cầm phiếu hoặc theo lệnh, khi công cụ được xuất trình hoặc tại một thời điểm xác định trong tương lai”.Luật Công cụ chuyển nhượng của nước CHND Trung Hoa 2004 tuykhông nêu ra định nghĩa
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Từ năm 1986 trở lại đây, cùng với việc thực hiện công cuộc đổi mới toàndiện mọi mặt kinh tế - xã hội của đất nước, nền kinh tế nước ta đã chuyển sangnền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Song, do xuất phát từ nền kinh tếsản xuất nhỏ, lạc hậu, hầu hết các doanh nghiệp nước ta có quy mô sản xuất -kinh doanh nhỏ bé, nguồn vốn kinh doanh hạn hẹp, việc tiếp cận tín dụng ngânhàng còn hạn chế nên tình trạng thiếu vốn của doanh nghiệp còn rất phổ biến.Trên thực tiễn, quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, tiểu thương đã tồn tạinhư một thực tế khách quan trong nền kinh tế Việt Nam Trong khi đó, hoạtđộng tín dụng thương mại dưới hình thức phát hành và lưu thông CCCN, mộthình thức tín dụng trực tiếp giữa các doanh nghiệp đã khá phổ biến ở các nước
có nền kinh tế thị trường phát triển, lại chưa được phát triển đúng mức ở nước ta.Nhu cầu phát hành và lưu thông công cụ chuyển nhượng, bằng chứng pháp lýquan trọng nhất trong quan hệ tín dụng thương mại, để bảo vệ có hiệu quả quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên vì thế trở nên bức thiết
Hơn nữa, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một xu thế thờiđại, diễn ra mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, biểu hiện xu hướng tất yếu khách quancủa nền kinh tế, tạo điều kiện chó các doanh nghiệp nước ta ngày càng mở rộngquan hệ giao lưu thương mại, đầu tư với các nước trong khu vực và trên thế giới.Quá trình hội nhập và tăng cường giao lưu thương mại này đòi hỏi các doanhnghiệp phải tìm hiểu và sử dụng các phương thức, phương tiện thanh toán phổbiến trong quan hệ thương mại quốc tế, quan hệ tín dụng quốc tế như thư tíndụng, séc, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ,… Nhu cầu đưa CCCN, công cụthanh toán và tín dụng phổ biến ở những nền kinh tế thị trường vào sử dụng
Trang 2trong nền kinh tế nước ta là đòi hỏi khách quan và cấp thiết, đáp ứng yêu cầu hộinhập kinh tế quốc tế.
Mặc dù CCCN đã tồn tại và phát triển ở nhiều nước có nền kinh tế pháttriển trên thế giới, song ở nước ta đây vẫn còn là một khái niệm còn tương đốimới mẻ, và gặp không ít khó khăn Với mong muốn nghiên cứu những vấn đề lýluận về CCCN, đồng thời tìm hiểu thực trạng sử dụng CCCN ở Việt Nam trongthời gian qua; trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được và những hạn chế còntồn tại để đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển việc sử dụng CCCN ở Việt
Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập tài chính quốc tế, đề tài: “Phát triển việc sử dụng công cụ chuyển nhượng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập tài chính quốc tế” được tác giả lựa chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2 Tình hình nghiên cứu
Trong kế hoạch phát triển kinh tế 10 năm (2001 - 2010) của Đại hội Đảng
IX đã nhấn mạnh chủ trương kiện toàn thị trường tài chính ngân hàng trong giaiđoạn hội nhập Để tiến tới cụ thể hóa chủ trương văn kiện Đại hội Đảng IX, songsong với việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan nhằm tạo hành lang pháp
lý cho việc sử dụng các công cụ tài chính nói chung và các công cụ chuyểnnhượng nói riêng, thì nhiều đề tài khoa học và các bài viết về lĩnh vực này cũng
đã được nghiên cứu một cách nghiêm túc, sâu sắc
T.S Lê Đức Thúy - Thống đốc NHNNVN - trong đề tài “Cơ sở khoa học
và giải pháp cải tổ hệ thống ngân hàng Việt Nam phù hợp với yêu cầu nền kinh
tế thị trường có định hướng hội nhập quốc tế trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước” (Mã số KNHTĐ 2001-01) đã đưa ra một số giải pháp phát triển các công
cụ tài chính nhằm kiện toàn hệ thống ngân hàng Với cách phân tích cụ thể hơn,
GS Đinh Xuân Trình trong đề tài “Giải pháp phát triển thị trường thương phiếu
nhằm phát triển hoạt động thương mại ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”
Trang 3(12/2005) đã chỉ ra vai trò quan trọng và sự cần thiết của việc phát triển thươngphiếu nhằm thúc đẩy thương mại trong nước và với nước ngoài phát triển, đápứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào cụ thể, chi tiết và đầy đủ
về thực trạng và giải pháp phát triển việc sử dụng các công cụ chuyển nhượng ởViệt Nam trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập tài chínhquốc tế
3 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những lý luận về CCCN; tìm hiểu thực trạng sử dụngCCCN ở Việt Nam, trên cơ sở đó đánh giá những kết quả đạt được, những hạnchế và nguyên nhân
Đề xuất một số giải pháp phát triển việc sử dụng các CCCN ở Việt Namtrong điều kiện hội nhập tài chính quốc tế
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, tập hợp có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về CCCN
Tìm hiểu thực trạng sử dụng các CCCN ở Việt Nam trong thời gian qua
Đề xuất giải pháp phát triển việc sử dụng các CCCN ở Việt Nam đápứng yêu cầu hội nhập tài chính quốc tế
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Công cụ chuyển nhượng trong nền kinh tế Việt Nam dướitác động của hội nhập tài chính quốc tế
Trang 4Về phạm vi: - Mốc thời gian phân tích thực trạng: từ trước đổi mớiđến năm 2006.
- Mốc thời gian đề xuất nghiên cứu: đến năm 2010
6 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập tư liệu, phân tích thông
tin, so sánh tổng hợp Trong quá trình nghiên cứu đề tài lấy phương pháp duyvật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin trên cơ sở kết hợpvới đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế
và hội nhập kinh tế quốc tế
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng tổ hợp các phương
pháp khác như: hồi cứu tư liệu, quan sát, phân tích, so sánh đối chiếu và đánh giácác sự kiện trong mối quan hệ biện chứng với nhau
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài đượckết cấu làm ba chương, cụ thể như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về CCCN
Chương II: Thực trạng sử dụng CCCN ở Việt Nam trong điều kiện hội
nhập tài chính quốc tế
Chương III: Các giải pháp phát triển việc sử dụng CCCN ở Việt Nam đáp
ứng yêu cầu hội nhập tài chính quốc tế
Trang 5CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CỤ CHUYỂN NHƯỢNG
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG CỤ CHUYỂNNHƯỢNG
1.1.1 Khái niệm
Công cụ chuyển nhượng (CCCN) là một tài sản vô hình, chứa đựng nhữngquyền pháp lý đối với lợi ích tương lai cho người sở hữu nó Tài sản tài chính(financial assets) được hiểu là bất kỳ tài sản nào có giá trị trao đổi được đo bằngtiền Những lợi ích tương lai của người sở hữu CCCN được thực hiện khi ngườichủ sở hữu này chuyển nhượng quyền pháp lý đối với CCCN cho người khác,hoặc cầm cố, nhượng bán các quyền đó cho các tổ chức tín dụng để đổi lấy một
số tiền nhất định vào một thời điểm xác định do các bên thỏa thuận Trong nềnkinh tế thị trường, bên cạnh tín dụng ngân hàng - tín dụng giữa các ngân hàngvới doanh nghiệp - còn có sự xuất hiện và phát triển của hình thức tín dụngthương mại, tức là quan hệ mua bán chịu giữa các doanh nghiệp với nhau trongquá trình mua bán hàng hóa Trong quan hệ thanh toán và đòi tiền lẫn nhau, cácdoanh nghiệp đã sử dụng các công cụ như: hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ(kỳ phiếu), séc… Các công cụ này có thể đem ra để mua đi bán lại, chuyểnnhượng, cầm cố, thế chấp, chiết khấu… nên được gọi chung là công cụ chuyểnnhượng Các CCCN được biết đến hiện nay gồm: Hối phiếu Kỳ phiếu, Séc vàChứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được CCCN và các hoạt động kinh tếliên quan đến nó đã được điều chỉnh, quy định trong luật quốc tế và luật quốc giamột số nước trong đó có Việt Nam
Một cách khái quát và đầy đủ, Luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ
(Uniform Commercial Code-UCC) định nghĩa về CCCN tại điều 3-104 là: “Một
cam kết (Promise) trả tiền hoặc một lệnh (Order) đòi tiền vô điều kiện một số tiền nhất định (có hoặc không có lãi suất hay các khoản chi phí khác) cho người
Trang 6cầm phiếu hoặc theo lệnh, khi công cụ được xuất trình hoặc tại một thời điểm xác định trong tương lai”.
Luật Công cụ chuyển nhượng của nước CHND Trung Hoa (2004) tuykhông nêu ra định nghĩa trực tiếp về CCCN, nhưng có quy định rõ người hưởng
lợi của CCCN: “Các công cụ chuyển nhượng gồm có Hối phiếu, Kỳ phiếu và
Séc”, “Hối phiếu là công cụ chuyển nhượng do một người ký phát ra lệnh cho người bị ký phát phải trả vô điều kiện một số tiền nhất định khi xuất trình hoặc vào một ngày xác định cho người hưởng lợi hoặc người cầm hối phiếu”; “Kỳ phiếu là một công cụ chuyển nhượng do một người tạo lập ký phát cam kết sẽ trả
vô điều kiện một số tiền nhất định khi xuất trình cho người hưởng lợi hoặc người cầm kỳ phiếu”.
Luật Các công cụ chuyển nhượng 2005 của Việt Nam quy định tại Điều 4
- Chương I một cách ngắn gọn như sau: “Công cụ chuyển nhượng là giấy tờ có
giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định vào một thời điểm nhất định” CCCN quy định trong Luật Các
công cụ chuyển nhượng 2005 của Việt Nam gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếunhận nợ, séc và công cụ chuyển nhượng khác trừ công cụ nợ dài hạn được tổchức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường:
- Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị
ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vàomột thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng
- Hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết
thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào mộtthời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng
- Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là
ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng
Trang 7Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanhtoán cho người thụ hưởng.
Như vậy, có thể thấy điểm chung của các khái niệm nêu trên về CCCN là:
(1) CCCN là một chứng chỉ có giá, một công cụ thanh toán có thể chuyểnnhượng được Nó là một văn bản ghi nhận một cam kết trả tiền (promise) hoặcmột mệnh lệnh đòi tiền (order) vô điều kiện một số tiền nhất định giữa các chủthể tham gia quan hệ CCCN
(2) Thời hạn thanh toán của CCCN là xác định, hoặc khi có yêu cầu, hoặckhi xuất trình, hoặc vào một thời điểm có thể xác định trong tương lai
(3) Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ CCCN độc lập vớiquan hệ cơ sở phát sinh ra nó
Trong quan hệ hối phiếu đòi nợ thường có 3 bên tham gia là: người ký
phát, người bị ký phát, và người thụ hưởng Trong đó, người ký phát (người bán)yêu cầu người bị ký phát (người mua) phải trả tiền theo hợp đồng mua bán hànghóa (hợp đồng gốc) cho mình hoặc cho người thứ ba là người thụ hưởng Theo
đó, có hai nghĩa vụ được thực hiện: (i) nghĩa vụ giữa người bị ký phát và người
ký phát; (ii) nghĩa vụ giữa người ký phát và người thụ hưởng
Trong quan hệ hối phiếu nhận nợ, người ký phát là người mua hàng, ký
cam kết thanh toán một số tiền nhất định Ở đây chỉ tồn tại một nghĩa vụ thanhtoán giữa người phát hành và người thụ hưởng
Như vậy, dựa vào những điểm chung nhất theo quy định của Luật quốc tế
và Luật một số nước về CCCN, thì hối phiếu, kỳ phiếu và séc ở nước ta đã cóđầy đủ các điều kiện để coi là CCCN Ở một số nước (Trung Quốc, Ấn Độ….)ngoài 3 công cụ (hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc) còn xuất hiện thêmmột công cụ chuyển nhượng khác, đó là chứng chỉ tiền gửi (Certificate of
Trang 8Deposit - CD) Song chứng chỉ tiền gửi chưa được đưa vào phạm vi điều chỉnhcủa Luật các công cụ chuyển nhượng 2005 của Việt Nam.
1.1.2 Đặc điểm của công cụ chuyển nhượng
1.1.2.1 CCCN là một tài sản tài chính vô hình:
Tài sản tài chính (financial assets) là bất cứ tài sản nào có giá trị trao đổi.Thước đo tài sản tài chính là tiền tệ Tài sản tài chính có hai loại: tài sản tài chínhhữu hình và tài sản tài chính vô hình Tài sản tài chính hữu hình (tangible assets)
là tài sản mà giá trị của nó phụ thuộc vào hình thái vật chất của nó quyết định.Tài sản tài chính vô hình (intangible assets) là tài sản chứa đựng trong nó quyềnpháp lý đối với lợi ích tương lai cho người sở hữu nó CCCN tồn tại dưới hìnhthái vật chất có giá trị không đáng kể (chỉ là một mảnh giấy) nhưng hàm chứatrong nó các quyền pháp lý cho người sở hữu nó CCCN có thể thanh toán,chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp vay vốn và có thể đem đến ngân hàng thươngmại để chiết khấu hoặc đem đến Ngân hàng trung ương để tái chiết khấu
1.1.2.2 CCCN được hình thành từ một giao dịch cơ sở
* Giao dịch hợp đồng thương mại là cơ sở phát hành và lưu thông thương
phiếu Hợp đồng thương mại quy định quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua và bênbán Người bán có nghĩa vụ giao hàng và có quyền lợi nhận tiền thanh toán từngười mua, người mua có nghĩa vụ thanh toán cho người bán và quyền lợi nhậnlại số hàng hóa tương ứng từ người bán Song, quyền lợi và nghĩa vụ quy địnhtrong hợp đồng của các bên thường không thể thực hiện song song đồng thờicùng một lúc, do đó phát sinh nhu cầu sử dụng thương phiếu Đối với hối phiếu,người bán sẽ tiến hành giao hàng trước và sau đó ký phát hối phiếu yêu cầungười mua thanh toán một khoản tiền nhất định vào một thời điểm xác định.Ngân hàng sẽ được người bán ủy thác nhờ thu tiền từ người mua Ngược lại, đối
Trang 9với kỳ phiếu, người mua trước khi nhận hàng trước từ người bán phải ký phátmột cam kết trả tiền cho người bán vào một thời điểm nhất định.
* Giao dịch tín dụng ngân hàng là cơ sở phát hành và lưu thông séc, hối
phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được Giao dịch tíndụng ngân hàng chỉ thực hiện được khi khách hàng có số dư tài khoản mở tạingân hàng Chủ tài khoản có thể được phép phát hành séc trên tài khoản củamình hoặc được ngân hàng cấp cho một chứng chỉ tiền gửi Trong trường hợphối phiếu ngân hàng thì ngân hàng chính là người phát hành CCCN Hiện một sốnước còn mở rộng phạm vi giao dịch cơ sở phát hành CCCN, như giao dịchthanh toán hoặc giao dịch tặng cho
CCCN không được hình thành từ giao dịch cơ sở là “CCCN khống”(accommodation bill) Tuy nhiên, tùy theo quy định của mỗi nước mà các CCCNkhống này có được phép sử dụng hay không Hầu hết luật của các nước chịu ảnhhưởng của Luật Thống nhất hối phiếu thuộc Công ước Giơnevơ (ULB 1930) quyđịnh hối phiếu phải được hình thành từ một giao dịch cơ sở Còn với các nướcchịu ảnh hưởng của luật Anh-Mỹ thì quy định một cách tương đối: nếu CCCNcần được lưu thông thì đặc điểm này phải được tôn trọng tuyệt đối, còn nếuCCCN chỉ được dùng như một phương tiện đòi tiền thì tính trừu tượng khôngnhất thiết phải được thể hiện trên bề mặt của CCCN Theo điều 3-Luật các công
cụ chuyển nhượng năm 2005 của Việt Nam quy định về cơ sở phát hành công cụchuyển nhượng thì việc phát hành “khống” các CCCN là bất hợp pháp
1.1.2.3 CCCN là trái vụ một bên
CCCN là chứng chỉ do một bên là người ký phát (Drawer) yêu cầu người
bị ký phát (Drawee) thực hiện một nghĩa vụ dân sự - trả tiền (đối với hối phiếu)hoặc là một chứng chỉ do một người phát hành (Issuer) cam kết thực hiện mộtnghĩa vụ dân sự - trả tiền đối với người thụ hưởng (Beneficiary) (đối với kỳ
Trang 10phiếu) Việc thực hiện nghĩa vụ này hoàn toàn phụ thuộc vào sự chấp nhận củangười bị ký phát (đối với hối phiếu) hoặc khả năng thanh toán của người pháthành (đối với kỳ phiếu).
Đối với hối phiếu, người bị ký phát có thể từ chối thanh toán do phá sản,mất khả năng thanh toán hay rơi vào trường hợp bất khả kháng Trong trườnghợp hối phiếu được chuyển nhượng cho một bên thứ ba (Third party), người kýphát vẫn phải có trách nhiệm trả tiền hối phiếu này nếu hối phiếu đó bị từ chốithanh toán Ngược lại với hối phiếu, khả năng thanh toán của kỳ phiếu lại hoàntoàn phụ thuộc vào người phát hành ra nó Trong trường hợp hai bên chưa cóquan hệ lâu dài, tin cậy lẫn nhau thì người bán chỉ nên tiếp nhận kỳ phiếu nếu kỳphiếu được sự bảo lãnh của ngân hàng Người bán do đó cần kiểm tra khả năngthanh toán thực sự, uy tín trên thương trường và hệ số tín nhiệm của người muatrước khi chấp nhận kỳ phiếu
1.1.2.4 Tính “trừu tượng” của CCCN
CCCN có tính trừu tượng vì xét trên bề mặt, nó chỉ là một yêu cầu đòi tiền(đối với hối phiếu), cam kết trả tiền (đối với kỳ phiếu) hay một lệnh chi một sốtiền nhất định từ tài khoản của mình tại ngân hàng (séc) một cách vô điều kiện
mà không thể hiện quan hệ thương mại hay quan hệ tín dụng phát sinh ra nó Cácquyền và nghĩa vụ phát sinh theo CCCN không phụ thuộc vào quan hệ gốc giữangười phát hành và người thụ hưởng, hoặc giữa người ký phát và người bị kýphát Sau khi được ký phát hành, CCCN trở thành một trái vụ độc lập và tách rờikhỏi quan hệ gốc Trong quá trình chuyển nhượng hay thanh toán CCCN, cácbên trong quan hệ CCCN (người phát hành, người chuyển nhượng, ngân hàngchấp nhận, bảo lãnh, chiết khấu…) không quan tâm tới giao dịch cơ sở phát sinh
ra CCCN mà chỉ quan tâm đến việc CCCN phát hành, chuyển nhượng, ký chấpnhận, bảo lãnh… có đúng quy định của pháp luật hay không Bản thân CCCN đã
Trang 11có đủ cơ sở pháp lý để tham gia thanh toán, chuyển nhượng mà không cần phảikèm theo bất cứ hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ nào.
Nhờ vào đặc điểm này mà CCCN có được tính lưu thông dễ dàng thôngqua khả năng chuyển nhượng theo cách chuyển giao đơn thuần hoặc ký hậu từngười này sang người khác hoặc thanh toán khi có yêu cầu Tuy nhiên, vấn đềđặt ra ở đây chính là trở ngại trong việc phân biệt giữa CCCN được phát hànhtrên cơ sở giao dịch gốc một cách bất hợp pháp và CCCN khống, do đó đòi hỏi
sự quy định chặt chẽ trong quy định pháp luật và những nghiên cứu kỹ lưỡng vềmặt cơ chế nghiệp vụ nhằm hạn chế việc phát hành CCCN khống không xuấtphát từ các giao dịch cơ sở
1.1.2.5 CCCN là một loại “hàng hóa” đặc biệt
CCCN từ khi ra đời cho đến nay đã phát huy tốt các chức năng và được sửdụng ngày một phổ biến trong thương mại quốc tế và thương mại nội địa CCCNđược đem ra trao đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, chiết khấu,… do đó trởthành một hàng hóa thực sự, nhưng là một loại hàng hóa đặc biệt
Giống như các loại hàng hóa khác, CCCN cũng có hai thuộc tính cơ bản là
giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Giá trị sử dụng của CCCN thể hiện ở những
quyền pháp lý đối với lợi ích tương lai mà người hưởng lợi CCCN có được.Người thụ hưởng có quyền hưởng số tiền ghi trên CCCN, sử dụng CCCN làmphương tiện thanh toán, đem thế chấp, cầm cố, chiết khấu ở ngân hàng… Giá trị
sử dụng của CCCN có từ khi nó được phát hành cho đến khi hết hạn hiệu lực
Giá trị trao đổi của CCCN thể hiện ở chỗ người thụ hưởng nó có thể chuyển
nhượng các quyền pháp lý với lợi ích tương lai có được từ CCCN cho một ngườikhác Để quay vòng vốn trong kinh doanh, người thụ hưởng CCCN thườngnhượng lại các quyền và lợi ích cho ngân hàng trước khi các CCCN đến hạnthanh toán với một giá nhất định theo thỏa thuận (thấp hơn số tiền ghi trên
Trang 12CCCN) Do các quyền lợi này là vô hình nên CCCN được coi là một loại hànghóa đặc biệt.
1.2 CÁC LOẠI CCCN
1.2.1 Hối phiếu
Hối phiếu từ lâu đã được biết đến như một phương tiện tín dụng và thanh
toán trong quan hệ thương mại Định nghĩa đầy đủ nhất về hối phiếu được quy
định trong Điều 3 Luật hối phiếu của Anh năm 1882: “Hối phiếu là một mệnh
lệnh vô điều kiện của một người ký phát cho một người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu hoặc đến một ngày cụ thể nhất định hoặc đến một ngày
có thể xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào
đó hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác hoặc trả cho người cầm hối phiếu Hối phiếu phải là một mệnh lệnh thanh toán bằng văn bản”[23]
Các bên liên quan đến việc phát hành và thanh toán hối phiếu gồm:
Người ký phát hối phiếu (drawer): thông thường là người bán, ngườicung ứng dịch vụ, đại diện tổ chức xuất khẩu
Người trả tiền hối phiếu (drawee): là người mà hối phiếu gửi đến cho
họ, đòi tiền họ, có thể là người mua, ngân hàng mở L/C, ngân hàng thanh toán…
Người hưởng lợi hối phiếu: trước hết là người ký phát, kế đến là người
do người ký phát hối phiếu chỉ định trên hối phiếu
Hối phiếu có một số đặc điểm cơ bản sau:
Tính trừu tượng của hối phiếu: Ở trên hối phiếu không cần phải ghi nội
dung quan hệ kinh tế, mà chỉ cần ghi rõ số tiền phải trả là bao nhiêu và trả cho ai,người nào sẽ thanh toán, thời gian thanh toán là khi nào Người sở hữu hối phiếukhông cần biết khoản nợ đó xuất phát từ cơ sở nào
Tính bất buộc trả tiền vô điều kiện của hối phiếu: Người trả tiền của hối
phiếu phải trả tiền đầy đủ đúng theo yêu cầu của tờ hối phiếu Người trả tiền
Trang 13không được viện lý do riêng của bản thân đối với người ký phát hối phiếu để từchối việc thanh toán, trừ trường hợp hối phiếu được lập ra trái với đạo luật chiphối nó.
Tính lưu thông của hối phiếu: Hối phiếu được coi là một khế ước dân
sự, do vậy nó có thể được lưu thông từ người này sang người khác trong thời hạncủa nó
Hối phiếu được sử dụng phổ biến trong tín dụng và thanh toán thương mại
là vì nó đồng thời có một số chức năng quan trọng như:
Là công cụ tín dụng: Hối phiếu là công cụ tín dụng giữa: (1) người kýphát hối phiếu và người bị ký phát; (2) người sở hữu và người ký phát hối phiếu;(3) một ngân hàng với người có hối phiếu hoặc người phát hành hối phiếu thôngqua hành vi chiết khấu hối phiếu
Là phương tiện đảm bảo an toàn: Hối phiếu là một công cụ đảm bảotrong quan hệ tín dụng Vì là một lệnh yêu cầu trả tiền vô điều kiện, người chủ
nợ luôn luôn có quyền đòi thanh toán hối phiếu mà họ sở hữu trong thời hạn củahối phiếu
Là phương tiện đầu tư vốn: Trong nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu, tất cảcác ngân hàng đều có thể đầu tư vào hối phiếu bằng cách mua bán lại hối phiếu
từ người bán hoặc từ các ngân hàng khác
Là công cụ thanh toán: Khi hối phiếu được thanh toán thì món nợ gốcghi trên hối phiếu được coi là đã thanh toán
Hối phiếu gồm nhiều loại khác nhau, căn cứ vào các tiêu thức phân loại
khác nhau:
* Căn cứ vào thời hạn trả tiền: Hối phiếu được chia làm 2 loại
- Hối phiếu trả tiền ngay (At sight Draft): là loại hối phiếu mà khi nhìnthấy hối phiếu người trả tiền phải trả ngay số tiền ghi trên hối phiếu cho ngườithụ hưởng
Trang 14- Hối phiếu trả chậm (Usance Draft): là loại hối phiếu mà việc trả tiềnđược thực hiện sau một khoảng thời gian nhất định Việc quy định thời hạn thanhtoán của hối phiếu trả chậm có thể theo cách: trả sau bao nhiêu ngày kể từ ngàynhìn thấy hối phiếu, hoặc kể từ ngày ký phát hối phiếu, hoặc kể từ ngày lập vậnđơn đường biển, ngày giao hàng Hối phiếu trả chậm được sử dụng phổ biếntrong thanh toán bằng hình thức tín dụng thư trả chậm.
* Căn cứ vào chủ thể ký phát: Hối phiếu có 2 loại:
- Hối phiếu thương mại (Commercial Bill of Exchange): là loại hối phiếu
do người bán hàng, người cung ứng dịch vụ (Drawer) ký phát lệnh đòi tiền ngườimua (Drawee) Đây là loại hối phiếu được sử dụng nhiều nhất, phổ biến nhấttrong thanh toán quốc gia và quốc tế
- Hối phiếu ngân hàng (Bank’s Bill of Exchange): Ngân hàng (Drawer) kýphát hối phiếu ra lệnh cho ngân hàng đại lý của mình (Drawee) trích một số tiềnnhất định từ tài khoản của mình cho người hưởng lợi (Beneficiary) Loại hốiphiếu này ít được sử dụng và do đó cũng không được luật các quốc gia điềuchỉnh trực tiếp Luật các CCCN Việt Nam cũng chưa đưa hối phiếu ngân hàngvào phạm vi điều chỉnh
* Căn cứ vào chứng từ kèm theo: Hối phiếu được chia thành 2 loại
- Hối phiếu trơn (Clean Draft): là loại hối phiếu mà việc trả tiền khôngkèm theo điều kiện nào đó liên quan đến việc trao chứng từ hàng hóa, loại hốiphiếu này thường được sử dụng trong phương thức thanh toán nhờ thu trơn hoặcphương thức bảo lãnh theo yêu cầu
- Hối phiếu kèm chứng từ (Documentary Draft): là loại hối phiếu mà việctrả tiền có kèm theo điều kiện về chứng từ kèm theo, nếu người trả tiền đồng ýtrả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng của người mở tài khoản sẽ giao
bộ chứng từ nhận hàng cho họ Loại hối phiếu này thường được sử dụng trong
Trang 15phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ và phương thức tín dụng chứngtừ.
* Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng: Hối phiếu gồm 3 loại
- Hối phiếu đích danh (Nominal Draft): là loại hối phiếu có ghi rõ tênngười hưởng lợi và chỉ người đó mà thôi và không kèm theo từ “theo lệnh” Hốiphiếu này không chuyển nhượng được bằng thủ tục ký hậu
- Hối phiếu vô danh (Nameless Draft): là loại hối phiếu không ghi tênngười thụ hưởng hoặc ghi trả theo lệnh của người nào đó Đối với loại hối phiếunày, việc chuyển nhượng được thực hiện bằng cách trao tay thông thường, ngườigiữ hối phiếu chính là người thụ hưởng Vì thế, loại này ít được sử dụng trongthanh toán quốc tế với mức độ rủi ro cao nhất
- Hối phiếu theo lệnh (Order Draft): là hối phiếu ghi trả theo lệnh củangười nào đó Người thụ hưởng hoặc người trả theo lệnh của người thụ hưởng sẽđược hưởng lợi hối phiếu Hối phiếu này được chuyển nhượng dễ dàng bằng thủtục ký hậu nên được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế
Mỗi loại hối phiếu lại được lưu thông theo quy trình lưu thông riêng phù
hợp với đặc điểm, mục đích của nó:
- Lưu thông hối phiếu trả tiền ngay: Hối phiếu được thanh toán ngay khi
xuất trình hoặc ngày kế tiếp kể từ ngày nhìn thấy hối phiếu (không quá 7 ngàyđối với thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ) Quy trình lưu thông hốiphiếu trả tiền ngay qua ngân hàng như sau:
Ký phát hối phiếu và ủy thác cho ngân hàng thu tiền hối phiếu từngười mua
Trang 16Người mua chuyển tiền trả người bán thông qua ngân hàng
Hình 1.1: Quy trình lưu thông hối phiếu trả tiền ngay
- Lưu thông hối phiếu trả chậm: Việc trả tiền hối phiếu sẽ được tiến hànhmột số ngày nhất định kể từ ngày nhận được hối phiếu được xuất trình hoặc kể
từ ngày do các bên thỏa thuận Quy trình lưu thông hối phiếu gồm hai giai đoạn:
+ Hối phiếu được xuất trình, người mua chấp nhận thanh toán và hoàn trảhối phiếu đã được chấp nhận cho người bán:
Yêu cầu người mua ký chấp nhận thanh toánHoàn trả hối phiếu đã chấp nhận cho người bán
Hình 1.2: Quy trình lưu thông hối phiếu trả chậm
+ Đến khi hối phiếu đáo hạn, ngân hàng sẽ thu tiền hối phiếu
Với chức năng là công cụ thanh toán hữu hiệu thúc đẩy thương mại quốc
tế và thương mại trong nước phát triển, hối phiếu ngày càng chiếm vị trí quantrọng trong thanh toán quốc tế Ra đời sớm hơn, tuy không có vai trò xứng đángnhư hối phiếu, nhưng kỳ phiếu, một công cụ chuyển nhượng quan trọng kháccũng được sử dụng khá phổ biến
1.2.2 Kỳ phiếu (Promissory Note)
Kỳ phiếu là một chứng chỉ tài chính, trong đó, người ký phát cam kết trảmột số tiền nhất định vào một ngày nhất định cho một người thụ hưởng nhất
Trang 17định có ghi trên kỳ phiếu, hoặc cho một người nào khác, hoặc theo lệnh củangười thụ hưởng.
Luật các CCCN Việt Nam năm 2005 coi kỳ phiếu là hối phiếu nhận nợ vàđịnh nghĩa hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kếtthanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào mộtthời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng
Đối với kỳ phiếu, người ký phát (drawer) đồng thời là người chấp nhận kỳphiếu, với tư cách là người mắc nợ, do vậy không có nghiệp vụ chấp nhận(acceptance) như đối với hối phiếu Kỳ phiếu thường phải có một người thứ bađứng ra bảo lãnh thanh toán, có thể là ngân hàng hoặc các trung gian tài chính,nhằm nâng cao tính chuyển nhượng của kỳ phiếu
Như vậy, hối phiếu chỉ do một người ký phát để đòi tiền một hay nhiềungười, trong khi kỳ phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát nhằm cam kếttrả tiền cho một hay nhiều người, nên quyền lợi của người thụ hưởng theo hốiphiếu được đảm bảo hơn người thụ hưởng theo kỳ phiếu
Khác với hối phiếu, việc chấp nhận trả tiền trên bề mặt kỳ phiếu là khôngbắt buộc và kỷ phiếu chỉ có một bản gốc Nghĩa vụ thanh toán trong quan hệ kỳphiếu là nghĩa vụ duy nhất, cơ bản và tuyệt đối của người phát hành, còn trongquan hệ hối phiếu thì nghĩa vụ này được chia sẻ cho người phát hành, người chấpnhận và người chuyển nhượng (nếu có) trong trường hợp hối phiếu bị từ chốithanh toán
Người mua ký phát kỳ phiếu để cam kết trả tiền cho người bán thông quangân hàng bảo lãnh của mình Sau khi được bảo lãnh, kỳ phiếu sẽ được chuyểncho người bán Người bán sau khi kiểm tra, nếu đồng ý thì giao hàng cho ngườimua Sau đó, người bán nhờ ngân hàng đứng ra thu tiền từ người mua theo kỳphiếu đó Quy trình lưu thông một kỳ phiếu không cần chấp nhận như sau:
Trang 18Ký phát kỳ phiếu, nhờ Ngân hàng bảo lãnh và giao hàng cho ngườibán
Nhờ thu kỳ phiếu thông qua Ngân hàng Chuyển trả tiền
Hình 1.3: Quy trình lưu thông kỳ phiếu
1.2.3 Séc (Cheque)
Séc là phương tiện thanh toán quen thuộc và phổ biến ở phần lớn các nước
trên thế giới Theo Công ước Giơnevơ 1930, séc được định nghĩa là “mệnh lệnh
trả tiền vô điều kiện do một người chủ tài khoản mở tại ngân hàng ra lệnh cho ngân hàng (nơi mở tài khoản) trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình
mở ở ngân hàng này trả cho người cầm séc hoặc cho người được chỉ định trên
tờ séc”.
Theo Luật các CCCN Việt Nam 2005 thì “Séc là giấy tờ có giá do người
ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng” [14]
Như vậy, một cách khái quát, séc là một lệnh vô điều kiện của người chủtài khoản mở tại ngân hàng yêu cầu ngân hàng trích từ tài khoản của mình một
số tiền nhất định để trả cho người hưởng lợi séc hoặc cho người cầm séc Sécđược sử dụng thay tiền tệ làm chức năng thanh toán và lưu thông
Điều kiện để phát hành séc bao gồm các quy định sau:
Trang 19- Cá nhân hoặc tổ chức muốn phát hành séc phải có tài khoản vãng lai mởtại ngân hàng.
- Trên tài khoản phải có đủ số dư có hoặc được cấp một khoản tín dụng
- Có quyền sử dụng quyển sổ séc thông qua một hợp đồng séc
- Các điều kiện đặc biệt trong việc sử dụng phương thức thanh toán
Giống như các loại CCCN khác, luật các nước nhìn chung thống nhất với
nhau trong việc quy định các nội dung cơ bản của séc, bao gồm:
- Tiêu đề séc
- Số tiền trên séc phải là số tiền xác định
- Địa điểm thanh toán
Luật các CCCN Việt Nam còn quy định chi tiết và cụ thể hơn so với Luậtcác quốc gia khác bằng việc đưa thêm một số nội dung bắt buộc khác của sécnhư:
- Tên của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ là người bị ký phát
Trang 20- Tên đối với tổ chức, cá nhân là người thụ hưởng được người ký phát chỉđịnh hoặc yêu cầu thanh toán séc theo lệnh của người thụ hưởng hoặc bên yêucầu thanh toán séc cho người cầm giữ.
- Tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân là người ký phát
Dựa vào một số tiêu chí phân loại nhất định, séc có thể được chia làmnhiều loại khác nhau:
* Căn cứ vào chủ thể phát hành séc: Séc có 3 loại
- Séc doanh nghiệp (Private Cheque): là loại séc do các doanh nghiệp,
thương nhân, tổ chức kinh tế, chính trị xã hội có tài khoản mở tại ngân hàng pháthành ra lệnh cho ngân hàng trích tiền từ tài khoản của mình để trả cho ngườihưởng lợi séc
Séc doanh nghiệp có đặc điểm:
Người phát hành séc là các doanh nghiệp, thương nhân hay các tổ chứckinh tế - xã hội, không phải là ngân hàng hay các tổ chức tài chính
Ngân hàng nắm giữ tài khoản
Số tiền ghi trên séc được căn cứ theo hóa đơn thương mại
Thời hạn hiệu lực của séc là theo luật định
Người hưởng lợi là do người phát hành séc chỉ định
- Séc ngân hàng (Bank cheque): là loại séc do ngân hàng phát hành ra lệnh
cho ngân hàng khác trích từ tài khoản của mình mở tại ngân hàng đó một số tiềnnhất định để trả cho người hưởng lợi séc
Người phát hành séc là ngân hàng
Ngân hàng nắm giữ tài khoản
Người mua séc là người nhập khẩu hay người trả tiền
Số tiền ghi trên séc là số tiền theo hóa đơn, mệnh giá chuẩn
Trang 21 Thời hạn hiệu lực do luật quốc gia điều chỉnh
Người hưởng lợi là do người mua séc chỉ định
* Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng:
- Séc vô danh: loại séc này không ghi tên người thụ hưởng, chỉ cần ghi
“trả cho người cẩm séc”, nghĩa là ai cầm séc thì chính người đó là người thụhưởng Séc vô danh khi chuyển nhượng chỉ bẳng cách trao tay, không cần thủtục ký hậu Loại séc này có khả năng lưu thông cao nhưng độ rủi ro lớn nênkhông được sử dụng phổ biến
- Séc theo lệnh: là loại séc có ghi mệnh đề trả theo lệnh cho người thụ
hưởng Séc được chuyển nhượng bằng thủ tục ký hậu (có thể là ký hậu theo lệnhhoặc ký hậu đích danh)
- Séc đích danh: là loại séc mà chỉ có người có tên trên séc mới có thể lĩnh
tiền từ ngân hàng tiếp nhận séc Séc này không chuyển nhượng được bằng thủtục ký hậu do đó khả năng lưu thông cũng kém hơn
* Căn cứ vào cách thanh toán:
- Séc tiền mặt: là loại séc mà ngân hàng thanh toán sẽ trả tiền mặt và
người phát hành séc phải chịu rủi ro khi bị mất séc hoặc bị đánh cắp Người cầmséc không cần được ủy quyền cũng lĩnh được tiền
- Séc chuyển khoản: ngân hàng thanh toán sẽ trả tiền bằng cách ghi có vào
tài khoản của người thụ hưởng một số tiền bằng số tiền ghi trên séc Người pháthành séc hoặc chủ sở hữu tờ séc sẽ ghi vào mặt trước tờ séc “séc chỉ thanh toánchuyển khoản” để chỉ thị cho ngân hàng biết hình thức thanh toán
1.2.4 Chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được (Negotiable Certificate of Deposit - NCD)
Chứng chỉ tiền gửi là một hình thức gửi tiết kiệm trong một khoảng thờigian nhất định với lãi suất cao hơn lãi suất của hình thức tiền gửi thông thường
Trang 22Do nhu cầu nâng cao tính lưu thông mà chứng chỉ tiền gửi ở nhiều nước đượcphát hành dưới hình thức có thể chuyển nhượng được.
Luật Thương mại Hoa Kỳ 1995 định nghĩa: “Chứng chỉ tiền gửi là hình
thức gữi tiền mặt vào một tổ chức có chức năng nhận tiền gửi với lãi suất và ngày đáo hạn cố định” [25] Căn cứ vào lãi suất, chứng chỉ tiền gửi có thể
chuyển nhượng được chia làm hai loại: Chứng chỉ tiền gửi truyền thống(Traditional CD) và chứng chỉ tiền gửi theo chỉ sổ thị trường (Market Index CD).Chứng chỉ tiền gửi truyền thống là loại chứng chỉ tiền gửi có lãi suất và ngày đáohạn cố định, còn chứng chỉ tiền gửi theo chỉ số thị trường có mức lãi suất daođộng và ngày đáo hạn cố định
Kể từ đầu những năm 1960, Chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượngđược với mệnh giá lớn (khoảng 100,000USD) đã được một số ngân hàng và các
tổ chức tín dụng trên thế giới sử dụng như là nguồn tài trợ thương mại và phươngtiện quản lý các khoản nợ của mình Các NCD có giá trị lớn trở thành một bộphận đầu tư gián tiếp quan trọng của các nhà đầu tư Đến cuối năm 1992, tổnggiá trị các NCD tại các ngân hàng lớn đã lên tới 144 tỉ USD
Do được phát hành dưới hình thức chuyển nhượng được nên người sở hữuNCD có thể bán NCD ra thị trường thứ cấp trước ngày đáo hạn với giá thị trường(thấp hoặc cao hơn mệnh giá ghi trên NCD) Đối với NCD theo chỉ số thị trường,lãi suất sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi của các chỉ số chứng khoán nên biên độ daođộng sẽ mạnh hơn, độ rủi ro lớn hơn, nhưng tính thanh khoản cao hơn Việcchuyển nhượng loại NCD này đòi hỏi sự tính toán phức tạp hơn
Chứng chỉ tiền gửi chưa được đưa vào phạm vi điều chỉnh của Luật Cáccông cụ chuyển nhương 2005 của Việt Nam Đó là do:
- Chứng chỉ tiền gửi là một loại hối phiếu nhận nợ, nhưng các chứng chỉtiền gửi hiện có của các ngân hàng thương mại Việt Nam chưa đáp ứng đúng vớithông lệ quốc tế, hơn nữa lại chỉ được phát hành dưới dạng chứng chỉ tiền gửi
Trang 23đích danh không chuyển nhượng được Muốn đưa chứng chỉ tiền gửi vào trongphạm vi điều chỉnh của Luật Các công cụ chuyển nhượng của ta thì hệ thống cácngân hàng cần phải nâng cấp lại hình thức, cơ chế hoạt động liên quan tới việc
sử dụng chứng chỉ tiền gửi cho phù hợp, mà vấn đề này đòi hỏi thời gian và sựđầu tư
- Luật Các CCCN Việt Nam năm 2005 có hiệu lực thi hành từ 1/7/2006điều chỉnh một lĩnh vực tương đối mới mẻ, nên trước mắt chỉ nên điều chỉnh một
số công cụ phổ biến nhất Căn cứ vào tình hình và nhu cầu phát triển sau này,phạm vi điều chỉnh của Luật có thể được mở rộng, bổ sung thêm các CCCN kháccho phù hợp
1.3 LUẬT ĐIỀU CHỈNH CCCN
1.3.1 Luật quốc tế
Xuất phát từ vai trò kinh tế quan trọng của các CCCN, các nước đã chútrọng xây dựng một cách có hệ thống và tương đối cụ thể các quy phạm phápluật nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các CCCN Khôngchỉ dừng lại ở hệ thống pháp luật trong nước, trên phương diện quốc tế, pháp luậtthương mại quốc tế cũng đòi hỏi phải có sự thống nhất về luật pháp liên quanđến CCCN, trong chừng mực có thể được, để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, củathương nhân cũng như để đảm bảo một cách hữu hiệu sự tồn tại và hoạt động củaCCCN
Từ đầu thế kỷ 20, do sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của thương mạiquốc tế, đã thúc đẩy các nước đi tới việc thành lập một thỏa ước quốc tế về hốiphiếu nhằm thống nhất những nguyên tắc cơ bản về hối phiếu trong thương mạiquốc tế Năm 1912, Hội nghị quốc tế đầu tiên về hối phiếu đã được tổ chức tạiDen Haag, không có sự tham gia của Mỹ và Anh, nhằm kiến nghị ký kết mộthiệp định hối phiếu và thi hành luật này ở các nước thành viên Hội nghị đã đưa
ra tuyên bố về hướng dẫn các quy định của hối phiếu trong các nước thành viên
Trang 24Song, các nước đã không thể đi tới ký kết hiệp định do chiến tranh thế giới lần
thứ nhất nổ ra Năm 1931, Công ước Giơnevơ về séc được ký kết giữa 10 nước
thành viên sáng lập gồm: Đức, Thụy Sĩ, Pháp, Áo, Italia, Bồ Đào Nha, ĐanMạch, Hà Lan, Nauy, Thụy Điển Đến nay, số nước tham gia Công ước Giơnevơ
về séc bao gồm phần lớn các nước trên thế giới trừ Mỹ và Anh Do sự thừa nhậnquyền bảo lưu của các nước thành viên của công ước, luật séc mang tính quốc tếnày không hoàn toàn đồng nhất với các điều khoản theo luật quốc tế tại một sốnước thành viên của công ước Năm 1933, Hội nghị quốc tế thứ hai về hối phiếu
đã được tổ chức với sự tham gia của 22 nước Hội nghị đã đưa ra tuyên bố về Sự thống nhất về luật hối phiếu (Uniform Law for Bill of exchange - ULB) và
tuyên bố về các quy định thuộc phạm vi tư pháp quốc tế về hối phiếu Các tuyên
bố này đến nay vẫn còn giá trị hiệu lực Năm 1982, Ủy ban thương mại quốc tế
của Liên Hợp quốc (UNCITRAL) đã ban hành Luật điều chỉnh về hối phiếu quốc tế số A/CN 9/12 và Luật điều chỉnh Séc quốc tế số A/CN 9/12 Song, do
chưa đủ số nước phê chuẩn nên hai luật này vẫn chưa có hiệu lực
1.3.2 Luật quốc gia
Trên phạm vi quốc gia, nhiều nước xuất phát từ nhu cầu thực tế cần có cácluật, quy định điều chỉnh việc phát hành và sử dụng các CCCN mà đã xây dựngnhững luật điều chỉnh CCCN riêng, hoặc thông qua các luật có liên quan nhưLuật thương mại
Ra đời sớm nhất vào thế kỷ XVII, Đức là quốc gia đầu tiên ban hành Pháp
lệnh Hamburg (1603) điều chỉnh CCCN là hối phiếu, sau này được bổ sung, sửa
đổi thành Luật hối phiếu vào năm 1871
Ở Anh từ năm 1882 đã ban hành Luật Hối phiếu (Bill of Exchange Act BEA) và được áp dụng từ đó đến nay Đây được coi là luật hối phiếu thành văn
-sớm nhất và đầy đủ nhất điều chỉnh về hối phiếu
Trang 25Luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ bản sửa đổi năm 1995, có 3
chương điều chỉnh CCCN bao gồm 6 phần riêng: (1) Các quy định chung vàđịnh nghĩa, có 18 điều khoản; (2) Quy định về các vấn đề chuyển nhượng,chuyển giao và ký hậu; (3) Quy định về việc thực hiện CCCN; (4) Quy định vềtrách nhiệm của các bên; (5) Quy định về từ chối CCCN; (6) Quy định về miễntrừ và thanh toán CCCN
Ở Trung Quốc, phiên họp thứ 13-kỳ họp thứ 8 của Ủy ban thường vụ Đạihội đại biểu Nhân dân Trung Hoa đã thông qua Luật các CCCN, có hiệu lực từ
ngày 01/01/1996 Luật các CCCN của Trung Quốc gồm 7 chương, 111 điều,
điều chỉnh các hoạt động liên quan đến CCCN nhằm đáp ứng yêu cầu pháp điểnhóa các thông lệ liên quan tới CCCN.[24]
Ở Việt Nam, CCCN tuy chưa thực sự phát triển và được sử dụng rộngsong cũng đã được điều chỉnh và quy định trong hệ thống Luật Việt Nam Trongthời kỳ áp dụng cơ chế tập trung, bao cấp, Nhà nước can thiệp sâu trong hoạtđộng kinh tế, các tổ chức kinh tế, công dân chưa được tự do kinh doanh; phápluật kinh doanh nói chung cũng như pháp luật thương mại chưa được chú trọng.Điều này chỉ thực sự được đổi mới và phát triển từ khi Đảng và Nhà nướcchuyển hướng phát triển nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong hoàn cảnh đó, thươngphiếu và pháp luật thương phiếu chỉ được đề cập trong những năm gần đây Cácquy định liên quan tới thương phiếu bắt đầu xuất hiện rải rác trong Luật Thươngmại năm 1997, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997, Luật các tổ chứctín dụng năm 1998 Sau này, các quy định được tổng hợp trong Pháp lệnhThương phiếu năm 1999 và Nghị định số 32/NĐ-CP của Chính phủ ngày05/07/2001 hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh thương phiếu Tuy nhiênnhững văn bản pháp luật này vẫn chưa thực sự tạo một môi trường pháp lý thuậntiện cho thương phiếu hoạt động Xuất phát từ nhu cầu phát triển của các hoạt
Trang 26động kinh tế liên quan đến các CCCN, Luật Các công cụ chuyển nhượng đãđược Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lựcthi hành kể từ ngày 1/7/2006 Luật các CCCN Việt Nam năm 2005, là văn bảnpháp lý cao nhất điều chỉnh việc phát hành và sử dụng các CCCN của Việt Nam.Luật này thay thế Pháp lệnh thương phiếu năm 1999 và các văn bản quy phạmpháp luật khác về thương phiếu và séc trên cơ sở kế thừa những nội dung cũ vàđồng thời có những quy định mới cho phù hợp với thực tiễn thương mại trongnước và quốc tế.
Nhìn chung trên thế giới, tồn tại song song hai hệ thống luật điều chỉnh vềCCCN nói chung: Geneval Legal System và Anglo-American Legal System
Geneval Legal System là hệ thống luật chịu ảnh hưởng của Công ước Giơnevơ
1930 (điều chỉnh hối phiếu, kỳ phiếu) và Công ước Giơnevơ 1931 (điều chỉnhSéc) bao gồm các nước vốn là thành viên của Công ước, các nước XHCN Đông
Âu trước đây như: Ba Lan, Hungary, Albani, Bulgari, Rumani… và các nướcthuộc địa trước đây của các nước thành viên Công ước như: Indonesia, Đài
Loan, Hàn Quốc, Oman, Thái Lan, Mông Cổ, Việt Nam Hệ thống American Legat System là hệ thống luật điều chỉnh về CCCN chịu ảnh hưởng
Anglo-của luật Anh-Mỹ bao gồm luật Anglo-của Anh, Mỹ và các nước thuộc địa Anglo-của hai nướcnày trước đây như Hồng Kông, Ấn Độ, Singapore, Phillipines, Srilanka,Pakistan, Scotland, Ireland… Hai hệ thống luật này ngoài một số điểm khác biệtriêng thì nhìn chung là tương tự nhau
1.4 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CCCN
1.4.1 Tín dụng thương mại
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, hoạt động trao đổithương mại ngày càng được mở rộng, kéo theo nhu cầu vốn rất lớn nhằm đápứng quy mô và giá trị ngày càng tăng của giao lưu thương mại Để thỏa mãn nhucầu về vốn kinh doanh của mình, các thương nhân vì không thể tự mình có đủ số
Trang 27vốn cần thiết nên có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau như vay vốn ngânhàng, vay từ các doanh nghiệp, cá nhân khác… Quá trình tuần hoàn vốn tiền tệtrong nền kinh tế hàng hóa luôn tồn tại một mâu thuẫn vốn có là trong khi có một
số chủ thể kinh tế thừa vốn (dưới dạng hàng hóa hoặc tiền tệ) thì một số chủ thểkinh tế khác lại thiếu vốn, có nhu cầu về vốn Trên thực tế, do có sự khác biệt vềchu kỳ sản xuất - kinh doanh giữa các doanh nghiệp, việc thừa vốn ở doanhnghiệp này và thiếu vốn ở doanh nghiệp khác là hiện tượng phổ biến và có tínhtất yếu Trong điều kiện thành phẩm của doanh nghiệp thừa vốn lại là nguyên,nhiên, vật liệu của doanh nghiệp thiếu vốn, nếu quan hệ mua bán chịu được thựchiện trong một thời gian nhất định thì cả hai đều có lợi Khi đó, tín dụng thươngmại ra đời như là đòi hỏi tất yếu cho sự phát triển của quá trình tái sản xuất hànghóa Thực tế cho thấy, các thương nhân thường dựa trên lòng tin và sự tín nhiệm
để bán hàng và cung ứng dịch vụ trả chậm cho người mua Đây là hình thức tíndụng trực tiếp trong quan hệ thương mại giữa các thương nhân Các công cụ tíndụng từ đó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của tín dụng thương mại Đểđảm bảo người mua chịu trả nợ khi đến hạn, bên cạnh sự tin tưởng, người bánchịu còn đòi hỏi phải có một chứng chỉ pháp lý, đó chính là giấy tờ chứng nhậnquan hệ mua bán chịu, giấy chứng nhận này có thể là chủ nợ lập để đòi tiền hoặc
do con nợ lập để cam kết trả tiền (chính là hình thức của hối phiếu và kỳ phiếu)
Vì vậy, CCCN được hình thành trên cơ sở đáp ứng nhu cầu mua bán chịugiữa các chủ thể trong nền kinh tế Hay nói cách khác, cơ sở kinh tế ban đầu củaCCCN chính là tín dụng thương mại Sự ra đời và phát triển của tín dụng thươngmại tạo nền tảng cho sự hình thành và phát triển CCCN trong hoạt động kinh tế
Trong giai đoạn sơ khai, hình thức biểu hiện của các công cụ tín dụng làcác văn bản nhận nợ và cam kết trả nợ của các bên trong hợp đồng mua bán Đây
là hình thức manh nha của thương phiếu Cùng với sự phát triển của kinh tế hànghóa, quan hệ mua bán chịu giữa các thương nhân trở nên phức tạp, đòi hỏi phải
Trang 28cho ra đời một công cụ tín dụng thay cho tiền tệ thực hiện chức năng lưu thông
để thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong quan hệ mua bán chịu, đó là thươngphiếu Đến thế kỷ XII, các thương gia thành phố cảng nước Italia là những ngườiđầu tiên phát hành và sử dụng thương phiếu, nhưng mới chỉ là hối phiếu nhận
nợ Theo hình thức hối phiếu nhận nợ này, người ký phát (người lập văn bản)cam kết sẽ thanh toán cho người thụ hưởng số tiền tương ứng (có trừ một phầnphí dịch vụ) tại nơi khác, thường bằng đồng nội tệ của nơi thanh toán Đây làhình thức hối phiếu nhận nợ đầu tiên được phát hành trên cơ sở giao dịch ủy thácthanh toán hoặc chuyển tiền
Đến thế kỷ XIV-XV, trong quan hệ thương mại, các thương nhân duy trìviệc sử dụng hối phiếu đòi nợ, nhưng chưa có hình thức ký chấp nhận của người
bị ký phát Tại miền Nam nước Pháp, các thương gia đổi tiền đã thực hiện việcthanh toán bù trừ giữa các khoản vay và cho nhau trên cơ sở thương phiếu Thế
kỷ XVI, những người thành Florenz và thành Genua thuộc nước Italia đã tạo racách ký nhượng thương phiếu và từ đó thương phiếu được sử dụng như mộtchứng phiếu lưu thông tín dụng
Nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các bên khi tín dụng thươngmại phát triển, CCCN dần dần biến đổi tính chất, từ một giấy chứng nhận nợthông thường đã trở thành một công cụ lưu thông tín dụng có thể thực hiện đượcchức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán thay thế cho tiềnmặt trong nền kinh tế Đến nay, thông qua kỹ thuật chuyển nhượng, thươngphiếu đã được sử dụng như một công cụ thanh toán trong quan hệ thương mạiquốc tế, cũng như trong quan hệ thương mại nội địa của nhiều quốc gia Mặtkhác, thông qua việc phát hành và lưu thông thương phiếu, nó được sử dụng nhưmột công cụ tín dụng giữa người ký phát và người bị ký phát; giữa người ký phát
và người thụ hưởng; hoặc giữa người thụ hưởng và ngân hàng
Trang 29Song, tín dụng thương mại cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực nhất địnhđến việc phát triển CCCN Chẳng hạn, CCCN khó có thể tăng giá trị thanh toán
và thời gian mua bán hàng hóa trong trường hợp nhu cầu mua chịu quá lớn vàthời gian quá lâu Hay do quan hệ mua bán chịu giữa các bên là cơ sở hình thànhCCCN, nên dễ dẫn đến tình trạng hai bên thông đồng nhau lập ra thương phiếukhống để mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố Chính điều này làmcho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là tín dụng hàng hóa không thể tồn tại, sốtiền cho vay được ngân hàng phát ra không có cơ sở đảm bảo Ngoài ra, quan hệmua bán chịu chỉ có thể phát sinh giữa những doanh nghiệp tín nhiệm, có giaodịch thường xuyên với nhau nên chính nhược điểm này đã làm hạn chế số lượngcác doanh nghiệp tham gia vào việc phát hành và sử dụng CCCN trong quan hệvay nợ
Như vậy, tín dụng thương mại là cơ sở cho sự ra đời của CCCN, và CCCNđến lượt nó lại thúc đẩy cho tín dụng thương mại phát triển
1.4.2 Tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại có mối quan hệ mật thiết vớinhau Song bản thân tín dụng thương mại không thể đáp ứng hết nhu cầu của quátrình tái sản xuất trong xã hội Người bán vẫn cần phải duy trì và phát triển sảnxuất trước khi thu hồi hết nợ từ người mua Do đó nó đòi hỏi phải có một tổchức, cá nhân khác đứng ra cấp tín dụng cho người bán theo hợp đồng mua bánchịu được ký kết giữa hai bên mua bán Ngân hàng thương mại ra đời, với tưcách là tổ chức kinh doanh tiền tệ và tín dụng, sẵn sàng mua lại các CCCN vàphát hành các công cụ lưu thông tín dụng như hối phiếu ngân hàng, kỳ phiếungân hàng, séc, chứng chỉ tiền gửi… tạo điều kiện cho quá trình tái sản xuất diễn
ra liên tục và trôi chảy Với đặc điểm là một giấy tờ có giá độc lập hoàn toàn vớigiao dịch kinh tế sản sinh ra nó, CCCN trở thành một công cụ mà người nắm giữ
Trang 30nó có thể chuyển nhượng, chiết khấu hay cầm cố tại ngân hàng và các tổ chức tíndụng khác.
Các ngân hàng tạo nguồn vốn cho mình bằng cách thu hút tiền gửi tiếtkiệm và tiền gửi thanh toán từ các cá nhân và thể nhân Các cá nhân, doanhnghiệp, tổ chức này sau đó có thể rút tiền ra khỏi tài khoản của mình bằng lệnhrút tiền hoặc trao lệnh rút tiền cho người hưởng lợi để người này hưởng lợi sốtiền ghi trên lệnh đó Lệnh rút tiền này chính là hình thức ban đầu của séc vàhiện vẫn được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế và thương mại nội địa
Trong khi sự phát triển của tín dụng thương mại chính là nền tảng cho sự
ra đời của CCCN thì tín dụng ngân hàng bằng việc chiết khấu, cầm cố các giấy
tờ có giá, các cam kết nhận nợ đã góp phần không nhỏ thúc đẩy sự phát triểnCCCN, giúp cho nó được lưu thông dễ dàng và thuận lợi Sự phát triển củaCCCN chịu ảnh hưởng tác động của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàngcàng phát triển phong phú thì các CCCN càng có điều kiện được sử dụng mộtcách thuận tiện, linh hoạt hơn Đây là kết quả tất yếu của sự giải quyết liên tụcnhững mâu thuẩn trong quá trình tái sản xuất
1.5 MỘT SỐ NGHIỆP VỤ LIÊN QUAN ĐẾN CCCN
1.5.1 Nghiệp vụ chiết khấu
Chiết khấu CCCN là việc tổ chức tín dụng mua các CCCN của người thụhưởng trước hạn thanh toán với mức giá do hai bên thỏa thuận, thực chất là hìnhthức cấp tín dụng cho người thụ hưởng CCCN
Việc chiết khấu CCCN của tổ chức tín dụng cần phải đảm bảo một sốnguyên tắc theo luật định và những điều kiện như: (1) Được phát hành hợp pháp
và trên cơ sở giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; (2) Thuộc quyềnthụ hưởng hợp pháp của khách hàng; (3) Không ghi cụm từ “không được chuyểnnhượng”, “cấm chuyển nhượng”, “không trả theo lệnh” hoặc cụm từ khác có ý
nghĩa tương tự (Theo luật CCCN Việt Nam 2005) Khi chiết khấu CCCN, người
Trang 31thụ hưởng chỉ được nhận một phần mệnh giá, gọi là thị giá chiết khấu Thị giáchiết khấu phụ thuộc nhiều yếu tố như: chính sách chiết khấu và tái chiết khấucủa Ngân hàng trung ương, quan hệ cung-cầu về CCCN, mức độ rủi ro mà các tổchức tín dụng gặp phải từ việc thu tiền của CCCN trong tương lai, tỷ lệ rủi rophát sinh từ sự chênh lệch giữa mệnh giá CCCN và số tiền được đảm bảo thanhtoán… Người thụ hưởng CCCN phải thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng CCCN
đó cho tổ chức tín dụng chiết khấu
1.5.2 Nghiệp vụ bao thanh toán CCCN truy đòi và miễn truy đòi (Factoring và Forfaiting)
Factoring và Forfaiting là hình thức phát triển ở mức cao hơn của nghiệp
vụ chiết khấu Bao thanh toán được hiểu là loại hình chiết khấu trọn gói tất cảcác khoản thu của nhà xuất khẩu hoặc người bán trong một thời gian nhất địnhtheo những điều kiện quy định trong hợp đồng bao thanh toán ký kết giữa cáctrung gian tài chính và người xuất khẩu hoặc người bán với một tỷ suất chiếtkhấu thỏa thuận
- Bao thanh toán truy đòi (Recourse Factoring): là nghiệp vụ thanh toán
mà công ty bao thanh toán chịu trách nhiệm thu nợ từ người mua hàng nhưngcông ty bao thanh toán vẫn giữ quyền truy đòi đối với khách hàng trong trườnghợp người mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cáckhoản phải thu Như vậy, trong nghiệp vụ Factoring, công ty Factoring sẽ đượcquyền truy đòi lại nhà xuất khẩu hoặc người bán nếu số tiền thu được nhỏ hơnmệnh giá thương phiếu
- Bao thanh toán miễn truy đòi (Non-recourse Factoring): công ty baothanh toán không thực hiện truy đòi đối với khách hàng ngay cả trường hợpngười mua hàng không trả được nợ Công ty bao thanh toán phải chịu toàn bộ rủi
ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cáckhoản phải thu
Trang 32Hai nghiệp vụ bao thanh toán này được thực hiện trên cơ sở hợp đồng baothanh toán dài hạn ký kết giữa trung gian tài chính và người xuất khẩu Baothanh toán được coi là một hình thức tài trợ trực tiếp, lâu dài, ổn định và có hiệuquả đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hoặc bán hàng.
1.5.3 Nghiệp vụ nhờ thu CCCN
Nghiệp vụ nhờ thu CCCN là một hình thức chuyển nhượng đặc biệt vàđang rất phát triển trong thanh toán quốc tế Nghiệp vụ này được sử dụng khingười thụ hưởng CCCN không thể tự mình thu tiền, mà phải ủy quyền cho ngườikhác thu hộ Người được ủy quyền nhờ thu thường là các Ngân hàng thương mại
có quan hệ với bên phải trả tiền theo CCCN và ngân hàng nhờ thu này phải có tưcách pháp lý Để thực hiện nhờ thu, người thụ hưởng CCCN phải tiến hành thủtục chuyển nhượng một phần quyền pháp lý đối với lợi ích tương lai của CCCN(chuyển nhượng quyền thu tiền chứ không phải là chuyển nhượng quyền hưởnglợi) Về mặt hình thức, việc chuyển giao CCCN để nhờ thu được người chủCCCN ghi rõ vào mặt sau của thương phiếu cụm từ “chuyển giao để nhờ thu”,tên ngân hàng thu hộ và ngày tháng năm nhờ thu Ngân hàng thu hộ có quyềnxuất trình thương phiếu và yêu cầu có nghĩa vụ thanh toán thương phiếu khi đếnhạn
1.5.4 Nghiệp vụ bảo lãnh
Nghiệp vụ bảo lãnh là nghiệp vụ mà trong đó trung gian tài chính với tưcách là bên thứ ba cam kết sẽ đảm bảo thanh toán một phần hay toàn bộ số tiềnnếu người trả tiền CCCN không thanh toán Sau khi trả tiền xong, trung gian tàichính đứng ra bảo lãnh sẽ được hưởng tất cả quyền lợi của người thụ hưởng, tức
là quyền được hưởng số tiền ghi trên CCCN, quyền khởi tố những người ký tênchuyển nhượng trên CCCN Bản chất của bảo lãnh CCCN là trung gian tài chínhcấp một khoản tín dụng cho bên yêu cầu bảo lãnh bằng uy tín hoặc tài sản củamình Trong thời gian hiệu lực của bảo lãnh thì sự bảo lãnh này là độc lập và