1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luật tố tụng dân sự: phân tích, đánh giá các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong giải quyết vụ án dân sự

16 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật tố tụng dân sự: phân tích, đánh giá các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong giải quyết vụ án dân sự
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật tố tụng dân sự
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 40,09 KB
File đính kèm Luật tố tụng dân sự.rar (37 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền tự định đoạt của nguyên đơn là quyền tố tụng của nguyên đơn trong việc tự quyết định về quyền, lợi ích hợp pháp và lựa chọn các biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích đó bằng những hành vi cụ thể dựa trên cơ sở ý chí tự nguyện của chính họ. Nhận thấy được vai trò quan trọng đó, bởi vậy, trong bài tiểu luận này em xin được phân tích, đánh giá các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong giải quyết vụ án dân sự, từ đó đưa ra kiến nghị để hoàn thiện quy định pháp luật

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA NGUYÊN ĐƠN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 1

1 Khái niệm về quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong giải quyết vụ án dân sự 1

2 Quy định pháp luật về quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong giải quyết vụ án dân sự 2

2.1 Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong việc khởi kiện vụ án dân sự 2

2.2 Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu. 2

2.3 Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong thỏa thuận giải quyết vụ án dân sự. 3

2.4 Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong việc kháng cáo, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu kháng cáo đối với bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự 4

II THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA NGUYÊN ĐƠN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 5

III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA NGUYÊN ĐƠN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 6

KẾT LUẬN 6

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 7

CHÚ THÍCH QUY ĐỊNH BLTTDS NĂM 2015 8

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 HĐXX Hội đồng xét xử

Trang 3

MỞ ĐẦU

Quyền tự định đoạt của nguyên đơn là quyền tố tụng của nguyên đơn trong việc tự quyết định về quyền, lợi ích hợp pháp và lựa chọn các biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích đó bằng những hành vi cụ thể dựa trên cơ sở ý chí tự nguyện của chính họ Nhận thấy được vai trò quan trọng đó, bởi vậy, trong bài tiểu luận này em xin được phân tích, đánh giá các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong giải quyết vụ án dân sự, từ đó đưa ra kiến nghị để hoàn thiện quy định pháp luật Trong quá trình làm bài có thể có những sai sót, em rất mong các thầy cô có thể bỏ qua cho em và em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thiện tốt hơn về nhận thức của mình đối với môn Luật Tố tụng Dân sự Em xin chân thành cảm ơn

NỘI DUNG

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA NGUYÊN ĐƠN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ.

1 Khái niệm về quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong giải quyết vụ án dân sự.

Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực phụ trách hoặc được người khác khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích

hợp pháp của họ Về khái niệm Vụ án dân sự thì có thể hiểu đó là vụ việc phát sinh tại Tòa án

mà giữa các bên đương sự trong vụ việc đó có tranh chấp, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ dân

sự mà bản thân họ không thể tự giải quyết được nên họ yêu cầu Tòa án giải quyết, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cộng hay của Nhà nước.1

Điều 5 BLTTDS năm 2015 đã quy định về quyền quyết định và tự định đoạt của đương

sự Từ quy định đó, có thể hiểu, quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong giải quyết vụ án dân

sự là nhóm quyền tố tụng của nguyên đơn trong việc tự quyết định về việc bảo vệ quyền, lợi

ích của mình thông qua thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án và quyền tự quyết định về quyền, lợi ích đó thông qua việc thỏa thuận với đương sự khác Nội dung của quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong vụ án dân sự bao gồm Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong việc khởi kiện vụ án dân sự, Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu, Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong thỏa thuận giải quyết vụ án dân sự, Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong việc kháng cáo, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu kháng cáo đối với bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự

1 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Nxb Đại học Quốc gia

TP Hồ Chí Minh.

1

Trang 4

2 Quy định pháp luật về quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong giải quyết vụ án dân sự.

2.1 Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong việc khởi kiện vụ án dân sự.

Việc khởi kiện là yếu tố đầu tiên thể hiện rõ nhất quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong việc giải quyết vụ án dân sự và cũng là cơ sở cho việc phát sinh các quyền tiếp theo trong quá trình tố tụng Điều 186 BLTTDS năm 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự như sau: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đối với quyền khởi kiện thì điều cơ bản nhất người khởi kiện cần biết đó là khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể tự mình hoặc thông qua người khác để khởi kiện Về nguyên tắc, chỉ có cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích

bị xâm phạm mới có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình Nhưng có trường hợp ngoại lệ quy định tại Điều 187 BLTTDS năm 2015 về quyền khởi kiện vụ án dân

sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước Việc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khởi kiện hoàn toàn không vi phạm nguyên tắc tự định đoạt của đương sự Một trường hợp ngoại lệ nữa là đối với những cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng mà có quyền lợi cần phải được bảo vệ thì họ không thể tự mình khởi kiện

vụ án được mà phải do người đại diện thay mặt để thực hiện việc khởi kiện vụ án

Bên cạnh quyền tự định đoạt trong việc khởi kiện hay yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự thì nguyên đơn còn được tự định đoạt việc khởi kiện hay không khởi kiện lại vụ án dân

sự đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực Để đảm bảo quyền khởi kiện và quyền tự định đoạt trong việc khởi kiện của đương sự, điểm b khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm

2015 quy định các trường hợp ngoại lệ đương sự có quyền khởi kiện lại

2.2 Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu.

Thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện là quyền của nguyên đơn trong TTDS, thể hiện quyền quyết định và tự định đoạt của họ 2 Nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện là việc nguyên đơn đưa ra một yêu cầu khởi kiện khác với yêu cầu ban đầu của họ để Tòa án xem xét, giải quyết trong cùng vụ án Bên cạnh đó, việc rút đơn khởi kiện là do nguyên đơn tự quyết định, việc rút yêu cầu này thể hiện việc nguyên đơn không còn muốn Tòa án giải quyết vụ việc của mình nữa và việc rút yêu cầu, rút đơn của họ sẽ làm chất dứt việc giải quyết vụ việc

Để đảm bảo nguyên tắc quyền tự định đoạt của nguyên đơn thì pháp luật tố tụng không hạn chế việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của nguyên đơn ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, ở giai đoạn này thì quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện là quyền tuyệt đối của nguyên đơn Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm thì quyền này của nguyên đơn là quyền tương đối, nguyên đơn vẫn

2 Điều 5; khoản 2 Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2

Trang 5

được quyền thay đổi, bổ sung nhưng không được vượt quá phạm vi, và tùy từng trường hợp mà Hội đồng xét xử chấp nhận một phần hay toàn bộ sự thay đổi, bổ sung.3 Theo quy định tại Điều

299 BLTTDS, trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì HĐXX phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không và tùy từng trường hợp

mà giải quyết như sau: Bị đơn không đồng ý thì HĐXX không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn đồng ý thì HĐXX chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án Như vậy, việc rút yêu cầu ở giai đoạn phúc thẩm bị BLTTDS năm 2015 giới hạn Về hình thức là để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn nhưng lại là hạn chế vì vô tình đã khuyến khích bị đơn theo kiện, không đảm bảo đầy đủ quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong TTDS

Mọi quy định của BLTTDS năm 2015 đã thể hiện rất rõ quyền tự định đoạt của nguyên đơn đó là trong trường hợp: nếu như nguyên đơn đã rút đơn khởi kiện rồi và Hội đồng xét xử

đã ra quyết định đình chi thì nguyên đơn vẫn có quyền khởi kiện lại theo thủ tục mà BLTTDS năm 2015 quy định Qua thực tiễn, có những vụ việc nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu khi họ chưa đủ chứng cứ, tài liệu nên họ tạm thời rút đơn khởi kiện và đến khi họ có đủ chứng cứ chứng minh, tài liệu cần thiết thì hoàn toàn có thể khởi kiện lại nếu như còn thời hiệu khởi kiện.4

2.3 Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong thỏa thuận giải quyết vụ án dân sự.

Điều 5 BLTTDS năm 2015 quy định trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự

có quyền thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội Để tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện được quyền này, Điều 10 BLTTDS năm 2015 quy định: “Tòa án có trách nhiệm hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.” Theo quy định tại Điều 205 BLTTDS năm 2015, thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn Theo quy định tại Điều 212 BLTTDS thì hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không

có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

3 Điều 244 BLTTDS năm 2015.

4 Nguyễn Thị Tuyết (2019), Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại các

Toà án tại tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

3

Trang 6

Điều 246 BLTTDS năm 2015 quy định nếu tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án, Tại Điều 300 BLTTDS năm 2015 quy định nếu tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và sự thỏa thuận của họ là tự nguyện không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thi HĐXX phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Như vậy, BLTTDS năm 2015 đã quy định tương đối đầy đủ các vấn đề liên quan đến hòa giải VADS đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong thỏa thuận giải quyết VADS Tuy vậy, trong trường hợp trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày Tòa án lập biên bản mà đương sự thay đổi thỏa thuận này bằng thỏa thuận khác thì chưa được BLTTDS năm 2015 quy định cụ thể 5

2.4 Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong việc kháng cáo, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu kháng cáo đối với bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự.

Quyền kháng cáo bản án, quyết định giải quyết VADS là một quyền tố tụng cơ bản của đương sự trong đó có nguyên đơn Thông qua việc kháng cáo, nguyên đơn chống lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại VADS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bên cạnh việc quy định nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thì pháp luật tố tụng cũng quy định nguyên đơn có quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo Nếu nguyên đơn thay đổi, bổ sung kháng cáo trong thời hạn kháng cáo quy định tại Điều 273 thì nguyên đơn có quyền thay đổi,

bổ sung nội dung kháng cáo đối với phần bản án, quyết định hoặc toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm mà mình có quyền kháng cáo Điều này vừa bảo đảm quyền kháng cáo của nguyên đơn vừa không ảnh hưởng đến quyền bảo vệ của các đương sự trước Tòa án Theo quy định tại khoản 2 Điều 248 BLTTDS năm 2015 thì tại phiên tòa phúc thẩm, chủ tọa phiên tòa hỏi người kháng cáo có thay đổi, bổ sung kháng cáo không và thời điểm này thì người kháng cáo vẫn được thay đổi, bổ sung nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu Quy định này

là hợp lý, vừa bảo đảm quyền cho đương sự nhưng cũng bảo đảm việc xét xử được thực hiện hiệu quả

Bên cạnh quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo thì nguyên đơn cũng có quyền rút kháng cáo Khi nguyên đơn rút kháng cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án mà nguyên đơn đã rút kháng cáo, nếu trong vụ án không còn kháng cáo của người khác đối với phần của bản án, quyết định sơ thẩm đó Nếu nguyên đơn rút toàn bộ kháng cáo trước khi bắt đầu phiên tòa (mà trong vụ việc không còn

5 Phạm Thị Minh (2017), Đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại các Tòa

án trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

4

Trang 7

kháng cáo, kháng nghị nào khác) thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ra quyết định đình chỉ hoặc tại phiên tòa thì quyết định đình chỉ được Hội đồng xét xử thực hiện Bản án

sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm Đối với trường hợp chỉ rút một phần kháng cáo và việc rút kháng cáo của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu mà nguyên đơn đã rút

Pháp luật còn cho phép cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định được đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại các quyết định, hành vi tố tụng dân tụng dân sự khi có căn cứ cho rằng hành vi, quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của

họ Nguyên đơn có thể tự mình thực hiện quyền khiếu nại hoặc thông qua người đại diện của mình, việc khiếu nại có thể thực hiện trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào Người mà có lợi ích, quyền bị xâm phạm bởi quyết định hành vi trái pháp luật được khôi phục quyền, lợi ích của mình hoặc được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Ngoài ra BLTTDS năm 2015 còn quy định nguyên đơn có quyền khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án trong trường hợp họ có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng không được chấp nhận Quyền khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp này sẽ khắc phục được sai sót của Tòa án đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn

II THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA NGUYÊN ĐƠN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được khi thi hành các quy định pháp luật về quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong giải quyết vụ án dân sự, thì hiện nay trên thực tế vẫn còn tồn tại một

số bất cập như sau:

Thứ nhất, về phía đương sự, do không hiểu biết đầy đủ các quy định của pháp luật nên

nhiều trường hợp đã không thực hiện đúng được các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của mình Trên thực tế, đã không ít trường hợp nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự khi đã hết thời hiệu khởi kiện nên đã bị trả lại đơn khởi kiện Hoặc các trường hợp do các bên đương sự, đặc biệt là phía nguyên đơn không hiểu biết đầy đủ quy định của pháp luật

về thủ tục tố tụng, rút yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm khi Tòa án áp dụng không đúng thủ tục tố tụng, điều đó ít nhiều đã ảnh hưởng đến quyền tự định đoạt của đương sự

Thứ hai, về phía Tòa án, còn có trường hợp không bảo đảm quyền tự định đoạt của

nguyên đơn do sai sót trong việc trả lại đơn khởi kiện, không xem xét hết các yêu cầu của nguyên đơn, xét xử vượt quá yêu cầu Về nguyên lý, vì “việc dân sự cốt ở hai bên” nên Tòa

án phải giải quyết đúng giới hạn mà nguyên đơn yêu cầu Chỉ trong một vài trường hợp ngoại

5

Trang 8

lệ, khi pháp luật nội dung có quy định hoặc để bảo đảm bản án tuyên phải thi hành được thì Tòa án mới được giải quyết những nội dung nằm ngoài yêu cầu đó

Thứ ba, tiêu chí để xác định thế nào là “không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban

đầu” chưa được hướng dẫn cụ thể nên hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau như: (1) Không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu là không được đưa thêm yêu cầu mới hay (2) Không làm tăng thêm giá trị tranh chấp trong cùng quan hệ pháp luật tranh chấp mà Tòa án đang xem xét giải quyết 6 Cách hiểu khác nhau dẫn đến việc áp dụng không được thống nhất trên thực tế

III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN

TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA NGUYÊN ĐƠN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ.

Thứ nhất, cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung những quy định BLTTDS năm 2015,

trong đó cần ban hành văn bản hướng dẫn giải thích rõ thế nào là “không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu” để tránh sự không thống nhất trong cách hiểu, gây khó khăn trong thực tiễn khi áp dụng

Thứ hai, bổ sung đội ngũ cán bộ Tòa án, tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và

trách nhiệm công vụ của cán bộ Tòa án Đẩy mạnh sự hỗ trợ pháp lý của luật sư và trợ giúp viên pháp lý đối với đương sự cụ thể là nguyên đơn

Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, và xử lý vi phạm nhằm đảm bảo quyền tự

định đoạt của nguyên đơn trong giải quyết vụ án dân sự

Thứ tư, đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục nhằm nâng cao ý thức pháp luật

cho nhân dân, cần phải lựa chọn hình thức phổ biến pháp luật linh hoạt, phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, mở rộng hơn nữa các hình thức tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho người dân, giúp họ hiểu rõ về quyền tự định đoạt của mình trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

KẾT LUẬN

Quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong TTDS là phương thức để đảm bảo cho các quyền dân sự được thực hiện trên thực tế Việc thực hiện các quy định này trong TTDS hiện nay tương đối tốt Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế do các quy định của pháp luật còn nhiều bất cập, sự thiếu hiểu biết pháp luật của nguyên đơn và việc áp dụng pháp luật chưa được tốt của các Tòa án Đòi hỏi phải có sự quyết tâm thực hiện đồng bộ, toàn diện cả từ phía người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng để bảo đảm các quyền tự định đoạt của nguyên đơn trong TTDS được hiệu quả tốt nhất

6 https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/ban-ve-viec-thay-doi-va-bo-sung-yeu-cau-khoi-kien d10-t9356.html

6

Trang 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Công Bình (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà

Nội, Nxb Công an nhân dân

2 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Trường Đại học Kinh tế

-Luật, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

3 Nguyễn Thị Tuyết (2019), Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự

và thực tiễn thực hiện tại các Toà án tại tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại

học Luật Hà Nội

4 Bùi Mạnh Cường (2018), Quyền tự định đoạt của đương sự và thực tiễn áp dụng tại các Tòa

án nhân dân ở tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

5 Phạm Thị Minh (2017), Đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và

thực tiễn thực hiện tại các Tòa án trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội

6 Trần Tuấn Anh (2017), Bình luận Khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Xã hội

chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Nxb Tư pháp.

7 http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207384 , truy cập lần cuối ngày 3/1/2022

8 https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1813 , truy cập lần cuối ngày 3/1/2022

9

https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/ban-ve-viec-thay-doi-va-bo-sung-yeu-cau-khoi-kien d10-t9356.html, truy cập lần cuối ngày 3/1/2022

10 Dương Tấn Thanh: “Bàn về phạm vi khởi kiện và quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương

sự theo BLTTDS năm 2015”, Tạp chí Tòa án

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ban-ve-pham-vi-khoi-kien-va-quyen-thay-doi-bo-sung-yeu-cau-cua-duong-su-theo-blttds-nam-2015), truy cập lần cuối ngày 3/1/2022

7

Trang 10

CHÚ THÍCH QUY ĐỊNH BLTTDS NĂM 2015

Điều 4 Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

1 Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.

2 Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.

Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do

Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định.

Điều 5 Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.

2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Điều 9 Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1 Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2 Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ.

3 Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án.

4 Không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự.

Điều 10 Hòa giải trong tố tụng dân sự

Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.

8

Ngày đăng: 04/09/2023, 14:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w