Hợp đồng thử việc ngày 24/5/2016, bảng kê danh sách các chuyến xe ông Nguyễn Xuân V đã chạy cho Công ty T và chi phí phát sinh ông V cung cấp là bản photo, ông V không cung cấp được “bản
Trang 1Bộ môn Luật Lao động – Khoa Luật Dân sự
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
(THẢO LUẬN)
MÔN LUẬT LAO ĐỘNG
Tập thể tác giả biên soạn:
Ths Lê Ngọc Anh
TS Gvc Nguyễn Thị Bích
TS Đinh Thị Chiến
TS Gvcc Lê Thị Thúy Hương
Ths Lường Minh Sơn
Ths Hoàng Thị Minh Tâm
Ths Gvc Đoàn Công Yên
- Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Trang 2MỤC LỤC
CHẾ ĐỊNH I: KHÁI QUÁT VỀ LUẬT LAO ĐỘNG 3
CHẾ ĐỊNH II: VIỆC LÀM VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ 8
CHẾ ĐỊNH III: HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 11
CHẾ ĐỊNH IV: THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI 22
CHẾ ĐỊNH V: TIỀN LƯƠNG 26
CHẾ ĐỊNH VI: KỶ LUẬT LAO ĐỘNG – TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 35
CHƯƠNG VII: TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN NGƯỜI LAO ĐỘNG, THƯƠNG LƯỢNG TẬP THỂ, THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ 46
CHƯƠNG VIII: TRANH CHẤP LAO ĐỘNG, GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VÀ ĐÌNH CÔNG 50
Trang 3CHẾ ĐỊNH I: KHÁI QUÁT VỀ LUẬT LAO ĐỘNG
I LÝ THUYẾT:
1 Luật lao động điều chỉnh các quan hệ xã hội nào? Lấy một ví dụ cụ thể
cho mỗi quan hệ xã hội đó
2 Phân tích đặc điểm của quan hệ lao động cá nhân
3 So sánh quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động của viên chức
4 Phân tích các điều kiện để một công dân Việt Nam có thể tham gia vào
quan hệ lao động cá nhân với tư cách người lao động
5 Phân tích các điều kiện để người nước ngoài được làm việc tại Việt Nam?
Anh/chị đánh giá như thế nào về những điều kiện này?
6 Tại sao pháp luật lao động lại điều chỉnh mối quan hệ lao động tập thể?
II BÀI TẬP TÌNH HUỐNG:
29092020-ve-tranh-chap-boi-thuong-tai-nan-lao-dong-va-don-phuong-cham-du-Hãy nêu và phân tích các đối tượng điều chỉnh của ngành luật lao động được thể hiện trong Bản án này
2 Tình huống 2
Dưới đây là Phần “Nhận định của tòa án” trong Bản án số 39/2022/LĐ-ST ngày 30/6/2022 của TAND Quận 1, Tp.HCM V/v Tranh chấp về tiền lương, bảo hiểm xã hội:
Trang 4“Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Xuân V khởi kiện bị đơn Công ty TNHH T tranh chấp về tiền lương, bảo hiểm xã hội; Đây là tranh chấp về lao động
Bị đơn Công ty TNHH T có địa chỉ trụ sở tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh Căn
cứ khoản 1 Điều 32; Điểm c khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn
[2] Về nội dung:
1 Xét yêu cầu của ông Nguyễn Xuân V yêu cầu Công ty T thanh toán 653.000 (Sáu trăm năm mươi ba nghìn) đồng và đóng bảo hiểm xã hội cho ông từ ngày 24/5/2016 đến ngày 31/5/2021; Yêu cầu công ty T trả đủ số tiền lương tối thiểu vùng 1+7% bằng nghề và yêu cầu thanh toán tiền lương những tháng không được làm việc của ông V tổng số tiền là: 168.639.240 đồng - 8.000.000 đồng - 1.036.000 đồng = 159.603.240 (Một trăm năm mươi chín triệu sáu trăm lẻ ba nghìn hai trăm bốn mươi) đồng:
Xét thấy, ông Nguyễn Xuân V trình bày đã ký hợp đồng thử việc ngày 24/5/2016 với Công ty TNHH T với công việc là lái xe khách giường nằm Hợp đồng thử việc ngày 24/5/2016, bảng kê danh sách các chuyến xe ông Nguyễn Xuân V đã chạy cho Công ty T và chi phí phát sinh ông V cung cấp là bản photo, ông V không cung cấp được “bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận” theo quy định của khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự
Ông Nguyễn Xuân V căn cứ điểm c khoản 1 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự:
“Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ” theo đơn yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ ngày 08/5/2018 Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ điểm g khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự đã có Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 5754/2019/QĐCCTLCC ngày 12/11/2019, được tống đạt trực tiếp cho ông Nguyễn
Trang 5Ngọc H là đại 5 diện theo ủy quyền của bị đơn Tuy nhiên ông Nguyễn Ngọc H chỉ cung cấp các chuyến xe ông V đã làm việc cho Công ty T nhưng không cung cấp hợp đồng thử việc và sao kê tiền lương của ông V do công ty không biết và không ký Hợp đồng này, ông Nguyễn Xuân V không phải là người lao động của công ty nên không
có tên trong danh sách nhận lương nhân viên của Công ty T
Xét, đối với các tài liệu ông Nguyễn Xuân V cung cấp có ghi Biểu thưởng và lương các tháng 06/2016; 07/2016; 08/2016; 09/2016; 10/2016; 12/2016; 01/2017; 02/2017; 03/2017 có chữ ký của ông Trần Trung C1 của Công ty TS Công ty TS không phải là tên khác, tên trước đây hay chi nhánh của Công ty TNHH T Công ty
T không phát hành các văn bản đó và ông Trần Trung C1 không phải là nhân viên công ty
Xét, đối với các tài liệu, chứng cứ ông Nguyễn Ngọc H cung cấp tại Tòa án nhân dân Quận 1 gồm đề nghị thanh toán tài xế, bảng kê điều xe các tháng: 05/2017; 04/2017; 03/2017; 02/2017; 01/2017; 12/2016; 11/2016; 10/2016; 09/2016; 8/2016; 7/2016; 6/2016; 5/2016 và Bảng liệt kê thu nhập Nguyễn Xuân V Hội đồng xét xử nhận thấy: Đối với mỗi chuyến xe được ông V chạy theo Bảng kê điều xe đều được thanh toán độc lập theo đề nghị thanh toán tài xế của ông V Các bên đều xác nhận
đã chi trả và nhận đủ, không tranh chấp về số tiền nêu trên Số tiền thanh toán mỗi chuyến xe khác nhau căn cứ số lượng khách hàng, quãng đường xe lăn bánh, các yếu
tố khách quan khác Số chuyến xe không liên tục và thay đổi khác nhau tùy theo tháng Bảng liệt kê thu nhập Nguyễn Xuân V không phải là số tiền cố định hàng tháng, thể hiện Công ty T đã thanh toán lợi nhuận trực tiếp cho ông V bằng tiền mặt ngay sau khi kết thúc lộ trình của mỗi chuyến xe, Công ty không chi trả một khoản lương cơ bản, cố định nào đối với ông Nguyễn Xuân V Chứng cứ nêu trên phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Ngọc H là đại diện theo ủy quyền của bị đơn về việc ông Nguyễn Xuân V và Công ty T có thỏa thuận về việc hợp tác điều khiển xe vận chuyển hành khách du lịch theo từng chuyến Theo đó, công ty có giao cho ông V xe
ô tô do Công ty làm chủ sở hữu để vận chuyển khách du lịch theo từng chuyến và Công ty T thanh toán lợi nhuận trực tiếp cho ông V bằng tiền mặt ngay sau khi kết thúc lộ trình của mỗi chuyến xe
Xét, theo kết quả xác minh của Tòa án nhân dân Quận 1, công văn số 1258/BHXH V/v cung cấp thông tin tham gia BHXH,BHYT,BHTN của ông Nguyễn Xuân V của Bảo hiểm xã hội quận 1 ngày 01/6/2018 đã trả lời như sau: “Căn cứ hồ
sơ đang quản lý, Công ty TNHH TM DV Du lịch T - Địa chỉ số 246 đường Đ, Phường
Trang 6P, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh chưa lập hồ sơ đăng ký tham gia BHXH,BHYT,BHTN cho ông Nguyễn Xuân V - sinh năm 1968 Do đó, Bảo hiểm
xã hội Quận 1 không có hồ sơ tham gia BHXH, BHYT, BHTN của Ông V để cung cấp thông tin…”
Xét thấy, đại diện theo ủy quyền của bị đơn không thừa nhận Công ty T có ký hợp đồng lao động với ông Nguyễn Xuân V; Bị đơn đã nhận quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ của Tòa án nhân dân Quận 1 nhưng những tài liệu, chứng cứ ông V yêu cầu Công ty không ký nên không có để cung cấp; Những tài liệu chứng cứ khác ông
V cung cấp trong hồ sơ vụ án không đúng theo quy định của khoản 1 Điều 95 Bộ luật
Tố tụng dân sự Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập tại Bảo hiểm xã hội Quận 1- Bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh không chứng minh được ông V là người lao động của Công ty T
Xét các chứng cứ do bị đơn xuất trình tại Tòa án phù hợp với lời khai trong các buổi làm việc, hòa giải và trình bày tại phiên tòa Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự, ông Nguyễn Xuân V không chứng minh được ông có quan hệ lao động với Công ty T nên giữa ông V và Công ty T không phát sinh quyền và nghĩa vụ được điều chỉnh theo Bộ luật Lao động Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông V đối với Công ty T không có cơ sở chấp nhận”
Hỏi: Thông qua Phần “Nhận định của tòa án” của TAND như trên, anh/chị hãy
cho biết cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và chứng cứ cần cung cấp nếu muốn chứng mình
các bên trong quan hệ pháp luật đã tồn tại quan hệ pháp luật lao động cá nhân
3 Tình huống 3
Grab là công ty cung cấp ứng dụng vận tải kết nối giữa tài xế và khách hàng
Để được ký hợp đồng tham gia sử dụng dịch vụ này, Grab yêu cầu tài xế phải đảm bảo những điều kiện nhất định (như không có tiền án, tiền sự…) Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các tài xế phải tuân theo những yêu cầu của Grab như: mặc đồng phục của Grab, về việc nhận, hủy cuốc xe, về thái độ phục vụ đối với khách hàng… Trong quan hệ này, các tài xế sử dụng xe riêng của mình Grab chỉ cung cấp ứng dụng đặt xe từ phía khách hàng cho tài xế, và trừ vào chiết khấu của mỗi tài xế theo chuyến đi Grab là phía quản lý về việc đặt xe của khách hàng, giá cước, chỉ định tài xế đón khách, thu tiền Trường hợp tài xế có những vi phạm nhất định hoặc
bị khách hàng đánh giá thấp về chất lượng dịch vụ ở một mức nhất định sẽ bị Grab
Trang 7cắt hợp đồng bằng cách khóa tài khoản
Hiện nay, quan hệ giữa tài xế và Grab chưa được coi là quan hệ lao động nên các tài xế sẽ không được công ty chi trả các loại bảo hiểm theo quy định của pháp luật như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, cũng như trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng thì các tài xế sẽ không được hưởng những phúc lợi
cơ bản
Bạn có ý kiến gì về việc điều chỉnh của pháp luật lao động đối với quan hệ giữa tài xế với Grab?
Trang 8CHẾ ĐỊNH II: VIỆC LÀM VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ
I LÝ THUYẾT:
1 Phân tích định nghĩa việc làm theo quy định pháp luật Việt Nam Hãy cho
biết ý nghĩa pháp lý của những định nghĩa này
2 So sánh trung tâm dịch vụ việc làm với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc
5 Theo bạn, nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong vấn đề học nghề, đào
tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề đối với người lao động được pháp luật lao động Việt Nam quy định như thế nào?
II BÀI TẬP TÌNH HUỐNG:
sẽ phải hoàn lại số tiền đã đào tạo và chịu trách nhiệm trước pháp luật Sau khi hoàn thành khóa đào tạo, chị D tiếp tục ký Hợp đồng lao động số 011/2022/HĐLĐ vào ngày 07/01/2022, chị D đã nhận đầy đủ đồng phục để làm việc tại Công ty Ngày 12/01/2022 chị D có xin nghỉ phép 02 ngày (ngày 14 và ngày 15/01/2022), tuy nhiên ngày 16/01/2022 chị D không đến Công ty để làm việc
Theo thỏa thuận tại Điều 9 của Hợp đồng đào tạo nghề giữa các bên: “Trường hợp có bất kỳ phát sinh tranh chấp liên quan đến Hợp đồng đào tạo nghề thì hai bên thỏa thuận thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân nơi có trụ sở chính của bên dạy nghề…”
Trang 9Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ tổng hợp Khánh Ngọc yêu cầu chị D phải bồi hoàn chi phí theo Hợp đồng đào tạo nghề số 14/2021/HĐĐTN đã được ký kết vào ngày 10/6/2021 giữa Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ tổng hợp Khánh Ngọc với chị Trần Thị Thu D số tiền là 130.720.000đồng, trong đó bao gồm tiền chi phí đào tạo, hỗ trợ chi phí ăn uống 90 ngày (20.000đ/suất x 90 suất = 1.800.000đồng), tiền mua đồng phục đã cấp phát cho chị D là: 920.000đồng; tiền trang thiết bị, dụng
cụ, vật liệu, điện nước là 18.000.000đồng
2 Tình huống 2 1 :
MẪU THÔNG TIN TUYỂN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP X Hành Chính Nhân Sự
Mức lương: 8 - 10 triệu
Địa điểm: Hà Nội
Kinh nghiệm: Dưới 1 năm
Mô tả công việc:
Thực hiện các công việc hành chính và tuyển dụng:
Tuyển dụng nhân sự theo yêu cầu của các phòng ban
Quản lý vận đơn
1 Bản án số: 01/2023/LĐ-ST Ngày: 12 -01-2023 của TAND Tp Quy Nhơn V/v “Tranh chấp về học nghề, tập nghề”
Trang 10 Theo dõi chấm công, thực hiện nội quy của nhân viên trong công ty
Tính lương hàng tháng cho nhân sự
Soạn thảo các văn bản liên quan trong nội bộ công ty và các cơ quan hành chính
Yêu cầu ứng viên:
Nữ, tuổi từ 23 - 35
Tốt nghiệp Đại học các chuyên ngành Quản trị nhân lực, Quản trị kinh doanh hoặc liên quan (Đại học X, Đại học Y và Trường Đại học Z)
Có ít nhất 6 tháng kinh nghiệm ở vị trí tương đương
Khả năng giao tiếp tốt bằng lời nói và bằng văn bản
Không tuyển lao động thuộc các tỉnh: H, A
Cung cấp thông tin cá nhân theo Mẫu đính kèm
Quyền lợi:
Được ký HĐLĐ từ 01 tháng – 36 tháng
Mức lương từ 8 - 10Tr (thỏa thuận theo năng lực)
Thưởng theo tháng/quý/năm: theo chính sách Công ty, phụ thuộc vào tình hình hoạt động của công ty và thành tích công việc của bộ phận và
1 Nội dung trong Mẫu thông tin tuyển dụng lao động như trên của doanh nghiệp
X có phù hợp với quy định của pháp luật hay không? Vì sao?
2 Doanh nghiệp X cần phải thực hiện các nghĩa vụ gì kể từ thời thông báo tuyển dụng đến khi ký hợp đồng lao động với người lao động
3 Trường hợp doanh nghiệp X ký HĐLĐ 02 tháng hoặc 06 tháng, thì người lao
động có phải tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp hay không? Vì sao?
Trang 11CHẾ ĐỊNH III: HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
I CÂU HỎI LÝ THUYẾT
1 Phân tích các dấu hiệu nhận diện hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019?
2 Anh/chị hãy bình luận quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về thử việc?
3 Phân tích các điều kiện để chuyển người lao động sang làm công việc khác
so với hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019?
4 So sánh quy định của pháp luật lao động hiện hành về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động và của người sử dụng lao động? Lý giải về sự khác nhau giữa chúng
5 Phân tích các nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế?
6 Bình luận quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về hậu quả pháp lý khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật?
7 Phân biệt trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp?
8 Phân tích các trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu và hậu quả pháp lý?
9 Bình luận quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về điều kiện giao kết, thực hiện hợp đồng lao động đối với người lao động nước ngoài?
II BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
Trang 12HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Chúng tôi, một bên là ông: Nguyễn Văn Chung Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Đại diện cho (1): Ngân hàng H – CN.ĐT Địa chỉ: 3xx phố H, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Và một bên là bà: Nguyễn Thị Thuý
Ngày sinh: 15 tháng 09 năm 1983
Nghề nghiệp (2): cử nhân kinh tế
Quốc tịch: Việt Nam
Điện thoại: 043.9447xxx Quốc tịch: Việt Nam Tại: Hà Nội
Địa chỉ thường trú: 6 ngõ M, phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Số CCCD: 013412xxx cấp ngày 21/04/2020 tại Hà Nội
Thỏa thuận ký kết hợp đồng lao động và cam kết làm đúng những điều khoản sau đây:
Điều 1 Thời hạn và công việc hợp đồng
- Loại hợp đồng lao động (3): hợp đồng lao động có xác định thời hạn (01 năm)
- Từ ngày 15 tháng 01 năm 2023 đến ngày 15 tháng 01 năm 2024 Trường hợp hết thời hạn trên, không có thỏa thuận gì khác, thời gian làm việc tự động kéo dài thêm 03 tháng để hai bên tiếp tục thỏa thuận
- Địa chỉ làm việc (4): Chi nhánh Ngân hàng H ĐT và các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh
- Chức danh chuyên môn:
- Công việc phải làm (5): theo sự phân công của cơ quan
- Phương tiện đi lại làm việc (7): tự túc
- Mức lương chính hoặc tiền công (8): theo quy định của Nhà nước và của Ngành Tại thời điểm 15/01/2014 lương cơ bản hệ số 2,34
- Hình thức trả lương: theo quy định của ngành
- Phụ cấp gồm (9): theo quy định của Nhà nước và của Ngành
- Được trả lương vào các ngày: Theo quy định của Ngân hàng H –ĐT
- Tiền thưởng: theo quy định của Ngành
- Chế độ nâng lương: theo quy định của Nhà nước và của Ngành
- Được trang bị bảo hộ lao động gồm: theo quy định của Nhà nước và của Ngành
- Chế độ nghỉ ngơi (nghỉ hàng tuần, phép năm, lễ tết ): theo quy định của Nhà nước
- Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế: Theo quy định của Nhà nước
- Chế độ đào tạo: Theo quy định của Ngành
- Những thỏa thuận khác (12): không
2 Nghĩa vụ
- Hoàn thành những công việc đã cam kết trong hợp đồng lao động
Trang 13- Chấp hành lệnh điều hành sản xuất – kinh doanh, nội quy kỷ luật lao động, an toàn lao động
- Bồi thường vi phạm và vật chất: Theo quy định của Ngành và quy chế của Cơ quan
Điều 4 Nghĩa vụ và quyền hạn của người sử dụng lao động:
Điều 5 Điều khoản thi hành
- Những vấn đề về lao động không ghi trong hợp đồng lao động này thì áp dụng quy định của thỏa ước tập thể, trường hợp chưa có thỏa ước tập thể thì áp dụng quy định của pháp luật lao động
- Hợp đồng lao động được làm thành 02 (hai) bản có giá trị ngang nhau, mỗi bên giữ 01 (một) bản và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 01 năm 2014 Khi hai bên ký kết phụ lục hợp đồng thì nội dung của phụ lục hợp đồng lao động cũng có giá trị như các nội dung của bản hợp đồng lao động này
Hợp đồng được làm tại Văn phòng Trụ sở chi nhánh Ngân hàng H – ĐT 3xx phố H, Hai Bà Trưng, Hà Nội, ngày 14 tháng 01 năm 2023
(đã ký) (đã ký, đóng dấu)
Nguyễn Thị Thuý Nguyễn Văn Chung
2 Tình huống 2
Ông Hà Ngọc và Công ty cổ phần Du lịch quốc tế V (sau đây gọi tắt là Công ty)
có ký biên bản thỏa thuận thử việc làm nhân viên lễ tân Thời gian thử việc 01 tháng
từ ngày 18/4/2021 đến ngày 17/5/2021, lương thử việc: 4.731.000 đồng/tháng
Các bên thoả thuận khi thử việc nếu đạt yêu cầu, Công ty sẽ kí hợp đồng lao động 12 tháng Tuy nhiên, khi kết thúc thời gian thử việc, có biên bản họp của bộ phận lễ tân, trong đó trưởng bộ phận lễ tân nhận xét kết quả thử việc của ông Ngọc không đạt yêu cầu ông Ngọc đề đạt nguyện vọng muốn làm việc nên Công ty đưa
Trang 14thỏa thuận thử việc lần 2 từ ngày 18/5/2021 đến ngày 17/6/2021 cho ông Ngọc và ông đồng ý ký Nội dung Thỏa thuận thử việc lần 2 giống như lần thứ nhất
Hết thời gian thử việc lần 2, trưởng bộ phận lễ tân xác nhận ông Ngọc làm việc không đạt nên Công ty không kí hợp đồng lao động và có nhận xét kết quả thử việc ngày 15/6/2021 Ông Ngọc không đồng ý nên có khiếu nại trên nhóm Zalo bộ phận
lễ tân, thắc mắc về việc Công ty ký thỏa thuận thử việc 02 lần, không thông báo kết quả thử việc là vi phạm pháp luật Ông Ngọc cho rằng Trưởng bộ phận lễ tân không
có thẩm quyền phỏng vấn và nhận xét kết quả thử việc Ông Ngọc yêu cầu công nhận ông được làm việc chính thức theo hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng tính
từ sau khi hết thời gian thử việc lần thứ nhất Công ty phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật do đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với ông
Phía công ty không đồng ý với tất cả các yêu cầu của ông Ngọc vì cho rằng công
ty đã thực hiện đúng pháp luật lao động Bởi Công ty cổ phần Du lịch quốc tế V là khách sạn 4 sao căn cứ theo Quyết định số 381/QĐ-TCDL của Tổng cục Du lịch, vị trí nhân viên lễ tân mà ông Ngọc thử việc phải có trình độ đại học và chứng chỉ C tiếng Anh, nên thời gian thử việc không quá 60 ngày Ngoài ra, theo quy định hiện hành tại công ty, Quyết định số 127/VIR ngày 25/7/2013 về việc thành lập phòng ban
và bộ phận nghiệp vụ của Công ty cổ phần Du lịch quốc tế V và Thông báo số 100/VIR ngày 07/5/2015 thì Trưởng bộ phận lễ tân có thẩm quyền ký Giấy nhận xét kết quả thử việc không đáp ứng được yêu cầu công việc nên công ty không ký kết hợp đồng lao động với
a Trên cơ sở các quy định hiện hành, anh chị hãy nhận xét tính hợp pháp trong thoả thuận thử việc giữa các bên?
b Yêu cầu của ông Ngọc có cơ sở để chấp nhận không? Vì sao?
3 Tình huống số 3:
Ngày 01/01/2016, công ty S và ông Phong ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, nội dung chính như sau: ông Phong giữ chức vụ giám đốc khu vực với mức lương là 34.000.000 đồng/tháng
Theo hợp đồng, ông Phong đã cam kết với công ty S sau khi thôi việc sẽ không làm việc cho các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của công ty S tại Việt Nam hoặc trong
Trang 15lĩnh vực mà công ty đang cung cấp dịch vụ, cụ thể: Điều 14.2 của hợp đồng lao động
quy định như sau: “Trong thời hạn, và nếu không có sự chấp thuận trước bằng văn
bản của Hội đồng quản trị và sự chấp thuận đó không thể bị bác bỏ một cách vô lý, trực tiếp hoặc gián tiếp với bất cứ tư cách nào, người lao động không được tham gia vào vụ việc cạnh tranh hoặc có kế hoạch cạnh tranh với công ty trong việc cung cấp dịch vụ liên quan đến việc nghiên cứu môi trường, thị trường kinh doanh, hoặc bất
cứ dịch vụ nào khác cùng loại với các loại dịch vụ mà công ty đang cung cấp vào ngày chấm dứt công việc của Người lao động, trong phạm vi cộng hòa Singapore hay bất cứ quốc gia nào khác mà công ty đang cung cấp dịch vụ, dù là toàn bộ hay một phần của dịch vụ đó, xuất phát từ nhiệm vụ của người lao động hoặc có liên quan đến nhiệm vụ của người lao động tại bất cứ thời điểm nào trong vòng 12 tháng kể trước ngày chấm dứt quan hệ lao động” Theo quy định tại Điều 14.1 Hợp đồng quy
định thì tại Điều 14.2 Hợp đồng có hiệu lực bắt buộc và được áp dụng trong suốt thời hạn Hợp đồng cũng như trong vòng 12 tháng kể từ ngày người lao động chấm dứt hợp đồng lao động với người sử dụng lao động
Ngày 02/12/2021, ông Phong gửi thư điện tử cho công ty S, thông báo rằng sẽ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vào ngày 05/01/2022, nguyên văn như sau:
“Ngài L thân mến, rất tiếc phải thông báo với ngài rằng tôi đã quyết định nghỉ việc
ở công ty S Theo Bộ luật Lao động Việt Nam, thời gian thông báo trước là 45 ngày làm việc, như vậy ngày cuối cùng sẽ là ngày 04/02/2021 nếu chúng ta không tính ngày 01/01 và bắt đầu tính từ bây giờ, nhưng sau khi khấu trừ ngày phép năm của tôi
là 21,5 ngày thì cuối cùng sẽ là ngày 05/01/2022” Sau khi nhận được thư điện tử
nói trên, công ty S không phản hồi và cũng không bày tỏ ý định đồng ý với thông báo trên của ông Phong
Trên cơ sở thông báo trên, ông Phong chính thức nghỉ việc tại công ty S từ ngày 05/01/2022 Sau khi nghỉ việc, ông Phong đã chuyển sang làm việc cho Công ty D
Công ty S cho rằng, ông Phong đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên yêu cầu ông Phong phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo quy định tại Điều 40 Bộ luật Lao động năm 2019 Ngoài ra, việc ông Phong làm việc cho công
ty D- là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của công ty S ngay sau khi nghỉ việc là vi phạm cam kết về điều khoản cấm cạnh tranh trong hợp đồng lao động đã ký Trong suốt 5 năm bị đơn làm việc tại Công ty S với cương vị giám đốc vùng, ông Phong đã tiếp cận với tất cả thông tin bảo mật khách hàng của công ty Những thông tin đó, nếu bị tiết lộ, cụ thể cho một đối thủ cạnh tranh khác trên cùng thị trường, sẽ gây thiệt hại
Trang 16cho nguyên đơn Do đó công ty S yêu cầu ông Phong không tiếp tục làm việc cho đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nguyên đơn là Công ty D
Ông Phong cho rằng ông đã thực hiện đúng thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động
Về ngày làm việc cuối cùng cũng như lý do ông nghỉ sớm là do có ngày phép chưa
sử dụng Việc thông báo nghỉ và được nghỉ sớm do người lao động còn ngày phép là thông lệ của Công ty S từ lúc thành lập Văn phòng đại diện cho đến thời điểm ông Phong nghỉ Những lao động sau cũng đã nghỉ sớm hơn so với quy định với lý do sử dụng ngày phép Ông không đồng ý với việc công ty S xác định ông vi phạm điều khoản cấm cạnh tranh, do công ty S và công ty D hoạt động ở hai lĩnh vực khác nhau Công ty S nghiên cứu về thị trường còn công ty D nghiên cứu về người tiêu dùng Ông Phong không đồng ý với tất cả các yêu cầu của công ty S
Yêu cầu:
Nhóm 1: Đưa ra các lập luận bảo vệ quyền lợi của ông Phong
Nhóm 2: Đưa ra các lập luận bảo vệ quyền lợi của công ty S
Nhóm 3: Đưa ra quan điểm giải quyết vụ việc trên
4 Tình huống số 4:
Trong đơn khởi kiện, ông Vương trình bày:
Ngày 01/9/2015, ông Vương và Công ty LT (gọi tắt là Công ty) có giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, chức vụ của ông Vương là Trưởng Văn phòng đại diện - Giám đốc vùng; Công việc là điều hành Văn phòng đại diện và phát triển
LT tại Việt Nam Theo hợp đồng lao động, các bên thỏa thuận như sau: Lương cơ bản là 80.000 Euro, phụ cấp nhà ở là 24.000 Euro, phụ cấp chi phí trường học là 7.300 Euro mỗi năm khi đứa con thứ 3 đi học, phụ cấp sinh hoạt phí là 10.000 Euro mỗi năm Ngoài ra, giữa hai bên còn ký thêm 05 phụ lục hợp đồng để thay đổi mức lương
và phụ cấp Tại phụ lục hợp đồng sau cùng số 05/2021 thì lương cơ bản là 89.931,36 Euro và tổng lương là 123.931,36 Euro mỗi năm
Ngày 07/9/2021, ông Vương nhận được văn bản từ ông F - Tổng Giám đốc Công ty LT thông báo hợp đồng lao động đã giao kết giữa ông Vương và công ty LT
Trang 17sẽ chấm dứt kể từ ngày 07/10/2021 mà không nêu lý do Nhận thấy hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của công ty là vi phạm pháp luật lao động, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp và uy tín cá nhân nên ngày 14/11/2021 ông Vương
đã khởi kiện và yêu cầu công ty phải thực hiện các nghĩa vụ sau:
- Tuyên bố việc Công ty LT chấm dứt hợp đồng lao động với ông Vương là trái pháp luật, buộc Công ty LT phải nhận ông Vương trở lại làm việc với vị trí cũ theo hợp đồng lao động đã giao kết, đồng thời bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, bao gồm:
- Trả tiền lương trong những ngày không được làm việc tính từ ngày 08/10/2021 đến khi công ty nhận ông trở lại làm việc
- Trả thêm 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động do không được làm việc
- Buộc công ty không được thu hồi Giấy phép lao động (giấy phép lao động đã cấp cho ông Vương ngày 14/7/2021 có thời hạn làm việc từ ngày 23/8/2021 đến ngày 23/8/2022) và Thẻ tạm trú của ông Vương cho đến ngày hoàn thành nghĩa vụ thanh toán đối với các khoản tiền phải trả nói trên khi Bản án có hiệu lực pháp luật
Tổng cộng: 378.309,33 Euro; tương đương 9.897.707.000 đồng
Đại diện bên công ty TL trình bày:
Công ty LT có địa chỉ trụ sở chính tại Pháp, đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với ông Vương (quốc tịch Pháp) vào ngày 01/9/2015 Bổ nhiệm ông Vương làm việc tại Văn phòng đại diện LT tại Thành phố Hồ Chí Minh Theo quy định tại Điều 2 của hợp đồng lao động thì ông Vương được thuê để làm Trưởng đại
Trang 18diện - Giám đốc vùng của Văn phòng đại diện LT tại Thành phố Hồ Chí Minh và nơi làm việc là trụ sở Văn phòng đại diện LT tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua với sự điều hành của ông Vương đã và đang vướng phải nhiều sự than phiền từ phía khách hàng tại Việt Nam và gây đe dọa cho mối quan hệ kinh doanh của Tập đoàn LT với các khách hàng của mình
Ngày 30/8/2021, Công ty LT tiến hành cơ cấu lại tổ chức tại Châu Á do các vấn
đề trong chiến lược kinh doanh Cụ thể, ngân sách cho hoạt động kinh doanh tại Châu Á được cắt giảm và việc quản lý điều hành các Văn phòng tại Châu Á sẽ được bố trí theo cơ cấu một nhân viên đảm nhiệm nhiều chức vụ Xét về thái độ, cách ứng xử, cách làm việc của ông Vương vẫn chưa thay đổi Do đó Công ty LT phải thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với ông Vương do ông Vương không còn đủ điều kiện
để bổ nhiệm ở vị trí Trưởng Văn phòng đại diện của LT tại Việt Nam Công ty LT có gởi thông báo đến Liên đoàn lao động Quận X1, Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc thay đổi cơ cấu tổ chức của công ty
Ngày 01/9/2021, LT đã ủy quyền cho ông B và ông F, có toàn quyền nhân danh
và thay mặt Công ty để điều hành và quản lý hoạt động của Văn phòng đại diện LT tại Việt Nam Đồng thời thực hiện tất cả quyền cần thiết để chấm dứt hợp đồng lao động với ông Vương Ngày 07/9/2021, ông F là đại diện theo pháp luật của công ty
LT có gửi thông báo đến ông Vương, thông báo ghi rõ lý do chấm dứt hợp đồng lao động và thời hạn chấm dứt kể từ ngày 07/10/2021 Đồng thời, thông báo ông Vương
có trách nhiệm bàn giao trang thiết bị, tài sản, dữ liệu, thông tin, tài khoản, thư điện
tử và các tài liệu đang nắm giữ cho ông B trong vòng 30 ngày tính từ ngày của thư này
Ngày 07/10/2021, ông F là đại diện theo pháp luật của công ty LT ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Vương Quyết định này có hiệu lực
kể từ ngày 07/10/2021
Tại biên bản hòa giải ngày 19/6/2022 bị đơn xác định thời điểm nguyên đơn còn làm việc, Văn phòng đại diện LT có 03 người Sau khi ông Vương thôi việc thì văn phòng đại diện cũng có 03 người, chỉ thay đổi Trưởng Văn phòng đại diện mới là ông
B
Trang 19Công ty xác định, đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu theo quy định của Bộ luật Lao động Do đó, công
ty không chấp nhận các yêu cầu của ông Vương
Câu hỏi:
a) Để chứng minh có sự thay đổi cơ cấu tổ chức để cho ông Vương thôi việc,
Công ty LT phải cung cấp các chứng cứ gì?
b) Giả định Công ty LT có căn cứ về việc thay đổi cơ cấu tổ chức thì việc chấm
dứt hợp đồng lao động với ông Vương có đúng pháp luật không? các yêu cầu của ông Vương có được chấp nhận không?
5 Tình huống số 5:
Trong đơn khởi kiện, ông Chou, Kuan-Y (sau đây viết tắt là ông Chou) trình bày:
Ông Chou làm việc cho Công ty TNHH Dập đúc A (sau đây viết tắt là Công ty
A hoặc Công ty) từ ngày 01/5/2020 Hai bên ký kết Hợp đồng lao động xac định thời hạn từ ngày 01/5/2020 đến ngày 30/4/2022, công việc là Tổng giám đốc, mức lương mỗi tháng là 186.000.000 đồng Đến ngày 30/6/2020, Công ty ban hành quyết định cho nghỉ việc - đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông Chou từ ngày 30/6/2020 với lý do dịch bệnh Covid-19
Cho rằng việc Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng là trái pháp luật vì: Công
ty không thông báo trước 30 ngày theo quy định của Bộ luật Lao động áp dụng trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động xác định thời hạn, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
- Yêu cầu Tòa án tuyên quyết định cho nghỉ việc của Công ty là trái pháp luật
- Yêu cầu Công ty phải bồi thường các khoản tính đến ngày 31/3/2021 là 3.032.110.000 đồng, bao gồm các khoản sau đây:
+ Thanh toán tiền lương trong những ngày không được làm việc, tạm tính từ ngày 01/7/2020 đến ngày 31/3/2021 là 09 tháng, số tiền lương tạm tính là 09 x 186.000.000 đồng = 1.674.000.000 đồng;
Trang 20+ Thanh toán tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tạm tính tương ứng thời gian nêu trên là: 359.910.000 đồng;
+ Bồi thường 02 tháng tiền lương là: 372.000.000 đồng;
+ Thanh toán thêm 02 tháng tiền lương do ông Chou không muốn tiếp tục làm việc tại Công ty là: 372.000.000 đồng;
+ Bồi thường tiền lương theo hợp đồng lao động tương ứng tiền lương trong 30 ngày không báo trước là: 186.000.000 đồng;
+ Thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ hàng năm tạm tính đến ngày 31/3/2021 là: 68.200.000 đồng
* Theo bản khai, trình bày của đại diện công ty A như sau:
Trước khi làm việc tại Công ty thì ông Chou có làm việc tại một công ty khác,
do thời hạn giấy phép lao động và thẻ tạm trú ở công ty cũ của ông Chou sắp hết hạn nên ông có đề nghị Công ty giúp làm gấp giấy phép lao động và thẻ tạm trú cho ông Đến ngày 01/5/2020 ông Chou mới về làm việc tại Công ty, nhưng hai bên vẫn chưa
ký kết hợp đồng lao động chính thức do ông Chou Đồng thời, do giai đoạn này Công
ty cũng mới thành lập nên ông Chou cũng muốn xem qua tình hình và khả năng hoạt động của Công ty để quyết định có làm việc lâu dài hay không Đến ngày 23/6/2020 ông Chou mới đưa ra đề xuất về mức lương, phúc lợi của ông và một số yêu cầu khác, nhưng hai bên đã không đạt được thỏa thuận về các vấn đề này Do đó, ông Chou đã thỏa thuận sẽ không tiếp tục làm việc với Công ty, đề nghị Công ty chi trả số tiền 372.000.000 đồng cho 02 tháng làm việc của ông và xin Công ty hỗ trợ chỗ ở cho ông 01 tháng để ông về nước Kể từ ngày 01/7/2020 ông Chou không còn làm việc tại Công ty
Bị đơn cho rằng người đại diện theo pháp luật của Công ty không ký hợp đồng lao động và thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng nào với ông Chou Do thời điểm này Công ty đang xây dựng nhà xưởng nên các bản vẽ thiết kế mà bên xây dựng cung cấp rất nhiều nên Công ty có sử dụng con dấu chữ ký của người đại diện theo pháp luật – ông Tsai Chung Chih để đóng dấu trên các bản vẽ thiết kế này và chỉ sử dụng duy nhất cho mục đích này Tất cả các văn bản, giấy tờ khác của Công ty đều
do ông Tsai Chung Chih trực tiếp ký Bị đơn nhận thấy là các chữ ký được thể hiện trên Thông báo cho thôi việc và Hợp đồng lao động mà ông Chou cung cấp đều giống
Trang 21với chữ ký mẫu theo con dấu chữ ký của ông Tsai Chung Chih Trong thời gian lưu
trú tại Công ty, thỉnh thoảng ông Chou vẫn vào văn phòng xin sử dụng máy tính, máy
in để giải quyết một số việc cá nhân Bị đơn nghi ngờ rằng có thể cũng trong khoảng
thời gian này, ông Chou lợi dụng sự tin tưởng của mọi người mà lén sử dụng con dấu
Công ty và con dấu chữ ký của ông Tsai Chung Chih
Ngày 27/7/2020 ông Tsai Chung Chih đã chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản
của ông Chou số tiền 492.000 Đài tệ tương đương 372.000.000 đồng có xác nhận của
ông Chou theo tin nhắn mà bị đơn đã cung cấp có trong hồ sơ Bị đơn đề nghị không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Cho biết:
- Theo Kết luận giám định số 772/KL-C09B ngày 28/2/2022 của Phân Viện
khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, thì chữ ký tên Tsai Chung Chih trên
Hợp đồng lao động ngày 01/5/2020 và Thông báo cho nhân viên thôi việc ngày
30/6/2020 không phải là chữ ký trực tiếp mà do một con dấu chữ ký của Công ty A
đóng lên Hợp đồng lao động ngày 01/5/2020 có những nội dung cơ bản là: Công việc
theo hợp đồng: Tổng giám đốc; Mức lương: 186.000.000 đồng
- Giấy phép lao động số 038384/BQL-GP ngày 14/4/2020 do Ban Quản lý các
khu công nghiệp tỉnh Bình Dương cấp cho ông Chou ghi chức danh công việc:
Chuyên gia kỹ thuật; Thời hạn làm việc: Từ ngày 15/4/2020 đến ngày 14/4/2022
Yêu cầu:
a) Một nhóm đưa ra các lập luận bảo vệ nguyên đơn
b) Một nhóm đưa ra các lập luận bảo vệ bị đơn
c) Một nhóm đưa quan điểm về việc giải quyết tranh chấp trên
Trang 22CHẾ ĐỊNH IV: THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ
4 Phân tích và nêu ý nghĩa của việc xác định thời giờ làm việc bình thường
5 Nêu những điểm mới về thời giờ nghỉ ngơi trong Bộ luật Lao động năm 2019
so với Bộ luật Lao động năm 2012
II BÀI TẬP TÌNH HUỐNG:
1 Tình huống 1: Anh chị hãy nhận xét, tư vấn và xây dựng phần TGNN trong NQLĐ sau:
TGLV-Điều x Thời gian làm việc và thời gian nghỉ giải lao
Thời gian làm việc không vượt quá 48 một tuần Thời gian biểu làm việc của người lao động sẽ được công bố hàng năm và thông báo cho tất cả người lao động trong Công ty
Hiện tại, thời gian làm việc của Công ty được quy định như sau:
Thời Gian Làm Việc Theo Ca
Thời gian biểu làm việc
theo tuần
Giờ làm việc Giờ nghỉ giải lao
Trang 23Lần nghỉ thứ nhất: 15 phút;
Lần nghỉ thứ hai: 30 phút;
Lần nghỉ thứ ba: 15 phút
1 Thời giờ làm thêm giờ được hiểu là thời gian làm việc theo yêu cầu của người
sử dụng lao động vượt quá mức 48 giờ/tuần Đối với công nhân làm việc theo ca, thời giờ làm thêm giờ có thể bao gồm các ca làm thêm có độ dài lên đến 12 giờ với điều kiện là công nhân sẽ không bị yêu cầu làm thêm quá 2 ca trong một tuần …
Điều y Nghỉ Hàng Năm
1 Công ty quy định thời gian nghỉ hàng năm có hưởng lương cho Người Lao Động có đủ 12 tháng làm việc trong một năm dương lịch, tính từ đầu năm như sau:
Trang 24Từ năm làm việc thứ nhất đến năm thứ ba 14 ngày làm việc
Từ năm làm việc thứ tư đến năm thứ bảy 16 ngày làm việc
Từ năm làm việc thứ tám trở lên 20 ngày làm việc
2 Ngay khi vào làm việc, tất cả người lao động mới được tuyển dụng có thể nghỉ hàng năm theo tỷ lệ tương ứng với thời gian làm việc trong năm đó Tuy nhiên, Công ty rất khuyến khích những người lao động như vậy hạn chế nghỉ hàng năm trong 3 tháng làm việc đầu tiên để tập trung cho việc hòa nhập với môi trường làm việc
3 Công ty không cho phép chuyển ngày nghỉ hàng năm của năm này sang năm khác Những ngày chưa nghỉ hàng năm của mỗi năm sẽ bị mất vào cuối năm dương lịch đó Người lao động sẽ không được trả lương cho những ngày chưa nghỉ hàng năm, trừ trường hợp bị chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tự chấm dứt hợp đồng lao động mà chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm tính đến ngày làm việc cuối cùng, và trong trường hợp này, người lao động sẽ được trả một khoản tiền tương đương với tiền lương thông thường của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hàng năm
đó
2 Tình huống số 2 :
Sau khi tốt nghiệp, NLVH được nhận vào làm việc tại một Công ty của Đan Mạch có chi nhánh tại Việt Nam Thời gian thử việc của NLVH tại côcng ty hết tổng cộng 180 ngày Sau đó NLVH được ký kết hợp đồng lao động chính thức với hợp đồng lao động xác định thời hạn 36 tháng tính từ ngày 01/01/2021 Trong năm 2022, NLVH bị tai nạn và phải nghỉ việc để điều trị tại bệnh viện hết 4 tháng 15 ngày
Câu hỏi: Căn cứ theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, anh (chị) hãy cho biết:
1 NLVH phải làm gì cho đúng quy định pháp luật khi nghỉ điều trị bệnh? Thời gian điều trị tại bệnh viện của NLVH có được tính là thời giờ làm việc không? vì sao?
2 Tính thời gian nghỉ hàng năm của NLVH trong năm 2022?
Trang 253 Tình huống 3: Soạn thảo các quy định về TGLV-TGNN trong NQLĐ của
một công ty kinh doanh trong lĩnh vực gia công hàng may mặc
Trang 26CHẾ ĐỊNH V: TIỀN LƯƠNG
I LÝ THUYẾT
1 Anh/chị hãy phân tích và nêu ý nghĩa quy định của cấu thành tiền lương theo
Bộ luật lao động năm 2019?
2 Phân tích và đánh giá cơ sở xây dựng tiền lương tối thiểu chung theo pháp luật hiện hành?
3 Anh/chị hãy nêu ý nghĩa của việc xác định tiền lương tối thiểu theo quy định của pháp luật hiện hành?
4 Anh/chị hãy cho biết việc quy định tiền lương tối thiểu hiện hành có ảnh hưởng như thế nào đến việc xây dựng hệ thống thang, bảng lương trong doanh nghiệp?
5 Anh/chị hãy phân tích những điểm mới và cho biết ý nghĩa của quy định về chế độ thưởng được quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019?
II BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
1 Tình huống số 1 2 : Tranh chấp giữa ông Nguyễn Thanh S (nguyên đơn)
và công ty TNHH Nội thất H Việt Nam (bị đơn)
* Theo đơn khởi kiện ngày 29/10/2021, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S (gọi tắt là ông S) trình bày:
Ngày 01/12/2019, ông S ký Hợp đồng lao động số HF1175/HĐLĐ với Công ty TNHH Nội thất H Việt Nam (gọi tắt là Công ty H) với thời hạn 36 tháng, mức lương
cơ bản là 6.516.230 đồng/tháng Ngày 01/01/2020, hai bên ký Phụ lục hợp đồng số HF1175/PLHĐLĐ điều chỉnh mức lương lên 6.875.750 đồng/tháng Đến ngày 01/6/2020, hai bên ký Phụ lục hợp đồng số HF1175/PLHĐLĐ điều chỉnh mức lương lên 10.500.000 đồng/tháng Trong quá trình làm việc, ông S luôn hoàn thành công việc, nhiệm vụ được giao, không có sai phạm nào Tuy nhiên đến ngày 05/9/2020, Công ty H ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông S với
lý do có đơn xin thôi việc để về quê Ông S xác định: Ông S không có làm đơn xin
2 Trích Bản án số 09/2022/LĐ-PT của tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 30/6/2022 V/v Tranh chấp đơn