1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ưu điểm chủ yếu của luật thuế thu nhập cá nhân so với pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

14 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ưu điểm chủ yếu của luật thuế thu nhập cá nhân so với pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Luật thuế
Thể loại Bài viết phân tích
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 139 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù còn những ý kiến khác nhau về Luật thuế TNCN, song có thể nói, đây là một văn bản luật được soạn thảo công phu nhất từ trước đến nay, phản ánh khá đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nh

Trang 1

A - MỞ ĐẦU

Sau hơn ba năm chuẩn bị kỹ lưỡng với hàng trăm cuộc hội thảo và sau gần một năm công bố rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, ngày 20/11/2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hoà XHCH Việt nam khoá XII đã thông qua Luật thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ 1/1/2009

Mặc dù còn những ý kiến khác nhau về Luật thuế TNCN, song có thể nói, đây là một văn bản luật được soạn thảo công phu nhất từ trước đến nay, phản ánh khá đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân với nhiều điểm mới so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và phù hợp hơn với điều kiện kinh tế-xã hội nước ta hiện nay Bài viết dưới đây, nhóm em phân tích và làm sáng rõ những ưu điểm chủ yếu của Luật thuế thu nhập cá nhân so với pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

Trang 2

B - NỘI DUNG

I – Khái quát chung về luật thuế thu nhập cá nhân

1.Sự ra đời thuế thu nhập cá nhân

Sự ra đời của thuế thu nhập cá nhân bắt nguồn từ các lí do chính sau:

Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu thực hiện chức năng phân phối thu nhập đảm bảo

công bằng xã hội Vì nhiều lí do khác nhau dẫn đến thu nhập của mỗi cá nhân là không thể đồng đều trong khi nhu cầu tối thiểu lại như nhau Những người bất hạnh cần có một lượng thu nhập nhất định để mưu sinh Nhà nước cần thiết phải đáp ứng một phần nguyện vọng chính đáng ấy Thuế thu nhập cá nhân chính là một trong các công cụ để nhà nước thực hiện mong muốn đó

Thứ hai, sự ra đời của thuế thu nhập cá nhân còn bắt nguồn từ nhu cầu tài chính của

nhà nước, nhà nước nào cũng cần có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cùng xu thế phát triển của kinh tế xã hội, khả năng mang lại thu nhập cho mỗi người ngày càng cao, nhà nước tìm thấy khản nang huy động nguồn tài chính to lớn cho mình thông qua thuế thu nhập cá nhân

Thứ ba, Thuế thu nhập cá nhân là công cụ để nhà nước quản lí và điều tiết các hoạt động

kinh tế xã hội Ở các quốc gia, Nhà nước ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều tiết thu nhập và Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ trong quá trình góp phần để thực hiện chức năng đó Thông qua việc đánh thuế vào thu nhập với những cách thức khác nhau, Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết của mình

2.Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá

nhân trong một năm, từ tháng hoặc từng lần Chính vì thế “Thuế thu nhập cá nhân là một trong những loại thuế nằm trong hệ thông thuế của mỗi quốc gia, đối tượng đánh thuế của thuế thu nhập cá nhân là thu nhập của mỗi cá nhân”.

Nhưng thu nhập cá nhân thì có người nhiều người ít, căn cứ vào khả năng để đánh thuế

có người phải nộp nhiều, có người phải nộp ít và có người không phải nộp Bởi vậy ta có thể coi thuế thu nhập cá nhân là loại thuế phổ thông được thu dựa trên cở sở khả năng đóng góp găn với thu nhập của mỗi cá nhân Nếu xét theo tính chất thuế thu nhập cá nhân thuộc loại thuế trực thu Người nộp thuế cá nhân đồng thời cũng là người chịu thuế vì thế mà thuế thu nhập cá nhân thể hiện tính công bằng Tuy nhiên, do việc đánh trực tiếp vào thu nhập của mỗi cá nhân nên dễ gây phản ứng của người dân đối với loại thuế này Bởi vậy, mỗi

Trang 3

quốc gia đều căn cứ vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể của mình trong từng thời

kì để quy định cho phù hợp vừa đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa đảm bảo

ổn định xã hội

Ngoài các đặc điểm chung của thuế, Thuế thu nhập cá nhân có những đặc điểm và tính chất riêng:

- Thuế thu nhập cá nhân có đối tượng nộp thuế chỉ là các cá nhân có thu nhập chịu thuế phát sinh

- Thuế thu nhập cá nhân được tính trực tiếp vào thu nhập thực tế phát sinh của mỗi cá nhân nên thuế thu nhập cá nhân thường gây tâm lí khó chịu cho đối tượng nộp thuế Tính trạng gian lận, trốn thuế thu nhập thường chính tỷ trọng cao đặc biệt ở các nước

có trình độ quản lý thuế còn hạn chế và ý thức chấp hành của người dân chưa cao

- Thuế thu nhập cá nhân còn có mục tiêu là tăng thu cho Ngân sách Nhà nước, điều hòa thu nhập trong dân cư, đảm bảo công bằng xã hội Trong thuế gián thu thì tiền thuế nằm trong giá bán hàng hóa dịch vụ nên người tiêu dùng dù là người nghèo hay giàu khi tiêu dùng một lượng sản phẩn như nhâu đều phải chịu thuế giống nhau Còn thuế thu nhập cá nhân đánh trực tiếp vào cá nhân có thu nhập thông thường mức thuế suất áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần nên khả năng điều tiết thu nhập trong dân cư cao, chỉ có những người có thu nhập đạt mức nhất định mới phải nộp thuế thu nhập các nhân Thu nhập càng cao thì càng phải chịu thuế nhiều

- Thuế thu nhập cá nhân có tính ổn định không cao vì nó phụ thuộc vào hiệu quả của nền kinh tế, thu nhập của dân cư hàng năm

3.Vai trò của thuế thu nhập cá nhân

Thứ nhất, Thuế thu nhập cá nhân là một trong những loại thuế tạo nguồn thu ngày càng

lớn cho Ngân sách Nhà nước Hiện nay ở nước ta cũng như hầu hết các nước đang phát triển, tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân nằm trong tổng số thu của Ngân sách Nhà nước chưa cao

Sở dĩ như vậy vì nền kinh tế chưa phát triển, thu nhập dân cư chưa cao Thuế thu nhập cá nhân đóng góp vào ngân sách nhà nước chưa thể hiện nhiều như những nước phát triển Nhưng tương lai sẽ cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của mỗi cá nhân ngày được cải thiện thì thuế thu nhập cá nhân gia tăng ngày càng lớn về số lượng và tỷ trọng

Thứ hai, Thuế thu nhập cá nhân là công cụ chủ yếu điều chỉnh, phân phối lại thu nhập

của các tầng lớp dân cư Ở nước ta, chủ trương của Đảng và Nhà nước là phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN với mục tiêu phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và

Trang 4

đảm bảo công bằng xã hội Hơn nữa, nước ta trải qua thời kì chiến tranh lâu dài, diện gia đình chính sách, diện Nhà nước phải cứu trợ còn đông nên vai trò của thuế thu nhập cá nhân ngày càng trở lên đặc biệt quan trọng

Thứ ba, Thuế thu nhập cá nhân là công cụ để Nhà nước có thể kiểm soát được thu nhập

của cá nhân Thu nhập của mỗi cá nhân, tổ chức hay một quốc gia là chỉ tiêu quan trọng quyết định vấn đề tích lũy đầu tư, tiết kiệm, tiêu dùng đến vẫn đề phân bổ nguồn nhân lực trong xã hội Thông qua việc Nhà nước có thể kiểm soát được thu nhập của các tầng lớp trong dân cư thì trên cơ sở đó hoạch định được các mục tiêu, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội Đồng thời ngăn ngừa, phát hiện, xử lí được các hành vi tiêu cực của xã hội như tham nhũng, hối lộ và những nguồn thu bất hợp pháp khác của các cá nhân

II- Những ưu điểm của Luật thuế thu nhập cá nhân so với pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu nhập cao

1 Về đối tượng nộp thuế

1.1.Tiêu chí xác định đối tượng nộp thuế

+ Thứ nhất: Điểm mới cơ bản nhất liên quan đến quy định về đối tượng nộp thuế là việc đưa cá

nhân kinh doanh vào diện nộp thuế TNCN Theo quy định trước đây, cá nhân kinh doanh thuộc diện chịu thuế TNDN Sự thay đổi này, trước hết đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập bởi đã là cá nhân có thu nhập chịu thuế thì dù thu nhập từ bất kì nguồn nào cũng đều được đối xử như nhau, tức là đều chịu thuế TNCN Thêm vào đó, việc điều tiết thu nhập của cá nhân kinh doanh theo Luật thuế TNCN thực hiện theo phương pháp luỹ tiến sẽ đảm bảo điều tiết hợp

lý thu nhập dân cư Điều này rất có ý nghĩa đối với các hộ kinh doanh nhỏ ở Việt Nam vì theo quy định trước đây họ phải nộp thuế TNDN với thuế suất chung bằng với các doanh nghiệp (thông thường là những đơn vị kinh doanh có quy mô lớn) Việc áp dụng thuế suất như với các doanh nghiệp là quá cao đối với hộ cá nhân kinh doanh Hơn nữa, quy định này cũng đảm bảo tính thông lệ quốc tế, vì hầu hết các nước đều đưa cá nhận kinh doanh vào diện nộp thuế TNCN

+ Thứ hai: Tại điều 1 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao quy định như sau:

“Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài và cá nhân khác định cư tại Việt Nam, có thu nhập; người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thu nhập, đều phải nộp thuế thu nhập theo quy định tại Pháp lệnh này” Như vậy có thể thấy Pháp lệnh thuế

thu nhập đối với người có thu nhập cao quy định việc xác định đối tượng nộp thuế thu nhập với

người có thu nhập cao được dựa trên ba tiêu chí đó là: quốc tịch, nơi cư trú và lãnh thổ Việc áp

dụng tới ba tiêu chí nay không đồng nhất với pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới Vì

Trang 5

hầu hết các nước đều chỉ áp dụng một tiêu chí là nơi cư trú Chính điều này đã gây ra tình trạng

đánh trùng thuế − khi mà các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, họ có thể sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo pháp luật của hai quốc gia là Việt Nam và quốc gia mà họ cư trú Điều này phần nào tạo ra tâm lí e ngại cho các nhà đầu tư khi muốn đầu tư vào Việt Nam Việc đánh thuế trùng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng Nó là rào cản đối với dòng luân chuyển hàng hóa, vốn, công nghệ và lao động, cản trở quá trình toàn cầu hóa kinh tế Khắc phục nhược điểm này của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế thu nhập cá nhân đã có những quy định mới thể

hiện những ưu điểm vượt trội Tại khoản 1 điều 2 có quy định như sau: “Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam” Như vậy có thể thấy Luật thuế thu

nhập cá nhân chỉ áp dụng một tiêu chí để xác định đối tượng nộp thuế thu nhập đó là tiêu chí

nơi cư trú Các đối tượng này là: cá nhân cư trú tại Việt Nam thì thu nhập chịu thuế là cả thu

nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam; đối với cá nhân không cư trú tại Việt Nam thì thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam Việc quy định này là hợp lí, đồng bộ với pháp luật của các nước trên thế giới, đã góp phần đáng kể trong việc tránh đánh thuế trùng, khuyến khích đầu tư nước ngoài

+ Thứ ba: Việc xác định đối tượng cư trú trong Luật thuế thu nhập cá nhân cũng có sự

mềm dẻo và chính xác hơn so với quy định của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Tại điều 9 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao quy định:

“Người nước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính cho 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam; được coi là không cư trú nếu ở tại Việt

nam dưới 183 ngày” Như vậy sẽ có trường hợp một người nước ngoài ở tại Việt Nam 183

ngày trong một năm nhưng họ lại không có mặt tại Việt Nam 12 tháng liên tục, mà có thể bị gián đoạn do đi công tác nước ngoài Như vậy họ sẽ không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu nhập cao Khắc phục nhược điểm này của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế thu nhập cá nhân đã quy định tại điểm a khoản 2 điều

2 như sau: “Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam” Quy định này đã góp

phần bao quát hơn các đối tượng nộp thuế Không những thế, Luật thuế thu nhập cá nhân

còn có quy định thêm một điều kiện nữa để được coi là cư trú tại Việt Nam là: “Có nơi ở

Trang 6

thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê

để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn” Một người chỉ cần đáp ứng một

trong hai điều điều kiện trên thì được coi là cư trú tại Việt Nam và phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập phải chịu thuế Như vậy có thể nhận thấy rằng Luật thuế thu nhập cá nhân đã xác định cụ thể và chính xác hơn Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao về đối tượng cư trú

1.2.Về vấn đề phạm vi đối tượng nộp thuế

Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao không bao quát được hết các đối tượng nộp thuế mà chỉ điều chỉnh những cá nhân có thu nhập được quy

định tại điều 2 như: thu nhập từ tiền lương, tiền công, chuyển giao công nghệ, trúng

xổ số, trúng thưởng khuyến mại Còn những cá nhân có thu nhập từ nguồn khác

như: thu nhập từ kinh doanh, từ nhượng quyền thương mại, đầu tư vốn, chuyển nhượng bất động sản thì nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Điều này đã làm giảm nguồn thu từ thuế thu nhập cho ngân sách nhà nước Đồng thời cũng tạo ra sự không thống nhất trong pháp luật thuế bởi cùng là cá nhân là đối tượng nộp thuế nhưng lại chịu sự điều

chỉnh của các văn bản luật khác nhau Ví dụ như: cá nhân kinh doanh chịu sự điều

chỉnh của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 điều chỉnh; cá nhân phi kinh doanh lại do Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao điều chỉnh Để khắc phục nhược điểm này, Luật thuế thu nhập cá nhân đã mở rộng đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân, đây là một điểm rất cần thiết và hợp lí Theo quy định của Luật, các cá nhân có thu nhập từ kinh doanh, từ nhượng quyền thương mại, đầu tư vốn, chuyển nhượng bất động sản cũng sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân Quy định này không những làm cho pháp luật thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam phù hợp với thực tế điều kiện kinh tế − xã hội của nước ta mà còn phù hợp với thông lệ quốc tế

2 Về đối tượng chịu thuế

+ Thứ nhất: Luật thuế thu nhập cá nhân đã bỏ hẳn khái niệm “khởi điểm chịu

thuế” mà thay vào đó là “giảm trừ gia cảnh” cho đối tượng nộp thuế Nếu theo quy

định của Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu nhập cao thì đối tượng nộp thuế sẽ phải nộp số thuế nhất định nếu thu nhập của họ đạt đủ mức khởi điểm chịu thuế mà không quan tâm đến hoàn cảnh của họ như thế nào Chính những

Trang 7

quy định này làm cho pháp lệnh có những điểm bất hợp lí, không công bằng Trong khi đó, tại điều 19 Luật thuế thu nhập cá nhân quy định người nộp thuế sau khi chiết giảm cho cá nhân mình 4 triệu đồng mỗi tháng (tương ứng 48 triệu đồng/năm) và 1,6 triệu đồng cho mỗi người phụ thuộc, sau đó khoản tiền dôi dư còn lại mới bắt đầu tính thuế Quy định này làm cho Luật thuế thu nhập cá nhân mang ý nghĩa xã hội sâu sắc

+ Thứ hai: Về căn cứ tính thuế: Luật thuế thu nhập cá nhân đã đổi mới cách phân

loại thu nhập chịu thuế để xác định nghĩa vụ thuế và phân loại căn cứ tính thuế thành cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú, với sự điều chỉnh thuế suất theo hướng giảm thuế suất cao nhất và thống nhất biểu thuế đối với người Việt Nam và người nước ngoài Điều này sẽ bảo đảm công bằng hơn trong điều tiết thu nhập do chênh lệch về thuế suất giữa các bậc thuế giảm đi

+ Thứ ba: Tại điều 2 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao phân

chia thu nhập thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên, việc phân chia này mới chỉ nêu ra một cách chung chung, chưa xác định rõ ràng, cụ thể

Do vậy trên thực tế gặp khó khăn trong việc tính thuế Luật thuế thu nhập cá nhân

đã khắc phục được những hạn chế này bằng việc phân loại thu nhập theo nguồn gốc phát sinh cùng với việc quy định rất cụ thể, rõ ràng, chi tiết các loại thu nhập này tại điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007

+ Thứ tư: Luật đã mở rộng diện điều tiết một cách hợp lí trên cơ sở bổ sung một số

khoản thu nhập chịu thuế Cụ thể như sau:

+ Đối tượng chịu thuế được bổ sung một số đối tượng sau: thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là chứng khoán, phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng; thu nhập từ casino; thu nhập từ trúng thưởng các cuộc thi có thưởng và hình thức trúng thưởng khác (trước đây chỉ là xổ số và khuyến mại); thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế

+ Một số khoản thu nhập trước đây tạm thời chưa thu thuế như lãi tiền cho vay vốn, lãi mua tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu, thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán thì nay được đưa vào làm đối tượng chịu thuế trong Luật thuế thu nhập cá nhân

+ Một số khoản thu nhập được điều chỉnh trong các văn bản pháp luật khác như : thu nhập từ kinh doanh của các cá nhân được điểu chỉnh bởi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 8

2003, thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất sửa đổi bổ sung năm 1999 (hiện nay hai văn bản này đã hết hiệu lực) thì nay được điều chỉnh chung trong một văn bản pháp luật là Luật thuế thu nhập cá nhân Việc quy định như vậy tạo ra sự nhất quán trong các quy định của pháp luật, đúng như bản chất vốn có của

nó, tạo ra sự công bằng trong nghĩa vụ thuế của cá nhân với nhau

3.Đối tượng được miến giảm thuế, đối tượng không phải chịu thuế

+ Thứ nhất: Một số thu nhập trong Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

là thu nhập tạm thời chưa thu thuế thì trong Luật thuế thu nhập cá nhân đã quy định các thu nhập này được miễn thuế, đó là: lãi tiền gửi ngân hàng, lãi tiền gửi tiết kiệm Điều này là rất hợp lí trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam Bởi hiện nay chúng ta cần huy động tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để phát triển kinh tế, kinh doanh sản xuất Do vậy cần miễn thuế đối với lãi tiền gửi ngân hàng, lãi tiền gửi tiết kiệm để phần nào khuyến khích người dân đóng góp số vốn nhàn rỗi Hơn nữa việc công khai thu nhập từ lãi tiền gửi sẽ trái với quy định về việc giữ bí mật tiền gửi của khách hàng

+ Thứ hai: Một số thu nhập theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là

thu nhập không thuộc diện chịu thuế nay được Luật thuế thu nhập cá nhân quy định là thu nhập được miễn thuế Điều này là hoàn toàn hợp lí, vì các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế thì sẽ không do Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao điều chỉnh,

do vậy đến một thời điểm cần thiết, pháp luật không thể điều chỉnh để thu thuế từ nguồn thu nhập này Ngược lại, nếu quy định các thu nhập là thu nhập được miễn thuế, thì đây vẫn là các khoản thu chịu sự điều chỉnh của Luật thuế thu nhập cá nhân, do vậy khi đến một thời điểm cần thiết nhà nước có thể điều chỉnh nguồn thu nhập này thành thu nhập chịu thuế Các nguồn thu được miễn thuế theo Luật thuế thu nhập cá nhân cụ thể tại điều 4 Ví dụ như:

Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất; thu nhập từ kiều hối; thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; thu nhập từ học bổng

4 Áp dụng giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo.

Khoản đóng góp từ thiện nhân đạo được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế nhưng chỉ áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh; không áp dụng đối với cá khoản thu nhập khác Đây là điểm mới không chỉ so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành mà còn mới ngay cả đối với bản dự án Luật

Trang 9

lấy ý kiến nhân dân Nội dung mới này của Luật được Quốc hội tiếp thu ý kiến nhân dân Với quy định này, Luật đã khuyến khích mọi công dân trong xã hội tham gia các hoạt động

từ thiện, nhân đạo Đồng thời, đây cũng chính là một khoản "chi tiêu qua thuế" của nhà nước, thể hiện ở chỗ một khoản thu lẽ ra được nộp về ngân sách Nhà nước bây giờ được chuyển sang cho đối tượng thụ hưởng khoản đóng góp từ thiện Chẳng hạn như, một người

có thu nhập từ kinh doanh trước thuế của một năm 360 triệu đồng (thu nhập bình quân tháng 30 triệu đồng) thực hiện góp quỹ ủng hộ đồng bào lũ lụt 10 triệu đồng Khi đó, 10 triệu đồng này được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế Với biểu thuế như sẽ được trình bày dưới đây, số thuế nhà nước giảm thu khi cho cá nhân này giảm trừ vào thu nhập tính thuế là

2 triệu đồng Có thể hiểu trong trường hợp này, coi như Nhà nước đã sử dụng ngân sách góp vào quỹ ủng hộ đồng bào bão lụt 2 triệu đồng, còn cá nhân này thực ra chỉ ủng hộ 8 triệu đồng

5 Quy định giảm trừ chi phí cho cá nhân kinh doanh một cách hợp lý

Cùng với việc chuyển cá nhân kinh doanh từ diện nộp thuế TNDN sang nộp thuế TNCN, Luật thuế TNCN đã quy định các khoản chi phí hợp lý được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của cá nhân kinh doanh Về cơ bản, các khỏan chi phí hợp lý được trừ này

kế thừa các quy định hiện hành của Luật thuế TNDN Trường hợp cá nhân kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán để làm cơ sở xác định chi phí hợp lý được trừ thì thu nhập chịu thuế đựơc xác định bằng doanh thu ấn định nhân với tỷ lệ thu nhập chịu thuế quy định cho từng ngành

6 Điều chỉnh thuế suất theo hướng giảm thuế suất cao nhất, thấp nhất, và tăng bậc thuế suất; thống nhất biểu thuế đối với người Việt Nam và người nước ngoài.

Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập thường xuyên chịu thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần với bốn mức thuế suất, thấp nhất là 10% và cao nhất là 40% Đối với thuế thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công, Luật thuế TNCN vẫn áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần nhưng mức thuế suất thấp nhất giảm xuống còn 5% và mức thuế suất cao nhất giảm xuống còn 35% với số lượng bậc thuế nâng lên thành bảy và áp dụng chung cho cả người Việt Nam và người nước ngoài (cụ thể như bảng 1)

Bảng 1

Trang 10

thuế

Thu nhập tính thuế/năm (triệu

đồng)

Thu nhập tính thuế/tháng (triệu

đồng)

Thuế suất (%)

Với biểu thuế mới này, tuy việc tính toán có phức tạp hơn (do tăng số lượng bậc thuế) nhưng lại đảm bảo công bằng hơn trong điều tiết thu nhập do chênh lệch về thuế suất giữa các bậc thuế giảm đi Việc hạ thuế suất cao nhất và thấp nhất xuống thể hiện tinh thần

mở rộng diện đánh thuế nhưng mức độ điều tiết cũng giảm đi, huy động sự đóng góp của nhiều người nhưng với mức độ vừa phải, thực hiện "góp gió thành bão" Mặc khác, việc giảm mức thuế suất cao nhất sẽ góp phần khuyến khích người lao động tích cực lao động và sản xuất, kinh doanh; khuyến khích người dân làm giầu chính đáng Đối với các khoản thu nhập còn lại Luật thuế thu nhập cá nhân quy định biểu thuế luỹ tiến toàn phần như bảng 2:

2 Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5

Ngày đăng: 05/09/2023, 09:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w