Thiết kế e-book hướng dẫn học sinh tự học phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
Đỗ Thị Việt Phương
THIẾT KẾ E-BOOK HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
Đỗ Thị Việt Phương
THIẾT KẾ E-BOOK HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ TRỌNG TÍN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 0
MỞ ĐẦU 4
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 5
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 5
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 5
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.2 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC 9
1.2.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học [9] 9
1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học 9
1.2.3 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học trường THPT [9] 10
1.2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học hóa học 12
1.2.5 Ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng ICT trong dạy học hoá học 13
1.3 TỰ HỌC 14
1.3.1 Tự học là gì? 14
1.3.2 Vai trò của tự học 14
1.3.3 Các hình thức của tự học 15
1.3.4 Chu trình học 15
1.3.5 Vai trò của người thầy đối với việc tự học của học sinh 17
1.3.6 Tự học với việc tiếp cận và tận dụng những công nghệ mới 17
1.4 E-BOOK 18
1.4.1.Khái niệm e-book 18
1.4.2 Ưu và nhược điểm của e-book 19
1.4.3 Các yêu cầu thiết kế e-book 19
1.4.4 Các công cụ chính thiết kế e-book 20
1.4.4.1 ELearning XHTML editor (eXe) [10] 20
1.4.4.2 Adobe Captivate 3 [10] 22
1.5 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG E-BOOK TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 27
1.5.1 Mục đích điều tra 28
1.5.2 Đối tượng điều tra 28
Trang 41.5.3 Tiến hành điều tra 28
1.5.4 Kết quả điều tra 28
1.5.5 Kết luận 32
Chương 2 THIẾT KẾ E-BOOK HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO 33
2.1.TỔNG QUAN VỀ PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 10 NÂNG CAO 33
2.1.1 Mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học của chương 5 [9] 33
2.1.1.1 Mục tiêu của chương 33
2.1.1.2 Nội dung của chương 33
2.1.1.3 Phương pháp dạy học 35
2.1.2 Mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học của chương 6 [9] 39
2.1.2.1 Mục tiêu của chương 39
2.1.2.2 Nội dung của chương 39
2.1.2.3 Phương pháp dạy học 42
2.1.3 Cấu trúc chung và phương pháp dạy học phần hóa vô cơ lớp 10 nâng cao [29] 42
2.1.3.1 Cấu trúc chung 43
2.1.3.2 Phương pháp dạy học các bài về chất sau lý thuyết chủ đạo 43
2.2.NGUYÊN TẮC THIẾT KẾ E-BOOK HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC 43
2.3.QUY TRÌNH THIẾT KẾ E-BOOK HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC 44
2.3.1 Chuẩn bị 44
2.3.2 Xây dựng nội dung 44
2.3.2.1 Phiếu học tập trong dạy học hóa học 45
2.3.2.2 Thiết kế phiếu học tập hướng dẫn tự học lý thuyết 46
2.3.2.3 Thiết kế phần hướng dẫn giải bài tập SGK 50
2.3.3 Thiết kế e-book 51
2.3.4 Chạy thử sản phẩm - Ghi đĩa CD 51
2.3.5 Thực nghiệm sư phạm 51
2.3.6 Đánh giá kết quả - Rút kinh nghiệm – Hoàn thiện e-book 51
2.4 CẤU TRÚC VÀ NỘI DUNG CỦA E-BOOK HƯỚNG DẪN HS TỰ HỌC 52
2.4.1 Cấu trúc e-book 52
2.4.2 Nội dung e-book 52
2.4.2.1 Trang chủ 52
2.4.2.2 Trang “E-book” 53
2.4.2.3 Thiết kế một bài học cụ thể (ví dụ : Bài Clo) 57
2.4.2.4 Thiết kế trang “Đố vui hóa học” (ví dụ : chương 6) 71
2.4.2.5 Trang “Hướng dẫn” 74
2.4.2.6 Trang “Liên hệ” 75
Trang 52.5 SỬ DỤNG E-BOOK HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 10 CHƯƠNG
TRÌNH NÂNG CAO 75
2.5.1 Đặc điểm của e-book hướng dẫn HS tự học 75
2.5.2 Hình thức sử dụng e-book hướng dẫn HS tự học 76
1 Hình thức 1: HS nghiên cứu trước e-book ở nhà, GV sử dụng e-book để dạy học trên lớp 76
2 Hình thức 2: HS tự học bài mới bằng e-book ở nhà sau đó thuyết trình trên lớp, GV nhận xét và bổ sung 79
3 Hình thức 3: HS tự ôn tập bằng e-book ở nhà sau khi học trên lớp 81
2.5.3 Một số lưu ý để sử dụng e-book hướng dẫn HS tự học hiệu quả 83
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 85
3.2 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 85
3.3 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 85
3.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 86
3.5 TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 87
3.5.1 Chọn lớp thực nghiệm – đối chứng 87
3.5.2 Gặp GV tham gia thực nghiệm 87
3.5.3 Tiến hành sử dụng e-book hướng dẫn HS tự học 87
3.5.4 Kiểm tra đánh giá kết quả 88
3.6 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 89
3.6.1 Nhận xét của giáo viên về e-book 89
3.6.2 Nhận xét của học sinh về e-book 92
3.6.3 Kết quả bài kiểm tra của học sinh 94
3.6.3.1 Kết quả kiểm tra lần 1: bài Khái quát nhóm Halogen 94
3.6.3.2 Kết quả kiểm tra lần 2: bài Clo 96
3.6.3.3 Kết quả kiểm tra lần 3: bài Hợp chất có oxi của Clo 98
3.6.3.4 Kết quả kiểm tra lần 4: bài Luyện tập Clo và hợp chất của Clo 100
3.6.3.5 Kết quả kiểm tra lần 5: bài Brom và Iot 101
3.6.3.6 Kết quả kiểm tra lần 6: bài Luyện tập chương 5 103
3.6.3.7 Kết quả kiểm tra lần 7: bài Oxi 105
3.6.3.8 Kết quả kiểm tra lần 8: bài Ozon và hidropeoxit 107
3.6.3.9 Kết quả kiểm tra lần 9: bài Lưu huỳnh 109
3.6.3.10 Kết quả kiểm tra lần 10: bài Hidro sunfua 111
3.6.3.11 Kết quả kiểm tra lần 11: bài Hợp chất có oxi của lưu huỳnh 113
3.6.3.12 Kết quả kiểm tra lần 12: bài Luyện tập chương 6 114
3.6.3.13 Kết quả tổng hợp 12 bài kiểm tra 116
3.7 BÀI HỌC KINH NGHIỆM 118
KẾT LUẬN 119
Trang 61 Kết luận 119
2 Kiến nghị và đề xuất 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 128
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, tự học đang trở thành chiếc chìa khóa vàng trong việc chiếm lĩnh kho tàng tri thức nhân loại và là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Bởi
lẽ tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với
quỹ thời gian ít ỏi ở học đường Nói về tự học, Bác Hồ đã dạy “Về cách học, phải lấy tự học làm
cốt” Luật Giáo dục (2005), điều 28.2 cũng đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Chính vì tầm quan trọng của tự học mà việc phục vụ ngày càng tốt hơn cho hoạt động tự học và phương châm học suốt đời đang là một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Tuy nhiên, điều cốt lõi là người giáo viên cần giúp học sinh tìm ra phương pháp tự học thích hợp và cung cấp cho học sinh những công cụ tự học có hiệu quả
Ngày nay, bên cạnh những hình thức tự học như học qua sách, báo, nghe radio, xem truyền hình, nghe báo cáo, tham quan… thì tự học qua mạng Internet, tự học với sự trợ giúp của công nghệ thông tin đang trở nên hết sức phổ biến Nắm bắt xu thế đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo Chủ trương này đã được đông đảo các giáo viên hưởng ứng, thể hiện thông qua việc xuất hiện ngày càng nhiều các bài giảng điện tử, các website, blog, e-book…hỗ trợ cho việc dạy và học
Tuy nhiên, dù được hỗ trợ bằng nhiều phương tiện, công cụ…nhưng nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên thì việc tự học của học sinh ắt hẳn sẽ gặp không ít những khó khăn Người học có thể
tự mình duyệt web, đọc các e-book, tham gia các blog, diễn đàn… nhưng khó có thể hiểu sâu sắc được các vấn đề khi lượng kiến thức, thông tin đưa ra quá nhiều mà lại thiếu sự hướng dẫn Vì vậy, nếu có thể cung cấp cho học sinh một tài liệu hướng dẫn cụ thể, giúp học sinh tự học ở nhà như là khi học trên lớp, học sinh được đặt vào những tình huống có vấn đề, được tự tìm cách giải quyết vấn
đề thì hiệu quả tự học sẽ tăng lên rất nhiều
Chính vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Thiết kế e-book hướng dẫn học sinh tự
động sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học, tạo niềm hứng thú học tập cho các em từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Trang 82 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thiết kế e-book hướng dẫn học sinh tự học phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Việc thiết kế e-book hướng dẫn học sinh tự học phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao
Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học hóa học ở trường THPT
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễncủa đề tài
Nghiên cứu sách giáo khoa hóa học lớp 10 chương trình nâng cao đặc biệt là phần hóa vô cơ
Xây dựng nguyên tắc và quy trình thiết kế e-book hướng dẫn học sinh tự học.
Thiết kế e-book hướng dẫn học sinh tự học phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao
Nghiên cứu cách sử dụng e-book hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao
Thực nghiệm sư phạm
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nội dung : Phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao
- Địa bàn: Tp.HCM
- Thời gian: năm học 2009 – 2010
6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu thiết kế e-book có nội dung chính xác, khoa học, dễ hiểu và giao diện đẹp, hấp dẫn; phần hướng dẫn học sinh tự học có tác dụng tích cực trong việc rèn luyện năng lực tự học cho học sinh thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài
- Phương pháp tổng hợp và khái quát hóa
Nhóm các phương pháp thực tiễn
Trang 9- Điều tra bằng các phiếu câu hỏi
8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
- Cung cấp kiến thức cho học sinh thông qua phần hướng dẫn tự học chi tiết từng bài theo phương pháp đổi mới
- Học sinh có thể sử dụng e-book để tự học, tự nghiên cứu
- Giáo viên có thể sử dụng e-book để thiết kế bài dạy, làm tư liệu dạy học
Trang 10Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Sự tiến bộ kì diệu của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) kết hợp với những thành tựu trong các ngành khoa học khác đã tạo nên những công cụ, phương tiện và môi trường làm việc hết sức hữu hiệu để áp dụng vào dạy học Chính vì vậy mà ngày nay, việc ứng dụng ICT trong dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng không còn xa lạ mà đang từng bước phát triển sâu rộng trên toàn thế giới và ở nước ta góp phần quan trọng làm tăng hiệu quả đào tạo
Sự lớn mạnh ấy thể hiện qua việc ngày càng xuất hiện nhiều website, e-book, blog , phần mềm, tài liệu điện tử… hỗ trợ việc dạy học hay các lớp học điện tử e-learning Mỗi hình thức này đều có những mặt mạnh và hạn chế của nó Chẳng hạn, các website, blog… thì chủ yếu bằng tiếng Anh, nội dung đa dạng nhưng chưa có tính hệ thống, mang nặng việc cung cấp thông tin; các phần mềm, tài liệu… hay các lớp học e-learning thì lại thu phí và đòi hỏi đường truyền Internet phải thông suốt
; còn các e-book thì chủ yếu là bản số hóa của sách in, định dạng dưới nhiều dạng file chủ yếu là kênh chữ, ít sinh động Những điều trên, phần nào gây khó khăn rất lớn cho học sinh phổ thông trong việc chọn lọc để tiếp nhận được kiến thức cần thiết trong khi quỹ thời gian của các em lại không nhiều
Khắc phục những hạn chế trên, việc xuất hiện loại hình e-book có nội dung lý thuyết và bài tập
hỗ trợ tự học được thiết kế dưới dạng một website offline, thường được ghi lên một đĩa CD-ROM để
người học có thể dùng bất cứ lúc nào với máy tính cá nhân của mình đang được các giáo viên và học sinh hưởng ứng nồng nhiệt Nó nhanh chóng trở thành đề tài nghiên cứu của sinh viên đại học và các học viên cao học Sau đây là một số khoá luận và luận văn tốt nghiệp chuyên ngành hóa học, trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh và ĐHSP Hà Nội:
1 Hỉ A Mổi (2005), Thiết kế website tự học môn hóa học lớp 11 chương trình phân ban thí điểm,
Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
2 Phạm Dương Hoàng Anh (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX và
Macromedia Flash MX 2004 để thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố kiến thức môn Hóa học phần Hiđrocacbon không no mạch hở dành cho học sinh THPT, Khóa luận tốt
nghiệp, ĐHSP TP.HCM
3 Nguyễn Thị Thanh Hà (2006), Ứng dụng phần mềm Macromedia Flash và Macromedia
Dreamver để thiết kế website về lịch sử hóa học 10 góp phần nâng cao chất lượng dạy học,
Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
Trang 114 Phạm Duy Nghĩa (2006), Thiết kế Web site phục vụ việc học tập và ôn tập chương nguyên tử
cho học sinh lớp 10 bằng phần mềm Macromedia Flash và Dreamweaver, Khóa luận tốt
nghiệp, ĐHSP TP.HCM
5 Nguyễn Ngọc Anh Thư (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX và
Macromedia Flash MX 2004 để tạo trang web hỗ trợ cho học sinh trong việc tự học môn hóa học lớp 11 nhóm Nitơ chương trình phân ban thí điểm, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
6 Phạm Thị Phương Uyên (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX 2004 và
Macromedia Flash MX 2004 thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố kiến thức cho học sinh môn hoá học nhóm oxi – lưu huỳnh chương trình cải cách, Khóa luận tốt nghiệp,
ĐHSP TP.HCM
7 Đỗ Thị Việt Phương (2006), Ứng dụng Macromedia Flash MX 2004 và Dreamweaver MX
2004 để thiết kế website hỗ trợ cho hoạt động tự học hoá học của học sinh phổ thông trong chương halogen lớp 10, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
8 Lê Thị Xuân Hương (2007), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học chương Halogen lớp 10
THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
9 Trịnh Lê Hồng Phương (2008), Thiết kế học liệu điện tử chương oxi – lưu huỳnh lớp 10 hỗ trợ
hoạt động tự học hóa học cho học sinh trung học phổ thông, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP
TP.HCM
10 Nguyễn Thị Ánh Mai (2006), Thiết kế sách giáo khoa điện tử (E-book) các chương về lý
thuyết chủ đạo sách giáo khoa hoá học lớp 10 THPT, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục,
ĐHSP Hà Nội
11 Nguyễn Thị Thu Hà (2007), Thiết kế sách giáo khoa điện tử lớp 10 – nâng cao chương
12 Trần Tuyết Nhung (2007), Thiết kế sách giáo khoa điện tử chương “ Dung dịch – Sự điện
li” lớp 10 chuyên hóa học, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
13 Vũ Thị Phương Linh (2009), Thiết kế e-book hỗ trợ việc dạy và học phần Hóa hữu cơ lớp 11
(chương trình nâng cao ), Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
14 Nguyễn Thị Thanh Thắm (2009), Thiết kế sách giáo khoa điện tử phần hóa học vô cơ lớp 11
nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
15 Tống Thanh Tùng (2009), Thiết kế e-book hóa học lớp 12 phần Crom – Sắt- Đồng hỗ trợ học
sinh tự học, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Các website và các e-book này đều có điểm chung là giúp HS có một công cụ tự học hiệu quả, bên cạnh nội dung lý thuyết thì các tác giả đều cung cấp thêm phần bài tập rất đa dạng với phần hướng
Trang 12dẫn khá chi tiết, phần tư liệu bài học và phim minh họa rất phong phú, sinh động Mặc dù vậy, các tác giả còn chưa quan tâm tới một số vấn đề sau:
- Được xây dựng chủ yếu trên phần mềm Dreamweaver và Flash, các website và e-book chưa
có cơ sở dữ liệu và khó đóng gói dưới dạng chuẩn SCORM để tích hợp lên hệ thống E- learning
- Các bài học chưa có phần mục tiêu và mở đầu bài học Một bài học thường không được phân
rõ mục lục để thuận tiện tìm kiếm trong quá trình học HS xem từng phần phải kéo hết toàn bài
- Phần lý thuyết của các bài học chủ yếu là nội dung y hệt sách giáo khoa, có bổ sung thêm hình ảnh, phim, tư liệu… minh họa mà chưa có phần hướng dẫn tự học bằng những câu hỏi gợi ý, các phiếu học tập để kích thích tư duy của học sinh
- Ở phần bài tập, chưa có phần hướng dẫn giải và đáp án cho tất cả các bài tập trong sách giáo khoa Trong phần trắc nghiệm, các tác giả chỉ chủ yếu cung cấp dạng câu hỏi trắc nghiệm đa lựa chọn mà thiếu các dạng câu hỏi điền khuyết, ghép đôi
- Phần hóa học vui, chưa chú trọng đến hình thức các ô chữ hóa học
1.2 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC
1.2.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học [9]
Định hướng đổi mới trong phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế hóa trong Luật giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chị thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chị thị
số 14 (4-1999)
Luật giáo dục, điều 28.2, đã ghi “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.”
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại
thói quen học tập thụ động
1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học
Theo TS Trịnh Văn Biều [2], một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và ở nước ta hiện nay là:
1 Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển trọng tâm hoạt động
từ GV sang HS Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng tạo, tìm tòi, khám phá
Trang 132 Cá thể hóa việc dạy học
3 Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học
4 Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống Chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức
5 Cải tiến việc kiểm tra và đánh giá kiến thức
6 Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời
7 Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo cấp học, bậc học)
Trong 7 xu hướng đổi mới trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng tự học của HS đang là những xu hướng đổi mới quan trọng về phương pháp dạy và học hiện nay (xu hướng 1 và 6)
1.2.3 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học trường THPT [9]
Đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS nhằm đạt được mục tiêu dạy
học hóa học THPT ban nâng cao: phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động của HS đặc biệt là:
- Năng lực sáng tạo
- Tính mềm dẻo, linh hoạt
- Tính thích ứng nghề nghiệp
- Năng lực hợp tác hành động
a Đổi mới hoạt động học tập của HS
Học hóa học không phải là quá trình được dạy, là sự tiếp nhận một cách thụ động những tri thức
hóa học mà chủ yếu là HS tự học, tự nhận thức, tự khám phá tìm tòi các tri thức hóa học một cách
chủ động, tích cực, là quá trình tự phát hiện và giải quyết các vấn đề HS tiến hành các hoạt động
sau:
- Tự phát hiện hoặc nắm bắt vấn đề do GV nêu ra
- Hoạt động cá nhân hoặc hợp tác theo nhóm nhỏ để tìm tòi, giải quyết các vấn đề đặt ra Các
hoạt động có thể là: dự đoán tính chất, hiện tượng thí nghiệm; làm thí nghiệm, quan sát, mô tả, giải thích và rút ra kết luận…; phán đoán, suy luận, đề ra giả thuyết ; trả lời câu hỏi ; giải bài toán hóa học; quan sát sơ đồ, hình ảnh, tranh vẽ…; đọc SGK, thu thập và xử lí thông tin, trả lời câu hỏi, rút ra nhận xét; tham gia thảo luận nhóm : trình bày quan điểm của mình, lắng nghe, nhận xét ý kiến của người khác; báo cáo kết quả hoạt động cá nhân hay nhóm; rút ra kết luận …
Trang 14- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã biết để giải thích một số hiện tượng hóa học giải quyết một số
vấn đề xảy ra trong đời sống và sản xuất
- Tự học, tự đánh giá và đánh giá việc nắm kiến thức kĩ năng của bản thân và của nhóm
b Đổi mới hoạt động dạy của GV
Dạy hóa học chủ yếu là quá trình GV thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển các hoạt động của
HS để đạt được các mục tiêu cụ thể ở mỗi bài, chương, phần hóa học cụ thể Hoạt động của GV là:
- Thiết kế giáo án bao gồm các hoạt động của GV và HS theo những mục tiêu cụ thể của bài học hóa học mà HS cần đạt được, thiết kế hệ thống câu hỏi và bài tập để định hướng cho HS hoạt động
- Tổ chức các hoạt động trên lớp để HS hoạt động theo cá nhân hoặc theo nhóm
- Định hướng, điều chỉnh các hoạt động của HS
- Thiết kế và thực hiện việc sử dụng các phương tiện trực quan, hiện tượng thực tế, thí nghiệm hóa học, mô hình mẫu vật như là nguồn để HS khai thác, tìm kiếm, phát hiện những kiến thức, kĩ năng về hóa học
- Tạo điều kiện cho HS được vận dụng nhiều hơn những tri thức của mình để giải quyết một số
vấn đề có liên quan tới hóa học trong đời sống và sản xuất
c Đổi mới phương pháp dạy học hóa học theo hướng dạy học tích cực
- Sử dụng yếu tố tích cực của các phương pháp dạy học nêu vấn đề, đàm thoại, tìm tòi, thí nghiệm
nghiên cứu …
- Sử dụng các phương pháp trực quan, phương pháp thuyết trình… theo hướng tích cực nhất
- Vận dụng một cách sáng tạo có chọn lọc một số quan điểm dạy học mới như: dạy học hợp tác,
dạy học kiến tạo, dạy học theo dự án
- Sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học đã có với thiết bị dạy học hiện đại một cách linh
hoạt, sáng tạo giúp HS tự học theo cá nhân và nhóm để thu thập và xử lí thông tin
d Một số vận dụng định hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học vào đề tài nghiên cứu
- Sử dụng thiết bị thí nghiệm hóa học theo định hướng chủ yếu là nguồn để học sinh nghiên cứu ,
khai thác tìm tòi kiến thức hóa học Sử dụng thí nghiệm một cách tích cực theo những yêu cầu: HS
nắm được mục đích thí nghiệm; biết cách tiến hành thí nghiệm; quan sát, mô tả, nhận xét và giải thích được hiện tượng thí nghiệm; từ đó rút ra kết luận về khả năng phản ứng, tính chất của chất, quy luật, khái niệm …
Trang 15- Sử dụng câu hỏi và bài tập hóa học như là nguồn để HS tích cực, chủ động nhận thức kiến thức, hình thành kĩ năng và vận dụng tích cực các kiến thức và kĩ năng đó
- Nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học theo hướng giúp HS không tiếp thu kiến thức một chiều Thông qua các tình huống có vấn đề trong học tập hoặc vấn đề thực tiễn giúp HS phát triển tư duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề
- Sử dụng SGK hóa học như là nguồn tư liệu để HS tự học, tự nghiên cứu, tích cực nhận thức, thu thập thông tin và xử lí thông tin có hiệu quả
- Tự học kết hợp với hợp tác nhóm nhỏ trong học tập hóa học theo hướng giúp HS có khả năng tự học, khả năng hợp tác cùng học, cùng nghiên cứu để giải quyết một số vấn đề trong học tập hóa học
và một số vấn đề thực tiễn đơn giản có liên quan đến hóa học
- Sử dụng phương tiện dạy học hóa học theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS Chú ý sử dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học hóa học (ví dụ: sử dụng đĩa CD-ROM về hóa học, các phần mềm hóa học, khuyến khích HS khai thác thông tin trên internet…)
1.2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học hóa học
Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay có tính chất khuynh đảo trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thành tựu của CNTT Ở nước ta, vấn đề ứng dụng ICT trong giáo dục, đào tạo được Đảng và Nhà nước rất coi trọng Ví dụ như trong chỉ thị 58 – CT/TW
(17/10/2000) của Bộ Chính trị, nêu rõ là cần phải: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo
dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học của toàn xã hội” ; chỉ thị 29 của Bộ Giáo dục - Đào tạo (ngày 30/7/2001/CT) về tăng
cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục đã quyết định chọn năm học
2008-2009 là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT” hay chỉ thị 55/2008/CT – BGDĐT về “Tăng
cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 – 2012”
Ứng dụng của CNTT đã thực sự trao quyền chủ động học tập cho HS và cũng làm thay đổi vai trò của người thầy trong giáo dục Từ vai trò là nhân tố quan trọng, quyết định trong kiểu dạy học tập trung vào thầy cô, thì nay các thầy cô phải chuyển sang giữ vai trò nhà điều phối theo kiểu dạy học hướng tập trung vào HS (dạy học lấy học sinh làm trung tâm) Kiểu dạy học hướng tập trung vào HS và hoạt động hoá người học có thể thực hiện được một cách tốt hơn với sự trợ giúp của máy tính và mạng Internet
Đối với ngành Hoá học, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy hoá học sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, phương pháp dạy học Cụ thể hơn đó là :
- CNTT là một công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc xây dựng các kiến thức mới
Trang 16- CNTT tạo môi trường để khám phá kiến thức nhằm hỗ trợ cho quá trình học tập
- CNTT tạo môi trường để hỗ trợ học tập qua thực hành, qua cộng đồng và qua phản ánh
- CNTT giúp cho việc đánh giá định tính và định lượng hoá học chính xác, công bằng hơn
1.2.5 Ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng ICT trong dạy học hoá học
a Ưu điểm
- Là công cụ đắc lực, hỗ trợ cho việc xây dựng kiến thức
- Giúp HS dễ hiểu bài, hiểu bài một cách sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn do việc thu nhận thông tin về sự vật, hiện tượng một cách sinh động, chính xác đầy đủ từ đó nâng cao hứng thú học tập môn học, nâng cao lòng tin của HS vào khoa học
- Giúp HS tiếp cận, làm quen với các thiết bị và công nghệ hiện đại
- Giúp cho bài học sinh động, phong phú, hấp dẫn đối với HS
- Giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học, giúp GV điều khiển được hoạt động nhận thức của HS, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của các em được thuận lợi và cho hiệu suất cao hơn
- Giải phóng người thầy giáo khỏi một khối lượng lớn các công việc tay chân, do đó làm tăng khả năng nâng cao chất lượng dạy học
- Đặc biệt nếu áp dụng hình thức đào tạo điện tử (E-Learning) sẽ đáp ứng được mọi tiêu chí : Hình
thức đào tạo đa dạng, học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi thứ và học mềm dẻo, học một cách mở, học suốt đời và tiết kiệm chi phí cho cả người dạy lẫn người học Bởi đặc điểm của E-learning là có hệ
thống giảng bài và tài liệu học tập được giới thiệu dưới dạng số hóa, được đặc trưng bởi tính đa và siêu phương tiện, có sự tương tác qua lại giữa người học, hệ thống dạy và người dạy
Với các lý do nêu trên, việc ứng dụng ICT trong dạy học Hoá học sẽ tạo một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung chương trình, PPDH và phương pháp đào tạo
b Hạn chế
- Chi phí đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất lớn
- Đòi hỏi đội ngũ GV và HS phải có trình độ tin học, ngoại ngữ nhất định
- Khi sử dụng máy tính điện tử, người ta dễ đánh mất cảm giác chân thực thiếu đi những cảm xúc, xúc giác và ấn tượng thực Do đó ICT chỉ hỗ trợ chứ không thay thế được các thí nghiệm thực hành
- Việc sử dụng CNTT tự phát đã tạo ra nhiều bài giảng chỉ đơn thuần là đưa nội dung bài học thông thường trong sách giáo khoa sang văn bản điện tử với màu sắc sặc sỡ, đồ họa vui nhộn Và người GV dùng máy tính để dạy học cần phải biết chắc rằng, mình thiết kế cái gì, mình trình bày cái
Trang 17gì trước, cái gì sau Nếu không chú ý có thể làm lộ thông tin mà đáng lẽ HS phải là người khám phá
và phát hiện
1.3 TỰ HỌC
1.3.1 Tự học là gì?
Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001 [19], tự học là: “…quá trình tự mình
hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục, đào tạo.”
Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó cũng được hình thành bởi
những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác
và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định”
Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triễn lãm, xem phim, kịch, giao tiếp với những người
có học, với các chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau Người
tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu
đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện… Đối với học sinh, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao
1.3.2 Vai trò của tự học
Theo GS - TS Chu Hảo, thứ trưởng Bộ KHCNMT: “Tự học là một chìa khóa quan trọng để mở
cánh cửa tri thức’’
- Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người
- Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người Tự học giúp cho con người giải quyết mâu thuẫn giữa khát vọng cao đẹp về học vấn với hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống cá nhân
- Tự học khắc phục nghịch lý: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn Sự bùng nổ thông tin làm cho người thầy không có cách nào truyền thụ hết kiến thức cho trò, trò phải học cách học, tự học, tự đào tạo để không bị rơi vào tình trạng “tụt hậu” Đối với học sinh THPT, quỹ thời gian 3 năm được đào tạo ở bậc học này chắc chắn sẽ không thể nào tiếp thu được hết khối lượng kiến thức khổng lồ trong chương trình Vì vậy, tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường
Trang 18- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Quá trình tự học khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt Quá trình tự học diễn ra theo đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức có được do tự học là kết quả của sự hứng thú, của sự tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi học sinh biết cách tự học, học sinh sẽ “có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”
- Người học phải biết cách tự học vì học tập là một quá trình suốt đời Đối với học sinh THPT, nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng… học sinh sẽ khó thích ứng với cách học đòi hỏi phải tự học tập, tự nghiên cứu thường xuyên do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt
- Tự học của học sinh THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Với lối dạy theo hướng “nhồi nhét” trong các nhà trường phổ thông hiện nay, học sinh khó có thể có thời gian để tự học và tự học có hiệu quả Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông, đáp ứng được phương châm “Học suốt đời”
mà Hội đồng quốc tế về giáo dục đã đề ra vào tháng 4/1996
1.3.3 Các hình thức của tự học
Theo TS Trịnh Văn Biều [4], có 3 hình thức tự học:
- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các kiến
thức trong đó Cách học này sẽ đem lại rất nhiều khó khăn cho người học, mất nhiều thời gian và đòi hỏi khả năng tự học rất cao
- Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các
phương tiện thông tin khác
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết trong ngày,
trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
1.3.4 Chu trình học
Theo Nguyễn Kỳ “Chu trình học là chu trình chủ thể tìm hiểu, xử lý, giải quyết vấn đề hay vật cản của một tình huống học với sự hợp tác của tác nhân và sự hỗ trợ của môi trường sư
phạm” [45]
Trang 19Cũng theo tác giả, chu trình học diễn biến theo ba thời: Tự nghiên cứu (I), Tự thể hiện,
hợp tác với bạn và thầy (II), Tự kiểm tra, tự điều chỉnh (III)
Hình 1.1 Chu trình học ba thời
Thời (I): Tự nghiên cứu
Trước một tình huống học, chủ thể bắt đầu thấy có nhu cầu hay hứng thú tìm hiểu, nhận biết vấn
đề của tình huống học: Đây là vấn đề gì? Có ý nghĩa ra sao? Có thể giải quyết theo hướng nào? Từ
chỗ nhận biết vấn đề, chủ thể tiến hành thu nhận thông tin có liên quan đến vấn đề đó, xử lý thông
tin, xây dựng các giải pháp, thử nghiệm giải pháp, kết quả, đưa ra kết luận và giải quyết vấn đề
Chủ thể ghi lại kết quả “tự nghiên cứu” của thời (I) thành sản phẩm học cá nhân ban đầu Tất
nhiên sản phẩm đó có thể mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu khoa học nhưng nó sẽ được hoàn thiện ở thời học tiếp theo
Thời (II): Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy
Sản phẩm của thời (I) được mà chủ thể đạt được bây giờ được thử thách bới các yêu cầu tự trình
bày, hỏi và tham gia tranh luận với bạn và thầy về những mâu thuẫn xuất hiện, tỏ rõ thái độ của
mình trước chủ kiến của bạn Tranh luận có trọng tài, có kết luận của thầy Kết luận của thầy sẽ cho phép chủ thể bổ sung sản phẩm ban đầu của mình thành một sản phẩm khách quan hơn, có tính hợp tác, xã hội
Thời (III): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Đây là thời học mà chủ thể chuyển kết luận của thầy thành của bản thân Tức là sau khi so sánh,
đối chiếu, tự kiểm tra lại sản phẩm học, tự đánh giá, tự phê bình chủ thể sẽ tổng hợp, chốt lại vấn đề rồi tự sửa sai, điều chỉnh, hoàn chỉnh thành sản phẩm khoa học, và tự rút kinh nghiệm về cách học,
cách tư duy, cách giải quyết vấn đề của mình, sẵn sàng bước vào một tình huống học mới
Trang 20Chu trình học ba thời không có nghĩa tuyệt đối là có “ba bước”, “ba giai đoạn”, có ranh giới rạch
ròi, máy móc, tách rời nhau, mà có thể đan xen, hoà nhập lẫn nhau và có thể biến động theo hoàn cảnh người học Ngay trong lúc đang tham gia thảo luận (thời II), chủ thể có thể động não, suy nghĩ (tự nghiên cứu – thời I), hoặc tự kiểm tra, tự phê bình về sản phẩm học của mình (thời III) Thời chỉ
có nghĩa là vào lúc đó, nổi bật lên vai trò của cá nhân người học, của lớp hay của thầy Ở thời (I), nổi lên vai trò lao động cá nhân (học cá nhân) của người học với kết quả là sản phẩm học ban đầu Thời (II) là vai trò của lao động hợp tác (học hợp tác) với thầy và bạn ở lớp học, tạo ra sản phẩm học mang tính hợp tác – xã hội Ở thời (III), nổi lên vai trò lao động cá nhân (học cá nhân) ở trình
độ cao hơn thời I: tự kiểm tra, tự phê bình, tự sửa sai, tự điều chỉnh, rút kinh nghiệm…
Điều cốt yếu là cả ba thời đều diễn ra trên cái nền chung là hành động học, tự học, tự nghiên
cứu, tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của chủ thể, dưới sự hướng dẫn hợp lý của nhà giáo.
1.3.5 Vai trò của người thầy đối với việc tự học của học sinh
Chu trình học ba thời “Tự nghiên cứu – Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy – Tự kiểm tra, tự
điều chỉnh” chỉ có thể diễn ra dưới sự hướng dẫn của thầy Vai trò của người thầy đối với việc tự
học của học sinh ứng với ba thời trên bao gồm:
Thời (1): Hướng dẫn
Với vai trò thiết kế và ủy thác, thầy lập kế hoạch, chuẩn bị quá trình dạy học thầy đã hướng dẫn
người học cách tự nghiên cứu như giới thiệu vấn đề (ý nghĩa, mục tiêu, định hướng), hướng dẫn cách thu nhận, xử lý thông tin, cách giải quyết vấn đề và tạo điều kiện thuận lợi cần thiết để trò có thể tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức
Thời (2): Tổ chức
Thầy là người tổ chức cách học hợp tác hai chiều đối thoại trò – trò , trò – thầy như giúp đỡ cá
nhân trình bày, bảo vệ sản phẩm học, tổ chức thảo luận ở công đồng lớp học, lái cuộc tranh luận theo đúng mục tiêu Cuối cùng thầy là người trọng tài kết luận về những gì người học đã tìm ra và tranh luận thành tri thức khoa học
Thời (3): Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra
Thầy là người cố vấn cho trò tự kiểm tra, tự điều chỉnh như cung cấp thông tin liên hệ ngược về
sản phẩm học (kết luận, đánh giá, cho điểm…), giúp đỡ trò tự đánh giá, tự sửa sai, tự rút kinh nghiệm về cách học
1.3.6 Tự học với việc tiếp cận và tận dụng những công nghệ mới
Trong một cuộc hội nghị gần đây, một giáo sư của đại học Harvard đã phát biểu: “…Với khả
Trang 21năng điện tử, chúng ta có thể biến thế giới làm lớp học Chúng ta phá bỏ những rào chắn và tích hợp kiến thức của thế giới vào việc học tập của chúng ta” Chắc thiện ý của giáo sư là muốn nhắc
mọi người trong điều kiện hiện nay hoàn toàn có thể và nên tận dụng các công nghệ để phục vụ cho việc tự học ở mọi nơi, mọi lúc, mọi địa bàn, mọi hoàn cảnh
Thật vậy, với sự trợ giúp của máy tính, internet và các phần mềm dạy học, việc tự học ngày nay trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn bao giờ hết Đứng trên góc độ sư phạm, có thể quan niệm phần mềm dạy học là một phương tiện thông qua máy tính hướng dẫn người học thiết lập kiến thức hoặc
tự học để lĩnh hội kiến thức hay kỹ năng nhất định thông qua việc tự mình phát hiện, xử lí các thông tin, đáp ứng các câu hỏi, tự làm các bài tập, trắc nghiệm, kiểm tra để tự đánh giá, hiệu chỉnh kiến thức, tự ôn tập… Đặc biệt bằng sự kết hợp sinh động của kênh hình, kênh tiếng đồng hành với nội dung kiến thức, phần mềm sẽ giúp người tự học khắc phục tâm lí “cô đơn” khi không có thầy bên cạnh
Tóm lại, có thể nói tự học chính là con đường để mỗi chúng ta tự khẳng định khả năng của mình Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người Tuy tự học có một vai trò hết sức quan trọng nhưng tự học của HS cũng không thể đạt được kết quả cao nhất nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người thầy Chính vì vậy, “trong nhà trường điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn… mà là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn
đề” (Thủ tướng Phạm Văn Đồng-1969) GV cần giúp cho HS tìm ra phương pháp tự học thích hợp
và cung cấp cho HS những phương tiện tự học có hiệu quả Dạy cho HS biết cách tự học bằng cách khai thác và tận dụng những công nghệ mới chính là một trong những cách giúp HS tìm ra chiếc chìa khóa vàng để mở kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại
1.4 E-BOOK
1.4.1.Khái niệm e-book
Theo trang web www.thuvien-ebook.com [71] “E-book là từ viết tắt của electronic book (sách điện tử) Hiểu theo cách đơn giản nhất, sách điện tử (e-books hay digital books) là phiên bản dạng
số (hay điện tử) của sách Nội dung của sách số có thể lấy từ sách giấy hoặc mang tính độc lập tùy thuộc vào người xuất bản Một số người thường sử dụng thuật ngữ này để chỉ luôn cả thiết bị dùng
để đọc sách dạng số (còn gọi là book – reading appliances hay e-book readers)”
Trong luận văn này, có thể hiểu e-book là một quyển sách điện tử hướng dẫn học sinh tự học
theo nội dung của sách giáo khoa hóa học 10 nâng cao với những câu hỏi tư duy, phiếu học tập, bài
Trang 22tập, hình ảnh, phim thí nghiệm…… để dẫn dắt học sinh có thể tự mình hiểu được kiến thức mà sách giáo khoa đã cung cấp E-book được sử dụng thông qua hệ thống máy tính
1.4.2 Ưu và nhược điểm của e-book
a Ưu điểm
Sách điện tử có những lợi thế mà sách in thông thường không có được:
- Rất gọn nhẹ, giá thành rẻ
- Nhiều hình ảnh, phim minh họa rõ nét, hấp dẫn
- Khả năng lưu trữ lớn, có thể chứa rất nhiều thông tin, hình ảnh, phim…
và vì thế, muốn đọc được chúng, ta cần phải có những chương trình tương ứng
1.4.3 Các yêu cầu thiết kế e-book
Việc thiết kế e-book phục vụ cho giáo dục đòi hỏi phải đáp ứng những đặc trưng riêng về mặt nghe, nhìn, tương tác; do đó theo Nguyễn Trọng Thọ [42] để đáp ứng nhu cầu tự học, chúng ta phải tuân theo đầy đủ các bước của việc thiết kế dạy học (ADDIE là chữ viết tắt của 5 bước):
1 Analysis (phân tích tình huống để đề ra chiến lược phù hợp):
- Hiểu rõ mục tiêu
- Các tài nguyên có thể có
- Đối tượng sử dụng
2 Design (thiết kế nội dung cơ bản):
- Các chiến lược dạy học
- Siêu văn bản (hypertext) và siêu môi trường (hypermedia)
- Hướng đối tượng, kết nối và phương tiện điều hướng
3 Development (phát triển các quá trình):
- Thiết kế đồ hoạ
- Phát triển các phương tiện 3D và đa môi trường (multimedia)
- Hình thức và nội dung các trang Web
Trang 23- Phương tiện thực tế ảo
4 Implementation (triển khai thực hiện):
Cần tích hợp với chương trình công nghệ thông tin của trường học :
- Chuẩn bị cho phù hợp với thực tế các phòng máy tính
- Thủ tục tiến hành với thầy
- Triển khai trong toàn bộ các đối tượng dạy, học và quản lí
- Quản lí tài nguyên (nhân lực và vật lực)
5 Evaluation (lượng giá):
Đánh giá hiệu quả huấn luyện thường sử dụng mô hình bốn bậc do Donald Kirkpatrick phát triển (1994) Theo mô hình này, quá trình lượng giá luôn được tiến hành theo thứ tự vì thông tin của bậc trước sẽ làm nền cho việc lượng giá ở bậc kế tiếp:
- Bậc 1: Phản ứng tích cực hay tiêu cực (Reactions)
- Bậc 2: Hiệu quả học tập (Learnings)
- Bậc 3: Khả năng chuyển giao hay chuyển đổi (Transfers)
- Bậc 4: Kết quả thực tế (Results)
Hình 1.2 Mô hình lượng giá bốn bậc theo Kirkpatrick
1.4.4 Các công cụ chính thiết kế e-book
1.4.4.1 ELearning XHTML editor (eXe) [10]
Chương trình eLearning XHTML editor (eXe) là công cụ soạn thảo trên nền tảng Web, hỗ trợ
cho giáo viên, học sinh trong các trường học trong việc thiết kế, phát triển và xuất bản tài liệu học tập và giảng dạy mà không cần có kiến thức căn bản về HTML, XML hay những chương trình soạn thảo phức tạp
Trang 24Những thế mạnh của eXe: đơn giản, dễ hiểu, dễ dùng; cho phép soạn thảo offline; cho phép
export nội dung theo chuẩn SCORM để phân phát trên một hệ thống LMS; môi trường soạn thảo tương đối trực quan
1 Khởi động phần mềm
Click chuột vào biểu tượng exe để khởi động, giao diện sẽ hiện ra như sau :
2 Xây dựng cấu trúc bài giảng
Một gói học liệu (Courseware) được tổ chức dưới dạng một cây mục lục phân cấp (còn gọi là cây đề cương hay outline)
- Cây đề cương này được bắt đầu từ 1 gốc duy nhất (tên của gói học liệu), bên trong có thể được chia thành các chương, bài, các mục nhỏ
- Việc thiết kế cây đề cương sẽ cho phép chúng ta có cái nhìn tổng quan về toàn bộ nội dung môn học, qua đó cân nhắc lựa chọn các thành phần nội dung cho hợp lý
3 Xây dựng nội dung bài giảng với các iDevice
iDevices là các thành phần dạy học tạo nên cái sườn để giáo viên đưa nội dung vào Danh sách iDevices nằm ở bên tay trái của chương trình exe bao gồm các dạng sau:
- Activity: Các hoạt động xảy ra trong quá trình học
- Case Study: Một câu chuyện có liên quan đến nội dung học tập, qua đó có thể đưa vào các câu hỏi thảo luận và rút ra các kết luận
- Cloze Activity: Các câu hỏi điền khuyết hỗ trợ học viên nắm được nội dung bài học
- External Website: Đưa một trang web vào nội dung học tập, qua đó học viên có thể duyệt nội dung của website ngay trong bài mà không cần mở cửa sổ khác
- Free Text: Nhập văn bản đơn thuần vào nội dung tài liệu
Trang 25- Image Gallery: Nhập một thư viện ảnh vào nội dung tài liệu
- Image Magnifier: Cho phép xem phóng đại một ảnh được chèn vào
- Multi choice: Câu hỏi đa lựa chọn
- Objective: Mục tiêu, mục đích của quá trình học
- Preknowlege: Các kiến thức cần có để có thể tham gia khoá học
- Reading Activity: Một thu gọn của Case study với một hoạt động
- Reflection: Cho phép đưa vào các câu hỏi tự luận
- Scorm Quiz: Câu hỏi đa lựa chọn theo chuẩn SCORM
- True - False Question: Các câu hỏi đúng sai
- Wikipedia Article: Đưa vào các nội dung của bộ từ điển bách khoa trực tuyến Wikipedia
4 Xuất bản (export) nội dung
a Xuất bản dạng web
- Để xuất bản nội dung ra một thư mục, vào menu File, chọn Export Website Self Contained Folder
- Một hộp thoại sẽ hiện ra cho phép lựa chọn thư mục lưu trữ Lựa chọn thư mục và bấm OK
để tiến hành xuất bản nội dung
- Để mở bài giảng, trước tiên mở thư mục chứa bài giảng đã xuất bản, tiếp đó tìm và mở file index.html trong thư mục đó
b Xuất bản ra gói SCORM/IMS
Gói SCORM là một file nén (*.zip) chứa toàn bộ thông tin về nội dung môn học và các chỉ dẫn cần
thiết để có thể đưa vào hệ quản lý đào tạo trực tuyến (LMS)
1.4.4.2 Adobe Captivate 3 [10]
Adode Captivate là một phần mềm chuyên dụng cho phép tạo ra cách thức tương tác và mô phòng dưới dạng file Flash (SWF) và EXE, thường được dùng để tạo ra những nội dung e-learning như các trình diễn hỏi đáp tương tác, nút bấm, hộp chọn, hộp nhập văn bản Sản phẩm xuất bản từ Captivate theo chuẩn SCORM 1.2 và 2004, đồng thời tương thích chuẩn AICC, PEN, vì thế dễ dàng tích hợp với các hệ thống quản trị nội dung (LMS)
Đây cũng là phần mềm chính mà chúng tôi đã sử dụng để tạo các câu hỏi trắc nghiệm trong e-book
1 Khởi động phần mềm
Trang 26Click chuột vào biểu tượng Adobe Captivate 3 để khởi động phần mềm, click chọn Record new project để tạo một dự án mới
2 Xây dựng các câu trắc nghiệm với Adobe Captivate 3
Bộ câu hỏi mà Adobe Captivate 3.0 cung cấp gồm có các loại câu hỏi:
- Multiple choice: câu hỏi có nhiều lựa chọn
- True/False: câu hỏi đúng sai
- Fill in the blank: câu hỏi điền khuyết
- Short answer: câu hỏi có câu trả lời ngắn
- Matching: câu hỏi ghép đôi
Trang 27- Hotspot: câu hỏi phân biệt hình ảnh
- Sequence: câu hỏi sắp xếp
- Rating scale (likert): câu hỏi sắc thái (hỏi ý kiến)
Ở đây, chúng tôi chỉ xin được giới thiệu cách thực hiện một số loại câu hỏi đã sử dụng để tạo các câu hỏi trắc nghiệm trong e-book
a Câu hỏi đa lựa chọn (multiple choice)
Bước 1: Mở dự án muốn tạo câu hỏi Lựa chọn slide muốn tạo ra câu hỏi trong danh sách các silde của dự án Silde câu hỏi sẽ được thêm vào sau silde được chọn
Bước 2: Từ menu “Insert”, lựa chọn “Question Slide”
Bước 3: Trong hộp chọn “Question Types” lựa chọn mục “Multiple choice” và kích chọn dạng câu hỏi cho điểm (grade question) hay câu hỏi điều tra (survey question)
Bước 4: Giữ nguyên tiêu đề mặc định cho câu hỏi hoặc gõ vào tiêu đề mới trong hộp soạn thảo văn bản Tiêu đề này sẽ xuất hiện trên slide câu hỏi trong đoạn phim
Bước 5: Trong mục “Question”, gõ vào câu hỏi
Bước 6: Nhập vào giá trị tính điểm cho câu hỏi này (tối đa là 100 điểm và tối thiểu là 0 điểm)
Bước 7: Trong mục “Answers”, kích chọn vào nút bấm “Add” và gõ vào nhữngcâu trả lời Nếu sai
có thể bấm nút “Delete” để xóa câu trả lời từ danh sách
Bước 8: Xác định câu trả lời nào là lựa chọn đúng trong danh sách bằng cách kích chọn vào nút bấm lựa chọn (màu xanh đầu danh sách)
Bước 9: Trong “Type”, lựa chọn khả năng có nhiều câu trả lời đúng hoặc chỉ một câu trả lời đúng
Bước 10: Trong mục “Numbering”, lựa chọn kiểu kí tự xuất hiện ở đầu mỗi câu trả lời là kiểu chữ cái hoa, thường hoặc con số
Trang 28Bước 11: Lựa chọn nút “Option”
Bước 12: Trong mục “Type”, kích chọn menu popup và lựa chọn đây là câu hỏi phân loại hay câu hỏi điều tra
Bước 13: Nếu bạn muốn các nút bấm điều khiển “Clear” (xóa), “Back” (quay trở vềtrang trước),
”Skip” (bỏ qua) xuất hiện trong silde thì kích chọn mục này
Bước 14: Trong mục “If correct answer and If wrong answer ”, bạn lựa chọn khả năng phân nhánh nếu người học trả lời đúng hoặc sai
Bước 15: Để kết thúc, kích chọn nút bấm “Ok”
b Câu hỏi đúng sai (true/false)
Thực hiện tương tự các bước như dạng câu hỏi đa lựa chọn nhưng trong hộp chọn “Question Types” lựa chọn mục “True/False” Trong “Type”, lựa chọn khả năng đúng/sai (“True or False”,
“Yes or No”)
c Câu hỏi điền khuyết (fill in the blank)
- Trong hộp chọn “Question Types” lựa chọn mục “Fill the blank”
- Trong hộp “Phrase”, gõ vào những câu có chứa khoảng trắng được điền bởi người học
- Lựa chọn một từ hoặc cụm từ trong hộp “ Phrase” và kích vào mục “Add Blank”
Trang 29- Trong hộp “Blank Answer”, lựa chọn loại câu trả lời:
+ The user will type in the answer, which will be compared to the list below: người sử dụng
tự điền câu trả lời
+ The user will select an answer from the list below: người sử dụng lựa chọn câu trả lời
trong danh sách
- Tùy chọn “The answer is case-sensitive”: câu trả lời là khác giữa chữ hoa và chữ thường
- Kích chọn nút bấm “Add” và nhập vào từ hoặc cụm từ điền đúng cho chỗ trống Kích chọn nút
“Add” hoặc “Delete” để bổ sung vào danh sách lựa chọn
- Kích chọn “Ok”
d Câu hỏi ghép đôi (matching question)
- Trong hộp chọn “Question Types” lựa chọn mục “Matching”
- Trong hộp “Question”, gõ vào chính xác câu hỏi ghép đôi
- Trong hộp “Answer”, kích chọn nút “Add” dưới mỗi cột và gõ vào từ hoặc cụm từ để phù hợp với nhau Có thể dùng nút “Delete” để loại bỏ câu trả lời hoặc di chuyển câu trả lời trong cột
Trang 30- Để thiết lập các cặp hỏi/đáp phù hợp với nhau: kích chọn 1 cụm từ ở cột 1, sau đó chọn một cụm
từ tương ứng ở cột 2 và kích chọn nút “Match” Một dòng kẻ được tạo ra kết nói 2 phần này lại Bạn có thể sửa bằng cách bấm vào nút “Clear Matches” để bỏ sự lựa chọn này
- Trong mục “Style”, có thể chọn kiếu “drag drop” nếu muốn người học sử dụng chuột để kéo thả chọn phương án trả lời, chọn kiếu “drop down list” nếu muốn người học chọn phương án từ danh sách
- Để kết thúc, kích chọn nút bấm “Ok”
3 Xuất bản (export) sản phẩm
Với chức năng là phần mềm giúp soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm để đưa vào e-book, chúng tôi lựa chọn xuất bản sản phẩm ra dạng shockware Flash (SWF)
- Kích chọn menu “File”, lựa chọn mục “Publish”
- Chon dạng film sẽ được xuất bản từ mục chọn bên trái, chọn “Flash (SWF)”
- Kích chọn vào nút bấm “Preferences” để thiết lập thông số xuất bản
- Kích chọn vào nút bấm “Publish” để xuất bản đoạn phim
1.5 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG E-BOOK TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Như chúng ta đã biết, xu hướng đổi mới phương pháp dạy học chú trọng vào việc bồi dưỡng năng lực tự học của người học và sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là ICT đang được rất nhiều GV lẫn HS quan tâm Thực tế hiện nay hầu hết các GV thường xuyên khai thác internet để giúp ích cho việc soạn giảng, ứng dụng các phần mềm dạy học vào giảng dạy Không chỉ khai thác
Trang 31tốt, rất nhiều giáo viên, sinh viên đã tự mình thiết kế, xây dựng nhiều website, e-book, blog, phần mềm, tài liệu điện tử…để phục vụ tốt hơn cho việc dạy học
Trong các loại hình trên, việc xuất hiện loại hình e-book có nội dung lý thuyết và bài tập hỗ
trợ tự học được thiết kế dưới dạng một website offline đang được các GV và HS hưởng ứng nồng
nhiệt đặc biệt là trong bộ môn hóa học Để thực hiện đề tài của mình, chúng tôi đã tiến hành khảo sát
ý kiến của cả HS lẫn GV về nhu cầu sử dụng e-book cho hoạt động dạy và học của mình
1.5.1 Mục đích điều tra
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng e-book trong dạy học hóa học của GV
- Tìm hiểu mức độ cần thiết của e-book tự học hóa học đối với HS và GV
1.5.2 Đối tượng điều tra
- 40GV của 19 trường THPT thuộc Tp.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu
- 205 HS của 3 trường THPT thuộc 3 quận trên địa bàn Tp.HCM
1.5.3 Tiến hành điều tra
- Phát phiếu điều tra cho GV và HS
- Thu thập và xử lí kết quả
1.5.4 Kết quả điều tra
Về phía học sinh, chúng tôi khảo sát ý kiến của 205 HS về sự cần thiết của e-book với hoạt động
Bảng 1.2: Kết quả điều tra HS
1 Có khi nào, em không hiểu bài
hoặc một phần của bài học hóa
học khi học trên lớp?”
-89,27%HS : thỉnh thoảng
-7,81% HS: thường xuyên
-2,92%HS: chưa bao giờ
Khi được học trên lớp đôi khi các em cũng chưa thể hiểu được bài học hóa học một cách trọn vẹn
Trang 322 Khi tự học hóa học ở nhà, với
những nội dung mà SGK cung cấp
em tự hiểu được bài học ở mức độ
như thế nào?
Đa số các em chỉ hiểu được một
số nội dung của bài
Với những nội dung mà SGK cung cấp, việc lúc nào cũng hiểu được tất cả nội dung bài học là một điều không dễ dàng
3 Em có cần một tài liệu hướng
dẫn giúp em tự học được bài học
hóa học ở nhà giống như khi được
GV giảng bài ở trên lớp không?
-78,05%HS: rất cần
-19,51% HS: cần
-2,44% HS: có hay không cũng được
- 0% HS: không cần
Phần lớn HS rất cần một tài liệu hướng dẫn để các em có thể tự học với SGK dễ dàng và hiệu quả hơn
4 Nếu cần, em mong muốn tài liệu
đó được thiết kế dưới dạng nào?
-93,66% HS: một e-book có
phần hướng dẫn tự học cụ thể,
có câu hỏi dẫn dắt giúp em tư duy, tự hiểu bài kèm thêm các chức năng tương tác và nhiều hình ảnh, thí nghiệm, minh họa sinh động…
-2,93% HS: một quyển sách giấy bình thường nhưng có phần hướng dẫn tự học
- 2,44% HS: một e-book nội dung giống SGK nhưng có thêm hình ảnh, thí nghiệm…
Các em muốn có một tài liệu hướng dẫn cụ thể, minh họa sinh động chứ không đơn thuần chỉ là một e-book ghi lại nội dung SGK nhưng có thêm hình ảnh, thí nghiệm
Về phía giáo viên, chúng tôi xin ý kiến của 40 GV về 2 vấn đề:
Bảng 1.3: Thông tin GV được điều tra
Trang 336 Phước Long 1 16 Đông Du 1
Bảng 1.4: Kết quả điều tra GV
Vấn đề1:
1 Trong quá trình dạy học, thầy
cô có hay yêu cầu HS tự học bài
mới hay chuẩn bị bài trước ở nhà
không?
2 Ngoài SGK, thầy cô có hay
giới thiệu thêm các tài liệu tham
khảo để giúp HS tự học không?
3 Nếu có, loại tài liệu nào
thường được các thầy cô giới
thiệu cho HS?
-100%GV : thường xuyên
-Tài liệu mà GV cung cấp cho HS chủ yếu chỉ là SGK hoặc các sách tham khảo (80%), còn lại các hình
thức khác như e- book, website,
blog… (chiếm 15%) và tạp chí,
báo, tivi…(chiếm 5%)
Đa số GV đều chú trọng tới việc tăng tính chủ động, tích cực, tự học của
HS trong học tập Tuy nhiên, để giúp HS có thể
tự học dễ dàng thì ngoài SGK, thầy cô còn chưa cung cấp cho các em thêm nhiều loại tài liệu khác
4 Theo thầy cô, có cần một tài
liệu hướng dẫn HS có thể tự học
được bài học hóa học ở nhà
giống như khi được GV giảng bài
ở trên lớp không?
-80% GV: rất cần
-20% GV: cần
Theo GV, HS rất cần một tài liệu hướng dẫn để các
em có thể tự học với SGK
dễ dàng và hiệu quả hơn
5 Nếu cần, thầy cô muốn tài liệu
đó được thiết kế dưới dạng nào?
-87,5%GV: một e-book có phần
hướng dẫn tự học cụ thể, có câu hỏi dẫn dắt giúp em tư duy, tự hiểu bài kèm thêm các chức năng tương tác và nhiều hình ảnh, thí nghiệm, minh họa sinh động…
-7,5%GV: một quyển sách giấy bình thường nhưng có phần hướng
Thầy cô cũng muốn các
em có một tài liệu hướng dẫn cụ thể, minh họa sinh động chứ không đơn thuần chỉ là một e-book ghi lại nội dung SGK nhưng có thêm hình ảnh, thí nghiệm
Trang 34dẫn tự học
-5% GV: một e-book nội dung giống SGK nhưng có thêm hình ảnh, thí nghiệm
Vấn đề 2:
6 Thầy cô có hay ứng dụng
CNTT trong dạy học hóa học
mà họ thường áp dụng chỉ
là soạn giáo án điện tử mà còn ít sử dụng thêm các e- book, website, blog… hỗ trợ dạy học
7 Khi ứng dụng CNTT trong dạy
học hóa học, thầy cô thường sử
8 Khi thiết kế bài dạy học hóa
học, thầy cô thường có sử dụng
thêm các tư liệu nào ngoài SGK?
9 Thầy cô thấy hiện nay số lượng
e-book hỗ trợ cho GV trong việc
thiết kế bài dạy hóa học là:
-75%GV: sử dụng thêm SGV, sách tham khảo
-25% GV: sử dụng thêm các book, website, blog, tạp chí, tivi…
e 87,5% GV trả lời là rất ít
Đa số GV thường chỉ thiết
kế bài dạy hóa học dựa trên SGK, SGV,sách tham khảo…mà còn ít dùng thêm các tài liệu khác có
lẽ một phần là do số lượng e-book hỗ trợ cho GV trong việc thiết kế bài dạy còn ít
10 Thầy cô có cần một e-book
vừa giúp GV thiết kế các hoạt
động dạy học vừa cung cấp thêm
tư liệu phục vụ cho bài giảng của
mình không?
-90% GV: rất cần
-10% GV: cần
GV cũng rất cần một tài liệu giúp GV dễ dàng thiết
kế các hoạt động dạy học
Tóm lại, từ kết quả khảo sát ở HS (câu 3, 4) và GV (câu 4, 5), chúng tôi nhận thấy nhu cầu của
cả GV và HS cần có một e-book hướng dẫn HS tự học hiệu quả là rất lớn, cụ thể là:
- Sự cần thiết có một tài liệu hướng dẫn HS có thể tự học được bài học hóa học ở nhà giống như khi được GV giảng bài ở trên lớp:
Trang 35Hình 1.3: Đồ thị so sánh nhu cầu cần có tài liệu hướng dẫn HS tự học của HS và GV
- Dạng tài liệu hướng dẫn HS tự học được mong muốn:
HS
95%
2%3%
Là một e-book có phần hướng dẫn tự học cụ thể, có câu hỏi dẫn dắt giúp
em tư duy, tự hiểu bài kèm thêm các chức năng tương tác và nhiều hình
ảnh, thí nghiệm, minh họa sinh động…
Là một e-book nội dung giống sách giáo khoa nhưng có thêm hình ảnh, thí
Tổng hợp các kết quả điều tra từ HS và GV, chúng tôi thấy rằng:
- Trong dạy học hóa học, GV còn chưa sử dụng nhiều các e-book để dạy học và hướng dẫn HS tự học
- Cả HS lẫn GV đều rất cần có một e-book hướng dẫn HS tự học hiệu quả, lại vừa giúp GV trong
việc thiết kế bài dạy hóa học
Vì vậy với đề tài của mình, chúng tôi mong muốn sẽ đáp ứng được một phần nào đó nhu cầu thiết thực của HS và GV hiện nay
Trang 36Chương 2 THIẾT KẾ E-BOOK HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN HÓA VÔ
CƠ LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO
2.1.TỔNG QUAN VỀ PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 10 NÂNG CAO
2.1.1 Mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học của chương 5 [9]
2.1.1.1 Mục tiêu của chương
Kiến thức
Học sinh biết:
- Cấu tạo nguyên tử của các halogen, số oxi hoá của các halogen trong các hợp chất
- Tính chất vật lý, tính chất hóa học cơ bản của các halogen và một số hợp chất quan trọng của chúng
- Ứng dụng và phương pháp điều chế halogen và một số hợp chất quan trọng của halogen
Học sinh hiểu:
- Vì sao halogen có tính oxi hoá mạnh
- Nguyên nhân làm cho halogen có sự giống nhau về tính chất hóa học cũng như sự biến đổi có quy luật, tính chất của đơn chất và hợp chất của chúng
- Nguyên tắc chung của phương pháp điều chế halogen
Kĩ năng: rèn các kĩ năng:
- Quan sát và giải thích các hiện tượng quan sát được khi làm thí nghiệm về halogen (tính tan của hidro clorua, tính tẩy màu của clo ẩm, nhận biết ion clorua )
- Vận dụng những kiến thức đã học về cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, độ âm điện, số oxi hoá
và phản ứng oxi hoá khử để giải thích một số tính chất của đơn chất và hợp chất halogen
- Giải bài tập định tính và định lượng trong chương 5
Giáo dục tình cảm, thái độ
- Giáo dục lòng say mê học tập, ý thức vươn lên chiếm lĩnh khoa học, kỹ thuật
- Ý thức phòng bệnh do thiếu iot
- Ý thức bảo vệ môi trường
2.1.1.2 Nội dung của chương
Chương 5: Nhóm halogen bao gồm các nội dung sau:
5.1 Khái quát về nhóm halogen
Trang 37- Vị trí của nhóm halogen trong bảng tuần hoàn
- Cấu hình electron nguyên tử, cấu tạo phân tử và những đặc điểm của các halogen
- Sự biến đổi các tính chất của các nguyên tố trong nhóm
5.2 Clo và hợp chất của clo
- Clo: tính chất vật lí, tính chất hoá, ứng dụng, trạng thái tự nhiên, điều chế
- Hidro clorua, axit clohiđric, muối clorua: tính chất, ứng dụng, điều chế, nhận biết
- Hợp chất có oxi của clo (nước Gia- ven, clorua vôi, muối clorat): tính chất, ứng dụng, điều chế
5.3 Flo và hợp chất của flo
- Flo: tính chất vật lí, hoá học, ứng dụng, điều chế
- Hợp chất của flo (hidro florua, axit flohiđric, oxi florua): tính chất, ứng dụng, điều chế
5.4 Brom và hợp chất của brom
- Brom: trạng thái tự nhiên, điều chế, tính chất, ứng dụng
- Hợp chất của brom (hidro bromua, axit bromhiđric, hợp chất có oxi của brom): điều chế, tính chất, ứng dụng
5.5 Iot và hợp chất của iot
- Iot: trạng thái thái tự nhiên, điều chế, tính chất, ứng dụng
- Hợp chất của iot (hidro iotua, axit iothiđric, iotua): tính chất, ứng dụng
5.6 Luyện tập
5.7 Thực hành
Một số lưu ý về nội dung dạy học
- Khi nghiên cứu vị trí các halogen trong hệ thống tuần hoàn và cấu tạo nguyên tử của chúng, cần chú ý đến đặc điểm: có 1 electron độc thân ở phân lớp ngoài cùng
- Giải thích sự giống nhau về tính chất của các halogen và các hợp chất của chúng dựa vào cấu tạo tương tự nhau của lớp electron lớp ngoài cùng của các nguyên tử halogen Sự khác nhau định tính
về tính chất của các halogen là do khoảng cách khác nhau từ hạt nhân tới lớp electron hóa trị
- Giải thích sự thay đổi về tính chất vật lý của halogen cần chú ý đến khả năng tạo liên kết cộng hoá trị không cực trong phân tử đơn chất và lý thuyết về cấu tạo nguyên tử để lý giải sự đột biến về năng lượng liên kết giữa clo và flo
- Cần giải thích cho học sinh vì sao phản ứng của Cl2 với H2O thuận nghịch:
Cl2 + H2O € HCl + HClO Chính do HClO là chất oxi hoá mạnh, nó oxi hoá HCl đến Cl2
- Tính tẩy màu của clo ẩm chính là do tính oxi hoá mạnh của axit hipoclorơ HCl O, cụ thể là tính +1
Trang 38oxi hoá mạnh của hipoclorit (ClO- )
Tính tẩy màu của nước Javen chính là do tính oxi hoá mạnh của muối natri hipoclorit (NaCl O), +1cũng là do tính oxi hoá mạnh của hipoclorit (ClO-)
Không nên giải thích là các chất trên không bền, dễ phân huỷ tạo thành oxi nguyên tử và oxi nguyên tử là nguyên nhân gây nên tính oxi hoá mạnh của HClO và NaClO
- Trong các nhà máy giấy, nhà máy sợi người ta điều chế nước Javen để dùng ngay, vì nước Javen không để được lâu do có phản ứng với CO2 trong không khí:
NaClO + CO2 + H2O → NaHCO3 + HClO và: 2HClO as 2HCl + O2
Trong dung dịch, axit hipoclorơ phân huỷ theo 3 hướng sau :
2HClO → 2HCl + O2 (1) 2HClO → H2O + Cl2O (2) 2HClO → 2HCl + HClO3 (3) Khi có mặt một số chất xúc tác, chất khử, hoặc dưới tác dụng trực tiếp của ánh sáng mặt trời xảy
ra theo phản ứng (1) Khi có chất hút nước, phản ứng xảy ra theo (2) Khi đun nóng phản ứng xảy ra theo (3)
Điều này giúp HS hiểu vì sao có phản ứng:
Cl2 + 2NaOH to thuong
NaCl + NaClO + H2O 3Cl2+ 6NaOH to 5NaCl + NaClO3 +3H2O
- Clorua vôi là hỗn hợp CaCl2, Ca(ClO)2và CaOCl2 Để đơn giản ta coi clorua vôi là muối hỗn tạp CaOCl2
2.1.1.3 Phương pháp dạy học
- Rèn luyện thao tác diễn dịch
Trong SGK hóa học lớp 10 nâng cao, chương “Nhóm Halogen” là nhóm nguyên tố đầu tiên được nghiên cứu sau khi HS đã được học các chương về lí thuyết chủ đạo như nguyên tử; bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học, định luật tuần hoàn; liên kết hoá học và phản ứng hoá học Vì vậy cần
dùng phép suy diễn hay diễn dịch (đi từ cái chung đến cái riêng) để dự đoán tính chất xuất phát từ
định luật tuần hoàn và vị trí của nguyên tố trong bảng tuần hoàn theo sơ đồ: Vị trí → cấu tạo nguyên tử → tính chất → ứng dụng → điều chế
- Rèn luyện thao tác loại suy
Trong nhóm halogen thì nguyên tố clo có nhiều ứng dụng trong đời sống và sản xuất hóa học
nên được chọn làm đại diện cho cả nhóm để nghiên cứu kỹ Sau đó dùng phép loại suy để xem xét
Trang 39các nguyên tố còn lại là flo, brom, iot Cần chú ý là kết luận đi tới được bằng phép loại suy bao giờ cũng gần đúng, có tính chất giả thiết, phải kiểm chứng bằng thực nghiệm hay thực tiễn
Ví dụ: Khi nghiên cứu bài clo ta có thể dựa vào sự giống nhau về một số tính chất đã được học kỹ ở bài clo để suy ra tính chất tương tự sẽ có ở F, Br, I, nhưng cuối chương GV phải tổng kết lại để kết luận về tính chất đặc trưng của các nguyên tố halogen
Trong dạy học hóa học, phép loại suy có tác dụng rất lớn vì thời gian học tập hạn chế, chúng
ta chỉ có thể nghiên cứu kỹ một số chất mà chương trình đã lựa chọn, nhưng nhờ đó ta có thể dẫn
HS đi tới những kết luận xác thực về tính chất của những chất không có điều kiện nghiên cứu
- Sử dụng thí nghiệm để minh họa và kiểm chứng
Các thí nghiệm biểu diễn của GV trong chương này chủ yếu được tiến hành theo phương pháp minh họa, kiểm chứng để khẳng định những dự đoán về tính chất dựa trên cấu tạo của đơn chất hoặc
hợp chất của halogen là đúng đắn
Ví dụ: Xét phản ứng của clo với natri:
+ Clo là phi kim có độ âm điện lớn nên là chất oxi hoá mạnh
+ Natri là kim loại kiềm có tính khử mạnh
Phản ứng giữa clo và natri phải xảy ra mãnh liệt và toả nhiều nhiệt
- Tìm ra tính quy luật trong sự biến đổi tính chất của dãy đơn chất và hợp chất
Việc dạy học nhóm halogen quan trọng nhất là chỉ ra tính quy luật trong sự biến đổi tính chất
của các dãy đơn chất và hợp chất của chúng, giải thích sự biến đổi đó dựa vào độ âm điện, năng lượng ion hóa và cấu tạo nguyên tử
Nguyên tử của các nguyên tố halogen đã có 7 electron ở lớp ngoài cùng, chỉ còn thiếu 1 electron
là đạt được cấu hình electron bền vững của khí hiếm Vì vậy 2 nguyên tử góp chung một đôi electron để tạo ra phân tử có một liên kết đơn Liên kết đơn không bền nên phân tử dễ bị phân cắt liên kết tạo ra nguyên tử có khả năng hút electron mạnh, do đó là chất oxi hóa mạnh
Các đơn chất halogen có tính oxi hóa mạnh nhưng yếu hơn nguyên tử halogen tương ứng vì cần phải tốn một năng lượng để bẽ gãy liên kết X – X
Khi đi từ Flo đến Iot, bán kính nguyên tử tăng dần, lực hút của hạt nhân với các electron lớp ngoài cùng giảm dần nên tính oxi hóa giảm dần
F2 Cl2 Br2 I2Tính oxi hóa giảm
Ví dụ 1: Khả năng phản ứng với nước của các halogen giảm, F2 oxi hóa được nước, các halogen khác không oxi hóa được nước
Trang 402F2 + 2H2O → 4HF + O2
Ví dụ 2: Khả năng phản ứng với H2 của các halogen giảm, F2 oxi hóa H2 ngay trong bóng tối, ở nhiệt độ thấy và gây nổ Cl2 oxi hóa mạnh H2 và gây nổ khi có chiếu sáng hoặc đun nóng Br2 chỉ oxi hóa H2 khi đun nóng nhưng không gây nổ còn iot chỉ oxi hóa H2 khi đun nóng mạnh và phản ứng xảy ra thuận nghịch
Hiđro halogenua và axit halogenhiđric (HX)
HF HCl HBr HI
Tính axit tăng Tính khử tăng (1) Giải thích tính axit tăng:
HS khó có thể giải thích chính xác quy luật biến đổi tính axit của HX do đó GV cần hướng dẫn, lưu ý các em rằng mặc dù độ phân cực của liên kết HX giảm dần từ HF → HI nhưng yếu tố quan trọng hơn là kích thước của anion Kích thước các anion tăng dần theo thứ tự sau: F- → Cl- → Br-
→ I
-Mật độ điện tích âm ở anion I- bé nhất nên lực hút giảm dần theo thứ tự:
HF > HCl > HBr > HI Nên trong dung dịch HI phân ly mạnh nhất, sau đó đến HBr, HCl, HF
Ngoài ra axit HF là axit yếu, trong khi các axit còn lại trong dãy trên đều là các axit mạnh là do HF
có liên kết hiđro giữa các phân tử
(2) Giải thích tính khử tăng từ HF → HI
HS có thể giải thích được quy luật biến đổi tính khử từ HF đến HI là do bán kính của các anion tăng dần nên khả năng nhường electron tăng dần
Chứng minh tính khử tăng dần từ HF → HI: dung dịch HBr không màu để lâu chuyển màu vàng
có ánh nâu do bị oxi không khí oxi hóa, nhưng HCl không có phản ứng này Chứng tỏ tính khử của HBr mạnh hơn HCl