PHẦN MỞ ĐẦUNgành công nghiệp Dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu ở Việt Nam.Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầuthiết yếu của con người
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Ngành công nghiệp Dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu ở Việt Nam.Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầuthiết yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội và đặcbiệt nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, gópphần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước.Trong quá trình Công nghiệphoá- Hiện đại hoá hiện nay, ngành Dệt may đang chứng tỏ là một ngành mũi nhọntrong nền kinh tế được thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trong mấy nămgần đây, các thị trường luôn được rộng mở,số lao động trong ngành ngày càng nhiều
và chiếm tỷ trọng lớn trong các ngành công nghiệp, giá trị đong góp của ngành vàothu nhập quốc dân… Tuy nhiên trong quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế và nhữngbiến động của môi trường kinh tế , ngành Dệt may đang đứng trước những khó khăn
và thách thức mới cho sự phát triển
Với mục đích tim hiểu những vấn đề lớn liên quan đến ngành trong giai đoạnhiện nay và thử tìm một số giải pháp để khác phục những vấn đề đó, em đã quyếtđịnh lựa chọn đề tài : Thực trạng xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam hiện nay
1 Mục tiêu nghiên cứu
- Thứ nhất, nghiên cứu tình hình xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam hiệnnay Xem xét lại các thành tựu đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại
- Thứ hai, đề xuất giải pháp để phát triển hoạt động xuất khẩu của ngành dệtmay Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo
2 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến hoạt động xuất khẩu
- Thực trạng của hoạt đông xuất khẩu của ngành dệt may trong 6 tháng năm
2013
- Nghiên cứu những giải pháp làm phát triển ngành dệt may Việt Nam sang thịtrường các nước khác
3 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến trình
độ và khả năng xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam và từ đó đưa ra cácgiải pháp phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động xuất khẩu thuỷ sảntrong các năm kế tiếp
- Về thời gian: số liệu thu thập và nghiên cứu chủ yếu được thu thập vào 6 thángđầu năm 2013
Trang 24 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt mục tiêu nghiên cứu, đề án đã sử dụng một số phương pháp sau đây:
- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử đểnghiên cứu các vấn đề vừa toàn diện, vừa cụ thể, có hệ thống để đảm bảo tínhlogic của đề tài nghiên cứu
- Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp quy nạp, diễngiải, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích so sánh… để phântích, đánh giá vấn đề và rút ra kết luận
5 Kết cấu đề tài
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về môn Quản trị Xuất Nhập Khẩu
Chương 2: Phân tích thực trạng xuất khẩu dệt may tại Việt Nam
Chương 3: Nhận xét và đánh giá môn học Quản trị Xuất Nhập Khẩu
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MÔN QUẢN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU
1.1 NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ XUẤT NHẬP KHẨU
1.1.1 Các khái niệm
- Xuất khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụcho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF làviệc bán hàng hóa cho nước ngoài
- Nhập khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hànghóa và dịch vụ từ quốc gia khác Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuấtnước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước Tuynhiên, theo cách thức biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ cóviệc mua các hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mụccán cân thương mại Còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cán cân phithương mại
- Ngoại thương(hay còn gọi là thương mại quốc tế) là quá trình trao đổi hànghóa, dịch vụ giữa các quốc gia chủ yếu thông qua hoạt động xuất, nhập khẩu vàcác hoạt động gia công với nước ngoài Ngoại thương giữ vị trí trung tâm trongnền kinh tế đối ngoại
- Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các quan hệ về mặt vật chất và tài chính,các quan hệ diễn ra không những trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong lĩnh vựckhoa học – công nghệ có liên quan đến tất cả giai đoạn của quá trình sản xuất,giữa các quốc gia với nhau và giữa các quốc gia với các tổ chức kinh tế quốctế
1.1.2 Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu
- Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, không một quốc gia nào có thể
tự sản xuất tất cả các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước
Vì vậy tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế là điều kiện cần thiết chomỗi quốc gia Mỗi quốc gia phải thông qua trao đổi, mua bán với các quốc gianhằm thoả mản nhu cầu của mình Như vậy, hoạt động xuất khẩu góp phầnquan trọng vào sự phát triển hay suy thoái, lạc hậu của quốc gia so với thế giới.Ích lợi của hoạt động xuất khẩu được thể hiện như sau:
- Đối với nền kinh tế thế giới: Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc giatham gia vào phân công lao động quốc tế Các quốc gia sẽ tập trung vào sảnxuất và sản xuất những hàng hoá và dịch vụ mà mình không có lợi thế Xét trêntổng thể nền kinh tế thế giới thì chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sẽ làm
Trang 4cho việc sử dụng các nguôn lực có hiệu quả hơn và tổng sản phẩm xã hội toànthế giới tăng lên Bên cạnh đó xuất khẩu góp phần thắt chặt thêm quan hệ quốc
tế giữa các quốc gia
- Đối với nền kinh tế quốc dân: Xuất khẩu tạo nguồn vốn quan trọng, chủ yếu đểquốc gia thoả mãn nhu cầu nhập khẩu và tĩch luỹ để phát triển sản xuất Ở cácnước kém phát triển vật ngăn cản chính đối với nền kinh tế là thiếu tiềm lực vềvốn trong quá trình phát triển Nguồn vốn huy động từ nước ngoài được coi là
cở sở chính nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài thấy được khảnăng xuất khẩu của đất nước đó, vì đây là nguồn chính để đảm bảo nước này
có thể trả nợ Đẩy mạnh xuất khẩu được xem như một yếu tố quan trọng kíchthích sự tăng trưởng kinh tế Việc đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo điều kiện mởrộng qui mô sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu, gâyphản ứng dây chuyền giúp cho các ngành kinh tế khác phát triển theo, dẫn đếnkết quả tăng tổng sản phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển nhanh Xuất khẩu
có ích lợi kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghiệp sản xuất Để có thểđáp ứng được nhu cầu cao của thế giới về qui cách phẩm chất sản phẩm thì mộtsản phẩm sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công nghệ, mặt khác người laođộng phải nâng cao tay nghề, học hỏi những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến.Thông qua xuất khẩu, hàng hoá trong nước sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranhtrên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏicác nhà sản xuất trong nước phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sảnxuất phù hợp với nhu cầu thị trường Ngoài ra, xuất khẩu còn đòi hỏi các nhàdoanh nghiệp phải luồng đổi mới công hoàn thiện công tác quản lý sản xuất,kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành
- Đối với doanh nghiệp: Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có
cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chấtlượng Những yếu tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sảnxuất phù hợp với thị trường.Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn đổimới và hoàn thiện tác quản lý sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng sảnphẩm, hạ giá thành Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thịtrường, mở rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước,trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời phân tán
và chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy tín kinhdoanh của doanh nghiệp Xuất khẩu khuyến khích việc phát triển các mạnglưới kinh doanh của doanh nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiêncứu và phát triển các hoạt động sản xuất, marketing…, cũng như sự phân phối
và mở rộng trong việc cấp giấy phép
Trang 51.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Xuất Nhập Khẩu
1.1.3.1 Sự cạnh tranh
Các điều kiện về chi phí tạo ra giá sàn, các điều kiện về nhu cầu tạo ra giátrần, thì những điều kiện cạnh tranh để quyết định giá xuất khẩu thực sựnằm ở đâu giữa hai giới hạn đó Trong một thị trường cạnh tranh hoàn toànthì nhà xuất khẩu có rất ít quyền định đoạt đối với giá cả Khi đó, vấn đềđịnh giá chỉ còn là quyết định bán hay không bán sản phẩm vào thị trường
đó Trong một thị trường cạnh tranh không hoàn toàn hoặc độc quyền thìnhà xuất khẩu có một số quyền hạn để định giá của một số sản phẩm phùhợp với những phân khúc thị trường đã được chọn lựa trước, và thôngthường họ có quyền định giá sản phẩm xuất khẩu ở mức cao hơn so với giáthị trường trong nước
1.1.3.2 Sự ảnh hưởng bởi chính trị và luật pháp
Nhà xuất khẩu phải chấp nhận luật pháp nước ngoài sở tại về các chínhsách của họ như: biểu thuế nhập khẩu, hạn chế trong nhập khẩu, luật chốngbán phá giá, kể cả chính sách tiền tệ
1.1.3.3 Thuế quan
Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vịhàng xuất khẩu Việc đánh thuế xuất khẩu được chính phủ ban hành nhằmquản lý xuất khẩu theo chiều hướng có lợi nhất cho nền kinh tế trong nước
và mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại Tuy nhiên, thuế quan cũng gây ramột khoản chi phí xã hội do sản xuất trong nước tăng lên không có hiệu quả
và mức tiêu dùng trong nước lại giảm xuống Nhìn chung công cụ nàythường chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng nhằm hạn chế số lượng xuấtkhẩu và bổ sung cho nguồn thu ngân sách
1.1.3.4 Hạn ngạch
Được coi là một công cụ chủ yếu cho hàng rào phi thuế quan, nó được hiểunhư qui định của Nhà nước về số lượng tối đa của một mặt hàng hay củamột nhóm hàng được phép xuất khẩu trong một thời gian nhất định thôngqua việc cấp giấy phép Sở dĩ có công cụ này vì không phải lúc nào Nhànước cũng khuyến khích xuất khẩu mà đôi khi về quyền lợi quốc gia phảikiểm soát một vài mặt hàng hay nhóm hàng như sản phẩm đặc biệt, nguyênliệu do nhu cầu trong nước còn thiếu…
1.1.3.5 Trợ cấp xuất khẩu
Trong một số trường hợp chính phủ phải thực hiện chính sách trợ cấp xuấtkhẩu để tăng mức độ xuất khẩu hàng hoá của nước mình, tạo điều kiện cho
Trang 6sản phẩm có sức cạnh tranh về giá trên thị trường thế giới Trợ cấp xuấtkhẩu sẽ làm tăng giá nội địa của hàng xuất khẩu, giảm tiêu dùng trong nướcnhưng tăng sản lượng và mức xuất khẩu.
1.1.3.6 Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một sốđơn vị tiền tệ của nước kia Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái lànhân tố quan trọng để doanh nghiệp đưa ra quyết định liên quan đến hoạtđộng mua bán hàng hoá quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nóiriêng Nếu tỷ giá hối đoái thực tế thấp hơn so với nước xuất khẩu và caohơn so với nước nhập khẩu thì lợi thế sẽ thuộc về nước xuất khẩu do giánguyên vật liệu đầu vào thấp hơn, chi phí nhân công rẻ hơn làm cho giathành sản phẩm ở nước xuất khẩu rẻ hơn so với nước nhập khẩu Còn đốivới nước nhập khẩu thì cầu về hàng nhập khẩu sẽ tăng lên do phải mất chiphí lớn hơn để sản xuất hàng hoá ở trong nước Điều này đã tạo điều kiệnthuận lợi cho các nước xuất khẩu tăng nhanh được các mặt hàng xuất khẩucủa mình, do đó có thể tăng được lượng dự trữ ngoại hối
1.2 KHÁI QUÁT VỀ INCOTERMS
Incoterms là bộ quy tắc do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) phát hành đểgiải thích các điều kiện thương mại quốc tế Khi được chọn, tạo thành mộtđiều khoản của hợp đồng mua bán quy định về vấn đề chuyên chở hàng hóa
và thông quan xuất nhập khẩu
Mục đích của Incoterms là cung cấp một bộ qui tắc quốc tế để giải thíchnhững điều kiện thương mại thông dụng nhất trong ngoại thương.Incotermslàm rõ sự phân chia trách nhiệm, chi phí và rủi ro trong quá trình chuyểnhàng từ người bán đến người mua
Incoterms 2010là phiên bản mới nhất của Incoterms,và có hiệu lực kể từngày1 tháng 1năm2011 Incoterms 2010 bao gồm 11 điều kiện, là kết quảcủa việc thay thế bốn điều kiện cũ trong Incoterms 2000 (DAF, DES, DEQ,DDU) bằng hai điều kiện mới là DAT và DAP 11 điều kiện Incoterms
2010 được chia thành hai nhóm riêng biệt:
Các điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải:
- EXW: Giao tại xưởng
- FCA: Giao cho người chuyên chở
- CPT: Cước phí trả tới
- CIP: Cước phí và bảo hiểm trả tới
Trang 7- DAT: Giao tại bến
- DAP: Giao tại nơi đến
- DDP: Giao hàng đã nộp thuế
Các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa:
- FAS: Giao dọc mạn tàu
- FOB: Giao lên tàu
- CFR: Tiền hàng và cước phí
- CIF: Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
Nhóm thứ nhất gồm bảy điều kiện có thể sử dụng mà không phụ thuộc vàophương thức vận tải lựa chọn và cũng không phụ thuộc vào việc sử dụngmột hay nhiều phương thức vận tải Nhóm này gồm các điều kiện EXW,FCA, CPT, CIP, DAT, DAP, DDP Chúng có thể được dùng khi hoàn toànkhông có vận tải biển.Tuy vậy, các điều kiện này cũng có thể được sử dụngkhi một phần chặng đường được tiến hành bằng tàu biển
Trong nhóm thứ hai, địa điểm giao hàng và nơi hàng hóa được chở tớingười mua đều là cảng biển, vì thế chúng được xếp vào nhóm các điều kiện
“đường biển và đường thủy nội địa” Nhóm này gồm các điều kiện FAS,FOB, CFR và CIF Ở ba điều kiện sau cùng, mọi cách đề cập tới lan can tàunhư một điểm giao hàng đã bị loại bỏ Thay vào đó, hàng hóa xem như đãđược giao khi chúng đã được “xếp lên tàu”
1.3 CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN
- Trả tiền mặt (In Cash):
Người mua thanh toán bằng tiền mặt cho người bán khi người bán giao hàng hoặcchấp nhận đơn đặt hàng của người mua
- Phương thức ghi sổ (Open Account):
Là phương thức thanh toán trong đó người bán mở một tài khoản để ghi nợ ngườimua, sau khi người bán đã hoàn thành việc giao hàng hay cung cấp dịch vụ, theo
đó đến thời hạn quy định người mua sẽ trả tiền cho người bán
- Thanh toán trong buôn bán đối lưu (Counter Trade)
Nghiệp vụ Barter: là nghiệp vụ hàng đổi hàng, không sử dụng tiền trong thanhtoán
Trang 8Nghiệp vụ song phương xuất nhập: Đây cũng là hoạt động mua bán đối lưu, nhưng
có thể sử dụng tiền (hoặc một phần tiền) để thanh toán
Nghiệp vụ Buy – Back: là nghiệp vụ mua bán đối lưu trong lĩnh vực đầu tư trung
và dài hạn Trong đó, một bên cung cấp máy móc trang thiết bị và sẽ nhận lại sảnphẩm do bên kia sử dụng máy móc đó làm ra
- Phương thức nhờ thu (Collection)
Là phương thức thanh toán mà người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
sẽ ký phát hối phiếu đòi tiền người mua, nhờ ngân hàng thu hộ số tiền thu ghi trên
tờ hối phiếu đó
- Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Là một phương thức thanh toán trong đó một khách hàng yêu cầu ngân hàng phục
vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi ở một địa điểm nhấtđịnh.Ngân hàng chuyển tiền phải thông qua đại lý của mình ở nước người hưởnglợi để thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền
- Phương thức giao chứng từ trả tiền (Cash Against Documents – CAD)
Là phương thức thanh toán trong đó nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tàikhoản tín thác để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu trình đầy
đủ những chứng từ theo yêu cầu Nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giaohàng sẽ xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng để nhận tiền thanh toán
- Phương thức tín dụng chứng từ (Ducumentary Credits)
Là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàngcam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba hoặc chấp nhận hốiphiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba này xuấttrình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ratrong thư tín dụng
1.4 TỔ CHỨC VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NGOẠI THƯƠNG
Các bước thực hiện hợp đồng Xuất Nhập Khẩu
1.4.1 Đối với hợp đồng xuất khẩu:
- Làm thủ tục xuất khẩu theo quy định của Nhà nước
- Thực hiện những công việc bước đầu của khâu thanh toán
- Chuẩn bị hàng hóa để xuất khẩu
- Làm thủ tục hải quan
Trang 9- Thuê phương tiện vận tải
- Mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất khẩu
- Lập bộ chứng từ thanh toán
- Khiếu nại
- Thanh lý hợp đồng
1.4.2 Đối với hợp đồng nhập khẩu:
- Làm thủ tục nhập khẩu theo quy định của Nhà nước
- Thực hiện những công việc bước đầu của khâu thanh toán
- Thuê phương tiện vận tải
- Mua bảo hiểm
1.5 CÁC CHỨNG TỪ THƯỜNG SỬ DỤNG TRONG KINH
DOANH XUẤT NHẬP KHẨU
- Hóa đơn thương mại (Commercial Invoice)
Là chứng từ cơ bản của khâu thanh toán, là yêu cầu của người mua đòingười bán phải trả số tiền hàng ghi trên hóa đơn Trong hóa đơn phải nêuđược đặc điểm của hàng hóa, đơn giá, tổng giá trị hàng hóa, điều kiện cơ sởgiao hàng, phương thức thanh toán, phương tiện vận tải,…
- Vận đơn đường biển
Là chứng từ do người chuyên chở (chủ tàu, thuyền trưởng) cấp cho ngườigửi hàng nhằm xác nhận việc hàng hóa đã được tiếp nhận để vận chuyển
- Chứng từ bảo hiểm
Trang 10Là chứng từ do người/tổ chức bảo hiểm cấp cho người được bảo hiểm,ngằm hợp thức hóa hợp đồng bảo hiểm và được dùng để điều tiết quan hệgiữa tổ chức bảo hiểm và người được bảo hiểm.
- Giấy chứng nhận chất lượng (Certificate Of Quality)
Là chứng từ xác nhận chất lượng của hàng thực giao và chứng minh phẩmchất hàng phù hợp với các điều khoản của hợp đồng
- Giấy c hứng nhận số lượng/ trọng lượng (Certificate Of Quantity/ Weight)
Là chứng từ xác nhận số lượng/ trọng lượng của hàng hóa thực giao
- Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate Of Origin)
Là chứng từ do nhà sản xuất hoặc do cơ quan có thẩm quyền, thường làPhòng Thương mại/ Bộ Thương mại cấp để xác nhận nơi sản xuất hoặckhai thác ra hàng hóa
- Giấy chứng nhận kiểm dịch và giấy chứng nhận vệ sinh
Là những chứng từ do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước cấp cho chủhàng để xác nhận hàng hóa đã được an toàn về mặt dịch bệnh, sâu hại, nấmđộc,…
- Phiếu đóng gói (Packing List)
Là chứng từ hàng hóa liệt kê tất cả những mặt hàng, loại hàng được đóngkiện hàng và toàn bộ lô hàng được giao
Trang 11CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỆT MAY TẠI VIỆT NAM
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
2.1.1 Vai trò của ngành dệt may
Thứ nhất, xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt may sẽ tạonguồn thu nhập, tích luỹ cho Nhà nước một nguồn vốn ngoại tệ lớn cho việc nhập khẩuthiết bị sản xuất hiện đại, nguyên phụ liệu…để phát triển sản xuất phục vụ cho sự nghiệpcông nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước Đồng thời cũng giúp cho mỗi doanh nghiệp có cơ
sở để tự hiện đại hoá sản xuất của mình Khi xuất khẩu các sản phẩm dệt may nước ta sẽ
có một nguồn thu ngoại tệ lớn cho nền kinh tế quốc dân, đáp ứng cho việc nhập khẩu cácmặt hàng mà chúng ta cần để đảm bảo cho sự phát triển cân đối, ổn định của nền kinh tế;giúp chúng ta khai thác tối đa tiềm năng của đất nước
Thứ hai, xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá nói chung và sảnphẩm dệt may nói riêng được xem là một yếu tố để thúc đẩy phát triển và tăng trưởngkinh tế vì nó cho phép mở rộng quy mô sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước,gây phản ứng dây truyền kéo theo một loạt các ngành khác có liên quan phát triển theo.Khi ngành dệt may đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu thì sẽbuộc phải mở rộng quy mô sản xuất và cần nhiều nguyên liệu hơn để phục vụ cho ngànhdệt và may, điều đó sẽ dẫn theo sự phát triển của ngành trồng bông và các ngành có liênquan đến việc trồng bông như phân bón, vận tải…
Thứ ba, việc ngành dệt may đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trườngxuất khẩu sẽ giúp Nhà nước và chính bản thân các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quảnhất các nguồn lực có sẵn và các lợi thế vốn có của quốc gia cũng như của doanh nghiệp,đồng thời tiếp cận với sự phát triển của khoa học-công nghệ trên mọi lĩnh vực để nângcao chất lượng, tăng sản lượng và hướng tới sự phát triển bền vững cho đất nước vàdoanh nghiệp
Thứ tư, tiến hành các hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu sảnphẩm dệt may góp phần giúp Nhà nước giải quyết vấn đề công ăn việc làm, nâng caomức sống người dân, đưa quốc gia thoát khỏi sự đói nghèo và lạc hậu Việc ngành dệtmạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu đồng nghĩa với việc mở rộngquy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, khi đó ngành dệt may sẽ thu hút đượcnhiều hơn nữa lao động và giúp họ có được một mức thu nhập cao và ổn định, tay nghềcủa người lao động được nâng cao do họ sẽ được đưa vào đào tạo một cách bài bản và có
kế hoạch cụ thể, đồng thời có cơ hội tiếp cận với những công nghệ sản xuất dệt may hiệnđại
Trang 12Thứ năm, để việc đẩy mạnh xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu có hiệuquả cao, các doanh nghiệp dệt may phải không ngừng đầu tư vào trang thiết bị máy móc,công nghệ sản xuất để vừa nâng cao chất lượng sản phẩm vừa tăng năng xuất thì mới tạo
ra được những sản phẩm có tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế Như vậy xuấtkhẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu còn có vai trò kích thích đổi mới công nghệ sảnxuất cho nền kinh tế nói chung và cho ngành dệt may nói riêng
Thứ sáu, nhờ có hoạt động xuất khẩu và công tác mở rộng thị trường xuất khẩu mà
sự hợp tác kinh tế giữa nước ta với các nước khác ngày càng phát triển bền chặt và thânthiện Điều đó là do xuất khẩu chính là sự trao đổi giữa các quốc gia, là sự thể hiện mốiquan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và là hình thức ban đầu của các hoạt độngđối ngoại Không chỉ thế nó còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng cường tiếp cậnvới thế giới bên ngoài, từ đó có một nguồn thông tin vô cùng phong phú và nhạy bén với
cơ chế thị trường; thiết lập được nhiều mối quan hệ và tìm được nhiều bạn hàng trongkinh doanh hợp tác xuất nhập khẩu
2.1.2 Tình hình xuất khẩu ngành dệt may
Hiện nay ở nước ta ngành công nghiệp dệt may ngày càng có vai trò quan trọngtrong nền kinh tế quốc dân Nó không chỉ phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao và phongphú, đa dạng của con người mà còn là ngành giúp nước ta giải quyết được nhiều công ănviệc làm cho xã hội và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách quốc gia, tạo điều kiện
để phát triển nền kinh tế
Trong những năm gần đây ngành công nghịêp dệt may đã có những bước tiến vượtbậc Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành khoảng 30%/năm, trong lĩnh vực xuất khẩutốc độ tăng trưởng bình quân 24,8%/năm và chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cảnước Tính đến nay cả nước có khoảng 822 doanh nghiệp dệt may, trong đó doanh nghiệpquốc doanh là 231 doanh nghiệp, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 370 doanh nghiệp vàdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 221 doanh nghiệp Ngành dệt may có năng lựcnhư sau:
Về thiết bị: có 1.050.000 cọc kéo sợi, 14.000 máy dệt vải; 450 máy dệt kim và190.000 máy may
Về lao động: ngành dệt may đang thu hút được khoảng 1,6 triệu lao động, chiếm25% lực lượng lao động công nghiệp
Về thu hút đầu tư nước ngoài: tính đến nay có khoảng 180 dự án sợidệtnhuộm đan len-may mặc còn hiệu lực với số vốn đăng ký đạt gần 1,85 tỷ USD, trong đó có 130
-dự án đã đi vào hoạt động, tạo việc làm cho trên 50.000 lao động trực tiếp và hàng ngànlao động gián tiếp
Trang 13Tổng nộp ngân sách thông qua các loại thuế ngày càng tăng, tốc độ tăng bình quânkhoảng 15%/ năm.
Về thì trường xuất khẩu: chúng ta xuất khẩu nhiều sang các thị trường Mỹ, EU,Canada và Nhật Bản trong đó các nước EU là thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhấtcủa Việt Nam chiếm 34%-38% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm của Việt Nam Cònsản phẩm dệt may xuất khẩu sang Nhật Bản đã được hưởng thuế ưu đãi theo hệ thốngGSP nên kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này tăng khá nhanh trongnhững năm gần đây, thị phần hàng dệt thoi và dệt kim của nước ta trên thị trường hàngdệt may của Nhật Bản tương ứng là 3,6% và 2,3%, kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng30% sản phẩm dệt may
Năm 2012, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng ngành dệt may nói chung và Tậpđoàn Dệt may nói riêng vẫn duy trì mức độ tăng trưởng ổn định, tiếp tục là ngành có kimngạch xuất khẩu dẫn đầu cả nước Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may và xơ sợi dệt cácloại toàn ngành ước đạt 17,2 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ 2011 Trong đó riêngxuất khẩu dệt may đạt 15,8 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ
Xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang các thị trường lớn vẫn tăng trưởng ổn địnhmặc dù nhập khẩu dệt may nói chung vào các thị trường này đều tăng chậm, thậm chígiảm Cụ thể, nhập khẩu dệt may vào thị trường Mỹ năm 2012 giảm 0,5% nhưng nhậpkhẩu từ Việt Nam vẫn tăng 9,2%, tại thị trường Hàn Quốc giảm 7% nhưng nhập khẩu từViệt Nam vẫn tăng 9% Điều này cho thấy dệt may Việt Nam ngày càng uy tín và có tínhcạnh tranh cao trên thị trường thế giới
Riêng Tập đoàn Dệt may Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu năm 2012 đạt 2 tỷ 6triệu USD, tăng 16% so với năm 2011 Doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 40 nghìn 786 tỷđồng, tăng 16% so với năm 2011, đạt 102% kế hoạch năm; doanh thu nội địa ước đạt 19nghìn 700 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ Thu nhập bình quân đạt gần 4,5 triệuđồng/người/tháng
Năm 2013, Tập đoàn Dệt may Việt Nam đặt mục tiêu doanh thu và kim ngạchxuất khẩu đều tăng 12% so với năm ngoái Hiện, có nhiều tín hiệu vui khi nhiều doanhnghiệp dệt may có đơn hàng xuất khẩu tốt trong quý 1 và quý 2
Năm 2013 , hàng dệt may Việt Nam đã có mặt tại nhiều thị trường trên thế giới,nhất là tại 4 thị trường trọng điểm Mỹ, châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc Mỹ là thịtrường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam
Trang 14Trong 6 tháng, đạt KNXK 3,94 tỷ USD, chiếm 44,8% tổng KNXK toàn ngành,tăng 12% so với cùng kỳ năm ngoái Trong số hàng xuất khẩu vào thị trường Mỹ, tín hiệuvui là hàng xơ sợi nhân tạo của Việt Nam xuất khẩu tăng 14,5% so với cùng kỳ.
Riêng EU, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đạt 1,29 tỷ USD, tăng 18% dotăng trưởng kinh tế trở lại Thị trường Nhật Bản cũng đạt KNXK dệt may 1,1 tỷ USD,chiếm tỷ trọng 12,5% KNXK, tăng 24,5%
Dự kiến, với thị trường Nhật Bản, xuất khẩu dệt may Việt Nam sẽ phát triển đượcquy mô tăng trưởng xấp xỉ thị trường EU Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu hàng dệtmay lớn thứ 4 của Việt Nam với KNXK năm 2013 dự kiến đạt trên 1 tỷ USD Trong 6tháng đầu năm, KNXK đạt 660 triệu USD
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang được các bên đàm phán, dự kiến sẽ hoàn tất trong năm 2013 “Nếu được ký kết, TPP sẽ là cú hích mới cho dệt may Việt Nam cả về quy mô sản xuất, xuất khẩu cũng như cải thiện giá trị gia tăng của sản phẩm”
Xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2013 tăng 15,39% sovới cùng kỳ năm ngoái, đạt 7,89 tỷ USD; trong đó có sự đóng góp lớn từ những thịtrường chủ lực như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc
Trong đó, xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ đạt kim ngạch lớn nhất 3,98 tỷ USD,chiếm 50,48% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành, tăng 14,2% so với cùng kỳ nămngoái
Thị trường EU đạt 1,29 tỷ USD, chiếm 14,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng18%; Nhật Bản đạt 1,03 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 13,03% tổng kim ngạch, tăng 16,53%;Hàn Quốc đạt 545,47 triệu USD, chiếm tỷ trọng 6,92%, tăng 42,67% Các thị trườngkhác đạt 1,85 tỷ USD
Dự báo, với kết quả xuất khẩu nửa đầu năm nay cùng với diễn biến tốt của thịtrường đang diễn ra có hy vọng toàn ngành sẽ đạt mục tiêu xuất khẩu 19,5 tỷ USD trong
cả năm 2013, vượt kế hoạch đề ra từ đầu năm khoảng 1 tỷ USD
Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may 6 tháng đầu năm nay sang phầnlớn các thị trường đều đạt mức tăng trưởng dương so với cùng kỳ năm ngoái Đáng chú
ý là tất cả các thị trường truyền thống đều tăng kim ngạch như: xuất sang Hoa Kỳ tăng14,2%; Nhật Bản tăng 16,53%; Hàn Quốc tăng 42,67%; Đức tăng 11,85%; Anh tăng3,5%; Tây Ban Nha tăng 9,41%; Canada tăng 14,04%; Trung Quốc tăng 45%; Hà Lantăng 4,93%
Thị trường đặc biệt chú ý trong 6 tháng đầu năm là Nigieria, tuy kim ngạch chỉđạt 8,42 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ năm ngoái thì đạt mức tăng trưởng cực mạnhtới 3.229% (6tháng năm 2012 đạt 252.871 USD) Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩusang Myanmar và Phần Lan cũng đạt kim ngạch lớn 139,08% và 102,25%
Trang 15Những tín hiệu tốt cho thị trường xuất khẩu: hàng xơ sợi nhân tạo của Việt Namxuất khẩu vào Hoa Kỳ đã tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước Còn với thị trường NhậtBản, xuất khẩu dệt may Việt Nam sẽ phát triển được quy mô tăng trưởng xấp xỉ thịtrường EU Đối với khối EU, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 6 thángđầu năm đạt 1,29 tỷ USD, nếu sự hồi phục kinh tế cũng như nhu cầu tiêu dùng được cảithiện thì xuất khẩu của Việt Nam vào EU sẽ giữ được mức tăng trưởng trên 18% Thịtrường Hàn Quốc, sẽ được duy trì là thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn thứ 4 củaViệt Nam, với kim ngạch xuất khẩu năm 2013 dự kiến đạt trên 1 tỷ USD.
Thị trường xuất khẩu hàng dệt may 6 tháng đầu năm 2013
ĐVT: USD
Thị trường T6/2013 6T/2013 T6/2013 so với
T6/2012 (%)
6T/2013 so với cùng kỳ (%)