1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Sở hữu trí tuệ đề tài: BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ TẠI VIỆT NAM

41 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế tại Việt Nam
Tác giả Vũ Thị Tuyết Mai, Nguyễn Phúc Bằng, Đỗ Việt Hà, Nguyễn Thị Mai Lan, Lưu Quang Long, Phạm Thị Nhài, Tô Nam Phương, Nguyễn Thị Ngọc Trâm
Người hướng dẫn ThS Lữ Thị Thu Trang
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Sở hữu trí tuệ
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 166,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SÁNG CHẾ (6)
    • 1.1. Đối tượng bảo hộ của sáng chế (6)
      • 1.1.1 Các khái niệm cơ bản (6)
      • 1.1.2 Đối tượng được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế (11)
      • 1.1.3 Đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế (12)
    • 1.2. Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế (13)
      • 1.2.1 Tính mới của sáng chế (13)
      • 1.2.2 Trình độ sáng tạo của sáng chế (13)
      • 1.2.3 Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế (14)
    • 1.3. Các quyền đối với sáng chế (14)
      • 1.3.1 Các khái niệm cơ bản (14)
      • 1.3.2 Quyền đăng kí sáng chế (15)
      • 1.3.3 Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế (16)
      • 1.3.4 Định đoạt sáng chế (18)
    • 1.4. Giới hạn quyền sở hữu sáng chế (19)
      • 1.4.1 Giới hạn quyền sở hữu sáng chế (19)
      • 1.4.2 Hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế (0)
      • 1.4.3 Chuyển giao quyền sở hữu sáng chế (0)
    • 1.5. Hành vi xâm phạm (23)
      • 1.5.1 Khái niệm (23)
      • 1.5.2 Các hình thức vi phạm (24)
      • 1.5.3 Dấu hiệu nhận biết (25)
      • 1.5.4 Tình huống ví dụ (25)
      • 1.5.5 Đề xuất các biện pháp giải quyết, phòng tránh hành vi xâm phạm sáng chế (27)
  • CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CASE STUDY (29)
    • 2.1. Case study 1: Tranh chấp sáng chế mẫu gen người - BRCA (29)
      • 2.1.1 Giới thiệu chung (29)
      • 2.1.2 Nội dung vụ kiện (0)
      • 2.1.3 Đối tượng và các quyền liên quan (0)
      • 2.1.4 Diễn biến vụ kiện (31)
      • 2.1.5 Phán quyết của Toà án, án lệ và các luật điều chỉnh (32)
      • 2.1.6 Kết luận và đánh giá (33)
    • 2.2. Case Study 2: Tranh chấp sáng chế “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” (35)
      • 2.2.1 Giới thiệu chung (35)
      • 2.2.2 Đối tượng và các quyền liên quan (35)
      • 2.2.3 Nội dung vụ kiện (35)
      • 2.2.4 Quá trình điều tra, áp dụng luật (37)
      • 2.2.5 Giải quyết và đề xuất (38)
  • KẾT LUẬN (27)

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SÁNG CHẾ. 2 1.1. Đối tượng bảo hộ của sáng chế: 2 1.1.1 Các khái niệm cơ bản: 2 1.1.2 Đối tượng được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế 7 1.1.3 Đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế: 7 1.2. Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế: 8 1.2.1 Tính mới của sáng chế: 9 1.2.2 Trình độ sáng tạo của sáng chế: 9 1.2.3 Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế: 10 1.3. Các quyền đối với sáng chế 10 1.3.1 Các khái niệm cơ bản: 10 1.3.2 Quyền đăng kí sáng chế: 11 1.3.3 Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế: 12 1.3.4 Định đoạt sáng chế 14 1.4. Giới hạn quyền sở hữu sáng chế 15 1.4.1 Giới hạn quyền sở hữu sáng chế 15 1.4.2 Hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế. 16 1.4.3 Chuyển giao quyền sở hữu sáng chế 17 1.5. Hành vi xâm phạm 19 1.5.1 Khái niệm 19 1.5.2 Các hình thức vi phạm: 19 1.5.3 Dấu hiệu nhận biết: 20 1.5.4 Tình huống ví dụ: 21 1.5.5 Đề xuất các biện pháp giải quyết, phòng tránh hành vi xâm phạm sáng chế 23 CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CASE STUDY 25 2.1. Case study 1: Tranh chấp sáng chế mẫu gen người BRCA 25 2.1.1 Giới thiệu chung: 25 2.1.2 Nội dung vụ kiện: 26 2.1.3 Đối tượng và các quyền liên quan: 27 2.1.4 Diễn biến vụ kiện: 27 2.1.5 Phán quyết của Toà án, án lệ và các luật điều chỉnh: 28 2.1.6 Kết luận và đánh giá 29 2.2. Case Study 2: Tranh chấp sáng chế “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” 31 2.2.1 Giới thiệu chung: 31 2.2.2 Đối tượng và các quyền liên quan: 31 2.2.3 Nội dung vụ kiện: 32 2.2.4 Quá trình điều tra, áp dụng luật: 33 2.2.5 Giải quyết và đề xuất: 34 KẾT LUẬN 36 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 LỜI NÓI ĐẦU Song song với quá trình phát triển của nhân loại, bằng trí óc hiểu biết và sự sáng tạo của mình, con người đã không ngừng tự mày mò, nghiên cứu tạo ra các loạt công cụ, vật dụng, giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống của mình. Hàng loạt sáng chế ra đời là các giải pháp kĩ thuật nhằm giải quyết cấc vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên và từ đó trở thành một ưu thế, một nguồn đem lại lợi nhuận lớn. Bởi vậy, tất yếu sáng chế phải trở thành một đối tượng của luật sở hữu trí tuệ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thông qua hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế. Đặc biệt, trong thời đại toàn cầu hóa, khi mà nền kinh tế đang có bước chuyển biến mạnh mẽ sang thời kì hậu công nghiệp, nền kinh tế tri thức đang dần được hình thành thì việc thực hiện bảo hộ không chỉ đảm bảo quyền lợi của người sáng tạo, khuyến khích họ không ngừng tạo ra các sáng chế mới mà còn thúc đẩy nền khoa học kĩ thuật trong nước phát triển, đặt nền móng cho các vấn đề kinh tế xã hội. Có thể nói số đơn đăng kí bảo hộ và số bằng sáng chế được cấp là thước đo mức độ phát triển cũng như khẳ năng cạnh tranh của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với Việt Nam đang trên con đường hội nhập và phát triển. Thực tế nước ta trong thời gian qua, hoạt động bảo hộ sáng chế đã có những bước phát triển đáng ghi nhận nhưng vẫn tồn đọng nhiều bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, trong hoạt động thực thi bảo hộ sáng chế, chưa đẩy lùi được tình trạng xâm phạm quyền. Bởi vậy, chúng em quyết định chọn đề tài “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế tại Việt Nam” để trang bị cho mình những kiến thức cần thiết về sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ đối với sáng chế nói riêng. Bố cục bài tiểu luận: Chương 1: Cơ sở lý thuyết về sáng chế. Chương 2: Phân tích Case study. Do hiểu biết còn nhiều hạn chế nên bài khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định, chúng em kính mong sẽ nhận được sự góp ý từ cô và các bạn. Đồng thời chúng em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới ThS Lữ Thị Thu Trang đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng em khỏi các khó khăn trong quá trình hoàn thiện bài tiểu luận này.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SÁNG CHẾ

Đối tượng bảo hộ của sáng chế

1.1.1 Các khái niệm cơ bản:

Sáng chế (patent) là giải pháp kỹ thuật, bao gồm sản phẩm hoặc quy trình, được thiết kế để giải quyết một vấn đề cụ thể thông qua việc áp dụng các quy luật tự nhiên Để được công nhận, sáng chế phải có tính mới, thể hiện trình độ sáng tạo và có khả năng ứng dụng trong các lĩnh vực kinh tế xã hội, theo quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật SHTT 2005.

Sáng chế của Edison với bóng đèn và máy hát đầu tiên, cùng với sáng chế của Von Neuman về máy tính cá nhân, đã tạo ra những bước đột phá công nghệ, mở ra kỷ nguyên mới cho nhân loại Ngoài các sáng chế vĩ đại, còn có nhiều sáng chế khác như máy tách vỏ hạt điều của Trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh hay khung dầm chịu lực cho cầu treo ở đồng bằng sông Cửu Long Sáng chế hiện diện xung quanh chúng ta, đặc biệt là trong lĩnh vực điện thoại di động, với các nhóm sáng chế như ăng ten, bộ phận xử lý tín hiệu, nguồn cung cấp (pin), mạch chức năng và màn hình.

Sáng chế có thể được hiểu là sản phẩm hoặc quy trình mang lại lợi ích cho con người, bao gồm các chất liệu, thực phẩm, dược phẩm và các quy trình công nghệ như phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra, xử lý, sản xuất và chế tạo Những sáng chế này không chỉ cải thiện chất lượng cuộc sống mà còn đóng góp vào sự phát triển của xã hội.

Sáng chế là một giải pháp kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cụ thể, nhưng không yêu cầu người sáng tạo phải có trình độ kỹ thuật Điều này có nghĩa là bất kỳ ai, kể cả những người không phải kỹ sư, cũng có thể phát minh ra sáng chế để phục vụ nhu cầu của mình Chẳng hạn, nếu bạn làm nông nghiệp và muốn tiết kiệm thời gian trong việc gieo hạt, bạn có thể phát minh ra một máy gieo hạt, giúp rút ngắn thời gian gieo trồng một cách đáng kể Như vậy, bạn đã thành công trong việc tạo ra một sáng chế hữu ích.

Việc sáng chế một sản phẩm đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và chi phí, trong khi việc sao chép lại rất dễ dàng Do đó, sau khi thành công trong việc tạo ra sáng chế, việc quan trọng tiếp theo là xác lập quyền sở hữu trí tuệ Điều này không chỉ giúp người sáng chế nhận được sự công nhận và bảo hộ từ nhà nước, mà còn cho phép họ khai thác và thu lợi từ sáng chế thông qua sản xuất sản phẩm hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng cho người khác.

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế, hay còn gọi là bảo hộ sáng chế, là việc nhà nước thiết lập và duy trì quyền lợi cho tổ chức và cá nhân liên quan đến sáng chế thông qua các quy định pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền lợi này khỏi các hành vi vi phạm từ bên thứ ba.

Lưu ý cần phân biệt rõ giữa Sáng chế và Phát minh:

Phân biệt Sáng chế Phát minh

Là giải pháp kĩ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.

Ví dụ: phát minh ra bóng đèn điện của Edison

Phát minh khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc khám phá quy luật và chất tự nhiên chưa được biết đến, từ đó nâng cao nhận thức của con người về tự nhiên Những phát minh này không chỉ thay đổi cách con người hiểu và tương tác với thế giới xung quanh mà còn tạo nền tảng cho việc khai thác và chế ngự tự nhiên, góp phần vào sự tiến bộ của khoa học và công nghệ.

Archimède và Newton là những ví dụ tiêu biểu cho các phát minh khoa học quan trọng, với Archimède phát minh định luật sức nâng của nước và Newton phát minh định luật vạn vật hấp dẫn Những đặc điểm này không tồn tại sẵn trong tự nhiên mà cần đến sự đầu tư về tài chính và nhân lực để phát triển, nhằm áp dụng trực tiếp vào sản xuất và đời sống Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, các hiện tượng này tồn tại khách quan và có khả năng giải thích thế giới, nhưng để ứng dụng vào thực tiễn, cần phải thông qua các giải pháp kỹ thuật.

Trong một khoảng thời gian ngắn Tồn tại lâu dài cùng lịch sử

Có giá trị thương mại Có thể mua, bán sáng chế (chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc chuyển quyền sử dụng

Không có giá trị thương mại, chỉ có giá trị trong nghiên cứu và ứng dụng.

Quyền sở hữu công nghiệp Quyền tác giả

1.1.1.2 Bằng độc quyền sáng chế:

Bằng độc quyền sáng chế là văn bằng do cơ quan nhà nước cấp, bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu sáng chế bằng cách ngăn cấm người khác khai thác thương mại mà không có sự cho phép Điều này yêu cầu chủ sở hữu phải công khai sáng chế cho công chúng trong một thời hạn nhất định Chủ sở hữu có quyền sản xuất, sử dụng, bán hoặc nhập khẩu sáng chế và có khả năng kiện bất kỳ ai vi phạm quyền lợi của mình.

Tại một số quốc gia, sáng chế có thể được bảo hộ dưới hình thức “mẫu hữu ích” với tiêu chuẩn bảo hộ ít nghiêm ngặt hơn, đặc biệt là về tính sáng tạo Lệ phí đăng ký mẫu hữu ích cũng thấp hơn so với sáng chế, và thời hạn bảo hộ ngắn hơn Tuy nhiên, các quyền liên quan đến mẫu hữu ích tương tự như quyền được cấp Bằng độc quyền sáng chế.

Theo Điều 58 Luật SHTT 2005, sáng chế được bảo hộ bằng Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu đáp ứng các điều kiện về tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp, đồng thời không thuộc về hiểu biết thông thường Sự khác biệt chính giữa giải pháp hữu ích và sáng chế nằm ở các tiêu chí bảo hộ và mức độ sáng tạo.

Để đạt được sự bảo hộ ít chặt chẽ hơn, không yêu cầu về “trình độ sáng tạo”, thường áp dụng cho các sáng kiến bổ sung mà không đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo hộ cho sáng chế.

 Thời hạn bảo hộ của GPHI thường ngắn hơn với sáng chế và khác nhau giữa các nước (thường từ 7 đến 10 năm, không được gia hạn).

 Ở hầu hết các nước, quá trình đăng kí GPHI thường đơn giản và nhanh hơn (trung bình mất 6 tháng).

Ở một số quốc gia, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (GPHI) chỉ được áp dụng cho một số lĩnh vực công nghệ cụ thể, đồng thời bảo hộ cho sản phẩm mà không bảo vệ quy trình sản xuất.

 Phù hợp với các sản phẩm có vòng đời ngắn/ không muốn đợi thời gian dài.

Không thể cấp bằng độc quyền bảo hộ cho cả sáng chế và Giải pháp hữu ích (GPHI) cho cùng một sản phẩm, nhưng có thể đăng ký bảo hộ đồng thời trước đó.

Tình huống phân biệt giữa GPHI và Sáng chế:

Kỹ sư Thành đã phát minh ra một đầu bút bi đặc biệt với khoảng trống giữa viên bi và đầu bút, giúp mực ra đều hơn Tuy nhiên, anh đã thông báo về sáng chế trước khi đăng ký bảo hộ, dẫn đến việc sáng chế của anh không còn tính mới và không đủ điều kiện được bảo hộ Anh Mạnh cho rằng việc thông khí giữa hai đầu của mực là điều đã được biết trong ngành, vì vậy sáng chế của anh Thành không đáp ứng tiêu chí bảo hộ Nếu sáng chế được bảo hộ, nó sẽ có thể được bảo hộ dưới hình thức bằng sáng chế, nhưng chỉ trong trường hợp đáp ứng đầy đủ các điều kiện về tính mới và tính sáng tạo.

Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế

Theo Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sáng chế được cấp Bằng độc quyền nếu đáp ứng các điều kiện: tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp Đối với Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, sáng chế phải có tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp, đồng thời không phải là hiểu biết thông thường.

1.2.1 Tính mới của sáng chế:

Sáng chế được coi là mới nếu chưa được công khai dưới dạng sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác, cả trong nước và quốc tế, trước thời điểm nộp đơn đăng ký hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký đó được hưởng quyền ưu tiên.

Sáng chế được coi là chưa bị công khai nếu chỉ một số ít người biết đến và có trách nhiệm bảo mật thông tin về sáng chế đó.

Sáng chế sẽ không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong một số trường hợp nhất định, với điều kiện là đơn đăng ký sáng chế phải được nộp trong vòng sáu tháng kể từ ngày công bố.

 Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này;

 Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này công bố dưới dạng báo cáo khoa học;

Theo Điều 86 của Luật này, người có quyền đăng ký sáng chế có thể trưng bày sản phẩm của mình tại các cuộc triển lãm quốc gia Việt Nam hoặc tại các triển lãm quốc tế được công nhận là chính thức.

1.2.2 Trình độ sáng tạo của sáng chế:

Chúng ta chỉ đánh giá “trình độ sáng tạo” khi đã xác định được tính mới của một sáng chế Thuật ngữ này nhấn mạnh rằng để được bảo hộ, sáng chế không chỉ cần phải mới mà còn phải khác biệt so với những gì đã có trong kỹ thuật Sự khác biệt này được thể hiện qua hai đặc tính quan trọng.

Để được bảo hộ, một sáng chế cần phải có tính sáng tạo, tức là phải xuất phát từ một ý tưởng độc đáo và thể hiện rõ ràng sự khác biệt so với trình độ kỹ thuật hiện có Điều này dẫn đến khái niệm “bước tiến” hay “tiến bộ” trong luật pháp, nhằm xác định sự khác biệt giữa tình trạng kỹ thuật và sáng chế yêu cầu bảo hộ.

Để được coi là có trình độ sáng tạo, sáng chế phải thể hiện một “bước tiến” quan trọng và căn bản, được đánh giá dựa trên các giải pháp kỹ thuật đã công khai trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên Sáng chế này không thể dễ dàng được tạo ra bởi người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng, theo Điều 61 của luật SHTT 2005.

1.2.3 Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế:

Sáng chế được xem là có khả năng áp dụng công nghiệp khi có thể thực hiện chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc lặp đi lặp lại quy trình mà sáng chế đề cập, đồng thời đạt được kết quả ổn định (Theo Điều 62 Luật Sở hữu trí tuệ 2005)

Sáng chế cần phải có khả năng áp dụng vào thực tiễn, không chỉ dừng lại ở lý thuyết Đối với sản phẩm hoặc phần của sản phẩm, yêu cầu là phải có khả năng sản xuất Nếu sáng chế là quy trình hoặc phần của quy trình, thì quy trình đó cũng phải có khả năng thực hiện và sử dụng trong thực tế.

Các quyền đối với sáng chế

1.3.1 Các khái niệm cơ bản:

1.3.1.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế:

Theo Điều 4 khoản 4 của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền của tổ chức, cá nhân đối với các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và bí mật kinh doanh mà họ sáng tạo hoặc sở hữu, cùng với quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế được hiểu là quyền của tổ chức hoặc cá nhân đối với sáng chế mà họ tạo ra hoặc sở hữu Theo Điều 121 của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, chủ sở hữu sáng chế là tổ chức hoặc cá nhân được cấp văn bằng bảo hộ sáng chế Điều này có nghĩa là chủ sở hữu có thể là tác giả hoặc đồng tác giả, những người trực tiếp tạo ra sáng chế, hoặc chỉ là người sở hữu sáng chế Trong nhiều trường hợp, nếu tổ chức hoặc cá nhân đầu tư kinh phí và phương tiện cho tác giả, họ sẽ được coi là chủ sở hữu sáng chế và có quyền đăng ký sáng chế.

1.3.1.2 Khái niệm chủ sở hữu sáng chế:

Chủ sở hữu sáng chế, theo Điều 121 của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), là tổ chức hoặc cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ cho các đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng.

Theo Điều 122 của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, đã được sửa đổi và bổ sung năm 2009, "tác giả sáng chế" là người trực tiếp tạo ra đối tượng sở hữu công nghiệp Nếu có hai người trở lên cùng tham gia sáng tạo, họ sẽ được công nhận là đồng tác giả.

1.3.2 Quyền đăng kí sáng chế:

Theo Điều 86 của Luật SHTT 2005, tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có quyền đăng ký bằng độc quyền nếu họ tự tạo ra sản phẩm bằng công sức và chi phí của mình hoặc được tổ chức, cá nhân đầu tư Tuy nhiên, trường hợp có thỏa thuận khác giữa các bên thì cần tuân thủ quy định tại khoản 2 Điều 86 Đối với sáng chế được tạo ra từ nguồn lực của ngân sách Nhà nước, quyền đăng ký sẽ do Chính phủ quy định.

Khi nhiều tổ chức và cá nhân cùng hợp tác để tạo ra hoặc đầu tư vào sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, hoặc thiết kế bố trí, tất cả các bên đều có quyền đăng ký và việc này chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của tất cả Người có quyền đăng ký có thể chuyển nhượng quyền này cho tổ chức hoặc cá nhân khác thông qua hợp đồng bằng văn bản, cũng như trong trường hợp thừa kế theo quy định pháp luật, kể cả khi đã nộp đơn đăng ký.

1.3.3 Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế:

1.3.3.1 Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp

Theo Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11, Điều 752, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế được xác lập thông qua quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi thực hiện đăng ký các đối tượng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

1.3.3.2 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế:

“Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế” bao gồm hai nội dung là quyền

“nhân thân” và “quyền tài sản” a) Quyền nhân thân

“Quyền nhân thân” theo quy định tại Điều 24 Bộ luật dân sự Việt Nam năm

Năm 2005 xác định quyền dân sự gắn liền với từng cá nhân và không thể chuyển nhượng, trừ khi có quy định khác Trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp, chỉ tác giả sáng chế mới có quyền nhân thân, trong khi người sở hữu sáng chế không phải là tác giả sẽ không được hưởng quyền này.

Theo Điều 122, khoản 2 quyền nhân thân của tác giả sáng chế bao gồm:

 Được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích

 Được nêu tên là tác giả trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế b) Quyền tài sản

Quyền tài sản là quyền mà chủ sở hữu sáng chế được hưởng, theo Điều 181 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, quyền này có giá trị bằng tiền và có thể chuyển nhượng trong các giao dịch dân sự, bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ.

Theo Điều 123 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi năm 2009, Chủ sở hữu sáng chế có các quyền tài sản sau:

Theo Điều 124 và Chương X của Luật Sở hữu trí tuệ, việc sử dụng và cho phép người khác sử dụng sáng chế bao gồm các hành vi như sản xuất sản phẩm được bảo hộ, áp dụng quy trình bảo hộ, khai thác công dụng của sản phẩm hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình đó, lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ sản phẩm, và nhập khẩu các sản phẩm quy định.

Ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều

125 của Luật này, cụ thể như sau:

1 Chủ sở hữu sáng chế có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế nếu việc sử dụng đó không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2 Chủ sở hữu sáng chế không có quyền cấm người khác thực hiện hành vi thuộc các trường hợp sau: a) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương mại hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân tích, nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm, sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tục xin phép sản xuất, nhập khẩu, lưu hành sản phẩm; b) Sử dụng sáng chế chỉ nhằm mục đích duy trì hoạt động của các phương tiện vận tải của nước ngoài đang quá cảnh hoặc tạm thời nằm trong lãnh thổ Việt Nam; c) Sử dụng sáng chế do người có quyền sử dụng trước thực hiện theo quy định tại Điều 134 của Luật này người có quyền sử dụng trước là người đã sử dụng hoặc đã chuẩn bị những điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế trong đơn đăng kí trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đăng kí sáng chế với điều kiện sáng chế đó được tạo ra một cách độc lập Người sử dụng trước không có quyền chuyển giao quyền đó cho người khác, trừ trường hơp chuyển giao kèm theo việc chuyển giao cơ sở sản xuất, kinh doanh nơi sử dụng hay chuẩn bị sử dụng sáng chế Người sử dụng trước cũng không có quyền mở rộng phạm vi, số lượng sử dụng nếu không được chủ sở hữu sáng chế cho phép. d) Sử dụng sáng chế do người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thực hiện theo quy định tại Điều 145 và Điều 146 của Luật này.

Chủ sở hữu sáng chế có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp cho cá nhân hoặc tổ chức khác, và việc chuyển nhượng này phải được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản.

Theo Hiệp định TRIPS, chủ sở hữu sáng chế có quyền sản xuất, sử dụng, chào hàng, bán và nhập khẩu sản phẩm Nếu sáng chế là quy trình, quyền của chủ sở hữu không chỉ áp dụng cho quy trình mà còn cho sản phẩm được tạo ra từ quy trình đó Họ cũng có quyền chuyển nhượng, thừa kế và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng sáng chế Các Thành viên WTO có thể quy định ngoại lệ đối với các quyền này, nhưng phải đảm bảo không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường sáng chế và không gây tổn hại đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu và bên thứ ba.

1.3.3 Quyền tạm thời đối với sáng chế

Quyền tạm thời đối với sáng chế cho phép người nộp đơn thông báo bằng văn bản cho người sử dụng thương mại về việc đã nộp đơn đăng ký sáng chế, nếu họ biết người đó không có quyền sử dụng trước Thông báo cần chỉ rõ ngày nộp đơn và ngày công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp, nhằm yêu cầu người sử dụng chấm dứt hoặc tiếp tục việc sử dụng sáng chế.

Giới hạn quyền sở hữu sáng chế

1.4.1 Giới hạn quyền sở hữu sáng chế

Theo điều 132 Luật SHTT 2005 quy định các yếu tố giới hạn quyền sở hữu sáng chế bao gồm như sau:

1 Quyền của người sử dụng trước đối với sáng chế:

Trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế, nếu có người đã sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng sáng chế, thì sau khi văn bằng bảo hộ được cấp, người đó có quyền tiếp tục sử dụng sáng chế trong phạm vi đã sử dụng mà không cần xin phép hoặc trả tiền đền bù cho chủ sở hữu Việc thực hiện quyền này không bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế, theo khoản 1 Điều 134 Luật SHTT 2005 bổ sung năm 2009.

2 Các nghĩa vụ của chủ sở hữu, bao gồm: a) Trả thù lao cho tác giả sáng chế (Nếu chủ sở hữu sáng chế không đồng thời là tác giả sáng chế thì tác giả sáng chế có quyền nhận thù lao do chủ sở hữu sáng chế trả Mức thù lao tối thiểu mà chủ sở hữu trả cho tác giả sáng chế là 10% số tiền làm lợi do sử dụng sáng chế, là 15% tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán Trong trường hợp đồng tác giả, mức thù lao đó dành cho tất cả các đồng tác giả, các đồng tác giả tự thỏa thuận việc phân chia Nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế tồn tại trong suốt thời hạn bảo hộ của sáng chế - Theo Điều 135 Luật SHTT 2005). b) Sử dụng sáng chế (Chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sản xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ để đáp ứng các nhu cầu cần thiết của xã hội Nếu không thực hiện thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng này cho người khác mà không cần được phép của chủ sở hữu – Trích khoản 1 Điều 136 Luật SHTT 2005)

3 Chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”

Theo cuốn “Cẩm nang Sở hữu trí tuệ của WIPO”, quyền sở hữu trí tuệ mà chủ sở hữu có được thông qua độc quyền sáng chế đối với sáng chế của mình thường bị giới hạn bởi nhiều yếu tố khác nhau.

Các yêu cầu bảo hộ độc quyền có thể bị toàn án sửa đổi hoặc hủy bỏ nếu phát hiện ra khiếm khuyết không được phát hiện trước khi cấp bằng độc quyền sáng chế.

Khi một sáng chế là sự cải tiến hoặc phát triển từ một bằng độc quyền sáng chế đã tồn tại, chủ sở hữu của bằng độc quyền đó có thể cần phải được cấp li-xăng.

(Chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN) và trả thù lao cho chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế trước đó.

Các quyền của chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế thường bị hạn chế bởi luật về sáng chế, không liên quan đến hiệu lực của bằng độc quyền Trong nhiều hệ thống pháp luật, chủ sở hữu phải đưa sáng chế vào áp dụng thực tiễn, có thể thông qua việc tự thực hiện hoặc li-xăng cho bên thứ ba Nếu không có sự li-xăng tự nguyện, bên thứ ba có thể được cấp li-xăng nếu chứng minh rằng sáng chế không được sử dụng hoặc chỉ được sử dụng ở mức không đủ tại quốc gia đó.

Hạn chế pháp lý thứ tư đối với quyền của chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế cho phép Chính phủ hoặc bên thứ ba được Chính phủ ủy quyền sử dụng sáng chế vì lợi ích công cộng, theo các điều kiện được quy định trong thỏa thuận hoặc quyết định của tòa án.

1.4.2 Hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế

Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài 20 năm kể từ ngày nộp đơn, trong khi bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực 15 năm Cả hai loại văn bằng bảo hộ đều có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam Để duy trì hiệu lực của các bằng độc quyền này, chủ sở hữu phải nộp lệ phí duy trì.

Tương tự Điều 33 của TRIPS quy định thời hạn bảo hộ sáng chế không được ngắn hơn 20 năm tính từ ngày nộp đơn.

Thời hạn bảo hộ sáng chế phụ thuộc vào thời điểm so sánh tính mới, với ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc ngày ưu tiên (nếu có) là yếu tố quyết định Ngày nộp đơn là thời điểm mà cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tiếp nhận đơn, hoặc là ngày nộp đơn quốc tế theo điều ước quốc tế Đối với các thành viên Công ước Paris, ngày ưu tiên được xác định dựa trên ngày nộp đơn đầu tiên trong vòng 12 tháng tại quốc gia đó.

1.4.3 Chuyển giao quyền sở hữu sáng chế

Việc triển khai ứng dụng công nghiệp từ sáng chế thường tốn kém nhiều chi phí cho người nộp đơn hoặc chủ sở hữu Do đó, các chủ sở hữu quyền độc quyền sáng chế mong muốn thu hồi chi phí này bằng cách khai thác sáng chế đã được cấp bằng, thông qua việc bán hoặc nhượng quyền sở hữu sáng chế.

Chuyển giao quyền sở hữu sáng chế được thực hiện dưới hai hình thức

Chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế là quá trình mà chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức hoặc cá nhân khác.

Chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là quá trình mà chủ sở hữu cho phép tổ chức hoặc cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp của mình Việc này cần được thực hiện thông qua hợp đồng văn bản, bao gồm hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế hoặc hợp đồng li-xăng.

Hợp đồng sử dụng sáng chế có ba loại chính: hợp đồng độc quyền, hợp đồng không độc quyền và hợp đồng sử dụng sáng chế thứ cấp Hợp đồng độc quyền cho phép bên nhận quyền có quyền sử dụng sáng chế mà không bị bên chuyển quyền ký kết hợp đồng với bên thứ ba khác, trừ khi có sự cho phép Ngược lại, hợp đồng không độc quyền cho phép bên nhượng quyền vẫn có thể sử dụng hoặc ký kết hợp đồng với các bên khác Cuối cùng, hợp đồng sử dụng sáng chế thứ cấp là hợp đồng trong đó bên chuyển quyền cũng là bên nhận quyền từ một hợp đồng khác.

Trong một số trường hợp, việc chuyển nhượng quyền sử dụng sáng chế có thể được yêu cầu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không cần sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế.

Người sở hữu quyền sáng chế phải thực hiện nghĩa vụ sản xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình bảo hộ nhằm đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân, cũng như các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội.

Hành vi xâm phạm

Hành vi xâm phạm sáng chế diễn ra khi có sự sử dụng các đối tượng được bảo hộ mà không có sự đồng ý từ chủ sở hữu văn bằng bảo hộ, ngoại trừ những trường hợp được pháp luật cho phép.

1.5.2 Các hình thức vi phạm:

Thông tư 825/2000/TT-BKHCNMT cũng giải thích yếu tố vi phạm đối với sáng chế/giải pháp hữu ích có thể thuộc một trong hai dạng sau đây:

 Sản phẩm hoặc bộ phận (một phần) của sản phẩm đồng nhất (trùng) với sản phẩm hoặc bộ phận của sản phẩm đang được bảo hộ là sáng chế

 Quy trình trùng hoặc tương đương với quy trình thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế.

 Sản phẩm hoặc bộ phận (phần) của sản phẩm được sản xuất theo quy trình trùng hoặc tương đương với quy trinh thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế.

Trong trường hợp này, sản phẩm “B” xâm phạm sáng chế đối với sản phẩm

Sản phẩm “B” đáp ứng đầy đủ các đặc điểm kỹ thuật trong yêu cầu bảo hộ sáng chế cho sản phẩm “A”, ngay cả khi có thêm điểm “e”.

Theo Điều 126 Luật SHTT 2005 Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế:

1 Sử dụng sáng chế được bảo hộ không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đó, trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu;

2 Sử dụng sáng chế mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời Điều 131 của Luật SHTT 2005 về quyền tạm thời đối với sáng chế có quy định rằng trong trường gian nộp đơn đăng kí sáng chế, người có hành vi vi phạm(người khai thác sáng chế nhằm mục đích thương mại và không có quyền sử dụng trước) sau khi được người nộp đơn thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm nhưng vẫn tiếp tục sử dụng thì đây được coi là hành vi xâm phạm, người nộp đơn có quyền yêu cầu người đã sử dụng phải trả một khoản đền bù tương đương với giá chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trong phạm vi và thời gian sử dụng tương ứng.

1.5.3 Dấu hiệu nhận biết: Để khẳng định sự đồng nhất (trùng) giữa sản phẩm vi phạm với sản phẩm được bảo hộ, giữa quy trình vi phạm với quy trình được bảo hộ cần phải so sánh tất cả các đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm/quy trình đó với sản phẩm/quy trình được bảo hộ và chỉ trong trường hợp tất cả các đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm/quy trình vi phạm đều có mặt trong tập hợp các đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm/quy trình được bảo hộ thì mới được kết luận như trên Khi tiến hành việc so sánh cần phải căn cứ vào Bản mô tả sáng chế, Bản mô tả giải pháp hữu ích và Yêu cầu bảo hộ sáng chế, Yêu cầu bảo hộ giải pháp hữu ích đính kèm theo Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, trong đó đã xác định các đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm/quy trình được bảo hộ.

Khi xem xét một sản phẩm có bị coi là sản phẩm tương tự hay không, cần trả lời những câu hỏi quan trọng sau đây.

1) Các chi tiết nào trong yêu cầu bảo hộ đã xuất hiện trong sản phẩm đó;

2) Các chi tiết đó có cùng chức năng với các chi tiết tương ứng của sản phẩm đó hay không;

3) Các chi tiết đó có cùng mối liên quan trong cấu trúc sản phẩm hay không

4) Việc kết nối các chi tiết đó có tạo ra cùng một kết quả như trong sản phẩm được bảo hộ hay không Một bản yêu cầu có thể nêu lên những chi tiết không cần thiết, việc thêm bớt các chi tiết này hoặc thay thế một số chi tiết khác tương đương để tạo ra cùng một kết quả tương tự vẫn bị coi là hành vi vi phạm. Cái khó là phải biết được chi tiết đã bị thay thế có phải tạo ra kết quả tương tự hay không Thông thường, các sáng chế đầu tiên có phạm vi bảo hộ rộng hơn các sáng chế nâng cấp.

GIVI Srl là một công ty hàng đầu tại Italia, chuyên sản xuất phụ tùng và phụ kiện cho xe gắn máy, nổi bật với dòng sản phẩm hộp chở đồ mang thương hiệu GIVI Năm 2005, công ty đã được cấp Bằng độc quyền sáng chế số 4916, khẳng định vị thế và sự đổi mới trong ngành công nghiệp xe máy.

“Hộp chở đồ của xe máy có thể điều chỉnh chuyển động của cơ cấu đóng mở nắp” tại Việt Nam

Vào tháng 5/2008, Công ty con của GIVI tại Việt Nam đã phát hiện sản phẩm "Hộp chở đồ xe máy" tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh, có cơ chế vận hành và sử dụng tương tự như sáng chế đã được GIVI bảo hộ độc quyền Sản phẩm này được sản xuất và phân phối bởi Công ty Đức Minh.

Sau khi phát hiện vi phạm, Công ty GIVI đã ủy quyền cho Công ty INVESTIP thực hiện các thủ tục xử lý hành vi xâm phạm quyền sáng chế của ĐứcMinh theo quy định pháp luật, căn cứ vào Quyết định số 46/QĐ-TTra, ngày

Vào ngày 06/11/2008, Đoàn thanh tra đã phát hiện Công ty Đức Minh sản xuất và bán sản phẩm Hộp chở đồ xe máy có gắn dấu hiệu “ASEAN” Trong số đó, có 95 bộ ổ khóa có các đặc điểm giống như mô tả trong Đơn yêu cầu xử lý xâm phạm của Công ty GIVI SRL Các dấu hiệu trên sản phẩm được phát hiện tại Công ty Đức Minh đã được xem xét kỹ lưỡng.

Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ đã xác định rằng sản phẩm “Hộp chở đồ của xe máy” do Công ty Đức Minh sản xuất có nhiều dấu hiệu tương đồng với “Hộp chở đồ của xe máy có thể điều chỉnh chuyển động của cơ cấu đóng mở nắp,” được bảo hộ bởi Bằng độc quyền sáng chế số 4916 của GIVI SRL (Italy) Các dấu hiệu này bao gồm phần đáy, phần nắp, chi tiết hãm (lẫy khoá) và cơ cấu điều chỉnh.

Trong trường hợp này, có các luật được áp dụng như sau:

Theo khoản 1 Điều 126 của Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí được quy định rõ ràng Cụ thể, công ty Đức Minh đã vi phạm khi sử dụng sản phẩm "Hộp chở đồ của xe máy có thể điều chỉnh chuyển động của cơ cấu đóng mở nắp" của công ty GIVI mà không có sự cho phép từ chủ sở hữu.

 Khoản 1 Điều 124 luật SHTT về Sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (Công ty Đức Minh đã sản xuất, bày bán sản phẩm được bảo hộ)

Theo Khoản 1 Điều 123 của Luật Sở hữu trí tuệ, công ty GIVI là chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và có quyền định đoạt cũng như ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng được bảo hộ.

Theo Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền SHTT có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại Họ cũng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi xâm phạm theo quy định của Luật và các quy định pháp luật liên quan Ngoài ra, chủ sở hữu còn có quyền khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

PHÂN TÍCH CASE STUDY

Case study 1: Tranh chấp sáng chế mẫu gen người - BRCA

Luật pháp có nên cho phép một công ty sở hữu độc quyền mẫu gen người – BRCA? Vụ kiện giữa Hiệp hội Bệnh học Phân tử (Association for Molecular

Pathology, AMP) và công ty dược phẩm Myriad Genetic

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 1,38 triệu ca mắc ung thư vú và 458.000 ca tử vong do căn bệnh này Myriad Genetics Inc, một công ty công nghệ hàng đầu tại Hoa Kỳ, đã phát hiện ra hai gen BRCA1 (1994) và BRCA2 (1995), với các đột biến có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú và buồng trứng một cách đáng kể Công ty cũng đã nghiên cứu thành công công nghệ cô lập gen, góp phần quan trọng trong việc phát hiện và điều trị bệnh.

Hai gen này được tách ra khỏi chuỗi DNA gốc để tạo ra cDNA BRCA tổng hợp, giúp giảm nguy cơ mắc ung thư vú và ung thư tử cung Đây là một thành tựu đáng kể của di truyền học hiện đại, cho phép bác sĩ xác định nguy cơ ung thư ở phụ nữ trong giai đoạn cuối đời, từ đó cứu sống nhiều sinh mạng.

Năm 1996, Myriad được Uỷ ban cấp bằng sáng chế Mỹ công nhận độc quyền sáng chế công nghệ xác định trình tự và tách gen BRCA Sự kiện này đã khơi mào một cuộc tranh cãi quốc gia về quyền sở hữu dịch vụ y tế tư nhân Trong khi phụ nữ ở Anh được kiểm tra BRCA miễn phí, thì tại Hoa Kỳ, nơi Myriad giữ bằng sáng chế, chi phí xét nghiệm BRCA lên tới 4.000 USD.

Sau nhiều năm, Myriad Genetics đã nỗ lực ngăn chặn cạnh tranh bằng cách can thiệp vào các nghiên cứu liên quan đến gien BRCA để thúc đẩy sự phát triển của công ty Những tranh cãi pháp lý xung quanh gien BRCA đã dẫn đến việc Hiệp hội Bệnh học Phân tử (AMP) kiện Myriad Genetics vào năm 2010, yêu cầu hủy bỏ quyền sáng chế gien BRCA1 và BRCA2 Vụ kiện này kéo dài nhiều năm và có nhiều diễn biến phức tạp.

2.1.2 Đối tượng và các quyền liên quan:

 Loại IPRs: độc quyền sáng chế gen BRCA

 Chủ sở hữu: Myriad Genetics Inc, (nộp đơn cấp bằng sáng chế năm 1995, được cấp năm 1996)

 Quyền: quyền nghiên cứu phát triển thí nghiệm, độc quyền công nghệ cô lập gen BRCA1 và BRCA2, quyền thu phí dịch vụ khám chữa bệnh có liên quan.

Bên nguyên đơn trong vụ kiện bao gồm AMP, trường đại học Pennsylvania, các nhà nghiên cứu từ trường đại học Columbia, NYU, Emory, Yale cùng với một số bệnh nhân AMP đã đưa ra hai luận điểm chính để hỗ trợ cho hành động pháp lý của mình.

Công ty Myriad chỉ tách và xác định trình tự gen mà không điều chế gen từ nguồn gốc tự nhiên, do đó không đủ điều kiện để được cấp bằng sáng chế.

Việc cấp bằng sáng chế cho Myriad có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nghiên cứu ung thư vú và ung thư buồng trứng Nhiều người cho rằng việc sở hữu cá nhân đối với gen người là vô lý và vô đạo đức Họ đặt ra câu hỏi về quyền của cá nhân hoặc công ty trong việc sử dụng ADN liên quan đến các dịch bệnh ở con người.

 Bên bị đơn: Công ty Myriad, ban quản trị đại học Utah và Ủy ban cấp bằng sáng chế

Mỹ (United States Patent and Trademark Office - USPTO) (Tuy nhiên USPTO được miễn truy tố theo luật liên bang Hoa Kỳ) Myriad cũng đáp trả với hai luận điểm:

 Họ chính là những người tiên phong tìm ra gien BRCA nhưng phủ nhận việc đang tìm cách sở hữu gen người (ADN) Myriad phản bác rằng gene BRCA

Myriad đã trải qua nhiều quá trình vật lý và chuyển đổi thông tin trong phòng thí nghiệm, dẫn đến việc gene này không còn là gene tự nhiên nữa và tốn kém chi phí đáng kể.

Bằng sở hữu bao gồm công nghệ tăng khả năng cô lập các gen BRCA1 và

BRCA2 và các công thức hóa học đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích gen tại phòng thí nghiệm Chủ tịch Myriad thông báo rằng công ty đã đầu tư 500 triệu USD vào việc phát triển các thí nghiệm liên quan đến BRCA Vì vậy, họ cần được cấp bằng sáng chế cho những nỗ lực nghiên cứu của mình.

Việc bác bỏ bằng sáng chế của Myriad có thể làm giảm động lực nghiên cứu trong lĩnh vực di truyền Justin Hitchcock, chuyên gia về luật sở hữu trí tuệ và y học, cho biết rằng đầu tư vào y học thường phụ thuộc vào khả năng thu lợi nhuận, và đây chính là lý do Myriad nỗ lực bảo vệ bằng sáng chế của mình.

 Năm 1996, Myriad được USPTO cấp bằng sáng chế đối với việc tách và xác định trình tự 2 gen BRCA.

 Năm 1998, Myriad đã gửi thư cảnh cáo phòng thí nghiệm về gen của trường Đại học Pensynvalnia yêu cầu ngừng các thí nghiệm về BRCA.

 Năm 2010, AMP chính thức khởi kiện Myriad cùng ban quản trị Đại học Utah và USPTO về việc thu hồi bằng sáng chế gen BRCA của Myriad

Vào ngày 29/3/2010, Toà án quận Nam New York đã bác bỏ bằng sáng chế của Myriad, với lý do rằng tính chất và thông tin mã hóa của ADN tách ra không khác biệt so với ADN tự nhiên trong cơ thể Thẩm phán Robert Sweet cho rằng việc tách ADN từ thiên nhiên không đủ điều kiện để được cấp bằng sáng chế.

 Ngày 16/6/2010, Myriad nộp đơn kháng án lên tòa án phúc thẩm liên bang.

Trong vụ kiện liên quan đến phát hiện của Myriad, Thẩm phán William Bryson cho rằng việc tách các chuỗi ADN không đủ điều kiện để cấp bằng sáng chế, ví như việc ngắt một chiếc lá ra khỏi cái cây Ngược lại, Thẩm phán Alan Lourie và Kimberly Moore khẳng định rằng mặc dù không thể cấp bằng sáng chế cho hành động ngắt lá, nhưng việc tách thành công các gien mang lại thông tin hữu ích cho việc chẩn đoán và điều trị ung thư hoàn toàn có thể được cấp bằng sáng chế Họ nhấn mạnh rằng việc tìm ra một gien mới là một quá trình phức tạp, đòi hỏi kỹ năng và kiến thức chuyên sâu.

Vào ngày 29/7/2011, tòa án Phúc thẩm đã khẳng định rằng Myriad có quyền sở hữu bằng sáng chế, vì các chuỗi DNA không tồn tại độc lập trong tự nhiên.

Ngày 26/3/2012, tòa án Tối cao Mỹ đã bác bỏ kết luận của tòa Phúc thẩm và quyết định xét xử lại vụ án sau khi AMP nộp đơn kháng án.

Sau khi xem xét hồ sơ, tòa phúc thẩm đã quyết định giữ nguyên bằng sáng chế của Myriad, giống như phán quyết trước đó AMP tiếp tục gửi thư kháng án lên tòa án tối cao Mỹ, và tòa án này đã chấp nhận yêu cầu, trực tiếp thụ lý vụ kiện.

2.1.5 Phán quyết của Toà án, án lệ và các luật điều chỉnh:

Ngày đăng: 05/09/2023, 09:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w