1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

đề án chuyên ngành: công cụ lãi suất của chính sách tiền tệ vn potx

32 612 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công cụ lãi suất của CSTT ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả Lê Trung Hiếu
Người hướng dẫn ThS. Trịnh Thị Thúy Hồng
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Chính sách tiền tệ
Thể loại Đề án chuyên ngành
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 276,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách tiền tệ CSTT là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kỳ quan trọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởnglớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

  

Ngày nay, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu trong tiếntrình toàn cầu hóa nền kinh tế Có thể thấy việc gia nhập tổ chức thương mạithế giới (WTO) chính là cơ hội để Việt Nam tiến sâu vào hội nhập và pháttriển bình đẳng với các quốc gia trên thế giới Song nhìn về đặc điểm, trình

độ, các mối quan hệ kinh tế hiện hữu và năng lực điều hành kinh tế vi mô, vĩ

mô, thì chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức không phải là nhỏ.Gắn với công cụộc đổi mới và mở cửa ở nước ta, có nhiều yêu cầu phải giảiquyết cùng một lúc: vừa ổn định, vừa phát triển kinh tế trong nước, vừa mởrộng giao lưu quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài… Vì vậy cầnphải có những bước đi thận trọng với những chính sách linh hoạt để tránhnhững “cơn sốc” hay “khủng hoảng” đối với kinh tế Việt Nam trên con đườnghội nhập

Chính sách tiền tệ (CSTT) là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực

kỳ quan trọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởnglớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạmphát… Để đạt được các mục tiêu của CSTT thì việc sử dụng các công cụ của

nó có vai trò cơ bản, quyết định Từ khi đổi mới đến nay, các công cụ củaCSTT dang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối vớinền kinh tế Việc lựa chọn các công cụ sao cho phù hợp và việc sử dụngchúng sao cho hiệu quả nhất trong từng giai đoạn kinh tế luôn là một vấn đề

mà Nhà nước quan tâm theo dõi và đưa ra các quyết định cụ thể Đặc biệttrong bối cảnh hiện nay, thì việc nghiên cứu các công cụ của CSTT là vấn đề

có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao Trong các công cụ của chính sách tiền tệthì công cụ lãi suất là một công cụ quan trọng Chính vì vậy, em đã chọn đề

tài: “Công cụ lãi suất của CSTT ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” để tìm hiểu và nghiên cứu.

Ngoài phần mở bài và kết luận, đề tài gồm 03 chương với bố cục như sau:

Chương 1: Tổng quan về CSTT trong nền kinh tế thị trường.

Chương 2: Thực trạng việc sử dụng công cụ lãi suất của CSTT ở Việt Nam

trong giai đoạn hiện nay

Trang 2

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công cụ lãi suất của CSTT ở Việt Nam hiện

nay

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo

ThS Trịnh Thị Thúy Hồng đã giúp em hoàn thành đề tài này.

Vì kiến thức cũng như kinh nghiệm còn non trẻ và thời gian hạn hẹpnên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Em mong được sự góp ý của cô

để bài viết được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Sinh viên thực hiện

Lê Trung Hiếu

Trang 3

TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ

THỊ TRƯỜNG 1.1 Khái niệm, vị trí và đặc trưng của CSTT

1.1.1 Khái niệm

CSTT của NHNN là tập hợp những chủ trương, biện pháp, nguyên tắccũng như các công cụ mà NHNN sử dụng để điều tiết, điều hòa khối lượngtiền trong nền kinh tế nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, tạonền tảng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống của người dân

Điều 2, Luật NHNNVN quy định: CSTTQG là một bộ phận của chínhsách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềmchế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốcphòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân

Tùy theo điều kiện mỗi nước, CSTT có thể được xác lập theo haihướng: CSTT mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuấtkinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng – CSTT chống thất nghiệp)hoặc CSTT thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sảnxuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng – CSTT ổnđịnh giá trị đồng tiền)

1.1.2 Vị trí

Vị trí CSTT: Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nướcthì CSTT là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trựctiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với cácchính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khóa, chính sách thu nhập,chính sách kinh tế đối ngoại

Đối với NHNN việc hoạch định và thực thi CSTT là hoạt động cơ bảnnhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho CSTT quốc gia được thực hiện

có hiệu quả hơn

Trang 4

kinh tế CSTT là một bộ phận trung tâm của các chính sách kinh tế - tài chínhquốc gia.

CSTT là công cụ thuộc tầm vĩ mô.

Khối lượng tiền tệ là đối tượng mà một số NHNN xem là yếu tố cần tácđộng chính, từ đó tác động đến lãi suất, đầu tư, ảnh hưởng đến sản xuất và lưuthông hàng hóa Vì vậy, CSTT là một chính sách thuộc tầm vĩ mô

NHNN là người đề ra và vận hành CSTT.

CSTT hướng đến việc thay đổi lượng tiền cung ứng và lưu thông saophù hợp với mục tiêu, vì vậy chủ thể nào cung ứng tiền thì chủ thể đó phảitrực tiếp vạch ra CSTT

1.2 Mục tiêu của CSTT

1.2.1 Ổn định giá cả

NHNN thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trịđồng tiền của nước mình Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên hai mặt:Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hóa dịch vụ trong nước) vàsức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ) Ổn địnhgiá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng sự phát triển kinh tế của quốcgia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môi trường kinh tế

vĩ mô Mức lạm phát thấp và ổn định thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sựphân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả Tuy vậy, CSTT hướng tới ổnđịnh giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát = 0 vì vậy nền kinh tếkhông thể phát triển được, để có một tỷ lệ lạm phát giảm phải chấp nhận một

tỷ lệ thất nghiệp tăng lên

1.2.2 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi Chính phủ trong việchoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăngtrưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng,

nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ CSTT phải đảm bảo sựtăng lên của GDP thực tế Nếu mức gia tăng GDP thực tế cao hơn nhịp độtăng trưởng dân số thì nền kinh tế thật sự có tăng trưởng Một nền kinh tếphồn thịnh với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định là mục tiêu vĩ mô của bất kỳmọi quốc gia

Trang 5

Sự phối hợp ba mục tiêu: ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công

ăn việc làm là rất quan trọng Vì giữ các mục tiêu có sự mâu thuẫn với nhau,nên NHNN không thể theo đuổi tất cả các mục tiêu trên trong một khoảngthời gian nhất định Do vậy, khi đặt ra các mục tiêu cho CSTT, cần phải có sựdung hòa Cụ thể là phải tùy lúc, tùy thời, tùy điều kiện cụ thể mà sắp xếp thứ

tự ưu tiên Muốn vậy NHNN phải luôn nắm bắt được thực tế diễn biến củaquá trình thực hiện các mục tiêu, nhằm điều chỉnh chúng khi có sự thay đổibằng những giải pháp thích hợp

1.3 Các công cụ của CSTT

Để thực thi CSTT, thực hiện chức năng và vai trò của mình, NHNN đã

sử dụng hàng loạt các công cụ như: lãi suất, dự trữ bắt buộc, hạn mức tíndụng, cho vay tái chiết khấu… Mỗi loại công cụ có cơ chế vận hành riêng và

có ưu nhược điểm khác nhau Do đó, tùy thuộc vào điều kiện thực tế của nềnkinh tế để sử dụng nó một cách phù hợp, hiệu quả Nhìn chung, các công cụnày tác động đến hai đầu mối chủ yếu là ngân hàng trung gian và thị trườngmở

tế và trình độ phát triển của thị trường tài chính, NHNN có thể sử dụng công

cụ lãi suất để điều hành CSTT theo các chính sách:

1.3.1.1 Lãi suất cơ bản

Trang 6

Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suấtkhác hình thành trong nền kinh tế thị trường Đó là loại lãi suất chiếm vị tríquan trọng trong cơ chế thị trường.

Lãi suất cơ bản do NHTW xác định và công bố trên cơ sở tình hìnhthực tế của thị trường và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia

Lãi suất cơ bản có một số chức năng nhất định Nó là công cụ để điềuhành chính sách tiền tệ quốc gia Qua lãi suất cơ bản, NHTW tác động vào thịtrường tiền tệ, thúc đẩy, mở rộng hay thu hẹp tín dụng, giữ mức tương quancần thiết giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ Mặc khác, lãi suất cơ bản là giá

cả sử dụng vốn trong hoạt động tín dụng, là cơ sở hình thành lãi suất thịtrường, tức là lãi suất kinh doanh tiền tệ Nó là điểm dung hòa một cách tựnhiên lợi ích của người gửi tiền, của người vay tiền và của tổ chức tín dụng

Lãi suất cơ bản được xác định một cách trực tiếp dưới nhiều góc độ.Nếu đứng trên giác độ bảo vệ lợi ích của khách hàng (người gửi tiền và ngườivay vốn) người ta quy định lãi suất tiền gửi tối thiểu và lãi suất cho vay tối đa.Điều này có nghĩa là, vì lợi ích của người gửi tiền, các tổ chức tín dụng khôngđược hạ lãi suất một cách tùy tiện và vì yêu cầu phát triển sản xuất, các tổchức tín dụng không được tăng lãi suất cho vay quá mức Nếu đứng trên giác

độ bảo vệ lợi ích của các tổ chức tín dụng, tạo khuôn khổ cạnh tranh lànhmạnh, đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, người ta quy định lãi suất cơ bảntheo chiều hướng ngược lại đó là quy định lãi suất tiền gửi tối đa và lãi suấtcho vay tối thiểu Tuy nhiên vì muốn tạo lợi thế trong cạnh tranh mà nâng lãisuất huy động quá cao hoặc cho vay theo lãi suất quá thấp sẽ gây thiệt hạichung cho toàn hệ thống các tổ chức tín dụng

Khi xác định lãi suất cơ bản phải tính đến tổng thể quan hệ cung cầuvốn thông qua hàng loạt các yếu tố trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thôngthường Đó là tỷ suất lợi nhuận bình quân, mức tăng trưởng kinh tế, chỉ sốlạm phát dự kiến, lãi suất thực dương cho người gửi tiền, bù đắp chi phí và cólãi cho TCTD, yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ từng thời kì, rủi ro tronghoạt động tín dụng, mức độ dự trữ bắt buộc, lãi suất hình thành trên thị trườngtiền tệ nói chung, mối tương quan giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ, mốitương quan giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái…

Trang 7

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về lãi suất cơ bản, cách thức xác định

và điều hành lãi suất cơ bản Có thể lấy lãi suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối

đa, lãi suất cho vay tối đa, lãi suất tái chiết khấu của NHTW đối với các tổchức tín dụng hoặc lãi suất trên thị trường liên ngân hàng

Lãi suất cơ bản là lãi suất tái chiết khấu: đây là phương pháp phổ biếnđược NHTW các nước áp dụng Do lãi suất này được chủ động công bố vàđược xem xét, tính toán tương đối thường xuyên nên thực sự đóng vai tròquyết định đối với các mức lãi suất kinh doanh cũng như cung cầu vốn củacác TCTD Nhưng lại mang nặng tính chất điều hành chính sách tiền tệ

Lãi suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối đa: Thực chất của lãi suất cơ bảnloại này là NHTW công bố và kiểm soát lãi suất tiền gửi tối đa và tự do hóalãi suất cho vay Các tổ chức tín dụng sẽ ấn định các mức lãi suất tiền gửitrong phạm vi khống chế lãi suất tiền gửi tối đa và ấn định các mức lãi suấtcho vay cụ thể phù hợp với cung cầu về vốn

Lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay tối đa: NHTW công bố một mức lãisuất trần nhưng có thể quy định biên độ phù hợp vời từng loại hình TCTD,thời hạn khác nhau

Lãi suất cơ bản là lãi suất trên thị trường liên ngân hàng: Lãi suất liênngân hàng là lãi suất cho vay giữa các NHTM Lãi suất liên ngân hàng đượchình thành trên cở sở thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và quan hệ cungcầu vốn trong nền kinh tế Do vậy, lãi suất liên ngân hàng gắn liền với thịtrường nhiều hơn và dễ biến động hơn Thông thường, lãi suất cơ bản bằng lãisuất liên ngân hàng cộng với một biên độ gồm chi phí quản lý món vay, chiphí rủi ro…

Sử dụng lãi suất cơ bản phải linh hoạt tùy vào từng thời điểm như: hạnchế tăng trưởng tín dụng bằng cách tăng lãi suất tiền vay và tăng lãi suất tiềngửi Biện pháp tăng lãi suất tiền vay nhằm khống chế tình trạng đồng vốn vayđược sử dụng tự do trên thị trường Tăng lãi suất tiền gửi để thu hút mộtlượng tiền nhàn rỗi trong lưu thông Hai biện pháp này sẽ hỗ trợ cho nhaugiúp NHNN chủ động “cầm nắm” được thị trường tiền tệ Nhờ vậy mà gópphần kiềm chế được tình trạng lạm phát, kinh tế vĩ mô được điều tiết hợp lý,hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong đó các ngân hàng thương mạiđược đảm bảo

Trang 8

1.3.1.2 Lãi suất tái chiết khấu

Khi nền kinh tế phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, NHTW chuyểnsang điều hành lãi suất một cách gián tiếp, mang nặng yếu tố kinh tế Đó là lãisuất tái chiết khấu của NHTW Lãi suất tái chiết khấu tác động và có ý nghĩahướng dẫn lãi suất thị trường một cách gián tiếp, tức là tác động đến lãi suấtkinh doanh của các tổ chức tín dụng

Lãi suất chiết khấu chủ yếu tác động đến cung tiền tệ bằng cách ảnhhưởng đến khối lượng cho vay chiết khấu và cơ số tiền tệ Một sự giảm xuốngcho vay chiết khấu sẽ làm giảm bớt cơ số tiền tệ và thu hẹp cung ứng tiền tệ.Còn một sự tăng lên trong cho vay chiết khấu sẽ làm tăng cơ số tiền tệ và tăngcung ứng tiền tệ

Ngoài việc sử dụng làm công cụ để tác động đến cơ số tiền tệ và cungứng tiền tệ, lãi suất chiết khấu còn được sử dụng để giúp cho việc tránh khỏinhững cơn sụp đổ tài chính vì NHTW đóng vai trò là người cho vay cuốicùng NHTW cung cấp hệ thống dự trữ cho hệ thống ngân hàng khi các ngânhàng bị đe dọa phá sản, do đó ngăn chặn những cơn sụp đổ tài chính

Như vậy, lãi suất chiết khấu chính là một công cụ điều hành lãi suất củaNHTW sao cho phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia

1.3.1.3 Lãi suất tái cấp vốn

Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của NHTW đối với các NHTM.Khi tái cấp vốn cho NHTM, NHTW đã tăng lượng tiền cung ứng, đồng thờitạo cơ sơ cho NHTM tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán cho họ

NHTW điều chỉnh tăng, giảm lãi suất tái cấp vốn phù hợp với mục tiêuthắt chặt hay mở rộng tiền tệ, từ đó làm giảm hay tăng lượng tiền trong lưuthông NHTW cũng sử dụng hạn mức tái cấp vốn để tác động trực tiếp về mặtlượng đối với dự trữ của hệ thống NHTM

1.3.2 Dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các NHTM phải đưa vào dự trữtheo luật định Mức DTBB cao hay thấp tùy thuộc vào tỷ lệ DTBB – doNHNN quy định – cao hay thấp Tỷ lệ DTBB là tỷ lệ phần trăm trên lượngtiền gửi mà NHTM huy động được, phải để dưới dạng dự trữ Như vậy, mỗingân hàng chỉ được cho vay số tiền còn lại sau khi đã trừ phần dự trữ bắtbuộc Qua đó, việc tăng hay giảm tỷ lệ DTBB, NHNN có thể hạn chế hoặc

Trang 9

bành trướng khối lượng tiền tệ mà hệ thống ngân hàng có khả năng cung ứngcho nền kinh tế.

Khi tỷ lệ DTBB tăng hoặc giảm thì hệ số tạo tiền của hệ thống NHTMgiảm hoặc tăng dẫn đến khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế giảm hoặctăng Đây là công cụ mang tính hành chính của NHNN Ưu điểm của nó là cóthể tác động đến tất cả các NHTM như nhau và tác động một cách đầy quyềnlực Bên cạnh đó việc thay đổi tỷ lệ DTBB sẽ ảnh hưởng đến khả năng thudoanh lợi của các NHTM

1.3.3 Hạn mức tín dụng

Công cụ hạn mức tín dụng là một công cụ can thiệp trực tiếp mang tínhhành chính của NHNN Bằng công cụ hạn mức tín dụng, NHNN quy định chocác NHTM một hạn mức tăng tín dụng tối đa Như vậy, biện pháp này chophép NHNN ấn định trước khối lượng tín dụng phải cung cấp cho nền kinh tếtrong một thời gian nhất định Đây là một biện pháp mạnh, có hiệu lực đáng

kể Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế nhất định như:

- Có thể làm tăng lãi suất, bởi vì cung hạn chế

- Làm giảm cạnh tranh giữa các ngân hàng

- Gây ra tiêu cực trên thị trường vốn

- Hạn mức tín dụng cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ vì cácngân hàng thường chọn doanh nghiệp lớn dể cho vay nhằm giảm chi phí vàbảo đảm an toàn trong giới hạn tín dụng được phép

1.3.4 Tái cấp vốn

Tái cấp vốn là một phương pháp mà qua đó NHNN sẽ cung ứng tiềncho nền kinh tế thông qua việc cấp tín dụng cho các NHTM trên cơ sở nhậntái chiết khấu, tái cầm cố các chứng từ có giá của các NHTM

NHNN điều chỉnh tăng, giảm lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiếtkhấu phù hợp với mục tiêu thắt chặt hay mở rộng tiền tệ, từ đó làm giảm hoặctăng lượng tiền trong lưu thông Nếu chính sách của NHNN là muốn bànhtrướng khối tiền tệ, NHNN khuyến khích các NHTM trong việc đi vay bằngcách hạ thấp lãi suất tái chiết khấu và những điều kiện tái chiết khấu cũng dễdãi Ngược lại, khi NHNN muốn giảm bớt cơ hội làm tăng khối tiền tệ, sẽthực hiện nâng lãi suất tái chiết khấu, thay đổi điều kiện tái chiết khấu theohướng khó khăn hơn

Trang 10

NHNN cũng sử dụng hạn mức tái cấp vốn để tác động trực tiếp về mặtlượng đối với dự trữ của hệ thống NHTM.

1.3.5 Nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động giao dịch, mua bán các chứngkhoán của NHNN với các đối tác được lựa chọn trên thị trường tiền tệ, ảnhhưởng đến khối lượng dự trữ của các NHTM, từ đó tác động trực tiếp đến khảnăng cung ứng tín dụng của các NHTM và gián tiếp đến lãi suất thị trườngnhằm điều tiết mức cung tiền thông qua những ảnh hưởng về mặt lượng vàgiá

Khi NHNN đem chứng khoán ra thị trường mở bán nó sẽ thu được tiềnmặt và séc về Điều này có nghĩa là khối lượng tiền mặt cung ứng cho lưuthông giảm, dự trữ của các NHTM giảm, làm giảm khả năng cung ứng tíndụng của các NHTM và như thế, cung ứng tiền trong nền kinh tế bị thắt chặthơn Bên cạnh đó, việc NHNN bán chứng khoán ra thị trường mở sẽ làm tăngcung chứng khoán, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, giá chứngkhoán này sẽ hạ, và do vậy, lãi suất chứng khoán tăng lên Lãi suất chứngkhoán tăng buộc các NHTM phải tăng lãi suất ngân hàng lên theo để tránhtrình trạng công chúng khỏi rút tiền ra khỏi ngân hàng đem đầu tư vào chứngkhoán, nghĩa là gián tiếp thắt chặt thêm khối tiền tệ

Ngược lại khi NHNN đem tiền mặt hoặc séc mua chứng khoán trên thịtrường mở, thì lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên, đự trữ của các NHTMtăng lên Mặt khác, việc NHNN mua chứng khoán sẽ làm tăng cầu về chứngkhoán, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, giá chứng khoán sẽ tăng,dẫn đến lãi suất chứng khoán giảm, và đến lượt lãi suất ngân hàng giảm, kíchthích doanh nghiệp đi vay, khối tiền tệ tăng lên

1.3.6 Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữahai đồng tiền Nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệnước này được biểu hiện bằng một số lượng đơn vị tiền tệ nước khác

Sự biến động của tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạtđộng kinh tế, từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêudùng trong nước qua biến đổi của giá cả hàng hóa Do vậy, tỷ giá hối đoái làmột công cụ để NHNN thực thi CSTT của mình Tuy nhiên, khi vận dụng

Trang 11

công cụ này, NHNN không đẩy tỷ giá lên cao hay kéo tỷ giá xuống thấp mà là

ổn định tỷ giá ở mức phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của quốc giatrong từng giai đoạn

Khi vận hành tỷ giá hối đoái, NHNN có thể ấn định tỷ giá cố định, hoặcthả nổi tỷ giá theo quan hệ cung – cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Cácloại tỷ giá như: tỷ giá cố định, tỷ giá thả nổi hoàn toàn, tỷ giá thả nổi có sựquản lý của Nhà nước

Tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi hoàn toàn đều có những nhược điểm cơbản Cụ thể, cung – cầu ngoại hối biến đổi không ngừng, do vậy, nếu NHNN

ấn định một mức tỷ giá cố định thì tác động đến quy luật cung – cầu trên thịtrường Còn nếu thả nổi tỷ giá thì sự biến động của tỷ giá có ảnh hưởng lớnđến nền kinh tế, có thể làm cho nền kinh tế phát triển nhưng cũng có thể đưanền kinh tế lâm vào trình trạng khoảng hoảng trầm trọng

Tỷ giá thả nổi có quản lý là tỷ giá được hình thành trên cơ sở quan hệcung – cầu ngoại hối, nhưng khi cần thiết NHNN có thể can thiệp bằng nhữngbiện pháp thích hợp, tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào quan hệcung - cầu ngoại tệ từ đó ổn định được tỷ giá

Biện pháp chủ yếu mà các NHNN thường dùng để can thiệp vào cung –cầu ngoại tệ là sử dụng dự trữ ngoại hối và quỹ bình ổn hối đoái

Cụ thể, khi tỷ giá hối đoái tăng cao, NHNN tung ngoại tệ ra bán, làmcho cung ngoại tệ trên thị trường tăng lên, trong điều kiện các yếu tố kháckhông đổi, thì tỷ giá sẽ từ từ giảm xuống Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm,NHNN hút ngoại tệ về bằng cách mua vào, trong khi các yếu tố khác vẫnkhông đổi thì tỷ giá sẽ dần tăng lên Để áp dụng biện pháp này hiệu quả, đòihỏi quốc gia phải có khối lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn Vì vậy, đối vớinhững nước đang phát triển, chẳng hạn như nước ta thì việc áp dụng công cụnày có những hạn chế nhất định

Trang 12

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÔNG CỤ LÃI SUẤT CỦA CSTT Ở

VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA 2.1 Khái quát chung về quá trình thực hiện công cụ lãi suất của CSTT ở nước ta từ năm 2008 đến nay.

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính Mỹ cũng đã qua nhưng cho đến nay

dư âm và tác động của nó vẫn còn Năm 2008, khủng hoảng tài chính bùngphát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều địnhchế tài chính khổng lồ, thị trường chứng khoán khuynh đảo Nguyên nhân sâu

xa của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng và nhà đấttại Mỹ Bong bóng bất động sản càng lúc càng phình to đã đặt thị trường nhàđất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia châu Âu vào thếnguy hiểm Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm cho quả bong bóngtại thị trường nhà đất Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản mà khôngquan tâm tới khả năng chi trả của khách Dư nợ trong mảng này nhảy từ 160

tỷ USD của năm 2001 lên 540 tỷ vào năm 2004 và bùng nổ thành 1.300 tỷvào năm 2007 Vào cuối quý III năm 2008, hơn một nửa giá trị thị trường nhàđất Mỹ là tiền đi vay với một phần ba các khoản này là nợ khó đòi Trước đó,

để đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vào giữa năm

2004 lên 5,25% vào giữa năm 2006 khiến lãi vay phải trả trở thành áp lực quálớn với người mua nhà Thị trường bất động sản thời điểm này bắt đầu có dấuhiệu đóng băng và sụt giảm

Trước tình hình trên, các ngân hàng, công ty bảo hiểm, tổ chức tàichính đã mua lại các hợp đồng thế chấp và biến chúng thành tài sản đảmbảo để phát hành trái phiếu ra thị trường Loại sản phẩm phái sinh này đượcđánh giá cao bởi các tổ chức định giá tín dụng, nên thanh khoản tốt Khôngchỉ dừng lại ở đó, nhiều công ty bảo hiểm, trong đó có AIG, còn sẵn sàng bảolãnh cho những hợp đồng hoán đổi này Chiến lược trên được đưa ra với mụcđích giảm rủi ro cho những khoản vay bất động sản Tuy nhiên, trái lại nó tạo

ra hiệu ứng sụp đổ dây chuyền và khiến rủi ro bị đẩy lên cao hơn Những bất

ổn từ hoạt động cho vay dưới chuẩn khiến giá nhà sụt giảm mạnh, thị trườngnhà đất đóng băng Cuộc khủng hoảng từ đó lan từ thị trường bất động sản

Trang 13

sang thị trường tín dụng và cuối cùng dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Mỹ

và tràn sang nhiều nước châu Âu, khiến nhiều công ty lớn phá sản

Trong năm 2008, NHNN đã 3 lần tăng và 5 lần giảm lãi suất cơ bản.Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng có tần suất điều chỉnh tươngứng Cơ chế điều hành tỷ giá ghi nhận những điều chỉnh chưa từng có tronglịch sử Biên độ có 3 lần nới rộng, từ +/- 0,75% lên +/- 3%; tỷ giá bình quânliên ngân hàng có 2 lần điều chỉnh mạnh vào tháng 6 và cuối tháng 12 Bêncạnh đó, đã thực hiện tốt 8 nhóm giải pháp của Chính phủ về ưu tiên kiềm chếlạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng và bảo đảm an sinh xãhội

Năm 2009, một năm mà chính sách tiền tệ (CSTT) đã phải đối mặt vớinhiều thách thức khó lường phát sinh từ những bất cập của nền kinh tế và tácđộng bất lợi của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế

Trước những tác động bất lợi như vậy, NHNN đã thực thi CSTT mộtcách linh hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thịtrường

Từ đầu năm 2009, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và dân cưtrong xã hội tiếp cận được với vốn vay của hệ thống ngân hàng theo tinh thầncủa các gói giải pháp kích cầu của Chính phủ cũng như tạo điều kiện cho cácNHTM hoạt động ổn định và hiệu quả, NHNN đã hạ thấp lãi suất chỉ đạo từ14% xuống 7%, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5%

2.2 Thực trạng sử dụng công cụ lãi suất của CSTT trong những năm qua

Đầu năm 2008, trong một loạt các biện pháp kiềm chế lạm phát, Ngânhàng Nhà nước đã đưa ra Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN về việc tăng tỷ

lệ dự trữ bắt buộc nhằm rút bớt tiền từ lưu thông về, chủ động kiểm soát tốc

độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng dư nợ tín dụng phù hợpvới các mục tiêu kinh tế vĩ mô Theo Quyết định, Ngân hàng Nhà nước sẽ mởrộng diện các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc, bao gồm các loại tiền gửikhông kỳ hạn và có kỳ hạn, thay cho việc áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiềngửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống trong thời gian qua.Tiếp đó là quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc phát hành tín phiếu Ngânhàng Nhà nước bằng tiền đồng dưới hình thức bắt buộc đối với các tổ chức tíndụng nhằm thu hút 20.300 tỉ đồng Các ngân hàng thương mại đối mặt với

Trang 14

khó khăn thiếu hụt nguồn cung tiền đồng sau những quyết định của Ngânhàng Nhà nước Tình trạng thiếu hụt tiền đồng của các ngân hàng thể hiện quaviệc lãi suất cho vay qua đêm của các ngân hàng trong vòng một tháng qua đã

có lúc lên tới 30% Điều này đã đẩy các ngân hàng đến chỗ đua nhau tăng lãisuất huy động

Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất huyđộng là 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 nhằmhạn chế cuộc đua này Đến ngày 17/05/2008, Ngân hàng Nhà nước thông báonhững điều chỉnh trong chính sách điều hành lãi suất Đó chính là Quyết định

số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng ViệtNam Theo Quyết định này, các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh(lãi suất huy động và lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam không vượt quá150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố áp dụng trong từngthời kỳ; quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2002 vềviệc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mạibằng VNĐ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng hết hiệu lực thi hành.Việc huy động vốn bằng VNĐ của các tổ chức tín dụng phù hợp với quy định

về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mức trần lãi suất huy động 12%/năm theocông điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 cũng không còn hiệu lực Qua

đó, đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năngthanh toán của các Ngân hàng thương mại trong những tháng cuối năm 2008;

an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của các nhà đầu

tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng Khắc phục đượctình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các Ngânhàng thương mại Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng giảm, kinh tế vĩ

mô ổn định và hoạt động của các Ngân hàng thương mại đảm bảo khả năngthanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong năm 2009 tương đối ổnđịnh

Năm 2008, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn Cụ thể:

- Trong 6 tháng đầu năm, áp lực lạm phát gia tăng mang tính toàn cầu,trước tình hình đó, NHNN đã tăng tỷ lệ DTBB và mở rộng diện tiền gửi phảiDTBB ở tất cả các kỳ hạn; phát hành tín phiếu bắt buộc 20.300 tỷ đồng chocác NHTM

Trang 15

- NHNN đã tăng tính thanh khoản cho thị trường bằng cách bơm mạnhtiền qua nghiệp vụ thị trường mở, chuyển từ đấu thầu lãi suất sang đấu thầukhối lượng, tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của cácNHTM.

- Tuy nhiên, các biện pháp chính sách trên chưa ngăn chặn được đà tănglãi suất huy động và mở rộng tín dụng của các NHTM, do vậy buộc NHNNphải quy định trần lãi suất huy động tiền gửi của các NHTM không được quá12%

- Một diễn biến bất lợi khác trên thị trường ngoại hối trong tháng5/2008 là với mức thâm hụt thương mại lớn, lạm phát tăng cao

Để bình ổn thị trường ngoại hối, NHNN đã thực hiện hàng loạt biện pháp,như nới rộng biên độ tỷ giá từ ±1% lên mức ±2% tạo sự linh hoạt tỷ giá sátvới cung - cầu thị trường; thực hiện mở rộng đối tượng bán ngoại tệ cho cácNHTM, việc can thiệp dựa vào trạng thái ngoại tệ của các NHTM trong ngày,thực hiện minh bạch các thông tin về dự trữ ngoại hối

- Trong tình hình kinh tế thế giới như vậy, mặc dù những tháng cuối năm

2008 mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nềnkinh tế Việt Nam, nhất là thị trường tài chính Việt Nam còn nhỏ, song đểngăn chặn ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và giảm áp lực lạm phátvẫn diễn ra ở Việt Nam đến tận tháng 9, NHNN đã phải tiếp tục áp dụng một

số biện pháp hổ trợ thị trường như nâng cao lãi suất tín phiếu bắt buộc, trả lãicho tiền gửi DTBB bằng VND

Để kích thích kinh tế chống lại nguy cơ giảm phát, bắt đầu từ tháng 10,các loại lãi suất chỉ đạo đã liên tục được hạ xuống theo một lộ trình thích hợp.Lãi suất cơ bản từ mức 14%/năm sau 4 lần hạ hiện xuống còn 8,5%, lãi suấttái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn cũng được hạ tương ứng, biên độ dao động

tỷ giá được nâng lên

Các chỉ số thị trường tiền tệ (tín dụng và lãi suất) và các chỉ số kinh tếđạt được trong những tháng cuối năm cho thấy việc thực thi CSTT củaNHNN năm 2008, mặc dù có những bất cập nhất định, nhưng thực sự đã cónhững tác động rất rõ nét đến việc ổn định thị trường tiền tệ, ngăn chặn đàlạm phát đang gia tăng rất cao, tạo thế chủ động cho NHNN trong thực thiCSTT, thiết lập được kỷ luật trên thị trường tiền tệ mà trước đây rất lỏng lẻo,

Trang 16

làm thay đổi thái độ và hành vi ứng xử của các thành viên thị trường theochiều hướng tích cực.

Nhìn lại năm 2009, khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đã đặt hệthống ngân hàng Việt Nam đứng trước một năm đầy khó khăn và thách thức.Trên cơ sở bám sát chỉ đạo, điều hành của Chính phủ cùng với sự nỗ lực củatoàn ngành, hoạt động ngân hàng năm 2009 đã đạt được nhiều kết quả tíchcực Trong đó, nổi bật là việc triển khai kịp thời cơ chế hỗ trợ lãi suất, điềuhành chính sách tiền tệ và hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM)trong năm 2009 đã có sự ổn định tương đối so với năm 2008 Tuy nhiên, trênthực tế, những biến động và căng thẳng trên thị trường tiền tệ vẫn còn tồn tại,

ở một số thời điểm, đã có những ảnh hưởng đến hoạt động của các doanhnghiệp và tâm lý của người dân trong nền kinh tế, đồng thời cũng đặt ranhững thách thức đối với hoạt động của ngành Ngân hàng trong năm 2010.Một trong những vấn đề của năm 2009, mặc dù đã có những giải đáp cụ thể

về chính sách điều hành, song, trong những tháng đầu năm 2010, vẫn nổi lênnhững vấn đề tranh luận xoay quanh việc điều hành chính sách lãi suất củaNHNN, đặc biệt là việc dỡ bỏ trần lãi suất huy động có được thực hiện haykhông đã gây ảnh hưởng không tích cực đến sự ổn định của hệ thống ngânhàng

Ta biết rằng mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phần lớn Ngânhàng Trung ương của các nước trên thế giới cũng như NHNN Việt Nam là ổnđịnh giá trị đồng tiền của quốc gia - thông qua việc kiểm soát lạm phát Trong

đó, lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT)của NHTƯ để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó

Về lý thuyết lãi suất danh nghĩa và lạm phát có mối quan hệ cùng chiều.Khi lạm phát tăng thì lãi suất danh nghĩa tăng để đảm bảo mức lãi suất thựcđược chấp nhận bởi các chủ thể trong nền kinh tế Triển vọng của lãi suấtthực có ảnh hưởng đến các kỳ vọng và hoạt động chi tiêu và đầu tư Sau khixác định được các kỳ vọng lạm phát, nếu người tiêu dùng tin rằng lãi suất tiếtkiệm sẽ không thay đổi hoặc tăng rất thấp, nghĩa là lãi suất thực sẽ âm thì họ

sẽ có khuynh hướng rút tiền gửi tiết kiệm và đầu tư vào bất động sản hoặcchứng khoán để bảo vệ sức mua Điều này sẽ tạo nên bong bóng trên thịtrường bất động sản và ngay lập tức sẽ làm cho CPI có xu hướng gia tăng, vì

Ngày đăng: 18/06/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w