Việt Nam” phản ánh tình hình thu chi, thừa thiếu tồn quỹ Việt Nam, ngân phiếu tại doanh nghiệp
TK1112 “ Tiền ngoại tệ” phản ánh tình hình thu chi, thừa thiếu, điều chỉnh tỷ giá, tồn quỹ ngoại tệ tại doanh nghiệp quy đổi ra đồng Việt Nam
TK 1113 ghi nhận giá trị của vàng bạc, kim khí quý và đá quý, phản ánh tình hình nhập, xuất, thừa thiếu và tồn quỹ dựa trên giá mua thực tế.
Cơ sở để ghi Nợ TK 111 là các phiếu thu còn cơ sở để ghi Có TK 111 là các phiếu
Doanh nghiệp cần theo dõi nguyên tệ trên tài khoản 007 - "Nguyên tệ các loại" bên cạnh việc quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam Việc quy đổi này phải dựa vào tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch, có thể là tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá bình quân do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố Đối với các tài khoản liên quan đến chi phí, thu nhập, vật tư, hàng hóa và TSCĐ, doanh nghiệp phải ghi sổ bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế Cuối năm tài chính, doanh nghiệp cần đánh giá lại số dư tài khoản 111 để đảm bảo tính chính xác trong báo cáo tài chính.
Tổ chức kế toán tiền gửi Ngân hàng
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, việc thanh toán giữa các doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức kinh tế chủ yếu được thực hiện thông qua ngân hàng Phương thức này không chỉ đảm bảo tính an toàn cho các giao dịch mà còn giúp tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về kỷ luật thanh toán.
Theo chế độ quản lý tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt, doanh nghiệp phải gửi toàn bộ số tiền, ngoại trừ tiền mặt giữ tại quỹ, vào tài khoản ngân hàng Các khoản tiền gửi này bao gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quý và đá quý, cùng với các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt như tiền lưu ký, séc bảo chi, séc định mức và thẻ tín dụng Để đảm bảo tuân thủ quy định thanh toán, doanh nghiệp cần theo dõi chặt chẽ tình hình biến động và số dư của từng loại tiền gửi.
1.3.1 Một số quy định trong việc hạch toán tiền gửi Ngân hàng
Khi nhận chứng từ từ Ngân hàng, kế toán cần kiểm tra và đối chiếu với chứng từ gốc Nếu phát hiện chênh lệch giữa số liệu trên sổ kế toán, chứng từ gốc và chứng từ của Ngân hàng, đơn vị phải thông báo ngay cho Ngân hàng để thực hiện đối chiếu, xác minh và xử lý kịp thời.
Cuối tháng, khi xác định nguyên nhân chênh lệch, kế toán ghi sổ theo số liệu từ ngân hàng trên giấy báo Nợ, báo Có hoặc bản sao kê Nếu số liệu của kế toán lớn hơn số liệu ngân hàng, số chênh lệch sẽ được ghi vào bên Nợ TK 138 “Phải thu khác” (1388) Ngược lại, nếu số liệu của kế toán nhỏ hơn số liệu ngân hàng, chênh lệch sẽ được ghi vào bên Có TK 338 “Phải trả, phải nộp khác” (3388).
Vào tháng sau, cần tiếp tục kiểm tra và xác định nguyên nhân để điều chỉnh số liệu ghi sổ Đối với các đơn vị có tổ chức phụ thuộc không có kế toán riêng, có thể mở tài khoản chuyên thu, chuyên chi hoặc tài khoản thanh toán để thuận tiện cho giao dịch Kế toán cũng cần mở sổ chi tiết theo từng loại tiền gửi, bao gồm Đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ.
Phải tổ chức hạch toán chi tiết số tiền gửi theo từng tài khoản ở ngân hàng để tiện cho việc kiểm tra, đối chiếu
Tiền gửi ngân hàng của doanh nghiệp được sử dụng cho mục đích ký quỹ hoặc mở L/C nhập khẩu không thể chi cho các mục đích khác Do đó, kế toán cần chuyển số tiền này sang tài khoản “thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn” (TK 144) hoặc “ký cược, ký quỹ dài hạn” (TK 244) nếu thời gian ký quỹ trên một năm.
Các chứng từ đƣợc sử dụng để hạch toán tiền gửi ngân hàng bao gồm:
- Bản sao kê của ngân hàng
Kèm theo các chứng từ khác(Ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, séc chuyển khoản, séc bảo chi…)
1.3.3 Tài khoản sử dụng Để hạch toán tiền gửi ngân hàng, kế toán sử dụng TK 112- “Tiền gửi ngân hàng” Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm các khoản tiền gửi của doanh nghiệp tại ngân hàng, kho bạc Nhà nước hoặc công ty tài chính TK112 - Tiền gửi ngân hàng có 3 tài khoản cấp 2:
- TK 1121- Tiền Việt Nam: Phản ánh số tiền gửi vào, rút ra và hiện đang gửi tại ngân hàng bằng đồng Việt Nam
TK 1122 - Ngoại tệ: Ghi nhận số tiền gửi, rút ra và số dư hiện tại tại ngân hàng bằng các loại ngoại tệ, đã được quy đổi sang Đồng Việt Nam.
TK1123 – Vàng bạc, kim khí quý, đá quý là tài khoản phản ánh giá trị của vàng bạc, kim khí quý và đá quý mà khách hàng gửi vào, rút ra và hiện đang gửi tại ngân hàng.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 112- Tiền gửi ngân hàng
- Các khoản tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý gửi vào ngân hàng
- Chênh lệch tăng tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dƣ tiền gửi ngoại tệ cuối kỳ
- Các khoản tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý rút ra từ ngân hàng
- Chênh lệch giảm tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dƣ tiền gửi ngoại tệ cuối kỳ
- Số tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hiện còn gửi tại ngân hàng
1.3.4 Phương pháp hạch toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:
Phương pháp hạch toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu liên quan đến tiền gửi ngân hàng được minh họa qua các sơ đồ 1.4, 1.5 và 1.6 Những sơ đồ này giúp làm rõ quy trình hạch toán và quản lý tiền gửi ngân hàng trong doanh nghiệp.
Sơ đồ 1.4: Phương pháp kế toán tiền gửi ngân hàng (VND)
Gửi tiền mặt vào tài khoản tại ngân hàng
Rút tiền gửi ngân hàng nhập quỹ tiền mặt
Thu hồi các khoản tạmứng thừa, ký cƣợc ký quỹ bằng TGNH
Chi tạmứng ký cƣợc ký quỹ bằng TGNH
Thu hồi các khoản đầu tƣ ngắn hạn dài hạn bằng tiền gửi NH Đầu tƣ ngắn hạn, dài hạn bằng tiền gửi ngân hàng
Vay ngắn hạn, dài hạn bằng tiền gửi ngân hàng
Thuế GTGT đầu vào đƣợc khấu trừ
Mua vật tƣ hàng hoá, công cụ, TSCĐ bằng tiền gửi NH
Nhận ký quỹ, ký cƣợc bằng TGNH Thanh toán các khoản nợ phải trả bằng tiền gửi ngân hàng
Nhận vốn góp, vốn cấp bằng TGNH Chi phí phát sinh bằng TGNH
Doanh thu, thu nhập khác bằng TGNH
Thuế GTGT đầu vào đc khấu trừ TK131,136,138
Thu nợ phải thu nhập quỹ TGNH
Sơ đồ 1.5: Phương pháp kế toán tiền gửi ngân hàng- ngoại tệ
Doanh thu BH & CCDV thu nhập tài chính
Thuế GTGT đầu ra phải nộp
Thu nợ bằng ngoại tệ
Tỷ giá ghi sổ Tỷ giá thực tế hoặc BQLNH
Thanh toán nợ bằng ngoại tệ
Tỷ giá ghi sổ Tỷ giá thực tế hoặc BQLNH
Thu nhập khác bằng ngoại tệ
(Tỷ giá thực tế hoặc BQLNH)
Mua vật tƣ, hàng hoá, tài sản dịch vụ bằng ngoại tệ
Tỷ giá ghi sổ Tỷ giá thực tế hoặc BQLNH
(Đồng thời ghi Nợ TK007) (Đồng thời ghi Có TK007)
Chênh lệch tỷ giá tăng do đánh giá lại số dƣ ngoại tệ cuối năm
TK413 Chênh lệch tỷ giá giảm do đánh giá lại số dƣ ngoại tệ cuối năm
Sơ đồ 1.6: Phương pháp kế toán vàng bạc, kim khí quý, đá quý
Thu hồi các khoản ký cƣợc, ký quỹ bằng vàng, bạc, kim khí quý, đá quý
Thu nợ bằng vàng bạc kim khí quý đá quý (Giá ghi sổ) Giá thực tế hoặc BQLNH
Thanh toán nợ bằng vàng bạc kim khí quý (Giá ghi sổ) Giá thực tế hoặc BQLNH
Doanh thu HĐSXKD và HĐ khác bằng vàng, bạc, kim khí quý, đá quý (Giá thực tế trên thị trường)
Chi ký cƣợc, ký quỹ bằng vàng, bạc kim khí qúy, đá quý
Nhận vốn góp, vốn cấp bằng vàng, bạc, kim khí qúy, đá quý
Chênh lệch ty giá tăng do đánh giá lại số dƣ vàng, bạc, kim khí quý, đá qúy
TK412 Chênh lệch tỷ giá giảm do đánh giá lại số dƣ vàng, bạc kim khi quý, đá quý
Tổ chức kế toán tiền đang chuyển
1.4.1 Nội dung chủ yếu của kế toán tiền đang chuyển
Tiền đang chuyển bao gồm các khoản tiền của doanh nghiệp như tiền mặt, séc và tiền giao tay ba, đã được nộp vào ngân hàng, kho bạc Nhà nước hoặc gửi qua bưu điện và các tổ chức tài chính trung gian Những khoản tiền này đã thực hiện dịch vụ chuyển tiền nhưng chưa nhận được giấy báo Có từ ngân hàng, hoặc đã làm thủ tục chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng để thanh toán cho đơn vị khác nhưng chưa nhận được giấy báo Nợ hay bản sao kê từ ngân hàng.
Tiền đang chuyển gồm tiền Việt Nam và ngoại tệ đang chuyển trong các trường hợp sau đây:
- Thu tiền mặt hoặc séc nộp thẳng vào ngân hàng
- Chuyển tiền qua bưu điện để trả cho đơn vị khác
Doanh nghiệp cần thu tiền bán hàng mà không nhập quỹ, sau đó nộp thuế ngay cho kho bạc Nhà nước Hình thức giao tiền tay ba giữa doanh nghiệp, người mua hàng và kho bạc Nhà nước giúp đảm bảo tính minh bạch và hợp pháp trong giao dịch tài chính.
Tiền đang chuyển là tài sản tiền tệ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, đang trong quá trình trung gian khi các nghiệp vụ kinh tế chưa hoàn tất Việc quản lý chặt chẽ khoản tiền này là rất quan trọng để đảm bảo thực hiện tốt các trách nhiệm khác và tránh sai sót trong các nghiệp vụ kinh tế chưa hoàn thành.
Chứng từ sử dụng để hạch toán kế toán tiền đang chuyển là:
- Một số chứng từ có liên quan khác
Kế toán tổng hợp sử dụng TK 113- Tiền đang chuyển để phản ánh số tiền đang chuyển của doanh nghiệp
TK 113- Tiền đang chuyển có 2 TK cấp 2:
- TK 1131- Tiền Việt Nam : phản ánh số tiền Việt Nam đang chuyển
- TK 1132- Ngoại tệ: phản ánh số tiền ngoại tệ đang chuyển
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 113- Tiền đang chuyển
Các khoản tiền mặt hoặc séc bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ đã được nộp vào ngân hàng hoặc gửi qua bưu điện để chuyển vào ngân hàng, nhưng vẫn chưa nhận được giấy báo Có.
- Chênh lệch tăng tỷ giá hối đoái do đanh giá lại số dƣ ngoại tệ tiền đang chuyển cuối kỳ
- Số kết chuyển vào TK 112 - Tiền gửi ngân hàng hoặc tài khoản có liên quan
- Chênh lệch giảm tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dƣ ngoại tệ tiền đang chuyển cuối kỳ
Số dƣ bên Nợ: Các khoản tiền còn đang chuyển cuối kỳ
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan khác : TK 111, 112, 131,
1.4.4 Phương pháp hạch toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu
Phương pháp hạch toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu liên quan đến tiền đang chuyển đƣợc phản ánh qua sơ đồ 1.7:
Sơ đồ 1.7: Phương pháp kế toán tiền đang chuyển
Trả nợ cho người bán bằng tiền gửi ngân hàng nhƣng chƣa nhận đƣợc giấy báo nợ của nhân hàng
Nhận đƣợc giấy báo Có của ngân hàng về số tiềnđã gửi
Xuát quỹ tiền mặt gửi vào ngân hàng chƣa nhận đƣợc giấy báo có của NH
Nhận đƣợc giấy báo Nợ của ngân hàng về số tiềnđã trả nợ
Thu tiền bán hàng, tiền nợ của khách hàng hoặc các khoản thu nhập khác bằng tiền mặt hoặc séc cần được nộp thẳng vào ngân hàng, mặc dù chưa nhận được giấy báo có Đầu tư ngắn hạn và dài hạn có thể thực hiện thông qua tiền gửi ngân hàng.
Thuế GTGT đầu ra phải nộp
Chênh lệch tỷ giá hốiđoái giảm do đánh giá lại số dƣ ngoại tệ cuối năm
Khách hàng trả trước tiền hàng bằng séc Đơn vịđã nộp séc vào NH nhƣng chƣa nhận đƣợc giấy báo Có của NH
Chênh lệch giảm tỷ giá hốiđoái do đánh giá lại số dƣ ngoại tệ cuối năm
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TẠI CễNG TY TNHH NỘI THẤT PHệC TĂNG
Khái quát chung về công ty TNHH Nội thất Phúc Tăng
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH Nội thất Phúc Tăng
Tên giao dịch: Công ty TNHH nội thất Phúc Tăng Địa chỉ: số 29/232Trường Chinh, quận Kiến An, Hải Phòng
Chi nhánh số 1: số 351 Lê Lợi – Hải Phòng
Chi nhánh số 2 : Siêu thị nội thất Phúc Tăng 498, Nguyễn Văn Linh, HP Điện thoại: 0310.778.645
Vốn điều lệ: 5 tỷ VNĐ
Công ty TNHH nội thất Phúc Tăng, một trong những doanh nghiệp hàng đầu tại Hải Phòng trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu đồ gỗ nội thất, được sáng lập bởi vợ chồng doanh nhân Phạm Khắc Phúc và Lê Thị Tăng Sau 20 năm tích lũy kinh nghiệm, họ đã vượt qua nhiều khó khăn và thách thức Năm 1980, sau gần 15 năm làm việc trong cơ quan Nhà nước, họ quyết định nghỉ việc để theo đuổi kinh doanh tự do Ban đầu, họ bắt đầu với những hoạt động buôn bán nhỏ lẻ và đến năm 1993, họ chuyển hướng sang buôn bán đồ gỗ nội thất, khởi đầu từ một gian nhà nhỏ tại số 351 Lê Lợi.
Nghề buôn bán và sản xuất nội thất yêu cầu không gian rộng rãi do tính chất cồng kềnh của mặt hàng Doanh nhân Phạm Khắc Phúc đã thuê nhà xưởng, bắt đầu từ rạp hát công nhân Sông Cấm với chỉ khoảng 10 công nhân Công việc sản xuất và kinh doanh ngày càng thuận lợi, cho thấy đơn vị đã đi đúng hướng Phúc Tăng được xem là đơn vị tiên phong trong ngành buôn bán nội thất tại Hải Phòng, và nhận thấy sự phát triển thuận lợi của công việc, năm
1997 cửa hàng đã đầu tư thuê một khu nhà xưởng rộng rãi tại đường Cát Bi – Ngô Gia Tự, làm xưởng sản xuất
Sự phát triển của ngành nội thất tại Hải Phòng đang ngày càng gia tăng Vào năm 2000, doanh nhân Phạm Khắc Phúc đã nảy ra ý tưởng xây dựng một nhà máy sản xuất đồ gỗ nội thất hiện đại Ông tiến hành cải tạo khu nhà gia đình bằng cách mua 6 hộ liền kề để xây dựng Trung tâm nội thất Phúc Tăng trên diện tích 4000m² với 4 tầng Đồng thời, ông cũng thành lập công ty và báo cáo lên UBND Thành phố.
Phố xin đất để thực hiện dự án
Ngày 29 tháng 8 năm 2001, Công ty TNHH Phúc Tăng được thành lập tại 29/232 Trường Chinh, Kiến An, Hải Phòng Với diện tích 10.000 m², ông Phạm Khắc Phúc đã đầu tư xây dựng một văn phòng công ty và nhà máy sản xuất đồ gỗ quy mô hoàn chỉnh.
Dưới sự lãnh đạo tài ba của người thuyền trưởng Phạm Khắc Phúc, công ty Phúc Tăng đã không ngừng phát triển từ một xưởng sản xuất nhỏ với chỉ 10 thợ thành một doanh nghiệp lớn mạnh, tích cực sản xuất, kinh doanh và xây dựng cơ sở hạ tầng với thiết kế mới.
Công ty đã phát triển từ quy mô sản xuất nhỏ lẻ với 200 lao động lên thành nhà cung cấp lớn, thực hiện các hợp đồng sản xuất hàng loạt cho nhiều cơ quan, công sở và các khu vực đô thị Những hợp đồng đáng chú ý bao gồm hợp đồng với Công An Thành phố, nhà máy đóng tàu Nam Triệu, Trung tâm hội nghị Thành Phố và trường ĐH Hàng Hải, với giá trị từ 5 tỷ đến 10 tỷ VNĐ Công ty không chỉ hoạt động trong phạm vi Thành phố Cảng mà còn mở rộng ra 41 tỉnh thành trên toàn quốc, từ Bắc vào Nam.
Phía Bắc thì có Hải Phòng, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu…v.v
Miền Trung có : Đắc Lắc, Playku, Đà Lạt, Huế, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quy Nhơn v.v
Miền Nam có: Sài Gòn, Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Long An v.v
Thương hiệu Phúc Tăng, ban đầu chỉ tiêu thụ trong nước, đã mở rộng ra thị trường quốc tế, đặc biệt là các nước Đông Âu và Bắc Âu như Hà Lan, Phần Lan, Đan Mạch và Thụy Điển Với sự kết hợp giữa sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu, Phúc Tăng ngày càng khẳng định vị thế của mình trên thị trường trong và ngoài nước Để bảo vệ và phát triển thương hiệu, Công ty Phúc Tăng đã nỗ lực hết mình nhằm duy trì sự phát triển bền vững.
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, Công ty cam kết sản xuất và kinh doanh theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 và đã đăng ký thương hiệu tại Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam Với mục tiêu phục vụ người tiêu dùng, Công ty cung cấp chế độ bảo hành 1 năm và bảo trì 5 năm cho tất cả sản phẩm mang thương hiệu Phúc Tăng Nhờ đó, trong 5 năm qua, Công ty đã ghi dấu ấn thành công và phát triển bền vững.
Từ năm 2003 đến nay, Công ty đã liên tục nhận được nhiều giải thưởng từ Trung Ương và Thành Phố, bao gồm hơn 60 bằng khen, huy chương, cờ thi đua của Chính phủ, cùng với bằng khen của Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ cho cả Công ty và Giám đốc Ngoài ra, Công ty cũng được vinh danh với hàng trăm bằng khen và giấy khen khác từ các ngành.
Vào tháng 5/2003, Công ty Phúc Tăng đã tham gia Hội chợ quốc tế tại Đan Mạch, nơi sản phẩm của công ty nhận được sự đánh giá cao về chất lượng và uy tín từ 26 nước thành viên Châu Âu.
Ngày 16/5/2004: Nội thất Phúc Tăng tham dự Hội chợ hội nhập và phát triển
Hải Phòng lần thứ nhất hàng Việt Nam hội nhập AFTA Phúc Tăng đã giành được 4 cúp vàng và 6 bằng khen từ Trung Ương đến địa phương
Tháng 7/2004: Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm trao tặng cúp vàng vì sự phát triển cộng đồng cho Giám đốc Công ty
Tháng 8/2004: Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải tặng bằng khen cho
Ngày 1/9/2004: Nội thất Phúc Tăng vinh dự được Nhà nước tôn vinh danh hiệu cao quý " Sao vàng đất Việt"
Vào ngày 3 tháng 9 năm 2004, Nội thất Phúc Tăng đã nhận được bằng khen từ Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế nhờ vào những thương hiệu sản phẩm tiêu biểu đạt tiêu chuẩn hội nhập quốc tế.
Ngày 17/5/1005: Một lần nữa nội thất Phúc Tăng lại giành đƣợc cúp vàng hàng Việt Nam hội nhập AFTA tại hội chợ phát triển lần thứ 2
Vào tháng 12 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển đã trao tặng bằng khen cho Công ty, ghi nhận những thành tích xuất sắc của công ty trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Ngày 23/5/2006: Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen cho Công ty
Vào tháng 6 năm 2006, nội thất Phúc Tăng đã tham gia Hội chợ Festival Huế-2006 và xuất sắc giành được 3 cúp vàng, bao gồm Ngôi sao Việt Nam, Tinh hoa Việt Nam, và Quả cầu vàng, vinh danh cho doanh nghiệp, doanh nhân cũng như các sản phẩm tiêu biểu.
Ngày 1/9/2006: một lần nữa nội thất Phúc Tăng lại đƣợc nhận danh hiệu " Sao vàng đất Việt"
Tháng 10/2006: giám đốc Công ty được Chủ Tịch nước tặng thưởng huân chương lao động hạng 3
Ngày 28/5/2007 : Công ty được Chủ tích nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng 3
Năm 2007, Công ty Cổ Phần Thương mại, Dịch vụ & Du lịch Phúc Tăng được thành lập nhằm thúc đẩy sự phát triển và hoạch định các chiến lược kinh tế lớn hơn.
Năm 2008: Giám đốc Công ty đƣợc phong tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua toàn quốc thời kỳ đổi mới
Công ty Phúc Tăng, mặc dù là một doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhưng luôn coi con người là vốn quý Để phát triển bền vững, công ty chú trọng đến chính trị và đã thành lập chi bộ Đảng Cộng sản vào tháng 6/2004, cùng với sự ra đời của Công đoàn vào tháng 9/2004 Sự hình thành các tổ chức đoàn thể đã giúp hoạt động của công ty đi đúng hướng phát triển của thành phố, đảm bảo đời sống ổn định cho cán bộ công nhân viên Công ty chăm sóc đầy đủ quyền lợi cho người lao động, bao gồm bảo hiểm tai nạn 24/24 giờ và bảo hiểm xã hội cho những nhân viên gắn bó lâu dài Ngoài ra, công ty cũng quan tâm đến gia đình công nhân, giúp họ yên tâm làm việc và gắn bó hơn với công ty.