1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích những vấn đề pháp lý và thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế Liên hợp quốc.

15 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích những vấn đề pháp lý và thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế Liên hợp quốc
Người hướng dẫn P. PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Học viện Chính sách và Phát triển
Chuyên ngành Luật quốc tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 40,22 KB
File đính kèm Công pháp quốc tế.rar (37 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tòa án công lý quốc tế bên cạnh vị trí pháp lý là cơ quan Tư pháp chính của Liên Hợp Quốc còn có thẩm quyền tư vấn pháp luật. Cả về phương diện khoa học, lý luận và thực tiễn, cùng với thẩm quyền giải quyết tranh chấp quốc tế, thẩm quyền tư vấn của ICJ đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển ngày càng hoàn thiện của hệ thống pháp luật quốc tế trong hơn 23 thế kỷ hình thành, tồn tại và phát triển. Nhận thấy được tầm quan trọng đó, bởi vậy, trong bài tiểu luận này em xin được trình bày về đề tài “Phân tích những vấn đề pháp lý và thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế Liên hợp quốc”. Thông qua sự phân tích quy định pháp luật, em sẽ nêu ra thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn của Tòa.

Trang 1

Phân tích những vấn đề pháp lý và thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế

Liên hợp quốc.

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG TƯ VẤN CỦA TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC TẾ 1

1.Định nghĩa chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế 1

2.Cơ sở pháp lý về thẩm quyền tư vấn ICJ 1

3.Đặc điểm của chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế 2

II.THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỨC NĂNG TƯ VẤN CỦA TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC TẾ 2

1.Chủ thể có thẩm quyền yêu cầu tư vấn 2

2.Nội dung pháp lý yêu cầu tư vấn 3

3.Thủ tục tư vấn của Tòa án công lý quốc tế 4

4.Quyền quyết định của Tòa Công lý quốc tế 5

5.Giá trị pháp lý của ý kiến tư vấn 6

III THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG TƯ VẤN CỦA TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 7

1 Những thành tựu trong thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế 7

2 Một số bất cập, hạn chế và kiến nghị hoàn thiện quy định về chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế 8

KẾT LUẬN 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

CHÚ THÍCH CĂN CỨ PHÁP LÝ 11

Trang 4

MỞ ĐẦU

Tòa án công lý quốc tế bên cạnh vị trí pháp lý là cơ quan Tư pháp chính của Liên Hợp Quốc còn có thẩm quyền tư vấn pháp luật Cả về phương diện khoa học, lý luận và thực tiễn, cùng với thẩm quyền giải quyết tranh chấp quốc tế, thẩm quyền tư vấn của ICJ đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển ngày càng hoàn thiện của

hệ thống pháp luật quốc tế trong hơn 2/3 thế kỷ hình thành, tồn tại và phát triển Nhận thấy được tầm quan trọng đó, bởi vậy, trong bài tiểu luận này em xin được trình bày

về đề tài “Phân tích những vấn đề pháp lý và thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế Liên hợp quốc” Thông qua sự phân tích quy định

pháp luật, em sẽ nêu ra thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn của Tòa

NỘI DUNG

CÔNG LÝ QUỐC TẾ

1 Định nghĩa chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế

Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) là cơ quan tư pháp chính của Liên hợp quốc, được

thành lập vào năm 1945 trên cơ sở kế thừa Toà án Thường trực Công lý quốc tế với hai

chức năng cơ bản: (1) xét xử các tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia – chủ thể của luật quốc tế và (2) cho ý kiến tư vấn về những vấn đề pháp lý được yêu cầu bởi các cơ quan chính và những tổ chức chuyên biệt của Liên Hợp Quốc

Chức năng tư vấn pháp lý của Toà án quốc tế có thể được hiểu là việc Toà án đưa ra các ý kiến và câu trả lời đối với các câu hỏi pháp lý được đệ trình lên Tòa án và các ý kiến tư vấn này của Toà án không mang tính chất ràng buộc về mặt pháp lý nhưng cũng được coi là một cách thức làm rõ những khúc mắc không chỉ đối với các

cơ quan trong LHQ mà còn cả các quốc gia khi tiến hành hoạt động của mình

2 Cơ sở pháp lý về thẩm quyền tư vấn ICJ.

Thẩm quyền tư vấn của ICJ được thực hiện theo quy định tại Chương XIV Điều

96 Hiến chương Liên hợp quốc và được cụ thể hoá tại Chương IV (từ Điều 65 đến Điều 68) Quy chế ICJ năm 1945; khoản 1 Điều 9, khoản 1 (điểm b, h, i) Điều 26 và

Trang 5

phần IV (từ Điều 102 đến Điều 109) Bộ Quy tắc của ICJ năm 1978 ; Mục 1 phần XII của Hướng dẫn thực tiễn ngày 20/01/2009 (được sửa đổi, bổ sung ngày 21/3/2013) Về bản chất, hoạt động tư vấn của Tòa ICJ là một thủ tục có vai trò quan trọng nhằm giải đáp, làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý mà các cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu tư vấn gặp phải trong khi thực hiện thẩm quyền của mình Tư vấn pháp luật quốc tế là thẩm quyền đặc biệt và riêng có của các toà án thường trực ( ICJ và ITLOS - Toà án quốc tế

về Luật Biển được thành lập theo Phụ VI Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982), còn các toà trọng tài vụ việc (ad hoc) không có thẩm quyền này

3 Đặc điểm của chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế

Thứ nhất, mặc dù không trực tiếp giải quyết các tranh chấp quốc tế, nhưng trên

thực tế, ý kiến tư vấn vẫn có ý nghĩa trong việc gián tiếp hỗ trợ giải quyết tranh chấp quốc tế

Thứ hai, ý kiến tư vấn còn có ưu điểm là ít tốn kém về chi phí, thời gian và thủ

tục Thông thường, thời gian tiêu tốn của các Toà án quốc tế đối với các tranh chấp song phương giữa các quốc gia là từ 3 đến 4 năm, thậm chí có trường hợp Toà án phải mất 9 năm để giải quyết tranh chấp này Đối với việc đưa ra các ý kiến tư vấn pháp lý, các Toà án quốc tế thường chỉ mất từ 1 đến 2 năm

Thứ ba, chức năng tư vấn còn mang tính chất thiện chí và hoà bình hơn vì nó

không đi kèm theo rủi ro thua kiện so với việc giải quyết tranh chấp trực tiếp qua con đường tố tụng

Thứ tư, ý kiến tư vấn có thể là bước đệm chuẩn bị cho việc tố tụng vì các tuyên

bố chính thức của Toà án có thể là cơ sở cho những lập luận cho những thủ tục tố tụng tiếp theo

CỦA TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC TẾ.

1 Chủ thể có thẩm quyền yêu cầu tư vấn.

Khoản 1 Điều 96 Hiến chương Liên Hợp Quốc và Điều 65 Quy chế Tòa án quốc

tế quy định chủ thể có thẩm quyền đề nghị Tòa ICJ cho ý kiến tư vấn là Đại hội đồng

2

Trang 6

và Hội đồng Bảo an, hai chủ thể có quyền yêu cầu ICJ tư vấn về bất kỳ một vấn đề pháp lý nào Theo Hiến chương, đây là quyền chứ không phải nghĩa vụ bắt buộc của hai cơ quan này Ngược lại, ICJ cũng không có thẩm quyền đưa ra ý kiến tư vấn nếu không được ĐHĐ và HĐBA hỏi Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 96 quy định mở rộng quyền yêu cầu tư vấn đối với các cơ quan khác của LHQ và các tổ chức chuyên môn ở bất kì thời điểm nào liên quan đến vấn đề pháp lý phát sinh trong phạm vi hoạt động của mình

Khác với các vụ tranh chấp giữa các quốc gia (contentious cases) Các cơ quan khác của Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên biệt cũng chỉ khi được Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an trao quyền thì mới có thể đề nghị Tòa ICJ cho ý kiến tư vấn Phạm vi xin ý kiến tư vấn của các cơ quan khác và tổ chức chuyên biệt của Liên hợp quốc cũng hẹp hơn so với Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Các cơ quan khác và tổ chức chuyên biệt đó chỉ có thể xin ý kiến về những vấn đề pháp lý thuộc phạm vi hoạt động của mình trong khi Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an có quyền đề nghị Tòa ICJ tư vấn trong bất kỳ lĩnh vực pháp lý nào Điều 96 Hiến chương Liên hợp quốc 1945 quy định rõ:

1 Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an có thể yêu cầu Tòa án Công lý Quốc tế đưa

ra ý kiến tư vấn trong bất kỳ vấn đề pháp lý nào

2 Những tổ chức khác của Liên hợp quốc và những tổ chức chuyên biệt, bất kỳ lúc nào được Đại hội đồng trao quyền, cũng có thể xin ý kiến tư vấn của Tòa về những vấn đề pháp lý phát sinh trong phạm vi hoạt động của mình

2 Nội dung pháp lý yêu cầu tư vấn.

Nội dung yêu cầu tư vấn phải là câu hỏi pháp lý dù mang tính lý thuyết hay liên quan tới tranh chấp hiện hữu chẳng hạn như việc giải thích một điều khoản trong điều ước về vấn đề nhất định

Thứ nhất, yêu cầu tư vấn có thể là một câu hỏi nặng tính lý thuyết và không rõ

ràng Ví dụ: Trong vụ Legality of Threat or use of Nuclear Weapons, yêu cầu tư vấn

được đặt ra đối với tòa bị cho là quá khái quát và mơ hồ, bởi không tồn tại một tranh

Trang 7

chấp cụ thể nào có liên quan Tuy nhiên, ICJ đã nhắc lại lại kết luận của mình rằng, chức năng tư vấn của Tòa không để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia mà chỉ cung cấp tư vấn pháp lý cho cơ quan có yêu cầu, vì vậy, Tòa sẽ trả lời bất kỳ câu hỏi pháp lý dù nặng tính lý thuyết

Thứ hai, yêu cầu tư vấn có thể là một câu hỏi mang tính chính trị Ví dụ: Lập

luận phản đối thẩm quyền tư vấn của ICJ trong vụ liên quan đến kết nạp thành viên Quốc gia mới vào Liên Hợp Quốc những năm 1950 Việc tiếp nhận thành viên mới tại LHQ sau chiến tranh thế giới thứ II vốn là một vấn đề gây tranh luận chính trị rất lớn, theo đó, các quốc gia thường trực trong HĐBA thường sử dụng quyền biểu phủ quyết veto của mình để ngăn cản kết nạp thành viên mới Năm 1949 đại hội đầu đã tiến hành hỏi ý kiến về việc kết nạp thành viên mới mà không cần khuyến nghị từ phía Hội đồng Bảo an Khi tư vấn ICJ đã kết luận khía cạnh chính trị của câu hỏi không làm mất đi bản chất pháp lý của nó và tòa không quan tâm tới động cơ của cơ quan hỏi ý kiến tư vấn hay vụ việc cụ thể dẫn đến câu hỏi tư vấn.1

Thứ ba, yêu cầu tư vấn thiếu tính rõ ràng do quá trình soạn thảo gấp rút cũng

không làm mất đi thẩm quyền của ICJ Thậm chí trong một số trường hợp Tòa còn được quyền mở rộng, giải thích và đặt lại câu hỏi cho phù hợp với mục tiêu của cơ quan yêu cầu tư vấn

3 Thủ tục tư vấn của Tòa án công lý quốc tế.

Dựa trên cơ sở pháp lý được quy định từ Điều 65 đến Điều 68 của Quy chế ICJ

và thực tiễn tư vấn của ICJ, có thể khái quát việc ICJ thực hiện thẩm quyền tư vấn theo

03 bước sau đây:

Bước 1: Cơ quan, tổ chức yêu cầu gửi yêu cầu và hồ sơ, tài liệu liên quan đến

vấn đề tư vấn cho ICJ

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 65 Quy chế ICJ, các cơ quan, tổ chức yêu cầu

tư vấn phải gửi câu hỏi bằng văn bản và các hồ sơ, tài liệu liên quan đến vấn đề tư vấn

cho ICJ Ví dụ: năm 1975, Đại hội đồng yêu cầu ICJ tư vấn về vấn đề liên quan đến

1 Nguyễn Tiến Đức, Đỗ Quí Hoàng (2017), Chức năng tư vấn của Tòa công lý quốc tế và gợi mở cho

Việt Nam, Nhà nước và Pháp luật, (3), tr 76 - 84.

4

Trang 8

quy chế pháp lý của vùng lãnh thổ Tây Sahara, văn bản, hồ sơ, tài liệu mà Đại hội đồng gửi cho ICJ bao gồm: Thư của Tổng ký Liên hợp quốc gửi cho Chánh án của ICJ và Nghị quyết số 3292 (XXIX) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 13/12/1974 yêu cầu ICJ tư vấn đối với câu hỏi “Tây Sahara (Rio de Oro et Sakiet El Hamra) vào thời điểm chịu sự thuộc địa của Tây Ban Nha là lãnh thổ vô chủ hay không (tera nullius)?”

Bước 2: Thư ký ICJ thông báo cho các quốc gia, cơ quan, tổ chức liên quan và

tổng hợp các hồ sơ, tài liệu liên quan đến yêu cầu tư vấn

Theo quy định tại Điều 66 của Quy chế ICJ Theo quy định tại Điều 66 của Quy chế ICJ, sau khi nhận được yêu cầu tư vấn, thư ký của ICJ sẽ thông báo cho tất cả các quốc gia có quyền tham gia Ngoài ra, thư ký của ICJ sẽ gửi thông báo đặc biệt cho quốc gia bất kỳ nào có quyền tham dự và bất kỳ tổ chức quốc tế nào có thể (theo ý kiến của Chủ tịch, nếu ICJ không họp) cung cấp những tin tức về vấn đề cụ thể Nếu quốc gia có quyền tham dự tại ICJ mà không nhận được thông báo đặc biệt, quốc gia đó có thể bày tỏ nguyện vọng được đệ trình bản báo cáo bằng văn bản hoặc được nghe ICJ thông qua quyết định về các vấn đề đó

Các quốc gia và tổ chức quốc tế đã đệ trình báo cáo bằng văn bản hoặc bằng lời cho ICJ sẽ được thảo luận các báo cáo đó theo hình thức, giới hạn và trong thời hạn do ICJ hoặc Chủ tịch ICJ quyết định nếu như ICJ không họp Trong thời hạn cần thiết, thư

ký của ICJ phải thông báo, tất cả báo cáo bằng văn bản đó cho các quốc gia và tổ chức quốc tế đã gửi báo cáo tương tự”

Bước 3: Ra kết luận tư vấn Theo quy định tại Điều 67 Quy chế ICJ, ICJ sẽ đưa

ra kết luận tư vấn của mình trong phiên họp công khai đã được báo trước cho Tổng thư

ký và các đại diện của các thành viên Liên hợp quốc trực tiếp có liên quan và cho đại diện của các quốc gia và các tổ chức quốc tế khác Phiên họp này diễn ra tại trụ sở ICJ tại La Haye dưới sự chủ trì của Chủ tịch ICJ.2

4 Quyền quyết định của Tòa Công lý quốc tế.

2 Ngô Hữu Phước (2018), Thẩm quyền tư vấn pháp luật của Tòa án công lý quốc tế, Nhà nước và Pháp luật, (7), tr 52 - 61.

Trang 9

Theo quy định tại Điều 96 của Hiến Chương Liên Hợp Quốc, ICJ sẽ chấp nhận cho ý kiến tư vấn nếu hội tụ 02 điều kiện tiên quyết: (1) cơ quan, tổ chức đó có quyền yêu cầu cho ý kiến tư vấn; (2) câu hỏi yêu cầu tư vấn phải là một vấn đề mang tính pháp lý

Khoản 1 Điều 65 Quy chế của ICJ cũng quy định “Tòa có thể cung cấp ý kiến Tòa án có thể có những kết luận tư vấn về một vấn đề pháp luật bất kỳ nào theo yêu cầu của một cơ quan bất kỳ được chính Hiến chương Liên hợp quốc hay theo đúng bản quy chế này, cho toàn quyền được yêu cầu” Như vậy có thể hiểu trong trường hợp thấy không phù hợp ICJ có quyền quyết định từ chối đưa ra ý kiến tư vấn Tòa lập luận chỉ từ chối trả lời tư vấn khi tồn tại một lý do thuyết phục ảnh hưởng tới chức năng tư vấn của Tòa Chẳng hạn khả năng tiếp cận tư liệu và bằng chứng liên quan tới vụ việc cũng là một yếu tố Tòa có thể xem xét từ chối tư vấn hoặc câu hỏi của cơ quan xin tư vấn đưa ra vượt quá yêu cầu chuyên môn của Tòa; cơ quan, tổ chức không có quyền yêu cầu ICJ tư vấn hoặc vấn đề cần tư vấn không thuộc phạm vi thẩm quyền của họ…

Ví dụ: Năm 1996, Tổ chức Y tế thế giới (WTO) đã yêu cầu ICJ tư vấn một vấn đề liên

quan đến “tính hợp pháp của việc sử dụng vũ khí hạt nhân trong xung đột vũ trang” Tuy nhiên ICJ đã từ chối đưa ra ý kiến tư vấn với lý do câu hỏi này không nằm trong phạm vi hoạt động của WHO theo quy định tại khoản 2 điều 96 Hiến Chương Liên Hợp Quốc

5 Giá trị pháp lý của ý kiến tư vấn.

Các ý kiến tư vấn của ICJ chỉ mang tính chất khuyến nghị chứ không có giá trị ràng buộc pháp lý Nó thể hiện quan điểm của Tòa về các nguyên tắc pháp lý quốc tế

có liên quan tới câu hỏi, chứ không ràng buộc bất kỳ một quốc gia hay cơ quan nào

phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành động nhất định Ví dụ: Trong vụ

Western Sahara3, Toà ICJ cũng thừa nhận ý kiến tư vấn không ràng buộc pháp lý

Mặc dù không có hiệu lực ràng buộc như phán quyết về việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia nhưng ý kiến tư vấn của ICJ vẫn có giá trị thực tiễn đăc biệt quan trọng và trở thành một biện pháp ngoại giao, giữ gìn hòa bình cũng như là đóng

3 https://www.icj-cij.org/en/case/61

6

Trang 10

góp vào sự phát triển của luật quốc tế Bởi lẽ, để có được một kết luận tư vấn, ICJ phải vận dụng, phân tích quan điểm của các quốc gia, các cơ quan, tổ chức quốc tế, các hồ

sơ, tài liệu được các bên liên quan gửi đến cho ICJ; viện dẫn, phân tích các quy định pháp luật quốc tế để làm sáng tỏ vấn đề Đồng thời, ICJ cũng liên hệ với các phán quyết mà mình đã giải quyết trong thực tiễn để đưa ra một kết luận tư vấn thuyết phục với các bên liên quan Vì vậy, ý kiến của Tòa đương nhiên có sức nặng nhất định, giúp các bên có liên quan hiểu và áp dụng luật pháp quốc tế hiệu quả hơn

Trong một số trường hợp ý kiến tư vấn của tòa có thể mang tính chất bắt buộc

đối với các cơ quan và tổ chức hỏi ý kiến nếu có quy định ràng buộc từ trước đó Ví

dụ: Điều VIII Công ước Ưu đãi Miễn trừ của LHQ, Điều IX Công ước Ưu đãi Miễn

trừ của các Cơ quan Chuyên môn quy định ý kiến tư vấn của Toà được chấp nhận là ràng buộc giữa các bên Ý kiến tư vấn của Toà ICJ liên quan tới phán quyết của Toà Hành chính thuộc Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng có giá trị bắt buộc

LÝ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN.

1 Những thành tựu trong thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế.

Trải qua hơn 75 năm thành lập, ICJ đã giải quyết và cho ý kiến tư vấn hơn 160

vụ việc, được đánh giá là một cơ quan tài phán quốc tế uy tín bậc nhất giúp hoà bình giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, cũng như góp phần tích cực cho sự phát triển của luật pháp quốc tế.4 Trong các vấn đề pháp lý nói chung, Tòa đã đưa ra các kết luận tư vấn về giải thích các bảo lưu của Công ước chống tội ác diệt chủng, về vấn đề tính hợp pháp của việc các quốc gia sử dụng vũ khí nguyên tử trong các cuộc xung đột vũ trang, giải thích các công ước hòa bình Các kết luận tư vấn của tòa cũng đóng góp vào việc giải quyết xung đột giữa các quốc gia như kết luận về quy chế lãnh thổ của Tây Sahara và Tây Nam Phi, tính hiệu lực của các nghị quyết của Hội đồng Bảo an…

4 https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat-the-gioi/mot-so-diem-dang-chu-y-trong-phan-quyet-cua-icj-ve-phan-dinh-bien-giua-somalia-va-kenya5491.html

Ngày đăng: 04/09/2023, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tòa án có thể có những kết luận tư vấn về một vấn đề pháp luật bất kỳ nào theo yêu cầu của một cơ quan bất kỳ được chính Hiến chương Liên hợp quốc hay theo đúng bản quy chế này, cho toàn quyền được yêu cầu Sách, tạp chí
Tiêu đề: của một cơ quan bất kỳ được chính Hiến chương Liên hợp quốc hay theo đúng bản quy chế
2. Các vấn đề mà kết luận tư vấn của Tòa án được sửa chữa dựa theo nó, được trình lên Tòa án bằng đơn trình bày chính xác vấn đề để yêu cầu kết luận, kèm theo tất cả tài liệu có thể dùng để làm sáng tỏ vấn đề.Điều 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: án bằng đơn trình bày chính xác vấn đề để yêu cầu kết luận, kèm theo tất cả tài liệu có thể"dùng để làm sáng tỏ vấn đề
2.Ngoài ra, thư ký Tòa án bằng cách giữ đặc biệt và trực tiếp thông báo cho một quốc gia bất kỳ có quyền đến Tòa án cũng như cho một tổ chức quốc tế bất kỳ nào có thể (theo ý kiến của Chủ tịch Tòa án, nếu như Tòa án không họp) cung cấp những tin tức về vấn đề cụ thể nào đó, rằng Tòa án sẵn sàng nhận trong thời hạn Chủ tịch đã quy định, tất cả những tài liệu văn bản báo cáo bằng lời trong phiên họp công khai được triệu tập nhằm mục đích đó Sách, tạp chí
Tiêu đề: kỳ có quyền đến Tòa án cũng như cho một tổ chức quốc tế bất kỳ nào có thể (theo ý kiến của"Chủ tịch Tòa án, nếu như Tòa án không họp) cung cấp những tin tức về vấn đề cụ thể nào đó,"rằng Tòa án sẵn sàng nhận trong thời hạn Chủ tịch đã quy định, tất cả những tài liệu văn bản
3. Nếu như quốc gia có quyền đến Tòa án không nhận được thông báo đặc biệt đã được nhắc nhở ở điểm 2 của điều này thì quốc gia đó có thể bày tỏ nguyện vọng được đệ trình bản báo cáo bằng văn bản hay được nghe Tòa án thông qua quyết định về các vấn đề đó Sách, tạp chí
Tiêu đề: nhở ở điểm 2 của điều này thì quốc gia đó có thể bày tỏ nguyện vọng được đệ trình bản báo
1. Thư ký Tòa án nhanh chóng báo tin về đơn có yêu cầu kết luận tư vấn cho tất cả các quốc gia có quyền tham gia vào Tòa án Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w