Đó cũng chính là nội dung cơ bản của đề tài: "Một số giải pháp tài chính nhằm tạo lập nguồn vốn kinh doanh cho Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" mà tác giả lựa chọ
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thực tế hiện nay Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (sau đây gọi tắt làPetrolimex) rất thiếu vốn để nhập khẩu xăng dầu và cho nhu cầu đổi mớicông nghệ, hoạt động SXKD trong môi trường cạnh tranh không bình đẳnghiệu quả kinh doanh ngày càng giảm sút trong khi đó việc tiếp cận cácnguồn vốn khác nhau đang gặp khó khăn, hình thức và công cụ tạo lập vốnnghèo nàn, thiếu đa dạng, chưa linh hoạt Nguyên nhân sâu xa và quantrọng là nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kếhoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, nhiều yếu tố của thị trường hìnhthành chưa đồng bộ và còn khá mới mẻ đối với Petrolimex Trải qua mộtthời gian khá dài luôn được sự bao cấp, che chắn của Nhà nước, khi chuyểnsang cơ chế thị trường Petrolimex còn lúng túng Mặt khác cơ chế Nhà nước
để tạo môi trường pháp lý trong tạo lập nguồn vốn kinh doanh có nhiều bấtcập đối với Petrolimex Những vấn đề đó đang là thách thức với Ban lãnhđạo Petrolimex trong quá trình phát triển, hội nhập kinh tế khu vực và thếgiới Câu hỏi đặt ra là làm thế nào đa dạng hoá các cách thức, công cụ tạolập nguồn vốn, khai thác tốt các luồng vốn cho yêu cầu SXKD là vấn đề đặt
ra hết sức cần thiết và cấp bách cho sự phát triển của Petrolimex trong thờigian trước mắt và lâu dài Đó cũng chính là nội dung cơ bản của đề tài:
"Một số giải pháp tài chính nhằm tạo lập nguồn vốn kinh doanh cho Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" mà tác giả
lựa chọn nghiên cứu, huy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé của mình vàoviệc đưa ra các giải pháp tài chính nhằm nâng cao khả năng tạo lập nguồnvốn kinh doanh cho Petrolimex
Trang 22 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Lý luận về tạo lập nguồn vốn kinh doanh của DNNN trong KTTT
* Phân tích thực trạng vốn, tài sản và tình hình tổ chức nguồn vốnkinh doanh của Petrolimex, từ đó tìm ra các giải pháp tài chính nâng caokhả năng tạo lập nguồn vốn kinh doanh cho Petrolimex
3 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
* Nghiên cứu giải pháp tài chính trong việc tạo lập nguồn vốn kinhdoanh cho Petrolimex
* Nguồn số liệu tập trung chủ yếu từ Petrolimex và số liệu đã đượccông bố trên các phương tiện thông tin đại chúng
* Phương pháp thống kê kinh nghiệm, thẩm vấn trực tiếp
Trang 3Chương 1 TẠO LẬP NGUỒN VỐN KINH DOANH ĐỐI VỚI DNNN
TRONG KTTT
1.1 Nguồn vốn kinh doanh đối với DNNN trong nền KTTT
1.1.1 Khái niệm, các đặc trưng và vai trò của vốn
1.1.1.1 Khái niệm vốn
Theo Rober S.Pindyck và Daniel L.Rubinfeld: “Vốn là một trong cácyếu tố đầu vào để SXKD (đất đai, tài nguyên, lao động) Vốn bao gồm cácsản phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ SXKD (máy móc thiết bị, nhà
cửa, nguyên liệu, sản phẩm )” [14, 212 – 213] Theo quan điểm này nhìn
nhận vốn dưới góc độ hiện vật là chủ yếu Quan điểm này có ưu điểm là đơngiản và dễ hiểu, phù hợp với trình độ quản lý thấp Hạn chế lớn nhất củaquan điểm này là không tính đến phần vốn tài chính có ý nghĩa rất quantrọng đối với hoạt động SXKD của doanh nghiệp trong nền KTTT
Theo Paul A Samuelson và Wilam D Nordhaulls: “Vốn là kháiniệm thường dùng để chỉ các hàng hoá nói chung, một nhân tố sản xuất.Một hàng hoá làm vốn, khác với nhân tố sơ yếu (đất đai, lao động) ởchỗ: Nó là một đầu vào mà bản thân là một đầu ra của một nền kinh tếgồm: Vốn vật chất (nhà máy, thiết bị, kho tàng ) vốn tài chính (tiền,
chứng khoán, tín phiếu)”[4, 64] Theo quan điểm này vốn bao gồm vốn
vật chất và vốn tài chính Bản thân vốn là một hàng hoá nhưng được tiếptục sử dụng vào quá trình SXKD tiếp theo Quan điểm này nhìn nhận rõ
về nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện vốn Hạn chế cơbản của quan điểm này là chưa cho thấy mục đích sử dụng vốn
Khi nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản,trong bé “ Tư bản” Các Mác đã khái quát hoá phạm trù vốn thành phạm
trù tư bản Theo Các Mác, tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư [26,
17] Quan điểm này phản ánh đầy đủ bản chất của vốn, theo quan điểm
này: Vốn phải đại diện cho một loại tài sản nhất định nào đó Vốn phải
Trang 4luôn luôn vận động, luôn luôn sinh lời trong quá trình vận động Vốn làmột loại hàng hóa và cũng nh các loại hàng hóa khác, nó có chủ đíchthực Nói ngắn gọn, vốn là một bộ phận của cải được dùng vào sản xuất
để làm ra của cải nhiều hơn Không thể tách rời vốn với lao động và sảnxuất trên qui mô lớn
1.1.1.2 Các đặc trưng của vốn
Từ các khái niệm khác nhau trên đây về vốn, có thể rót ra vốn cónhững đặc trưng cơ bản sau:
Một là: Trong nền KTTT, vốn phải được quan niệm là một hàng
hoá - hàng hoá vốn Đã là hàng hóa thì “Hàng hoá vốn” cũng nh các
hàng hóa thông thường khác đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị vàgiá trị sử dụng Giá trị của “hàng hoá vốn" là giá trị của bản thân nó, còngiá trị sử dụng của “hàng hoá vốn” là khi sử dụng sẽ tạo ra được mộtlượng giá trị lớn hơn Giá trị sử dụng của hàng hoá vốn chính là khảnăng sinh lời của nó Mặt khác “hàng hoá vốn" cũng phải được mua bántrên thị trường, nhưng thị trường ở đây không phải là thị trường hànghóa thông thường mà là thị trường vốn bao gồm thị trường vốn ngắnhạn, thị trường vốn trung hạn và thị trường vốn dài hạn Việc mua bán
“hàng hoá vốn" trên thị trường vốn cũng phải thông qua “giá cả" Giá cả
“hàng hoá vốn” tăng hay giảm tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố nh: Yếu tốchất lượng hàng hoá, yếu tố về thị trường nhưng yếu tố đặc biệt quantrọng là quan hệ cung cầu vốn Giá cả “hàng hoá vốn" chính là CPSDV,những người có vốn có thể đưa vốn vào thị trường, những người cần vốntới thị trường vốn mua quyền sử dụng vốn Người cần vốn phải trả mộtkhoản CPSDV nhất định tức là họ trả tiền mua quyền sử dụng vốn Nhưvậy, khác với các hàng hóa thông thường, người đem bán "hàng hóavốn" sẽ không mất đi quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng vốn,người mua được quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhấtđịnh Đây là một đặc trưng hết sức quan trọng đòi hỏi doanh nghiệp phải
Trang 5biết tính toán để lựa trọn nhằm tìm được nguồn vốn với CPSDV thấpnhất đáp ứng yêu cầu của SXKD Bởi đã là hàng hoá thì người bán phảibiết bán cho ai, bán lúc nào, bán với giá bao nhiêu để có lãi, ngược lạingười mua phải biết tính toán mua của ai, mua bao nhiêu, mua vào lúcnào và mua trong khoảng thời gian là bao nhiêu để giảm tối đa CPSDV.
Hai là: Vốn có giá trị về mặt thời gian Trong KTTT giá trị của một
đồng vốn không phải cố định mà luôn biến động theo thời gian, bởi vìgiá trị của một đồng vốn tại thời điẻm hiện tại khác với tương lai Cũng
là một đồng vốn nhưng giá trị của nó ở thời điểm hiện tại có giá trị lớnchính nó trong tương lai Vốn có giá trị về mặt thời gian vì những lý do:(1) Một đồng bỏ vào kinh doanh thì trong tương lai có giá trị ngoài tiềngốc còn có tiền lãi cho chính nó sinh ra Ngược lại một đồng nếu không
bỏ vào kinh doanh thì trong tương lai vẫn là một đồng Nh vậy, ngoàigiá trị bản thân nó, khi bỏ vào kinh doanh đồng vốn có khả năng sinh lờitheo thời gian (2) Sức mua của đồng vốn ở các thời điểm khác nhaucũng khác nhau (3) cơ chế, chính sách của Nhà nước (lãi suất, tỉ giá,chính sách thuế) cũng tạo ra rủi ro cho đồng vốn trong tương lai
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây, Nhà nước đã tạo ra
sự ổn định giả tạo của đồng tiền do vậy đặc trưng này không được xemxét đúng mức Nhận thức đặc trưng này giúp cho doanh nghiệp biết lựachọn thời điểm vay vốn và sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất để tránhcho đồng vốn khỏi thất thoát do ảnh hưởng bởi tính thời gian của vốn
Ba là: Vốn phải gắn với chủ sở hữu Điều đó có nghĩa là mỗi đồng
vốn phải gắn với một chủ sở hữu đích thực, không thể có đồng vốn vôchủ ở đâu có những đồng vốn vô chủ thì ở đó sẽ chi tiêu lãng phí, kémhiệu quả Ngược lại, chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mớiđược thực sự chi tiêu tiết kiệm và hiệu quả Nhận thức được đặc trưngnày có ý nghĩa rất lớn trong việc phân định quyền sở hữu và sử dụngvốn, vấn đề có ý nghĩa cấp thiết và bức xúc hiện nay
Trang 6Bốn là: Vốn phải đạt diện cho một lượng giá trị tài sản Có nghĩa
là vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản hữu hình và tài sản
vô hình Mặt khác, vốn là một bộ phận của một tài sản nhưng khôngphải toàn bộ tài sản là vốn Tài sản hoạt động mới gọi là vốn, tài sản ởtrạng thái tĩnh chỉ là vốn tiềm năng
Năm là: Vốn phải được vận động vì mục đích sinh lời Vốn được
biểu hiện bằng tiền, tuy nhiên tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, tiềnchỉ có thể biến thành vốn khi đồng tiền đó được vận động sinh lời.Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiệnnhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải có giátrị - là tiền Khi kết thúc một vòng tuàn hoàn, vốn phải được thu hồi vàlớn lên, đồng tiền không ngừng sinh sôi nẩy nở Đó cũng là nguyên lý
cơ bản của đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn
Sáu là: Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định
mới có thể phát huy được tác dụng Để đầu tư SXKD, dịch vụ vốn phải
được gom lại thành những món lớn Vì vậy mỗi một doanh nghiệp muốnkhởi nghiệp hay mở rộng qui mô SXKD thì nhất thiết phải có một lượngvốn đủ lớn nhất định Để có vốn đáp ứng nhu cầu SXKD doanh nghiệpphải có các giải pháp tạo lập vốn sao cho có hiệu quả Quá trình tích tụ
và tập trung vốn diễn ra liên tục trong nền kinh tế, không chỉ ở từngdoanh nghiệp mà ở phạm vi toàn xã hội
Mỗi đặc trưng của vốn phản ánh một mặt bản chất của vốn Nhậnthức đúng những đặc trưng của vốn là vấn đề hết sức quan trọng để làm
cơ sở xây dựng cơ chế, chính sách tạo lập vốn phù hợp với nhu cầu vốncho SXKD của doanh nghiệp
1.1.1.3 Vai trò của vốn
Một là: Vốn là tiền đề cho hoạt động SXKD của các doanh nghiệp.
Mọi doanh nghiệp đều có nhu cầu to lớn về vốn để vận hành và phát triển.Đặc biệt khi khởi nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp cần có một số vốn ban đầu
Trang 7nhất định để mua sắm các yếu tố cần thiết cho hoạt động SXKD như chi phíthành lập, xây dựng trụ sở doanh nghiệp, mua sắm máy móc thiết bị, dự trữnguyên vật liệu, thuê lao động Đối với một số ngành Nhà nước còn quyđịnh số vốn pháp định phải có khi thành lập doanh nghiệp như Ngân hàng,Bảo hiểm
Hai là: Vốn là nguồn tài trợ để doanh nghiệp tiến hành hoạt động
SXKD một cách liên tục và có hiệu quả Trước hết, để duy trì được hoạt
động SXKD bình thường, số vốn đầu tư ban đầu phải được quay vòng liêntục và phải được bảo toàn sau mỗi chu kỳ luân chuyển Có nh vậy, doanhnghiệp mới có thể tiếp tục mua sắm tư liệu sản xuất cho chu kỳ sau Hơnnữa khi doanh nghiệp đã phát triển, quy mô mở rộng, nhu cầu đầu tư chiềusâu sẽ xuất hiện, doanh nghiệp cần phải cải tạo, đưa công nghệ tiên tiến vàoquá trình SXKD, nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài, cải tiến mẫu mã, nângcao chất lượng sản phẩm, mặt khác doanh nghiệp cũng cần phải tiến hànhđào tạo nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật Đểlàm được điều này, doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định
Ba là: Tiềm lực vốn mạnh sẽ giúp doanh nghiệp khẳng định chỗ đứng
trên thị trường tạo lợi thế cạnh tranh Trong KTTT lượng vốn kinh doanh
biểu hiện thế lực và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, có tầm quan trọng đốivới sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệp Vốn có thể giúp cácdoanh nghiệp chuyển bại thành thắng khi doanh nghiệp quản lý và sử dụngvốn có hiệu quả Vốn lớn điều kiện giúp doanh nghiệp đầu tư nâng cao chấtlượng hoạt động kinh doanh và tạo sức mạnh để doanh nghiệp chiếm lĩnhthị trường Do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có nguồn vốn ổn định và đủmạnh để không bị áp đảo hoặc bị thâu tóm bởi các thế lực cạnh tranh trênthị trường
Trong điều kiện nền KTTT phát triển, Việt Nam tham gia hội nhậpvào nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới sự cạnh tranh sẽ diễn ra ngày
Trang 8càng quyết liệt thì các doanh nghiệp nhỏ yếu về vốn sẽ gặp phải nguy cơ bịđào thải ngày càng lớn.
Bốn là: Vốn là công cụ phản ánh, đánh giá sự vận động của tài sản,
giám sát quá trình SXKD Thông qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn, có thể thấy được hiệu quả của việc của việc quản lý hoạt động kinhdoanh Mét doanh nghiệp làm ăn hiệu quả là một doanh nghiệp khôngnhững bảo toàn được vốn mà còn phát triển số vốn của doanh nghiệp ngàycàng nhiều hơn Vốn cũng trở thành một trong những thước đo quy mô củadoanh nghiệp (tổng số vốn Nhà nước có tại doanh nghiệp là một trongnhững chỉ tiêu đánh giá xếp hạng doanh nghiệp Nhà nước)
1.1.2 Chi phí sử dụng vốn và cơ cấu vốn
Chi phí sử dụng vốn: Trong quá trình hoạt động SXKD doanhnghiệp sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau bằng những cách thức tạolập khác nhau (Như vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vốncủa chủ sở hữu ) Doanh nghiệp phải trả cho chủ sở hữu của các nguồnvốn đó một lượng giá trị nhất định, đó là giá của việc sử dụng các nguồntài trợ hay còn được gọi là chi phí sử dụng các nguồn tài trợ (CPSDV)
để mua quyền sử dụng các nguồn vốn này trong một thời gian nhất định.Mỗi nguồn vốn tài trợ (vốn huy động hoặc vốn chủ sở hữu) đều có mộtgiá trị sử dụng khác nhau đó là giá của việc tài trợ bằng một hình thứcnào đó (trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường, lợi nhuận để lạikhông chia ) đây chính là mức doanh lợi cần phải đạt được về khoảnđầu tư từ nguồn tài trợ dưới hình thức đã lựa chọn để giữ được mứcdoanh lợi không đổi cho chủ sở hữu CPSDV đóng vai trò như là tỉ lệchiết khấu làm cân bằng lượng vốn mà doanh nghiệp có quyền sử dụngthời gian hiện tại với các khoản tiền (gốc và lãi) mà doanh nghiệp phảitrả cho chủ sở hữu của một nguồn tài trợ nào đó trong tương lai Kháiniệm CPSDV ở đây được hiểu dưới góc độ chi phí cơ hội của việc sửdụng vốn CPSDV của doanh nghiệp bao gồm: CPSDV vay và CPSDV
Trang 9chủ sở hữu CPSDV vay được hiểu là tỷ xuất lợi nhuận tối thiểu phải thuđược do đầu tư bằng nợ vay để giữ không làm thay đổi số lợi nhuậndành cho chủ doanh nghiệp CPSDV chủ sở hữu chính là doanh lợi vốnchủ sở hữu tối thiểu mà người đầu tư trù tính sẽ nhận được trên số vốn
mà họ đầu tư Như đã trình bày để có đủ vốn đáp ứng nhu cầu củaSXKD, doanh nghiệp phải tạo lập vốn từ nguồn khác nhau, mỗi nguồnvốn có CPSDV khách nhau tạo lập vốn từ nguồn khác nhau, vì vậy, cầnphải xác định CPSDV bình quân của các nguồn vốn đó CPSDV bìnhquân là mức doanh lợi vốn tối thiểu cần phải đạt được từ việc sử dụngcác nguồn vốn đã tạo lập CPSDV bình quân phụ thuộc vào hai yếu tốlà: CPSDV của từng nguồn vốn và tỷ trọng của từng nguồn vốn trongtổng số nguồn vốn CPSDV cao hay thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đếnviệc lựa chọn các nguồn vốn khai thác từ đó sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuậncủa doanh nghiệp Do đó, khi quyết định khai thác vốn từ nguồn vốnnào, mức độ bao nhiêu vào thời điểm nào, hình thức khai thác ra sao,doanh nghiệp phải tính toán CPSDV để lựa chọn các đối tác, phươngpháp tạo lập sao cho đạt mục đích khai thác được các nguồn vốn khácnhau đáp ứng kịp thời yêu cầu của SXKD với CPSDV thấp nhất Mỗimột nguồn vốn, mỗi một cách thức tạo lập nguồn vốn đều hàm chứanhững ưu thế và rủi do nhất định Những rủi do và ưu thế đó, trong mộtchừng mực nhất định có thể được đánh giá thông qua CPSDV Đây thực
sự là những điều cần cân nhắc thận trọng khi lựa chọn cách thức tạo lậpnguồn vốn, vì đây là những nguyên tắc về KTTT mà trước kia trongkinh tế kế hoạch hóa tập trung không hề có Do vậy, các doanh nghiệpcần phải tính toán hiệu quả kinh tế khi lựa chọn các nguồn vốn được đadạng hóa dưới nhiều hình thức
Cơ cấu vốn: Sau khi tính toán kỹ CPSDV để lựa chọn nguồn tàitrợ, việc tiếp theo là doanh nghiệp cần thiết lập cơ cấu vốn hợp lý Cơcấu vốn hay còn gọi là cấu trúc vốn là tỷ trọng giữa các nguồn vốn trong
Trang 10toàn bộ nguồn vốn của doanh nghiệp, cơ cấu vốn được thể hiện bằngtương quan giữa hai nhóm vốn nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Doanhnghiệp phải biết lựa chọn một tỷ lệ như thế nào đó giữa hai nhóm nguồnvốn trên để tối đa hoá lợi nhuận trên vốn đầu tư với mức độ rủi ro có thểchấp nhận được Với cùng một lượng tiền nhưng cơ cấu vốn khác nhauthì chi phí trung bình của vốn và vai trò quan trọng trong dự toán nguồnvốn khác nhau Cơ cấu vốn hợp lý sẽ làm cân bằng tối đa giữa rủi ro vàlãi suất qua đó làm tối đa hoá giá trị chủ sở hữu của doanh nghiệp Nhvậy, công việc quan trọng của mỗi doanh nghiệp là phải thiết lập đượcmột cơ cấu vốn hợp lý Cơ cấu này có thể thay đổi tùy theo giai đoạnphát triển của doanh nghiệp và trong từng chu kỳ kinh doanh, nhưng tạimột thời điểm doanh nghiệp phải có một cơ cấu mục tiêu và nhữngquyết định tài trợ riêng lẻ phải thích hợp với cơ cấu vốn mục tiêu này.
Vì vậy, việc xem xét lựa chọn, điều chỉnh cơ cấu vốn tối ưu luôn là mộttrong các quyết định tài chính quan trọng của doanh nghiệp Cơ cấu vốncủa doanh nghiệp thường bị ảnh hưởng của các nhân tố như: sự ổn địnhcủa doanh thu và lợi nhuận; cơ cấu tài sản; đặc điểm kinh tế kỹ thuật củangành; doanh lợi vốn và lãi suất huy động; mức độ chấp nhận rủi ro củangười lãnh đạo; thái độ của người cho vay
1.1.3 Phân loại vốn và nguồn vốn kinh doanh của DNNN
1.1.3.1 Phân loại vốn kinh doanh
Căn cứ vào vai trò, đặc điểm chu chuyển giá trị của vốn khi thamgia vào quá trình SXKD, có thể chia vốn SXKD của doanh nghiệp thànhVCĐ và VLĐ Mỗi một bộ phận của vốn SXKD có đặc điểm chu chuyểnkhác nhau:
Vốn cố định
VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước
về TSCĐ, đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần qua nhiều chu
Trang 11kỳ SXKD và hoàn thành một vòng tuần hoàn vốn khi tài sản đó hết thờigian sử dụng.
Quy mô của VCĐ sẽ quyết định đến quy mô của TSCĐ, song đặcđiểm vận động về hiện vật và giá trị của TSCĐ đã quyết định đến đặcđiểm tuần hoàn và chu chuyển giá trị VCĐ Chính đặc điểm này đòi hỏidoanh nghiệp phải quan tâm đến toàn bộ quá trình tạo lập, đầu tư sửdụng VCĐ
Vốn lưu động
VLĐ của doanh nghiệp là một phần của vốn SXKD được ứng ra
để mua sắm các tài sản lưu động và tài sản lưu thông phục vụ cho quátrình SXKD Đặc điểm luân chuyển của loại vốn này là chuyển dịch toàn
bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới và luôn thay đổi hình thái biểuhiện
Việc phân loại vốn của doanh nghiệp thành VCĐ và VLĐ nhằmgiúp cho việc nhận thức đầy đủ đặc điểm vận động của từng loại vốn,nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp cho tạo lập và sử dụng vốn Trongquá trình SXKD, doanh nghiệp được quyền sử dụng linh hoạt các loạivốn, quỹ theo nguyên tắc có hoàn trả, bảo toàn và phát triển vốn
Phân loại nguồn vốn kinh doanh của DNNN
Phân loại nguồn vốn kinh doanh của DNNN
Như đã nêu tại mục 1.1.1.3 muốn tiến hành SXKD, trước tiêndoanh nghiệp phải có yếu tố tiền đề là vốn Có vốn doanh nghiệp mới cóthể hình thành nên các tài sản cần thiết cho hoạt động SXKD Vì vậy,một trong những vai trò của tài chính doanh nghiệp là tổ chức đảm bảonguồn vốn cho hoạt động của doanh nghiệp, vai trò này được thể hiện:
- Tổ chức nguồn vốn đảm bảo đầy đủ, kịp thời cho hoạt độngSXKD của doanh nghiệp
- Lựa chọn phương pháp, hình thức tạo lập nguồn vốn tích cực phùhợp với tình hình của doanh nghiệp
Trang 12Trong nền KTTT, vốn SXKD của doanh nghiệp được hình thành từnhiều nguồn khác nhau, mỗi nguồn vốn đều có ưu nhược điểm nhấtđịnh Do vậy, để tổ chức và lựa chọn hình thức tạo lập nguồn vốn thíchứng, có hiệu quả cần có sự phân loại nguồn vốn.
Tuỳ theo những tiêu thức nhất định có thể chia nguồn vốn củadoanh nghiệp thành nhiều loại Sau đây nghiên cứu các cách phân loạichủ yếu:
(1) Căn cứ vào hình thức sở hữu nguồn vốn
Theo cách phân loại này có thể phân chia nguồn vốn của DNNNbao gồm:
• Vốn chủ sở hữu: Đây là nguồn vốn của chủ sở hữu đầu tư ban
đầu để hình thành doanh nghiệp và đầu tư bổ sung hàng năm cho SXKD.Đối với DNNN, nguồn vốn này do NSNN cấp và vốn góp dưới hìnhthức mua cổ phần của các cổ đông (trường hợp DNNN có tạo lập vốnbằng phát hành cổ phiếu) Ngoài vốn chủ sở hữu còn bao gồm một sốkhoản vốn được coi là nguồn gốc từ ngân sách như: Lợi nhuận khôngchia, quỹ khấu hao, các khoản giảm thuế, miễn thuế của Nhà nước để lạicho doanh nghiệp được bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh của doanhnghiệp
•Nợ phải trả: Đây là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh
mà doanh nghiệp tự tạo lập cho nhu cầu SXKD trong khuôn khổ phápluật như: Vốn vay ngắn hạn, dài hạn của các NHTM, các tổ chức tíndụng, các tổ chức tài chính, các cá nhân trong và ngoài nước Vốn tạolập từ TTCK thông qua việc phát hành trái phiếu Vốn liên doanh đểcùng kinh doanh hưởng lợi nhuận
Thông thưòng, một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốnchủ sở hữu và nợ phải trả để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động SXKDcủa doanh nghiệp Sự kết hợp hai nguồn vốn này phụ thuộc vào đặcđiểm của ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động, cũng nh quyết định
Trang 13của người quản lý doanh nghiệp trên cơ sở xem xét tình hình chung củanền kinh tế cũng nh tình hình thực tế tại doanh nghiệp.
(2) Căn cứ vào thời gian tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn
Theo cách phân loại này có thể phân chia nguồn vốn của doanhnghiệp nh sau:
• Nguồn vốn ngắn hạn
Là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong khoảng thời giandưới một năm cho hoạt động SXKD bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, nợquá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác
• Nguồn vốn dài hạn
Là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạt động SXKD,bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay nợ trung, dài hạn… Việc phân loại nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn giúp chodoanh nghiệp xem xét tạo lập các nguồn vốn một cách phù hợp với thờigian sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn cho SXKD và nâng cao hiệuquả sử dụng vốn của doanh nghiệp Cách phân loại này còn giúp chodoanh nghiệp lập kế hoạch tài chính, hình thành nên những dự định về
tổ chức nguồn vốn trong tương lai trên cơ sở xác định qui mô, số lượngvốn cần thiết, lựa chọn nguồn vốn và qui mô thích hợp cho từng nguồnvốn đó, từ đó tổ chức sử dụng vốn đạt hiệu quả cao
(3) Phân loại theo cách thức tạo lập nguồn vốn
Theo cách phân loại này nguồn vốn của doanh nghiệp được tạo lậptheo các cách thức sau:
• Nguồn vốn nội bộ doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể tạo lập
được từ hoạt động của bản thân của doanh nghiệp, bao gồm tiền khấuhao TSCĐ, lợi nhuận để lại, các khoản dự trữ, dự phòng, các khoản thu
từ thanh lý nhượng bán TSCĐ
Trang 14•Nguồn vốn ngoài doanh nghiệp: Nguồn vốn ngoài doanh nghiệp:
Là nguồn mà doanh nghiệp có thể tạo lập được từ bên ngoài đểđáp ứng cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp bao gồm: Vốn được cấp
từ NSNN, vay ngắn hạn và dài hạn từ các NHTM và các tổ chức tíndụng, phát hành cổ phiếu trái phiếu, thuê tài chính, nợ người cung cấp
(1) Khai thác và tạo lập VCĐ
Đây là tiền đề có ý nghĩa hết sức quan trọng để định hướng choviệc đảm bảo nhu cầu VCĐ đáp ứng yêu cầu đầu tư, vì thế các doanhnghiệp phải cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn để xác định được nhucầu vốn đầu tư vào TSCĐ trong những năm trước mắt và cả lâu dài.Trong điều kiện KTTT, để có TSCĐ doanh nghiệp có thể khai thác từnhiều nguồn vốn khác nhau (Từ nguồn vốn do NSNN cấp và các cơ chế
hỗ trợ của Nhà nước, từ lợi nhuận không chia, từ hệ thống NHTM và các
tổ chức tài chính tín dụng, từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu thông quaTTCK ), mỗi nguồn vốn có ưu, nhược điểm riêng và điều kiện thựchiện khác nhau, CPSDV khác nhau Do vậy, trong khai thác tạo lậpVCĐ các doanh nghiệp vừa phải chú ý đa dạng hoá các nguồn tài trợ,nghiên cứu kỹ ưu, nhược điểm của từng nguồn vốn để lựa chọn cơ cấucác nguồn tài trợ VCĐ hợp lý và có lợi nhất cho doanh nghiệp
Trang 15(2) Bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ
Đòi hái doanh nghiệp phải tuân thủ thực hiện đầy đủ các quy chếquản lý đầu tư và xây dựng từ khâu chuẩn bị đầu tư, lập dự án, thẩmđịnh dự án và quản lý chặt chẽ việc thực hiện dự án Thực hiện các biệnpháp để bảo toàn và phát triển VCĐ, lưu ý bảo toàn cả hiện vật và cả giátrị, trong đó bảo toàn hiện vật là cơ sở, là tiền đề để bảo toàn VCĐ vềgiá trị Duy trì thường xuyên năng lực SXKD ban đầu của TSCĐ bằngnhiều biện pháp, nh: Thực hiện đúng quy chế bảo dưỡng, sửa chữa nhằmduy trì năng lực hoạt động của TSCĐ Quản lý chặt chẽ TSCĐ trong quátrình sử dụng, không để hư hỏng, mất mát trước thời hạn Đánh giáđúng thực trạng của TSCĐ để từ đó phản ánh chính xác tình hình biếnđộng của VCĐ Lựa chọn phương pháp khấu hao và xác định mức khấuhao thích hợp nhằm đảm bảo thu hồi vốn nhanh để tránh hao mòn vôhình, đương nhiên phải chấp hành đúng quy chế khấu hao của Nhànước Trú trọng nâng cao năng lực sử dụng TSCĐ hiện có của doanhnghiệp và đồng thời đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ để pháttriển SXKD Thực hiện thường xuyên sửa chữa TSCĐ theo định kỳ, mặtkhác cần quản lý chặt chẽ quá trình dự trữ, tiết kiệm chi phí, rút ngắnthời gian sửa chữa để đưa TSCĐ phục vụ hoạt động SXKD Thanh lý,nhượng bán kịp thời các TSCĐ không cần dùng hoặc đã hư hỏng và cóbiện pháp quản lý chặt chẽ quá trình thanh lý, nhượng bán TSCĐ đểphát huy tối đa hiệu quả sử dụng VCĐ Thực hiện tốt quy chế giao vốntrách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn
(3) Phân cấp quản lý VCĐ
Phân cấp quản lý VCĐ trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc hiệu quả, bảotoàn và phát triển vốn Doanh nghiệp được quyền chủ động sử dụng vốn,quỹ để phục vụ hoạt động SXKD Trường hợp nếu sử dụng khác vớimục đích đã quy định cho các loại vốn, quỹ thì phải theo nguyên tắc cóhoàn trả Được thay đổi cơ cấu tài sản và vốn theo từng thời điểm để
Trang 16đảm bảo cho việc phát triển SXKD có hiệu quả Được cho thuê hoạtđộng các tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp để tận dụng nănglực sử dụng hiện có của tài sản và tăng thu nhập, đương nhiên các tàisản cho thuê hoạt động doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo quyđịnh Được quyền nhượng bán tài sản không cần dùng, lạc hậu về kỹthuật để thu hồi vốn sử dụng cho các hoạt động SXKD của doanhnghiệp Được quyền thanh lý những TSCĐ đã lạc hậu mà không nhượngbán được hoặc đã hư hỏng không có khả năng phục hồi Riêng đối vớinhững tài sản quan trọng khi thanh lý phải được phép của cơ quan quyếtđịnh thành lập doanh nghiệp Được sử dụng vốn, tài sản, giá trị quyền sửdụng đất để liên doanh hoặc để đầu tư ngoài xã hội Doanh nghiệp đượcquyền dùng TSCĐ để thế chấp, cầm cố vay NHTM, các tổ chức tíndụng
- Dự đoán và quản lý các luồng nhập, xuất ngân quỹ: Dự đoán ngânquỹ là tập hợp các dự kiện về nguồn và sử dụng ngân quỹ hàng năm cóchi tiết cho từng tháng, quý Dự đoán các luồng tiền nhập, xuất ngânquỹ
Trên cơ sở so sánh các luồng tiền nhập và xuất ngân quỹ, doanhnghiệp có thể thấy được lượng tiền tồn quỹ đủ để đảm bảo phục vụ chokinh doanh hay mức độ thâm hụt ngân quỹ Từ đó thực hiện các biệnpháp cân bằng thu, chi quỹ
(2) Quản lý các nợ khoản phải thu
Trang 17Trong KTTT, việc mua bán trả chậm là một việc không thể thiếu,việc mua bán trả chậm được coi nh là một công cụ để doanh nghiệpchiếm lĩnh thị trường, tuy nhiên cũng có thể đem lại những rủi do chohoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy quản lý các khoảnphải thu là vấn đề mà doanh nghiệp cần phải trú trọng, các khoản phảithu thường bị ảnh hưởng bởi các nhân tố sau đây: Khối lượng hàng hoá,dịch vụ bán trả chậm cho khách hàng; Sự thay đổi theo thời vụ củadoanh thu; Giới hạn của lượng vốn phải thu hồi; Thời hạn bán chậm trả
và chính sách tín dụng của mỗi doanh nghiệp Để đánh giá mức độ rủi ro
có thể gặp trong việc bán trả chậm hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp cóthể xem xét trên các khía cạnh: Mức độ uy tín của khách hàng, khả năngtrả nợ của khách hàng, tình trạng tài chính tổng quát của doanh nghiệp,giá trị tài sản dùng để thế chấp Chính sách bán trả chậm của doanhnghiệp cần xem xét, đánh giá kỹ các thông số chủ yếu sau: Khối lượnghàng hoá, dịch vụ dự kiến tiêu thụ được; Giá bán hàng hoá, dịch vụ; Cáckhoản chiết khấu chấp nhận; Thời gian thu hồi nợ bình quân đối với cáckhoản nợ; Dự đoán số nợ phải thu ở khách hàng; Các chi phí phát sinhthêm do việc tăng các khoản nợ
Để có thể thu hồi nhanh chóng các khoản công nợ phải thu, hạn chếviệc phát sinh các chi phí không cần thiết hoặc rủi ro, doanh nghiệp cầnquan tâm các biện pháp sau: Mở sổ theo dõi chặt chẽ các khoản công nợphải thu và đôn đốc thường xuyên thu hồi theo đúng hợp đồng ký kết;
Có các biện pháp phòng ngừa rủi ro không được thanh toán; Có chínhsách bán trả chậm đúng đắn với khách hàng; Có sự ràng buộc chặt chẽtrong hợp đồng bán hàng, nếu vượt quá thời hạn thanh toán theo hợpđồng thì doanh nghiệp được thu lãi suất tương ứng như lãi suất quá hạn;Phân loại các khoản nợ quá hạn, tìm nguyên nhân của từng khoản nợ để
có biện pháp xử lý thích hợp
(3) Quản lý các khoản nợ phải trả
Trang 18Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ cácgiao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ nguồnlực của mình Các khoản nợ phải trả bao gồm: Phải trả cho bảo hiểm y
tế, phải trả cho bảo hiểm xã hội, phải trả cho NSNN, phải trả cho ngườicung cấp, phải trả cho công nhân viên Để quản lý nợ khoản phải trả,doanh nghiệp cần trú trọng các biện pháp chủ yếu sau: Thường xuyênkiểm tra đối chiếu các khoản phải thanh toán với khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp để chủ động đáp ứng các yêu cầu thanh toán khi đếnhạn Lựa chọn các hình thức thanh toán thích hợp, an toàn và hiệu quả
(4) Quản lý tồn kho, dự trữ
Trong quá trình luân chuyển VLĐ phục vụ cho SXKD thì việc tồntại vật tư hàng hóa tồn kho, dự trữ là những bước đệm cần thiết cho quátrình hoạt động bình thường của doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu doanhnghiệp dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn, còn nếu dự trữquá Ýt sẽ làm cho quá trình SXKD bị gián đoạn gây ra hàng loạt các hậuquả tiếp theo Mức tồn kho, dự trữ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởinhiều nhân tố Tùy theo từng loại tồn kho dự trữ mà các nhân tố ảnhhưởng có đặc điểm riêng, cụ thể: Đối với mức tồn kho, dự trữ nguyênnhiên, vật liệu thường phụ thuộc vào quy mô sản xuất, khả năng cungứng của thị trường, chu kỳ giao hàng quy định trong hợp đồng, thời gianvận chuyển từ nơi cung ứng đến doanh nghiệp, giá cả của các loạinguyên vật liệu được cung ứng; Đối với mức tồn kho, dự trữ bán thànhphẩm, sản phẩm dở dang phụ thuộc vào đặc điểm và yêu cầu kỹ thuậtcông nghệ, độ dài của chu kỳ sản phẩm, trình độ tổ chức quản lý củadoanh nghiệp; Đối với tồn kho, dự trữ thành phẩm thường chịu ảnhhưởng của sự phối hợp giữa khâu sản xuất và khâu tiêu thụ, hợp đồngtiêu thụ, khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường đối với sản phẩm củadoanh nghiệp
Trang 19Phương pháp quản lý hàng tồn kho trong doanh nghiệp thường ápdụng phương pháp tổng chi phí tối thiểu và phương pháp cung cấp đúnglúc hay dữ trữ bằng không.
1.2 Các cách thức tạo lập nguồn vốn kinh doanh của DNNN trong KTTT
Như đã trình bày tại mục 1.1.3 từ cách phân loại chủ yếu về vốn vànguồn vốn giúp doanh nghiệp phải biết cân nhắc, lựa chọn cách thức tạolập nguồn vốn, vào thời gian nào và mức độ tạo lập bao nhiêu để cóđược một cơ cấu vốn tối ưu Dưới đây sẽ đi sâu hơn các cách thức tạolập nguồn vốn chủ yếu
Đặc điểm của nguồn vốn này là cấp không phải hoàn lại, khôngphải trả lãi hàng năm mua vốn tín dụng mà có thể chỉ phải nộp mộtkhoản thu sử dụng vốn ngân sách với một tỷ lệ nhất định (giai đoạn từ
1991 - 2000) Do đó không làm tăng gánh nặng về thanh toán cho doanhnghiệp, có thể nói cơ chế cấp vốn này là nguyên nhân gây nên tâm lý ỷlại, trông chờ vào nhà nước làm suy giảm tính năng động sáng tạo củaDNNN trong việc chủ động khai thác các nguồn vốn, tìm kiếm các giảipháp bảo toàn và phát triển vốn Mặt khác, hiện nay nguồn vốn NSNNkhông được cấp phát rộng rãi, thủ tục cấp phát phức tạp và thủ tục cấpphát phức tạp và không thể huy động cho mục đích đầu tư (vốn chỉ được
Trang 20cấp phát cho những hoạt động đầu tư thuộc diện ưu tiên của Nhà nước).Nói chung các doanh nghiệp không nên trông chờ nhiều vào nguồn vốnnày
1.2.2 Nguồn vốn từ nội bộ doanh nghiệp
Nguồn vốn nội bộ doanh nghiệp luôn được coi là nguồn vốn cơbản nhất đối với mọi doanh nghiệp Khai thác nguồn vốn từ nội bộdoanh nghiệp được thể hiện dưới hình thức như sau:
Một là: Hàng năm nếu SXKD có lãi doanh nghiệp sẽ được trích
một phần lợi nhuận sau thuế để bổ sung vào vốn thông qua Quỹ đầu tưphát triển Hình thức này gọi là tích tụ vốn của doanh nghiệp nhằm tăngquy mô để mở rộng SXKD
Hai là: Khai thác nguồn vốn từ cán bộ, công nhân của doanh
nghiệp với nhiều hình thức khác nhau như: Phát hành trái phiếu doanhnghiệp, phát hành cổ phiếu
Khai thác triệt để nguồn vốn này có ưu điểm trước hết nó vừa thúcđẩy SXKD của doanh nghiệp ngày càng có hiệu quả và sẽ mở ra khảnăng để tự tăng vốn SXKD Mặt khác, vừa phát huy tính năng độngsáng tạo của doanh nghiệp trong việc khai thác, sử dụng các nguồn vốntiềm tàng trong doanh nghiệp
1.2.3 Nguồn vốn từ hệ thống các NHTM và các tổ chức tài chính tín dụng
Trong nền KTTT, để đảm bảo nguồn vốn cho SXKD, đặc biệt làđảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu củadoanh nghiệp, thì ngoài nguồn vốn cấp từ ngân sách và từ nội bộ doanhnghiệp, một bộ phận vốn quan trọng cho sự phát triển của doanh nghiệpđược tạo lập từ hệ thống NHTM, các tổ chức tín dụng, các tổ chức tàichính trung gian khác Cùng với việc hình thành và phát triển của thịtrường tài chính là sự ra đời của hàng loạt các tổ chức trung gian tàichính như hệ thống NHTM với sự phong phú đa dạng của các loại hình
Trang 21tín dụng Đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có thể lựa chọncác hình thức tín dụng thích hợp cho tạo lập nguồn vốn ngắn hạn, hoặcnguồn vốn dài hạn Với sự phát triển của hệ thống ngân hàng, nguồn vốntạo lập theo cách thức này ngày càng chiếm một tỉ trọng đáng kể trong
cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp với nhiều hình thức tín dụngkhác nhau như: Tín dụng ứng tiền qua tài khoản, tín dụng cầm cố hoặcthế chấp tài sản, tín dụng bảo lãnh
Khai thác, tạo lập nguồn vốn từ các NHTM, các tổ chức tài chính,tín dụng có ưu điểm là: Tạo cho doanh nghiệp một cơ cấu tài chính linhhoạt Lợi tức tiền vay có giới hạn, nếu doanh nghiệp kinh doanh có lợinhuận cao thì không phải phân chia lợi nhuận đó Tuy nhiên, cũng cónhững hạn chế nhất định, đó là: Các hạn chế về việc vay vốn phải có vật
tư đảm bảo và chịu sự ràng buộc, kiểm soát của chủ nợ trong sử dụngvốn vay Doanh nghiệp phải trả lợi tức tiền vay và hoàn trả tiền vayđúng thời hạn, nếu sử dụng vốn vay kém hiệu quả thì nợ vay trở thànhgánh nặng đối với doanh nghiệp và phải chịu rủi ro
1.2.4 Nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu thông qua TTCK
Ngoài các hình thức tìm kiếm nguồn vốn truyền thống, doanhnghiệp còn sử dụng cách thức tạo lập vốn bằng cách phát hành tráiphiếu, cổ phiếu qua TTCK Cách thức này cho phép doanh nghiệp khaithác số tiền nhàn rỗi nằm phân tán, rải rác trong các tầng lớp dân cư,tập trung lại thành nguồn vốn lớn Ở các nước có nền KTTT phát triển,việc các doanh nghiệp tạo lập nguồn vốn qua TTCK là một hình thứckhá phổ biến và gần như là hình thức chủ yếu Tuy nhiên, việc sử dụngcác công cụ tài chính để tập trung vốn qua TTCK là vấn đề không đơngiản Mỗi công cụ tài chính doanh nghiệp sử dụng có thể đem lại nhữnglợi Ých nhất định đồng thời cũng có thể đưa đến những điều bất lợi Cáccông cụ thường được sử dụng để tạo lập nguồn vốn từ TTCK bao gồm:
(1) Cổ phiếu
Trang 22Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu một phần vốngóp vào CTCP và quyền được hưởng một khoản cổ tức theo định kỳ Cổphiếu được chia làm 2 loại cơ bản: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
* Cổ phiếu thường: Là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong
công ty và cho phép người nắm giữ nó được hưởng quyền lợi thôngthường trong CTCP Người sở hữu cổ phiếu thường là cổ đông thườngcủa CTCP Việc tạo lập nguồn vốn theo phương thức phát hành cổ phiếuthường so với tiền vay thông thường khác, có những lợi thế chủ yếu sau:Công ty không phải trả vốn gốc và lãi cố định theo kỳ hạn có tính bắtbuộc pháp lý giúp công ty có thể sử dụng vốn linh hoạt hơn, chủ độnghơn mà không phải lo gánh nặng nợ nần Hình thức này sẽ làm tăngthêm nguồn vốn chủ sở hữu của công ty từ đó làm hệ số nợ giảm xuống,làm tăng thêm mức độ vững chắc về tài chính và mức độ tín nhiệm củacông ty Cổ phiếu thường bán ra dễ hơn so với cổ phiếu ưu đãi và tráiphiếu Tuy nhiên cần chú ý những bất lợi sau: Phát hành cổ phiếuthường làm tăng thêm cổ đông mới, từ đó phải phân chia quyền bỏ phiếu
và quyền kiểm soát công ty cho số cổ đông mới và như vậy sẽ gây nênbất lợi cho các cổ đông hiện hành Chi phí phát hành cổ phiếu thườngcao hơn trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi, do vậy, doanh nghiệp phải chịuchi phí sử dụng cổ phiếu cao hơn làm ảnh hưởng đến lợi nhuận củadoanh nghiệp Ở nhiều nước khi đánh thuế TNDN, lợi tức cổ phầnkhông được tính trừ vào thu nhập chịu thuế, trong khi đó lợi tức tráiphiếu hay lợi tức tiền vay được tính trừ vào thu nhập chịu thuế củadoanh nghiệp
* Cổ phiếu ưu đãi: Là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong
CTCP, người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền ưuđãi hơn so với cổ đông thường Khi tạo lậx nguồn vốn trong trường hợpphát hành cổ phiếu ưu đãi, cần quan tâm đến những lợi thế chủ yếu sau:Mặc dù phải trả lợi tức cố định nhưng khác với trái phiếu, công ty không
Trang 23nhất thiết bắt buộc phải trả đúng hạn hàng năm mà có thể hoàn trả sang
kỳ sau, điều này sẽ giúp cho công ty giảm nhẹ gánh nặng trong việcthanh toán công nợ, không bị đe dọa khi gặp khó khăn trong kinh doanh.Việc phát hành cổ phiếu ưu đãi giúp cho công ty tránh được việc chiaquyền kiểm soát cho cổ đông mới thông qua quyền biểu quyết Bên cạnhnhững lợi thế đó, việc phát hành cổ phiếu ưu đãi cũng gặp những bất lợisau: Lợi tức cổ phiếu ưu đãi cao hơn lợi tức trái phiếu, do đó phần lợinhuận còn lại để(tăng vốn SXKD sẽ bị hạn chế Lợi tức cổ phiếu ưu đãikhông được trừ vào thu nhập chịu thuế của công ty Điều này làm chochi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi lớn hơn nhiều so với chi phí sử dụng tráiphiếu
(2) Trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ vay vốn do doanh nghiệpphát hành, thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của doanh nghiệp thanh toán
số lợi tức và tiền vay vào những thời hạn đã xác định cho người nắm giữtrái phiếu Thông qua việc sử dụng trái phiếu, doanh nghiệp có thể thựchiện vay vốn trung hạn và dài hạn qua thị trường với một khối lượnglớn Trong nền KTTT, trái phiếu là công cụ rất quan trọng cho phépdoanh nghiệp chủ động tạo lập nguồn vốn qua thị trường Khi tạo lậpnguồn vốn bằng công cụ phát hành trái phiếu, doanh nghiệp phải tậndụng những ưu thế sau: Lợi tức trái phiếu được giới hạn ở mức độ nhấtđịnh Nếu doanh nghiệp có triển vọng tốt trong kinh doanh, có khả năngthu lợi nhuận thì việc phát hành trái phiếu để tạo lập nguồn vốn sẽ giúpcho doanh nghiệp đạt mức doanh lợi vốn chủ sở hữu ở mức cao và chủdoanh nghiệp không phải phân chia quyền phân phối lợi nhuận cho cáctrái chủ Chi phí phát hành trái phiếu thấp hơn so với chi phí phát hành
cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Doanh nghiệp phát hành trái phiếukhông bị phân chia quyền kiểm soát doanh nghiệp cho các trái chủ Ở
Trang 24hầu hết các nước, lợi tức trái phiếu được xem nh chi phí và được trừ vàothu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Tuy nhiên, cũng cần lưu ý nhữngnhược điểm sau: Sử dụng trái phiếu buộc doanh nghiệp phải có nghĩa vụtrả lợi tức cho các trái chủ đúng kỳ hạn, nếu tình hình kinh doanh và tàichính của doanh nghiệp không ổn định có thể dẫn đến tình trạng không
đủ nguồn tài chính để trang trải lợi tức trái phiếu Sử dụng trái phiếu là
sử dụng nợ trong thời gian dài, vì thế tác động của nó đến sự hoạt độngcủa doanh nghiệp không ổn định, có lúc nó là đòn bẩy góp phần thúcđẩy sự phát triển của doanh nghiệp, có lúc lại có thể trở thành gánh nặng
đe dọa sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Việc sử dụng trái phiếu
có thể giúp doanh nghiệp tăng vốn thực hiện các dự án đầu tư mở rộngkinh doanh, nhưng nếu việc đầu tư của doanh nghiệp không đúng hướnghoặc bối cảnh thị trường thay đổi theo chiều hướng bất lợi thì việc phảihoàn trả một số nợ lớn trở thành một gánh nặng đối với doanh nghiệp.Ngoài ra cũng cần thấy rằng việc sử dụng trái phiếu để tạo lập nguồnvốn cũng có giới hạn nhất định chịu sự chi phối của hệ số nợ Hệ số nợchính là yếu tố đặt giới hạn cho khả năng vay nợ nói chung còng nh việc
sử dụng trái phiếu
1.3 Kinh nghiệm tạo lập nguồn vốn của DNNN ở một số nước trên thế giới và bài học rót ra cho DNNN ở Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc.
DNNN ở Trung Quốc trước cải cách có nhiều điểm tương đồng vớiDNNN ở Việt Nam, điều đáng lưu ý là hai nước đều chuyển sang KTTT từ
cơ chế kế hoạch hoá tập trung kéo dài hàng chục năm Ở Trung Quốc khuvực DNNN cũng chiếm tỷ trọng lớn, khi chuyển sang KTTT, phần lớn cácDNNN đều xảy ra tình trạng thiếu vốn để đổi mới công nghệ, máy móc thiết
bị, hiệu quả sử dụng vốn thấp Do vậy vấn đề đa dạng hóa các cách thức tạo
Trang 25lập nguồn vốn cũng được đặt ra hết sức cấp bách Xin trình bày một số cáchthức để tạo lập nguồn vốn ở Trung Quốc đã áp dụng:
(1) Cơ cấu lại DNNN bằng hình thức đa dạng hoá sở hữu: Nhà nướcnắm những Xí nghiệp quốc doanh lớn thuộc huyết mạch kinh tế và có vaitrò chủ đạo Đồng thời thực hiện phi quốc hữu hoá những Xí nghiệp quốchữu cỡ vừa và nhỏ Mục đích của phi quốc hữu hoá là tìm ra những hìnhthức thực hiện mới cho chế độ công hữu, hình thức này không còn nguyênnhư vốn có của nó mà là một hình thức thực hiện chế độ công hữu khác phùhợp với xu thế phát triển của lực lượng sản xuất Điều đó có nghĩa là làmcho các xí nghiệp lớn làm ăn có hiệu quả và giải phóng, nới lỏng cho các xínghiệp nhỏ có cơ hội phát triển Để thực hiện việc cơ cấu lại DNNN, TrungQuốc thường áp dụng một số biện pháp sau: (a) Thực hiện bán, cho thuêhoặc phá sản các xí nghiệp Đối với các xí nghiệp đang hoạt động kinhdoanh bình thường bán cho cán bộ công nhân viên trở thành chế độ sở hữu
xí nghiệp theo kiểu hợp tác cổ phần, công nhân viên cùng nhau kinh doanh.Nếu công nhân viên có nguyện vọng mua nhưng không có khả năng thì cóthể cho họ thuê, dùng lợi nhuận của xí nghiệp hàng năm nên cho Nhà nước
để mua xí nghiệp Đối với những xí nghiệp làm ăn thua lỗ thì bán đấu giácông khai, số tiền thu được dùng để thu xếp cho công nhân viên của xínghiệp đó Đối với những xí nghiệp số nợ cao hơn tài sản thì cho phá sản.(b) Sáp nhập phần tài sản của các xí nghiệp vừa và nhỏ vào các xí nghiệplớn có ưu thế trong xã hội hoặc chuyển giao không hoàn lại cho các xínghiệp lớn hoặc tập đoàn để họ kinh doanh (c) Trường hợp không thể tiếnhành sáp nhập hay phá sản được thì áp dụng biện pháp “giảm biên chế, tănghiệu quả” Đối với các xí nghiệp có khả năng tồn tại, ban lãnh đạo còn cókhả năng quản lý, điều hành thì tiến hành thu gom sản xuất, ngân hàng thựchiện cho vay ưu đãi hoặc thậm chí miễn lợi tức cho vay để vực xí nghiệpdậy (d) Cổ phần hoá: Quan điểm của Chính phủ Trung Quốc về CPH làhình thức biểu hiện chế độ công hữu; Thực hiện CPH DNNN nhằm củng cố
Trang 26sức mạnh cho khu vực kinh tế nhà nước; CPH không làm thay đổi vị trí chủnhân, doanh nghiệp của người lao động; CPH có tác dụng làm giảm lạmphát tiêu dùng của xã hội
(2) Thay đổi hình thức Nhà nước cấp vốn đầu tư cho doanh nghiệp kể
cả việc mua sắm, sửa chữa TSCĐ, doanh nghiệp không có quyền cũng nhưkhông chịu bất cứ trách nhiệm gì về tài chính, do đó tài sản nhà nước bị thấtthoát nhiều Bằng cách Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng các biện phápnhư đánh thuế TSCĐ, kiểm tra định kỳ và cho phép doanh nghiệp được sởhữu phần lợi nhuận để lại tăng các nguồn vốn đầu tư vào TSCĐ nhằm làmcho các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về mặt tài chính đối với TSCĐ,nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ
(3) Cho doanh nghiệp được phép vay ngân hàng
(4) Thực hiện bổ sung VLĐ bằng các cách thức cụ thể nh: Ngân sáchcấp thêm, cải cách giá, điều chỉnh giá cả
(5) Chấm dứt việc bao cấp tài chính, các DNNN phải trả đầy đủ cácchi phí thật tốt cho đầu vào của mình và bán sản phẩm của mình theo giá thịtrường
(6) Phát triển TTCK để tăng khả năng tạo lập nguồn vốn của doanhnghiệp và quy định doanh nghiệp muốn phát hành cổ phiếu phải đảm bảocác điều kiện như: Có năng lực kinh doanh, có hướng phát triển tốt, cónhững điều kiện phù hợp với quy định của TTCK
(7) Tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc sử dụng,bảo toàn và tăng tài sản Nhà nước
(8) Để tăng cường giám sát việc tạo lập nguồn vốn và quản lý sửdụng vốn của DNNN, Trung Quốc thành lập cơ quan quản lý vốn và tài sảnNhà nước gọi là Cục quản lý tài sản Nhà nước Cơ quan này làm đại diệnquyền sử dụng tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước,các doanh nghiệp có cổ phần do Nhà nước chi phối, doanh nghiệp liêndoanh, Công ty TNHH có vốn nhà nước tham gia Xây dựng trình Chính
Trang 27phủ ban hành Luật và các chính sách, chế độ dưới luật, trực tiếp ban hànhcác văn bản hướng dẫn các vấn đề có liên quan đến tài sản Nhà nước
(9) Áp dụng các biện pháp cải cách thuế, cải cách giá và cải cách hệthống ngân hàng, cụ thể: Thực hiện việc cải cách thuế và cải cách giá cảtheo hướng tăng cường quyền tự chủ SXKD cho doanh nghiệp giảm bớtmức trợ cấp tại chính của Nhà nước đối với doanh nghiệp, khai thông cáckênh tạo lập nguồn vốn, buộc các doanh nghiệp có cơ chế sử dụng vốn tốthơn Thực hiện cải cách hệ thống ngân hàng, tiền tệ ở Trung Quốc với cácbiện pháp sau: Tích cực phát triển cơ quan tín dụng, tiền tệ nhiều cấp nhằmđáp ứng nhu cầu về nguồn vốn của doanh nghiệp; Tách hệ thống ngân hàngthành ngân hàng chính sách và NHTM, lập ngân hàng riêng về xuất nhậpkhẩu; Xây dựng chế độ lãi suất linh hoạt để đảm bảo an toàn cho thị trườngtài chính vận hành có hiệu quả; Cải cách chế độ ngoại hối, thực hiện chế độmột tỷ giá; Hình thành và phát triển thị trường vốn, TTCK
(10) Sử dụng một số biện pháp để tháo gỡ khó khăn về nguồn vốncho DNNN nh: Thực hiện tăng vốn, giảm nợ thông qua việc chuyển cáckhoản cấp phát trước đây thành cho vay điều chỉnh cơ cấu tài sản doanhnghiệp; chuyển các khoản nợ thành cổ phần; Thực hiện các biện pháp giảmthuế thu nhập Công ty, mở rộng tín dụng cho các Công ty có cổ phần niêmyết để khuyến khích các DNNN phát hành cổ phiếu và niêm yết cổ phiếutrên TTCK Thông qua việc bán cổ phiếu các DNNN có thêm nguồn vốn để
mở rộng SXKD và tiếp cận được thị trường quốc tế Đẩy mạnh việc sắp xếplại tài sản nhà nước, thực hiện tối ưu hoá cơ cấu vốn trong các doanhnghiệp
(11) Tiến độ chương trình cải cách hành chính được đẩy nhanh, táchdoanh nghiệp với hành chính, mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho cácdoanh nghiệp về tạo lập nguồn vốn, mậu dịch đối ngoại
1.4.1.2 Kinh nghiệm của Malaysia.
Trang 28Ngoài các cách thức tạo lập nguồn vốn truyền thống nh các quốc giakhác, ở Malayxia các DNNN còn có nhiều cách thức khác nh:
Cho thuê tài sản: Thành phần kinh tế tư nhân trong và ngoài nướcđược phép thuê quyền sở hữu từ Nhà nước thông qua việc ký kết hiệp địnhchuyển nhượng quyền sở hữu trong một thời gian nhất định, hết hạn ngườithuê sẽ phải trả bên nhượng tài sản
Phát hành quyền mua cổ phiếu: Công ty có thể phát hành quyềnmua chứng khoán cho các cổ đông hiện tại của công ty trên cơ sở chuyểnnhượng hoặc không chuyển nhượng Công ty phát hành cố phiếu riêng lẻtrên nguyên tắc đảm bảo giá trị mỗi đợt phát hành được giới hạn ở mức 10%
số vốn cổ phần đã phát hành Việc phát hành cổ phiếu riêng lẻ mang lại một
số lợi Ých cho công ty như sau: Do phát hành thêm cổ phiếu, thu nhập trên
cổ phiếu của công ty sẽ giảm tức thời; Tài sản hữu hình ròng và tỷ lệ nợ trêntổng nguồn vốn của công ty được cải thiện; Phát hành cổ phiếu riêng lẻkhông làm tăng gánh nặng về nợ cho công ty do số vốn tạo lập được tự đợthành; Ưu điểm của việc phát hành cổ phiếu riêng lẻ được thực hiện nhanhhơn so với các công cụ tạo lập khác bởi có Ýt thủ tục hơn và không phải xinphép chấp thuận của nhiều tổ chức
Chính phủ Malaysia còn áp dụng nhiều biện pháp hỗ trợ khác để tạolập nguồn vốn cho doanh nghiệp nh: Miễn giảm các loại thuế (thuế xuấtnhập khẩu, thuế thu nhập Công ty, thuế sử dụng đất làm mặt bằng sảnxuất, ) Khấu trừ khỏi căn cứ tính thuế các chi phí đầu tư, chi phí xây dựngnhà xưởng, khấu hao nhanh TSCĐ, tái đầu tư Được tính gấp đôi các chiphí liên quan đến bảo hiểm vốn, chuyển giao đổi mới công nghệ, cho phéplập thêm các quỹ đầu tư phát triển, dự phòng tài chính; Nhà nước thực hiện
ưu đãi về tín dụng
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm được rót ra cho DNNN ở Việt Nam
Bài học thứ nhất: Ở tất cả các nước đều thừa nhận DNNN là một bộ
phận không thể thiếu được trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của mỗi
Trang 29quốc gia, dù mức độ, phạm vi hoạt động của loại hình doanh nghiệp này ởcác quốc gia có khác nhau Do vậy, ở mỗi quốc gia Chính phủ đều quan tâmtạo điều kiện cho loại hình doanh nghiệp này phát triển ở phạm vi và mức
độ hợp lý để làm chỗ dựa cho Nhà nước thực hiện các mục tiêu của chínhsách kinh tế vĩ mô Đối với các DNNN Chính phủ cần nắm giữ 100% vốn,ngoài việc đảm bảo vốn đầu tư của Nhà nước, Chính phủ nhiều nước đều có
cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo điều kiện cho các DNNN tạo lậpnguồn vốn của xã hội đáp ứng yêu cầu của SXKD
Bài học thứ hai: Đa dạng hoá chế độ sở hữu và tổ chức các loại hình
doanh nghiệp được xem là một giải pháp quan trọng để giải quyết vấn đềnguồn vốn cho DNNN Ở Trung Quốc kiên quyết xoá bỏ bao cấp của Nhànước đối với DNNN Thành lập tập đoàn doanh nghiệp là một giải pháp đểtích tụ và tập trung vốn cho DNNN
Bài học thứ ba: Để quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, Chính
phủ ở các nước đều áp dụng biện pháp giám sát vốn và tài sản của doanhnghiệp Ở Trung Quốc trong cải cách DNNN, việc thực hiện quản lý, giámsát, sử dụng vốn và tài sản trong các DNNN là vấn đề được Chính phủTrung Quốc rất quan tâm Tình trạng để thất thoát tài sản, thiếu VLĐ, sửdụng vốn không hợp lý là căn bệnh chung của các DNNN ở Trung Quốc
Để tăng vốn, tài sản trong DNNN, Trung Quốc đã áp dụng hàng loạt biệnpháp như tăng tỷ lệ khấu hao, tăng quỹ đầu phát triển cho DNNN để doanhnghiệp có điều kiện mở rộng SXKD, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vayvốn lãi suất ưu đãi, cắt giảm lãi suất ngân hàng, phát hành trái phiếu để thuhút vốn xã hội, thực hiện bổ sung VLĐ cho doanh nghiệp qua các kênh như:Ngân sách cấp thêm, điều chỉnh giá Cho phép doanh nghiệp toàn quyền sửdụng VLĐ Để giám sát hoạt động của DNNN nói chung và việc sử dụngvốn nói riêng Chính phủ Trung Quốc đã thiết lập một hệ thống kiểm soát từbên ngoài thông qua việc thành lập hệ thống các kiểm soát viên đặc quyềntrực thuộc Hội đồng Nhà nước
Trang 30Bài học thứ tư: Đa số các nước có nền KTTT phát triển đều coi trọng
việc DNNN tự tạo lập nguồn vốn bằng nhiều kênh với nhiều công cụ tạo lậpnguồn vốn, cụ thể như: Phát triển hệ thống NHTM sử dụng phổ biến hìnhthức TTC và hình thành TTCK Coi việc tạo lập nguồn vốn thông quaTTCK là con đường hiệu quả thấp nhất để đáp ứng nhu cầu nguồn vốn trung
dài hạn cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp Vấn đề này ở Việt Nam
còn nhiều tồn tại, yếu kém cần phải rút kinh nghiệm để củng cố, hoàn thiện
và xây dựng TTCK Bởi vì, trong điều kiện thị trường tài chính còn kémnăng động thì việc đáp ứng một phần nhu cầu đầu tư trung, dài hạn đối với
các doanh nghiệp thường được tiến hành bằng hai cách: Một là, Đầu tư dài
hạn được tài trợ bằng lợi nhuận từ hoạt động SXKD của chính doanhnghiệp Đối với nguồn đầu tư này thì quy mô lại tuỳ thuộc vào kết quả hoạt
động SXKD Hai là, Đầu tư dài hạn bằng cách đi vay ở các định chế tài
chính trung gian Cách này gặp phải khó khăn về nguồn vốn của các tổ chức
đó, vì phần lớn nguồn vốn cho vay của các định chế tài chính trung gian chủyếu là ngắn hạn Do vậy, để đảm bảo nhu cầu về vốn dài hạn các doanhnghiệp có thể tìm kiếm cơ hội và tạo ra những tiền đề để có thể phát hànhtrái phiếu công ty và cổ phiếu qua TTCK Đây là nét đặc trung vốn có củaTTCK mà không có một thị trường nào có thể so sánh được TTCK là nơi
mà doanh nghiệp có thể chuyển hoá nguồn vốn ngắn hạn sang dài hạn mộtcách thuận lợi
Bài học thứ năm: Để các DNNN có thể tạo lập nguồn vốn, ở tất cả
các nước, Nhà nước đều sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô nh: Công cụ vềlãi suất, công cụ về lãi suất, công cụ thuế Ở một số nước Chính phủ sửdụng công cụ lãi suất nh là một giải pháp chủ yếu để tạo nguồn vay cho cácDNNN Còn ở Malaysia và Indonexia đã áp dụng khá phong phú các ưuđãi về tài chính nh: Miễn, giảm nhiều loại thuế, trợ cấp đầu tư, tín dụng ưuđãi, hỗ trợ xuất khẩu
Trang 31Kết luận chương 1
1- Luận văn trình bày các quan điểm khác nhau về vốn của cácnhà kinh điển, nêu và phân tích các đặc trưng của vốn Mỗi chức năngthể hiện một bản chất của vốn, đó là cơ sở hết sức quan trọng để xâydựng các giải pháp tạo lập nguồn vốn
2- Luận văn đã phân tích vai trò của vốn đối với hoạt động SXKDcủa DNNN; Phân tích CPSDV vốn và cơ cấu vốn; Luận văn trình bàymột số cách phân loại chủ yếu về vốn và nguồn vốn; Tiếp theo Luận văn
đã nêu một số nội dung cơ bản về quản lý và sử dụng vốn
3- Luận văn đã trình bày các cách thức tổ chức tạo lập nguồn vốncho DNNN trong KTTT Mỗi cách thức tạo lập nguồn vốn đều có những
ưu, nhược điểm nhất định Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp phải nhận thứcđược và tận dụng để nâng cao khả năng tạo lập nguồn vốn
4- Luận văn đã trình bày kinh nghiệm tạo lập nguồn vốn củaDNNN ở Trung Quốc và Malaysia Đây là những quốc gia trước thời kỳđổi mới có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Từ đó luận văn rót ra 5bài học kinh nghiệm cho việc tạo lập nguồn vốn cho DNNN ở Việt Nam
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC NGUỒN VỐN KINH DOANH
CỦA PETROLIMEX TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Thực trạng SXKD của Petrolimex
2.1.1 Quá trình phát triển của Petrolimex
Petrolimex là DNNN trực thuộc Bộ Thương Mại Tiền thân là Công
ty Dầu mỡ được thành lập theo Quyết định số 09/BTM-NĐKD ngày12/01/1956 của Bộ Thương nghiệp và được thành lập lại theo Quyết định số224/TTg ngày 17/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ Chức năng và nhiệm vụchính của Petrolimex là đáp ứng đầy đủ nhu cầu xăng dầu và các sản phẩmhóa dầu cho phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng và phục vụ đời
Trang 32sống nhân dân Trong thời gian từ khi thành lập đến năm 1980, Petrolimexchỉ đơn thuần đảm bảo nhận cung cấp xăng dầu chính cho nhu cầu của nềnkinh tế Từ những năm 1986 trở đi cùng với sự đổi mới nền kinh tế do Đảng
và Nhà nước khởi xướng, Petrolimex không ngừng được đa dạng hóa hoạtđộng kinh doanh với trục chính là xăng dầu sáng Trong thời kỳ này cácngành hàng dầu nhờn, nhựa đường, hóa chất, bảo hiểm và ga hóa lỏng đượchình thành bước đầu hoạt động SXKD có hiệu quả
Trải qua trên 47 năm xây dựng và trưởng thành, Petrolimex đã khẳngđịnh được uy tín trên thị trường, với các chính sách đầu tư đúng hướng, đếnnay Petrolimex đã xây dựng được một hệ thống phân phối xăng dầu hoànchỉnh và rộng khắc trên toàn quốc Hệ thống kho tiếp nhận chiếm các vị tríchiến lược tại ba vùng Bắc, Trung, Nam cùng với 48 công ty thành viên vàkhoảng 48 chi nhánh, xí nghiệp, tổng kho, cảng dầu và trên 1.500 cửa hàngbán lẻ xăng dầu trực thuộc các công ty thành viên có trụ sở tại hầu hết cáctỉnh thành trong cả nước đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng xăngdầu của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên đến nay bên cạnh những mặt tíchcực, hệ thống kênh phân phối đã tỏ ra trì trệ, chi phí gia tăng, các hình thứctạo lập nguồn vốn nghèo nàn, thiếu linh hoạt đã làm giảm tính cạnh tranhcủa cả hệ thống Thực tế đã có nhiều chuyên gia của ngành đặt câu hỏi là
mô hình này đã thành công trong quá khứ thì liệu có thể thành công trongthời gian tới hay không? Là thời kỳ của KTTT mà đặc trưng của nó là cạnhtranh, tính hiệu quả là động lực để tồn tại và phát triển Vấn đề đặt ra là làmthế nào để tạo lập nguồn vốn cho quá trình phát triển hoạt động SXKD? Đây
là câu hỏi mở đường đối với Ban lãnh đạo Petrolimex, tính cấp thiết phảigiải đáp cho câu hỏi ngày càng gia tăng khi các doanh nghiệp Việt Namđang đứng trước ngưỡng cửa của sự hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế cónhững cơ hội và cũng rất nhiều thách thức
2.1.2 Môi trường kinh doanh của Petrolimex
Trang 33Nh trên đã trình bày trong những năm qua hoạt động SXKD củaPetrolimex đạt được những kết quả nhất định: SXKD phát triển, đã tạo dựngđược uy tín trên thị trường Có một hệ thống phân phối xăng dầu hoàn chỉnhrộng khắp trên toàn quốc Xây dựng được cơ sở vật chất, kỹ thuật cơ bảnđáp ứng những yêu cầu cho hoạt động kinh doanh xăng dầu Đây là những
ưu thế vượt trội của Petrolimex so với nhiều doanh nghiệp khác cùng kinhdoanh xăng dầu Tuy nhiên tình hình hoạt động SXKD của Petrolimex còn ởtrong điều kiện khó khăn, cụ thể: Thiếu vốn cho nhu cầu nhập khẩu xăngdầu và đổi mới công nghệ Việc sắp xếp thị trường của Nhà nước khôngbình đẳng bất lợi cho Petrolimex, lợi thế cạnh tranh thuộc về các doanhnghiệp khác cùng kinh doanh xăng dầu Tình trạng công nợ khách mua hàng
nợ đọng lớn Nh vậy, có thể nói hiện tại hoạt động SXKD của Petrolimexđang ở trong một môi trường kinh doanh không nhiều thuận lợi Nguyênnhân sâu sa là Petrolimex chưa kịp thích ứng với những diễn biến của cơchế thị trường, thể chế kinh tế của Nhà nước còn nhiều vấn đề bất cặp đốivới Petrolimex Nghiên cứu kỹ môi trường kinh doanh và những nhân tốảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh doanh để Petrolimex làm chủ được
sự thay đổi của môi trường kinh doanh và sẵn sàng thích nghi với nó, từ đó
để xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp bền vững, có được các giảipháp tài chính tiếp cận khơi thông, tạo lập các nguồn vốn cho Petrolimex.Sau đây xin trình bày một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến môi trườngkinh doanh của Petrolimex:
2.1.2.1 Nhân tố chính sách vĩ mô:
Một là: Petrolimex là DNNN giữ vai trò chủ đạo, phải song song
thực hiện 2 nhiệm vụ là nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ kinh doanh Nhiệm
vụ chính trị được giao cụ thể nh sau:
Petrolimex phải đảm bảo thoả mãn nhu cầu xăng dầu ở các tỉnhmiền núi, các tỉnh vùng sâu, vùng xa, việc vận chuyển xăng dầu đến nhưngvùng này phải bỏ ra chi phí rất cao, nhưng giá bán không được phép tăng
Trang 34tương ứng mà Nhà nước khống chế giá bán tối đa “giá trần” như giá bán ởcác tỉnh đồng bằng Hàng năm, Petrolimex phải bỏ ra trên 30 tỷ đồng để trợcước vận chuyển cho các công ty trực thuộc bán xăng dầu ở các vùng này.Hơn nữa, do nhu cầu xăng dầu ở các vùng này thấp, nhỏ lẻ, nên năng suấtlao động tại các cửa hàng bán lẻ xăng dầu rất thấp, không bù đắp chi phí trảlương và không thu hồi đủ vốn đầu tư Các doanh nghiệp kinh doanh xăngdầu khác không phải làm nhiệm vụ này, họ chỉ tham gia kinh doanh xăngdầu ở vùng thị trường thuận lợi là các tỉnh ven biển và các thành phố lớn,nơi có chi phí thấp và có nhu cầu lớn Vì Petrolimex phải tích luỹ lợi nhuận
ở các vùng thị trường thuận lợi để bù lỗ cho việc bán xăng dầu ở các tỉnhmiền núi, do vậy giá bán luôn cao hơn các doanh nghiệp khác, làm yếu thếcạnh tranh và co hẹp thị phần của Petrolimex ở các thị trường kinh doanhthuận lợi
Petrolimex phải chịu trách dự trữ xăng dầu, đảm bảo tồn kho dự trữcho lưu thông bình quân 1 tháng, để thực hiện nhiệm vụ là ổn định thịtrường xăng dầu, tránh các cơn sốt về giá xăng dầu do thiếu nguồn Lượngxăng dầu dự trữ tồn kho 1 tháng bình quân là 400.000tấn, với số vốn cầnthiết tương ứng là 1200 tỷ đồng, làm tăng chi phí lãi vay ngân hàng, ảnhhưởng đến hiệu quả kinh doanh của Petrolimex Trong khi đó các doanhnghiệp kinh doanh xăng dầu khác không phải làm nhiệm vụ này, họ nhập vềđến đâu bán đến đó
Petrolimex có nhiệm vụ phải thoả mãn nhu cầu xăng dầu của nềnkinh tế theo tất cả các chủng loại mặt hàng Xăng dầu gồm có 4 chủng loạimặt hàng chính là Xăng ô tô, Diesel, Mazut và Dầu hoả Mỗi mặt hàng cónhững thuận lợi khó khăn nhất định trong quá trình kinh doanh, trong đó:Mặt hàng Xăng và Diesel thường là dễ kinh doanh, có nhu cầu lớn, có lợinhuận cao: Mặt hàng Dầu hoả chủ yếu bán cho miền núi theo chính sách giácủa Chính phủ và bị lỗ Mặt hàng Mazut khó kinh doanh, có giá trị thấp, chủyếu dùng cho công nghiệp và được Nhà nước bảo hộ khống chế giá bán ở
Trang 35mức thấp nên thường bị lỗ Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu khác chỉlựa chọn mặt hàng kinh doanh thuận lợi và có lợi nhuận cao.
Petrolimex có nhiệm vụ phải thoả mãn nhu cầu xăng dầu của nềnkinh tế tại mọi thời điểm, chịu trách nhiệm ổn định thị trường và giá bánxăng dầu Theo quy luật cung cầu của thị trường, giá xăng dầu thế giới biếnđộng thất thường, khi giá thế giới tăng cao hơn giá bán tối đa do Chính phủquy định, kinh doanh xăng dầu bị lỗ, các doanh nghiệp khác sẽ tự độngkhông tham gia thị trường, không nhập xăng dầu về bán, toàn bộ nhu cầuxăng dầu của nền kinh tế dồn lên vai Petrolimex, cùng với số lỗ phát sinh.Đến khi giá thế giới giảm, kinh doanh xăng dầu có lợi nhuận, thì các doanhnghiệp khác lại tham gia ồ ạt và giảm giá để bán, riêng Petrolimex phải giữgiá bán cao ổn định để tích luỹ lợi nhuận bù đắp cho thời kỳ kinh doanh bị
lỗ Vấn đề này thể hiện rõ nhất trong kinh doanh xăng dầu năm 2000,Petrolimex bị lỗ về kinh doanh xăng dầu trên 1006 tỷ và phải đảm nhận75% nhu cầu xăng dầu của nền kinh tế
Đó là nghịch lý mà Petrolimex với vai trò là DNNN chủ đạo phảithực hiện Nh vậy Nhà nước chưa tạo ra sân chơi và luật chơi bình đẳngtrong kinh doanh xăng dầu trên thị trường Hiện nay, Nhà nước chưa có cơchế tài chính đảm bảo cho Petrolimex thực hiện các vấn đề trên
Hai là: Cơ chế giá xăng dầu do Chính phủ điều hành còn nhiều bất
cập Về giá bán trong nước, Chính phủ quy định giá bán tối đa “giá trần” mà
mọi doanh nghiệp phải thực hiện, cơ chế giá bán tối đa bộc lộ một số mâu
thuẫn: Thứ nhất, giá bán tối đa quy định cứng nhắc trong một thời gian dài, thường là một năm; thứ hai, giá bán tối đa không phản ánh đúng các yếu tố
cấu thành giá là giá vốn cộng chi phí ở vùng thị trường có chi phí bán hàngcao nhất, mà chỉ cộng với chi phí bán hàng bình quân cả nước, vì vậy kinhdoanh ở đầu cảng thì có lợi nhuận cao, còn kinh doanh ở miền núi thì bị lỗ;
Thứ ba, khi giá vốn nhập khẩu vượt quá giá bán tối đa, kinh doanh bị lỗ thì
Chính phủ không có cơ chế tài chính bảo đảm, mặc cho doanh nghiệp kêu
Trang 36cứu Trên đây là ba mâu thuẫn chính trong điều hành cơ chế giá tối đa,phản lại quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường.
Ba là: Cơ chế cân đối bảo đảm ngoại tệ Hiện nay, toàn bộ nhu cầu
xăng dầu của nền kinh tế quốc gia phải nhập khẩu từ nước ngoài và thanhtoán bằng ngoại tệ mạnh là Đôla Mỹ (USD) Mỗi năm nước ta phải bỏ rakhoảng 1,5 tỷ USD để nhập khẩu xăng dầu, Nhà nước chưa có cân đối đảmbảo ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu, mà các doanhnghiệp phải tự cân đối và mua ở các NHTM, vì vậy các doanh nghiệp luônluôn bị động về ngoại tệ để thanh toán ngoại thương
2.1.2.1 Nhân tố nội tại doanh nghiệp:
Một là: Về tổ chức Petrolimex hoạt động theo mô hình Tổng công ty
90, Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý hoạt động của doanhnghiệp nhưng trong thực tế “quyền” quản lý của Hội đồng quản trị vẫn bịgiới hạn trong phạm vi rất hạn hẹp và mang tính chất thụ động như một cầunối giữa Tổng giám đốc với Bộ chủ quản Hội đồng quản trị là cơ quan đạidiện chủ sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp nhưng lại không được quyềnlựa chọn (thuê) Tổng giám đốc Hơn nữa vì chức năng quản lý hạn hẹp nênđôi khi Hội đồng quản trị lại tham gia quá sâu vào công tác điều hành củaTổng giám đốc
Hai là: Bộ máy tổ chức hiện tại còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến
quá trình kinh doanh và làm giảm sức mạnh của toàn bộ hệ thống Bộ máy
tổ chức quá cồng kềnh, phân tán, quá nhiều đầu mối các đơn vị trực thuộcnên số người làm quản lý quá lớn (Số lao động quản lý chiếm 24,23% tổng
số lao động kinh doanh xăng dầu), năng suất lao động thấp ảnh hưởng lớnđến hiệu quả kinh doanh Đội ngũ cán bộ, công nhân thường xuyên đượcđào tạo bổ xung kiến thức, học tập các công nghệ, thiết bị mới, nhưng độingũ chuyên gia giỏi ở cả lĩnh vực quản lý và kỹ thuật rất Ýt
Ba là: Mặc dù công tác quản lý tài chính của Petrolimex được đánh
giá tốt, tốc độ quay vòng vốn nhanh, nguồn vốn đầu tư được tập trung có
Trang 37hiệu quả, không có sự cố tài chính lớn, nhưng để đáp ứng được yêu cầu hộinhập khi các công ty nước ngoài được phép cạnh tranh tại Việt Nam thìnguồn lực về vốn là rất thấp, kinh nghiệm quản lý tài chính theo cơ chế thịtrường còn yếu Do Petrolimex có quá nhiều đầu mối, việc quản lý tiền hàngchưa có cơ chế cụ thể, rõ ràng, phương thức quản lý mới chỉ dừng ở cácbiện pháp hành chính, chưa thích ứng được với từng khu vực, đặc điểm kinhdoanh của từng công ty, vì vậy chưa khuyến khích được việc sử dụng vốnmột cách có hiệu quả tại các công ty thành viên.
Bốn là: Việc quy hoạch, xây dựng chiến lược phát triển ngành chưa
rõ ràng, chưa nằm trong tổng thể chiến lược phát triển của quốc gia Chưaxác định rõ mục tiêu từng giai đoạn cho phù hợp với tình hình mới như giaiđoạn Việt Nam có nhà máy lọc dầu, Việt Nam gia nhập WTO, các hãngquốc tế được kinh doanh xăng dầu trên thị trường
2.1.3 Tình hình hoạt động SXKD của Petrolimex những năm gần đây
Mặc dù kinh doanh trong môi trường kinh doanh không nhiều thuậnlợi xong hoạt động kinh doanh xăng dầu chính của Petrolimex liên tục tăng
trưởng qua các năm, cụ thể theo số liệu bảng (2.2) năm 1991 sản lượng xăng
dầu xuất bán đạt 2.693.719 m3,tấn thì đến năm 2002 sản lượng bán xăngdầu đã đạt 5.814.067 m3,tấn tăng 216%, giữ từ 55% đến 60% thị phần xăngdầu toàn quốc Petrolimex đã quan tâm phát triển mạng lưới kinh doanh từcác thành phố lớn, khu kinh tế tập trung, trục quốc lộ đến tận các vùng sâu,vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Ýt người, thực hiện tốt vai trò chủ đạo,không để xảy ra “sốt” xăng dầu, góp phần rất lớn vào thực hiện thắng lợicác mục tiêu kinh tế xã hội trên phạm vi toàn quốc Ngoài ra Petrolimex cònthiết lập được thị trường tái xuất xăng dầu cho Lào, Campuchia, Nam TrungQuốc, cung cấp xăng dầu cho các khách hàng khu chế xuất và tàu biển nướcngoài ghé Cảng Việt Nam
Các loại hình hoạt động SXKD các sản phẩm hóa dầu như: Gas,nhựa đường, dầu mỡ nhờn, hóa chất tốc độ tăng trưởng đạt trên 10% năm
Trang 38Các loại hình hoạt động khác như: Cơ khí xăng dầu, xây lắp thiết kế, kinhdoanh vật tư tổng hợp hoạt động đảm bảo bù đắp được chi phí và có lợinhuận.
Petrolimex luôn luôn là đơn vị hoạt động có lãi (trừ năm 2000 lỗ do
nguyên nhân khách quan) Theo số liệu bảng (2.3) cho thấy hiệu quả SXKD
của Petrolimex từ năm 1996 đến năm 2002, trong đó lợi nhuận đạt 1.528 tỷđồng, tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản từ năm 1996 đến năm
2002 trong khoảng 2,49% - 15,68% (tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốnchủ sở hữu năm 1996 là 7,33%, năm 1997 là 13,58%, năm 1998 là 15,68%,
1999 là 7,66%, năm 2000 là -16,40%, năm 2001 là 3,90%, năm 2002 là2,49%), tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu từ năm 1996 đếnnăm 2002 trong khoảng 5,03% - 24,98% (tỷ suất lợi nhuận trước thuế trênvốn chủ sở hữu năm 1996 là 12,38%, năm 1997 là 23,47%, năm 1998 là24,98%, 1999 là 13,71%, năm 2000 là -47,75%, năm 2001 là 7,68%, năm
2002 là 5,03%)
Theo số liệu bảng (2.4) tỷ suất chi phí bán hàng và chi phí quản lý
trên doanh thu năm 2001 là 6,88% so với năm 2000 giảm 0,77%; Tỷ suấtchi phí bán hàng và chi phí quản lý trên doanh thu năm 2002 là 6,22% sovới năm 2001 giảm 0,66% Tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu thuầnnăm 2001 là 93,22% so với năm 2000 tăng 1,28%; Tỷ lệ giá vốn hàngbán trên
Bảng 2.4: Kết quả kinh doanh thương mại năm 2000, 2001 và 2002
Đơn vị tính: Tỷ Việt Nam đồng
Chỉ tiêu
Năm 2000
Năm 2001
Năm 2002
Tiền Tiền Tiền Tỷ trọng
(%)
Trang 391 Doanh thu thuần về bán hàng
Từ hiệu quả hoạt động SXKD, sau khi hoàn thành nghĩa vụ với ngânsách Nhà nước phần còn lại Petrolimex thực hiện trích lập quỹ khen thưởng,quỹ phúc lợi và quỹ phát triển kinh doanh theo quy định hiện hành Tínhđến 31/12/2002 Petrolimex đã tự bổ sung được 1.306 tỷ đồng vốn, chiếm tỷtrọng 56% tổng số nguồn vốn kinh doanh, do đó Petrolimex đã thực hiệnđược việc bảo toàn và phát triển nguồn vốn Nhà nước giao: Từ số vốn Nhànước giao năm 1991 và bổ sung qua các năm do chuyển một số đơn vị trựcthuộc bộ về trực thuộc Petrolimex là 990 tỷ đồng, đến thời điểm 31/12/2002
Petrolimex đã có số vốn đạt 2.317 tỷ đồng, tăng gấp 2,34 lần [21, 5].
Petrolimex là một trong những doanh nghiệp có số nộp Ngân sáchNhà nước lớn, từ năm 1991 đến năm 2002 là 34.302 tỷ đồng được thể hiện ở
Trang 40bảng (2.3), trong đó số nộp Ngân sách Nhà nước năm 2002 là 5.798 tỷ đồng
gấp 14 lần so với năm 1991 Việc đóng góp nghĩa vụ với Ngân sách đượcthực hiện nghiêm túc theo đúng quy định của Nhà nước từ tổng công ty đếncác đơn vị thành viên
Từ tình hình kinh doanh nêu trên của Petrolimex có thể rót ra nhậnxét như sau:
Một là: Do giá xăng dầu thế giới có xu hướng tăng cao, làm cho lợi
nhuận hoạt động kinh doanh của Petrolimex có xu hướng giảm sút, điều này
đã ảnh hưởng đến tích luỹ của Petrolimex
Hai là: Petrolimex đã có những biện pháp nỗ lực giảm hao phí các
nguồn lực để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng khả năng tích luỹ
2.2 Tình hình nguồn vốn kinh doanh của Petrolimex
2.2.1 Tổng quan về vốn và tài sản
* Cơ cấu vốn và tài sản:
Theo số liệu bảng (2.2), đến thời điểm 31/12/2001 tổng số giá trị tài
sản của Petrolimex là 5.944 tỷ đồng so với năm 2000 tăng 107,82%; đếnthời điểm 31/12/2002 tổng số giá trị tài sản của Petrolimex là 7.274 tỷ đồng
so với năm 2001 tăng 122,38% Nếu tính tài sản theo nguồn vốn hình thànhthì tài sản hình thành từ nguồn vốn vay và chiếm dụng thì đến thời điểm31/12/2001 là 49,21% so với năm 2000 giảm 80,80%; bằng nguồn vốn củaPetrolimex là 50,79% so với năm 2000 tăng 159,48%; như vậyPetrolimex
Bảng 2.2: Kết cấu tài sản và nguồn vốn đến 31/12
Đơn vị tính: Tỷ Việt Nam đồng
Chỉ tiêu
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
(%)
A Tài sản lưu động và 3.995 4.187 5.511 75,76