1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận học phần pháp luật đại cương đề tài lý luận về vi phạm pháp luật

14 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận về vi phạm pháp luật
Người hướng dẫn Th.S Trịnh Thùy Linh
Trường học Trường Đại học Lao Động - Xã Hội
Chuyên ngành Pháp luật
Thể loại Tiểu luận học phần
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Vi phạm pháp luật là hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại tới các quan hệ xã hội đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI (CS2)

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN

HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG Lớp tín chỉ: PLDC1022H

HỌC KỲ 1 NĂM HỌC 2021 2022- –

Đề tài:

LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT

Họ và tên sinh viên: Lê Trúc Ly

Mã SV: 2153404040665

Ngày/tháng/năm sinh: 23/11/2003

Lớp niên chế: Đ21NL3

Họ và tên giảng viên: Th.S Trịnh Thùy Linh

TP.HCM - 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LÍ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT

1 Khái niệm về vi phạm pháp luật 1

2 Dấu hiệu của vi phạm pháp luật 1

3 Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật 3

4 Các loại vi phạm pháp luật 5

4.1 Vi phạm hình sự 5

4.2 Vi phạm hành chính 7

4.3 Vi phạm dân sự 8

4.4 Vi phạm kỉ luật 10

Trang 3

1 Khái niệm về vi phạm pháp luật.

- Vi phạm pháp luật là hiện tượng xã hội, là những hành vi tiêu cực của một số

cá nhân hoặc tổ chức đi ngược lại với ý chí nhà nước được quy định trong pháp luật

- Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

- Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

- Vi phạm pháp luật luôn là hành vi xác định của con người Chỉ những hành

vi cụ thể mới bị coi là hành vi vi phạm pháp luật, những ý nghĩa dù tốt, dù xấu cũng không thể coi là những vi phạm pháp luật

2 Dấu hiệu của vi phạm pháp luật.

2.1 Thứ nhất, vi phạm pháp luật luôn là hành vi (hành động hoặc không hành động) xác định của con người.(1)

- Hành vi trái pháp luật là việc thực hiện không đúng theo quy định của pháp luật, được thể hiện dưới một trong ba dạng hành vi sau: thực hiện hành vi mà pháp luật cấm; không thực hiện hành vi mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện; thực hiện hành vi vượt quá phạm vi pháp luật cho phép thực hiện.(2)

- Hành vi đó có thể là hành động - làm những việc không được làm theo quy định của pháp luật.(3)

 Ví dụ: Học sinh chưa đến tuổi được phép tự điều khiển mô tô mà đã lái xe đi trên đường và lạng lách, đánh võng

- Hoặc không hành động - không làm những việc phải làm theo quy định của pháp luật.(3)

 Ví dụ: Người tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm khi lái xe máy lưu thông trên đường

- Tính trái pháp luật là dấu hiệu không thể thiếu của hành vi bị coi là vi phạm pháp luật

2.2 Thứ hai, vi phạm pháp luật là hành vi xác định nhưng hành vi đó phải trái với các qui định của pháp luật.(1)

Trang 4

- Tính trái pháp luật thể hiện ở việc không thực hiện thực hiện không đúng, không đủ, hoặc vượt quá yêu cầu của luật pháp, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.Nói cách khác, hành vi trái pháp luật bao giờ cũng

là hành vi không phù hợp với những quy định của pháp luật, không đáp ứng đúng những yêu cầu mà Nhà nước đưa ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội

- Khi hành vi trái pháp luật là không hành động thì chúng biểu hiện bằng việc không thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật yêu cầu đối với chủ thể, hoặc không thực hiện đủ các nghĩa vụ đó Còn hành vi trái pháp luật là hành động thì có thể biểu hiện dưới những hình thức như thực hiện sai, thực hiện vượt quá những yêu cầu của pháp luật

- Trên thực tế có thể gặp một số hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chúng ta chưa thể xác định chúng là trái pháp luật do chưa có quy phạm pháp luật nào

đề cập đến chúng Những hành vi ấy có thể rơi vào hai trường hợp:

 Trường hợp thứ nhất, tính nguy hiểm của chúng thấp, không đáng kể nên nhà nước chưa xem chúng là vi phạm pháp luật (chẳng hạn, những hành vi làm trái với quy định riêng của một tổ chức xã hội )

 Trường hợp thứ hai, chúng là loại hành vi nguy hiểm mới xuất hiện

và Nhà nước chưa kịp phản ánh vào trong pháp luật Tuy nhiên, đây chỉ là những "kẽ hở" tạm thời khi hệ thống quy phạm pháp luật còn chưa phát triển theo kịp thực tiễn Dần dần chúng sẽ được bổ sung một cách thích hợp vào số những hành vi vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm

2.3 Thứ ba, hành vi trái pháp luật đó phải chứa đựng lỗi của chủ thể thực hiện hành vi.(1)

- Lỗi thể hiện thái độ của người biết hành vi của mình là sai trái pháp luật có thể gây hậu quả không tốt nhưng vẫn cố ý làm hoặc vô tình để mặc cho sự việc xảy ra.(3)

- Lỗi phản ánh tích chất tiêu cực trong thái độ của chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật

- Nếu một hành vi trái pháp luật được thực hiện do những hoàn cảnh và điều kiện khách quan, chủ thể hành vi đó không cố ý và cũng không vô ý thực hiện hoặc không thể ý thức được, từ đó không thể lựa chọn cách xử sự theo yêu cầu của pháp luật thì hành vi đó không thể coi là có lỗi và chủ thể không

bị coi là vi phạm pháp luật Kể cả trường hợp chủ thể nhận thức được hành vi mình thực hiện là trái pháp luật nhưng chủ thể bị buộc phải thực hiện trong điều kiện không có tự do ý chí, chủ thể không có cách lựa chọn hoặc chủ thể

Trang 5

không có cách lựa chọn nào khác tốt hơn thì hành vi đó cũng không bị coi là

có lỗi và không phải là vi phạm pháp luật

- Tất cả những hành vi vi phạm pháp luật đều là hành vi trái pháp luật nhưng ngược lại, không phải mọi hành vi trái pháp luật đều là hành vi vi phạm pháp luật Chỉ những hành vi trái pháp luật nào có lỗi (được chủ thể thực hiện một cách vô ý hoặc cố ý) mới có thể là hành vi vi phạm pháp luật

2.4 Thứ hai chủ thể của hành vi trái pháp luật phải có năng lực trách nhiệm pháp

lý.(1)

- Năng lực trách nhiệm pháp lý được hiểu là khả năng của cá nhân hay tổ chức phải gánh chịu hậu quả bất lực, biện pháp cưỡng chế của nhà nước được quy định ở chế tài quy phạm pháp luật Đối với tổ chức năng lực trách nhiệm pháp lý xuất hiện từ khi có quyết định thành lập tổ chức và chấm dứt khi tổ chức đó giải thể Năng lực trách nhiệm pháp lý của cá nhân thường được xác định dựa vào hai yếu tố là độ tuổi và khả năng nhận thức điều khiển hành vi của cá nhân ở thời điểm hành vi được thực hiện

 Nước ta quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi phạm hành chính, người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý, phải chịu trách nhiệm hành chính do cố ý thực hiện vi phạm hành chính

 Bộ luật Hình sự Việt Nam qui định “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.”

- Những hành vi mặc dù trái pháp luật nhưng do những người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thực hiện thì không thể coi là vi phạm pháp luật

 Cần lưu ý rằng phải đủ cả bốn dấu hiệu nêu trên thì mới tồn tại vi phạm pháp luật, trong đó hành vi đóng vai trò dấu hiệu hình thức, dấu hiệu chung, còn tính trái pháp luật và lỗi là tính chất của hành vi

3 Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật (4)

- Cấu thành vi phạm pháp luật là những dấu hiệu đặc trưng của một vi phạm pháp luật cụ thể

Trang 6

- Vi phạm pháp luật bao gồm 4 yếu tố cấu thành là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể

3.1 Chủ thể của vi phạm pháp luật:

- Là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý và đã thực hiện hành vi trái pháp luật Mỗi loại vi phạm pháp luật đều có cơ cấu chủ thể riêng tùy thuô ƒc vào mức đô ƒ xâm hại các quan hê ƒ xã hô ƒi được pháp luâ ƒt bảo vê ƒ

3.2 Khách thể của vi phạm pháp luật:

- Là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi trái pháp luật xâm hại tới Tính chất của khách thể vi phạm pháp luật cũng là một yếu tố đánh giá mức độ nguy hiểm trong hành vi trái pháp luật Là mô ƒt trong những căn

cứ để phân loại hành vi vi phạm pháp luâ ƒt

3.3 Mă 9t chủ quan của vi phạm pháp luâ 9t gồm lỗi, đô ƒng cơ, mục đích vi phạm

pháp luâ ƒt:

3.3.1 Lỗi là một trạng thái tâm lý thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hậu quả xấu trong hành vi của mình (nhìn thấy trước được hậu quả xấu trong hành vi của mình mà vẫn thực hiện) và trong chính hành vi đó (hành vi chủ động, có ý thức….) tại thời điểm chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật đó Nếu không có lỗi thì không phải là vi phạm pháp luật, tức là chủ thể của hành vi đó không bị truy cứu trách nhiệm pháp lý

- Lỗi được chia thành hai loại: cố ý và vô ý

o Lỗi cố ý gồm:

 Lỗi cố ý trực tiếp: là lỗi của một chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra

 Lỗi cố ý gián tiếp: là lỗi của một chủ thể khi thực hiện một hành vi trái pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn song có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra

o Lỗi vô ý gồm:

 Lỗi vô ý do cẩu thả :là lỗi của một chủ thể đã gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả đó, mặc dù có thể thấy trước và phải thấy trước hậu quả này

Trang 7

 Lỗi vô ý vì quá tự tin: là lỗi của một chủ thể tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội song tin chắc rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc cỏ thể ngăn ngừa được nên mới thực hiện và có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội

3.3.2 Động cơ vi phạm pháp luật là động lực tâm lý bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

3.3.3 Mục đích vi phạm pháp luật là cái đích trong tâm lý hay kết quả cuối cùng mà chủ thể vi phạm pháp luật mong đạt tới khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

3.4 Mă 9t khách quan của vi phạm pháp luâ 9t bao gồm những dấu hiệu:

- Hành vi trái pháp luật hay còn gọi là hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi trái với các qui định của pháp luật, nó gây ra hoặc đe dọa gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội

- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: là những thiệt hại về người và của hoặc những thiệt hại phi vật chất khác do hành vi trái pháp luật gây ra cho xã hội

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội tức là giữa chúng phải có mối quan hệ nội tại và tất yếu với nhau Hành vi đã chứa đựng mầm gây ra hậu quả hoặc là nguyên nhân trực tiếp của hậu quả nên nó phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; còn hậu quả phải là kết quả tất yếu của chính hành vi đó mà không phải là của một nguyên nhân khác

- Thời gian vi phạm pháp luật là giờ, ngày, tháng, năm xảy ra vi phạm pháp luật

- Địa điểm vi phạm pháp luật là nơi xảy ra vi phạm pháp luật

- Phương tiện vi phạm pháp luật: Là công cụ mà chủ thể sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật của mình

4 Các loại vi phạm pháp luật.

4.1 Vi phạm hình sự:

4.1.1 Khái niệm:

- Vi phạm hình sự (tội phạm) là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự của nhà nước do cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế văn hóa quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe,

Trang 8

danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.(1)

- Theo bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định bốn loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8, bao gồm: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng:(5)

 Tội phạm ít nghiêm trọng: Đây là một loại tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội Tội phạm ít nghiêm trọng có thể là các tội như tội đất trồng rừng, thu hồi rừng, tội giao rừng, đất trồng rừng trái pháp luật tại Điểm a, khoản 1 Điều 176 BLHS, tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tại khoản 1 và khoản 2 Điều 171 BLHS… Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến ba năm tù

 Tội phạm nghiêm trọng: Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội như tội mua bán phụ nữ tại khoản 1 Điều 119 BLHS, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản tại khoản 1 Điều 134 BLHS, tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em tại khoản 2 Điều 228… Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến 7 năm tù

 Tội phạm rất nghiêm trọng: Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội như tội vô ý làm chết người tại khoản 2 Điều

98 BLHS, tội hiếp dâm theo quy định tại khoản 2 Điều 111 BLHS, tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo quy định tại khoản 2 Điều 194 BLHS… Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến mười lăm năm tù

 Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội như tội giết người theo quy định tại khoản 1 Điều 93 BLHS, tội cướp tài sản theo quy định tại Điều

133 BLHS, tội cố ý truyền HIV cho người khác theo quy định tại khoản 2 Điều 118 BLHS… Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này

là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

- Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, chủ thể vi phạm hình sự là những cá nhân hoặc tổ chức.(1)

- Người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự thể hiện ở việc người đó phải chấp hành hình phạt theo quyết định của Tòa án Người từ đủ 14 tuổi đến dưới

16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Việc xử lý người chưa thành niên (từ đủ

Trang 9

14 đến dưới 18 tuổi) phạm tội được áp dụng theo nguyên tắc lý giáo dục là chủ yếu nhằm giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.(3)

4.1.2 Ví dụ vi phạm hình sự:

Chị A là sinh viên năm cuối thuê một căn chung cư trên tầng 6, nhưng do dịch bệnh khiến chị không có tiền trả nên bị chủ nhà chấm dứt hợp đồng thuê nhà Do quá buồn bực, chị lấy khung hình xuống và bước ra ban công, nhìn xuống dưới không thấy ai, xác nhận bây giờ đã là 22h, chị ném khung hình xuống trúng đầu anh K đi làm về khuya, dẫn đến anh K chấn thương sợ não và

tử vong trên đường đi cấp cứu Sau đó, chị A bị toà tuyên án về tội giết người

4.1.3 Phân tích cấu thành vi phạm hình sự:

- Mặt khách quan của VPPL:

 Hành vi trái pháp luật: chị A đã ném khung hình từ tầng 6 của chung cư

 Sự thiệt hại cho xã hội: cái chết của anh K

 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại cho xã hội: chị A đã ném khung hình từ tầng 7 của chung cư xuống là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của anh K

 Thời gian, địa điểm VPPL: vào lúc 22h, tại căn chung cư nơi chị A thuê

 Phương tiện VPPL: khung hình

- Mặt chủ quan của VPPL:

 Lỗi: chị A thực hiện hành vi với lỗi vô ý vì quá tự tin, cụ thể, chị A nhận thấy trước hậu quả của việc ném khung hình nên trước khi ném, chị A đã bước ra ban công và nhìn xuống dưới, nhưng chị A tin rằng hậu quả sẽ không xảy ra vì chị đã quan sát thấy không có ai Do đó, chị mới ném khung hình xuống

- Chủ thể của VPPL: chị A là người đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm pháp lý để chịu trách nhiệm do hành vi của mình gây ra

- Khách thể của VPPL: chị A đã xâm phạm đến quan hệ về tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ

- Theo quy định tại Điều 128 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì chị A có thể bị kết án phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ

01 năm đến 05 năm vì tội vô ý làm chết người

4.2 Vi phạm hành chính:

4.2.1 Khái niệm(1)

Trang 10

- Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách vô ý hoặc cố ý xâm hại các quy tắc quản lý của nhà nước và không phải là tội phạm hình sự, theo quy định của pháp luật phải được xử phạt hành chính

- Vi phạm hành chính có tính chất nguy hiểm thấp hơn so với tội phạm, chúng có thể xảy ra trên các lĩnh vực quản lí hành chính khác nhau: trật tự an toàn giao thông, trật tự quản lý đất đai, nhà ở, môi trường, trật tự quản lý văn hoá, y tế…

- Chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cá nhân hay tổ chức

- Người vi phạm phải chịu trách nhiệm hành chính theo qui định của pháp luật Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra.(3)

4.2.2 Ví dụ vi phạm hành chính:

Anh Lê Xuân A (27 tuổi) do muộn giờ đi làm nên đã tham gia giao thông đường bộ với tốc độ 52km/h vào ngày 29/11/2020

4.2.3 Phân tích cấu thành vi phạm hành chính:

- Mặt khách quan của VPPL:

 Hành vi trái pháp luật: tham gia giao thông với vận tốc là 52 km/h Trong khi, tốc độ tối đa cho phép đối với xe máy chuyên dùng, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự trên đường bộ (trừ đường cao tốc) là không quá 40km/h

 Thời gian, phương tiện VPPL: ngày 29/11/2020, xe máy

- Mặt chủ quan của VPPL:

 Lỗi: anh Lê Xuân A thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, anh thực hiện hành vi trái pháp luật khi nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả

đó xảy ra

 Động cơ: do muộn giờ đi làm

- Chủ thể của VPPL: Anh Lê Xuân A, 27 tuổi, không mắc bệnh về thần kinh, có năng lực trách nhiệm pháp lý đầy đủ bởi trên 18 tuổi, có thể tham gia giao thông và chịu trách nhiệm cho hành vi của mình

- Khách thể của VPPL: Anh Lê Xuân A đã xâm phạm quan hệ giao thông đường

bộ mà Nhà nước quy định và bảo vệ

- Theo Điểm a Khoản 5 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì anh Nguyễn Văn A có thể bị xử phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng vì điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h

Ngày đăng: 05/09/2023, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w