Do vậy, trong thực hành nông nghiệp không thể tránh khỏi việc sử dụngthuốc bảo vệ thực vật để phòng sâu bệnh cũng như các chất bảo quản rau quả trongquá trình lưu thông phân phối.Hiện na
Trang 1Điều kiện đất đai, khí hậu nước ta rất thuận lợi để phát triển rau xanh và cây ănquả nhưng cũng là môi trường thích hợp cho các loại côn trùng, sâu bọ, nấm mốcphá hoại Do vậy, trong thực hành nông nghiệp không thể tránh khỏi việc sử dụngthuốc bảo vệ thực vật để phòng sâu bệnh cũng như các chất bảo quản rau quả trongquá trình lưu thông phân phối.
Hiện nay, tình trạng vệ sinh an toàn của rau quả nói chung và đối cây cà chuanói riêng là vấn đề đáng lo ngại:
- Việc dư lượng thuốc bảo vệ thực vật với nồng độ quá cao là tác nhân thườnggặp ở một số vụ ngộ độc gây rối loạn thần kinh trung ương, nhức đầu, nôn mửa, mấtngủ, giảm trí nhớ, với mức độ nặng hơn có thể tổn thương thần kinh ngoại biên dẫnđến liệt
- Hội chứng nhiễm độc não thường gặp đối với thuốc bảo vệ thực vật nhómthủy ngân hữu cơ và lân hữa cơ Các hội chứng về tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, gan,mật và hội chứng về máu cũng có thể xảy ra ở những trường hợp nặng, tỷ lệ tử vongcao
- Hơn thế nữa, việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thíchsinh trưởng…không đúng quy định làm cho tổn dư các chất hóa học độc hại trongrau quả tuy ở liều lượng chưa gây ngộ độc cấp tính nhưng với thời gian sử dụng kéodài cũng có thể dẫn đến nguy cơ tích lũy và gây tổn thương một số bộ phận trong cơ
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 1
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 2thể, sau một thời gian dài mới phát bệnh hoặc gây dị tật, dị dạng cho các thế hệ sau.Báo cáo khảo sát của ngành Y tế tại một số tỉnh đã phát hiện Dimethoat, Diazinon
và Cypermethrin phổ biến trong các loại rau, đậu, đỗ Mặc dù các loại thuốc trừ sâunày có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng trong sản xuất rau
an toàn, mức độ tồn dư ở các mẫu rau cải xanh đã gần với giới hạn tối đa cho phép
Từ năm 2005 - 2007, kết quả phân tích của Cục Bảo vệ thực vật của Bộ Nôngnghiệp và phát triển nông thôn cũng thông báo một số thuốc bảo vệ thực vật thườnggặp như Fipronil, Quinalphos, Hexaconazonle với dư lượng vượt mức cho phép trên20% ở mẫu nho, 6,6% ở mẫu bắp cải và 11,1% ở mẫu đậu quả
- Theo thống kê của Cục An toàn và vệ sinh thực phẩm thuộc Bộ Y tế, từ năm
2000 - 2007 đã có tới 205 vụ ngộ độc, với 3.637 người mắc, 23 người chết do thựcphẩm gây ngộ độc là rau, của, quả Tính riêng năm 2007 cũng có 37 vụ ngộ độc,
555 người mắc và 7 người tử vong Mặc dù đây là số liệu tổng hợp từ báo cáo chưađầy đủ của các tỉnh gửi về nhưng cũng cảnh báo thực trạng rất đáng lo ngại (PGS
TS Hà Thị Anh Đào, 2010)
- Chính vì vậy, việc phát triển rau quả nói chung và cà chua nói riêng ngoàiphát triển nông nghiệp phải đi đôi với bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp, xâydựng nền nông nghiệp bền vững, giảm thiểu việc dùng thuốc hoá học trên cây làvấn đề cấp bách hiện nay Vì vậy, công tác điều tra sự đa dạng thành phần sâu hại
và thiên địch trên cây trồng cần phải được tiến hành thường xuyên và liên tục
Xuất phát từ điều này, sinh viên tiến hành đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH các loại sâu hại & thiên địch trên cây cà chua” tại huyện Bình
Chánh – Tp.HCM nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc xây dựng cácbiện pháp quản lý sâu hại trên cây cà chua, bảo tồn và phát huy được vai trò củathiên địch một cách hiệu quả, góp phần giảm thiểu việc dung thuốc trừ sâu trên cây
Trang 3các biện pháp bảo tồn các loài côn trùng có ích phục vụ cho công tác sản xuất rau antoàn của TP.HCM.
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra tình hình sử dụng thuốc trừ sâu, bệnh trên cây cà chua tại huyện
- Thời gian: đề tài thực hiện từ tháng 26/11 – 26/02/2011
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu côn trùng thiên địch và sâuhại trên ruộng cà chua huyện Bình Chánh, Tp.HCM
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 3
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 4CHƯƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Định nghĩa về đa dạng sinh học
Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm "Đa dạng sinh học" (biodiversity,biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọinơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vựckhác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần, ; thuậtngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinhthái
Tính đa dạng của gen di truyền, kiểu gen và các bộ gen cũng như mối quan hệcủa chúng với môi trường ở mức phân tử, loài, quần thể và hệ sinh thái (FAO,1990)
Tính đa dạng và sự khác nhau của tất cả động vật, thực vật và vi sinh vật trêntrái đất, có thể được phân thành 3 cấp: đa dạng di truyền (biến thiên trong loài), đadạng loài, và đa dạng sinh cảnh (Overseas Development Administration, 1991).Toàn bộ sự đa dạng và sự khác nhau giữa các sinh vật sống và trong chính sinhvật đó, các tổ hợp sinh vật và các hệ sinh thái hướng sinh cảnh Thuật ngữ bao gồmcác mức đa dạng hệ sinh thái, loài và sinh cảnh, cũng như trong một loài (đa dạng ditruyền) (Fiedler & Jain, 1992)
Tính đa dạng về cấu trúc và chức năng của các dạng sống ở các mức di truyền,quần thể, loài, quần xã và hệ sinh thái (Sandlund et al., 1993)
Là toàn bộ đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng sinh thái, cũng như nhữngtác động tương hỗ giữa chúng, trong một vùng xác định, tại một thời điểm xác định(di Castri, 1995)
Là toàn bộ các mức tổ chức về mặt di truyền học, các cấp phân loại và sinh tháihọc, cũng như mối tương tác theo thứ bậc, tại các mức độ tổ hợp khác nhau (diCastri & Younốs, 1996)
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 4
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 5Đa dạng sinh học được định nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất
cả mọi nơi, gồm các hệ sinh thái trên cạn, sinh thái trong đại dương và các hệ sinhthái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thànhphần trong đó Thuật ngữ đa dạng sinh học này bao hàm sự khác nhau trong mộtloài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái khác nhau (Elizabeth Cromwell, DavidCooper and Patrick Mulvany, 1997)
Theo Dương Trí Dũng (2001) đa dạng sinh học là sự biến đổi trong sinh vật
sống từ mọi nguồn như trong không khí, đất, biển, trong hệ thống môi trường nướckhác là một phức hợp sinh thái nơi nó tồn tại, điều này bao gồm sự đa dạng về loài(đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các
hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái)
Theo Phạm Bình Quyền (2006), đa dạng sinh học là sự phong phú của tất cả cácloài sinh vật từ các hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước, vàmỗi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trongloài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), vàcác hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái)
2.2 Đặc điểm của cây cà chua
Tên khoa học: Lycopersicum esculentum Miller
- Cà chua là một trong những cây thực phẩm khá quan trọng đối với đời sốngcon người, là loại rau ăn trái rất được ưa thích vì phẩm chất ngon và chế biến đượcnhiều cách, cà chua còn cho năng suất cao Ở nhiều nước trên thế giới đã phát triểntrồng cà chua trên qui mô khá rộng được canh tác khoảng 200 năm nay ở Châu Âu
để làm cây thực phẩm, ở Bungari có diện tích trồng rau chiếm 70% tổng diện tíchtrồng trọt, trong đó cây cà chua chiếm 40% diện tích
- Trong những năm qua, nước ta đã mở rộng diện tích trồng cà chua trên mộtqui mô lớn Ở nước ta việc phát triển trồng cà chua còn có ý nghĩa quan trọng vềmặt luân canh, tăng vụ và tăng năng suất trên đơn vị diện tích, do đó cà chua là loạirau được khuyến khích phát triển Tuy nhiên, việc trồng cà chua chưa được pháttriển mạnh theo mong muốn vì cà chua trồng trong điều kiện nóng và ẩm ở nước ta
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 5
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 6dễ mắc nhiều bệnh gây hại đáng kể như héo tươi, virus, khó phòng trị Để đảmbảo cho năng suất cà chua ngày càng tăng và ổn định, ngoài những biện pháp cầngiải quyết về giống, canh tác, đất đai, phân bón… thì vấn đề sâu hại cà chua cầnphải chú ý đặc biệt là đối với vụ cà chua xuân hè
- Theo các kết quả điều tra thành phần sâu hại trên cây cà chua có tới 13 -14loài gây hại phổ biến thường xuyên Một số loài gây hại nghiêm trọng ảnh hưởnglớn đối với năng suất cà chua: bọ phấn, bọ xám, sâu xanh
2.2.1 Đặc tính sinh vật học
Rễ: rễ cái mọc nhanh, ăn sâu 0.5 – 1m Rễ cái thường bị đứt khi cây ra rễphụ, hệ thống rễ phụ rất phát triển và phân bố rộng Bộ rễ ăn sâu hay nông, pháttriển mạnh hay yếu đều liên quan đến mức độ phân cành và phát triển của các bộphận trên mặt đất Do đó muốn có bộ rễ như ý muốn ta chỉ việc tẻ cành, bấm ngọn
Thân: Thân tròn, thẳng đứng, mọng nước, phủ nhiều lông, khi cây lớn gốcthân dần dần hóa gỗ Thân mang lá và phát hoa Ở nách lá là chồi nách Chồi nách ởcác vị trí khác nhau có tốc độ sinh trưởng và phát dục khác nhau, thường chồi nách
ở ngay dưới chùm hoa thứ nhất có khả năng tăng trưởng mạnh và phát dục sớm sovới các chồi nách gần gốc., khi cây lớn thân cây hoá gỗ
Tuỳ theo khả năng sinh trưởng và phân nhánh, cà chua được phân thành 4 dạngkhác nhau:
- Dạng vô hạn: Thân dài hơn 2m, có chum hoa đầu tiên ở lá thứ 9 – 11 sau đócách 3 – 4 lá sau mới có chùm hoa tiếp theo Dạng này có tiềm năng cho năng suấtcao nhờ thu hoạch dài ngày
- Dạng hữu hạn: Thân cứng, mọc đứng, có chùm hoa đầu tiên ở lá thứ 7 – 9,sau đó cách 1 – 2 lá cho chùm hoa kế tiếp cho đến khi cây được 4 – 6 chùm hoa thìxuất hiện chùm hoa ngọn, cây ngừng cao Dạng cà chua này cho trái sớm và tậptrung
- Dạng bán hữu hạn: Tương tự như dạng hữu hạn nhưng số chùm hoa của loàinày nhiều hơn khoảng 8 – 10 chùm
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 6
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 7- Dạng bụi: cà chua có long rất ngắn, đâm chồi mạnh, ít chùm hoa, cho trái tậptrung, phục vụ cho việc trồng dày và thu hoạch cơ giới.
Lá: Lá thuộc lá kép lông chim lẻ, mỗi lá có 3 - 4 đôi lá chét, ngọn lá có 1 láriêng gọi là lá đỉnh Rìa lá chét đều có răng cưa nông hay sâu tùy giống Phiến láthường phủ lông tơ Đặc tính lá của giống thường thể hiện đầy đủ sau khi cây cóchùm hoa đầu tiên
Hoa: Hoa mọc thành chùm, lưỡng tính, tự thụ phấn là chính Sự thụ phấnchéo ở cà chua khó xảy ra vì hoa cà chua tiết nhiều tiết tố chứa các alkaloid độc nênkhông hấp dẫn côn trùng và hạt phấn nặng không bay xa được Số lượng hoa trênchùm thay đổi tùy giống và thời tiết, thường từ 5 - 20 hoa
Quả: Trái thuộc loại mọng nước, có hình dạng thay đổi từ tròn, bầu dục đếndài Vỏ trái có thể nhẵn hay có khía Màu sắc của trái thay đổi tùy giống và điềukiện thời tiết Thường màu sắc trái là màu phối hợp giữa màu vỏ trái và thịt tráiQuá trình chín của trái chia làm 4 thời kỳ:
- Thời kỳ trái xanh: Trái và hạt phát triển chưa hoàn toàn, nếu đem dấm tráikhông chín, trái chưa có mùi vị, màu sắc đặc trưng của giống
- Thời kỳ chín xanh: Trái đã phát triển đầy đủ, trái có màu xanh sáng, keoxung quanh hạt được hình thành, trái chưa có màu hồng hay vàng nhưng nếu đemdấm trái thể hiện màu sắc vốn có
- Thời kỳ chín vàng: Phần đỉnh trái xuất hiện màu hồng, xung quanh cuốngtrái vẫn còn xanh, nếu sản phẩm cần chuyên chở đi xa nên thu hoạch lúc nay để tráichín từ từ khi chuyên chở
- Thời kỳ chín đỏ: Trái xuất hiện màu sắc vốn có của giống, màu sắc thể hiệnhoàn toàn, có thể thu hoạch để ăn tươi Hạt trong trái lúc nay phát triển đầy đủ cóthể làm giống
Hạt: Hạt cà nhỏ, dẹp, nhiều lông, màu vàng sáng hoặc hơi tối Hạt nằm trongbuồng chứa nhiều dịch bào kiềm hãm sự nảy mầm của hạt Trung bình có 50 - 350hạt trong trái Trọng lượng 1000 hạt là 2,5 - 3,5g
2.2.2 Yêu cầu ngoại cảnh của cà chua
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 7
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 82.2.2.1 Khí hậu và chất dinh dưỡng
- Độ ẩm: độ ẩm không khí tốt nhất cho cà chua vào khoảng 45 – 60%
- Nhiệt độ: Cà chua là cây chịu ấm, một trong những điều kiện cơ bản để cóđược sản lượng cao và sớm ở cà chua là tạo chế độ nhiệt độ tối hảo cho cây 21 –
240C, nếu nhiệt độ đêm thấp hơn ngày 4-5oC thì cây cho nhiều hoa Các thời kỳsinh trưởng và phát triển khác nhau của cây đòi hỏi nhiệt độ không khí và đất nhấtđịnh
- Ánh sáng: Cà chua là cây ưa sáng, không nên gieo cây con ở nơi bóng râm,cường độ tối thiểu để cây tăng trưởng là 2.000 - 3.000 lux, không chịu ảnh hưởngquang kỳ Ở cường độ ánh sáng thấp hơn hô hấp gia tăng trong khi quang hợp bịhạn chế, sự tiêu phí chất dinh dưỡng bởi hô hấp cao hơn lượng vật chất tạo ra đượcbởi quang hợp, do đó cây sinh trưởng kém
- Nước: Yêu cầu nước của cây trong quá trình dinh dưỡng không giống nhau.Khi cây ra hoa đậu trái và trái đang phát triển là lúc cây cần nhiều nước nhất, nếuđất quá khô hoa và trái non dễ rụng; nếu đất thừa nước, hệ thống rễ cây bị tổn hại vàcây trở nên mẫn cảm với sâu bệnh Nếu gặp mưa nhiều vào thời gian này trái chínchậm và bị nứt Lượng nước tưới còn thay đổi tùy thuộc vào liều lượng phân bón vàmật độ trồng
- Đất: Cà có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất vẫn
là đất thịt pha cát, nhiều mùn hay đất phù sa, đất bồi giữ ẩm và thoát nước tốt vàchứa tối thiểu là 1,5% chất hữu cơ Cà trồng tốt nhất sau vụ cải bắp hay dưa leo,những loại cây cần bón nhiều phân hữu cơ và đạm Cà thích hợp trên đất có pH =5,5 - 7,0 Đất chua hơn phải bón thêm vôi
- Phân bón: Để đạt năng suất cao cà chua đòi hỏi nhiều chất dinh dưỡng.Lượng chất dinh dưỡng hấp thụ tuỳ thuộc vào khả năng cho năng suất của giống càchua, tình trạng đất, điều kiện trồng Để sản xuất được 10 tấn quả cây cần hấp thụ
25 – 30 tấn Nito, 2 – 3 kg Photpho, 30 – 35 kg Kali Vì ở giai đoạn tăng trưởng vàphát dục của cây trùng lấp nhau và nhu cầu cây cần chất dinh dưỡng cho đến khitrái chín, do đó việc bón lót, bón thúc nhiều lần, bón luân phiên phân vô cơ và hữu
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 8
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 9cơ giúp tăng hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng cho cây và tăng năng suất Phần lớnchất dinh dưỡng nuôi quả được cây hấp thụ sau khi trổ hoa, do đó cây yêu cầu chấtdinh dưỡng nhiều nhất khoảng 10 ngày sau khi hoa nở cho đến khi trái bắt đầu chín
2.2.2.2 Phương hướng chọn giống
Giống F1 nhập nội
- Red Crown 250 (nhập từ Đài Loan do công ty Giống Cây Trồng Miền Namphân phối): Là giống lai F1, thân sinh trưởng vô hạn cao 1,5-2m, cần làm giàn chắcchắn, cây tăng trưởng mạnh, chống chịu tốt bệnh héo vi khuẩn và thối hạch khá,trồng được trong mùa nắng cũng như trong mùa mưa, khả năng đậu trái cao trongmùa mưa, trái phát triển đều, trái tròn, hơi có khía, rất cứng và ít nứt trái trong mùamưa Giống cho thu hoạch 65-70 ngày sau khi trồng, thời gian thu hoạch dài, năngsuất 30-40 tấn/ha
- TN52 (nhập từ Ấn Độ do công ty Trang Nông phân phối): Là giống lai F1,thân sinh trưởng hữu hạn, trồng được quanh năm, trái to dạng hình vuông, chín đỏđẹp, thịt dầy rất cứng, trọng lượng trái trung bình 90-100g, thu hoạch 65-70 ngàysau khi trồng, năng suất biến động từ 20-30 tấn/ha, lượng hột giống tròng cho1.000m2 từ 8-10 g (330-350 hột/g), trồng được quanh năm
- Cà chua F1 số 607 (công ty Hai Mũi tên Đỏ phân phối): Là giống lai F1, thânsinh trưởng hữu hạn, tán cây và lá phân bố gọn, kháng bệnh héo xanh tốt, chịunhiệt, trồng được quanh năm Trái dạng trứng, ngắn, hơi vuông, chín màu đỏ tươi,cứng, trọng lượng trung bình 100-120g/trái Đây là giống lai F1, không nên lấy hộttrong trái ăn tươi đem trồng lại vì năng suất và phẩm chất giảm
Giống địa phương
- Cà Cùi: Trái hình tròn dẹp, to trung bình, màu hồng, trái chia nhiều ngăn ,chứa nhiều hạt, trái có vị chua, có khía hay không có khía, thường sử dụng ăn tươi
Cà cùi trồng phổ biến nhiều nơi ở vùng đồng bằng sông Cửu Long như Mỹ Tho, GòCông, Hoc Môn
- Cà Bòn Bon: Trồng phổ biến ở Sóc Trăng, Bạc Liêu Cây sinh trưởng vôhạn, trái hình bầu dục dài, màu đỏ, trơn láng, không khía, thịt day, trái chia làm
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 9
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 10nhiều ngăn, chứa ít hạt Trái được sử dụng làm mứt, tương cà, ăn tươi hay chế biến,nấu nướng.
- Cà Gió: Trồng phổ biến ở vùng An Giang, Châu Đốc Trái hình bầu dục dài,đầu hơi nhọn, màu đỏ, không khía, thịt day, trái chia nhiều ngăn và chứa ít hạt Càgío chịu nóng giỏi nên trồng được vào mùa hè, trái cũng được sử dụng để chế biến,nấu nướng hay ăn tươi
Giống điạ phương, năng suất thấp, trái nứt nhiều, xấu xí trong vụ mưa
2.2.2.3 Kỹ thuật trồng
Thời vụ: Nhờ có giống mới nên hiện nay cà chua hầu như trồng được quanhnăm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên cũng phân ra làm 3 vụ chính nhưsau:
- Vụ Đông Xuân: Gieo tháng 10 - 11 dương lịch và thu hoạch vào tháng 1 - 2dương lịch, đây là mùa vụ thích hợp nhất Chú ý cây con trong thời điểm còn mưacần chăm sóc cẩn thận
- Vụ Xuân Hè: Gieo tháng 12 - 1 dương lịch và thu hoạch tháng 3- 4 dươnglịch, cây tăng trưởng hoàn toàn trong mùa khô, nóng khả năng đậu trái kém, cầnchọn giống chịu nóng
- Vụ Hè Thu: Gieo tháng 6 - 7 dương lịch và thu hoạch tháng 9 - 10 dươnglịch, cây tăng trưởng hoàn toàn trong mùa mưa, do đó đất trồng phải thoát nước tốt,chọn giống chịu mưa, ít rụng hoa, ít nưt trái, chín có màu đỏ đẹp
Mùa mưa rất bất lợi cho cây cà nên về kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc đòi hỏingười trồng cà phải tuân thủ nghiêm ngặt qui trình kỹ thuật, kỹ lưỡng và tay nghềcao, thường lợi tức cao gấp 2-3 lần so với chính vụ
Gieo hạt và ương cây con
- Chuẩn bị cây con:
+ Trước khi gieo hạt nên ngâm hạt trong nước ấm 40 – 500C trong khoảng 3giờ Sau đó, cho hạt vào túi vài bọc giấy kín Để ở chỗ kín, sau khoảng 3 – 4 ngày rễmọc thì đem gieo vào vườn ươm
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 10
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 11Sau khi gieo hạt đều trên mặt đất, rải 1 lớp tro mỏng, trên phủ một lớp rơm mỏng,trên phủ một lớp rơm mỏng và tưới nước để có đủ độ ẩm Sau khi gieo khoảng 30 –
40 ngày, cây đạt 5 – 6 lá, có thể đem trồng
+ Lượng hột gieo cho 1.000 m2 là 7-10 gram (330-350 hột/gram) Hột gieotrong bầu đất hay gieo trên liếp ương 15-20 ngày đem trồng, cây con già hơn dễ ngãtrong mùa mưa Làm mái che cho cây con khi mưa Đơn giản có thể dùng ni longtrong suốt dễ dàng dở ra khi trời nắng hoặc lưới ni long mịn giữ suốt giai đoạn vườnương giúp cản bớt giọt mưa to
Chú ý: Xử lý cây con trong vườn ương bằng phun thốc ngừa bệnh héo cây con
trên liếp trước khi gieo hột bằng Oxyt đồng hoặc Copper B, sau đó cách 4-5 ngàyphun một lần và phun 1 ngày trước khi đem trồng bằng một trong các loại thuốcRidomil, Alliette, Rovral, Monceren, Benlate, Copper Zinc, Topsin-M, Kasuran ,rãi Basudin sau khi gieo để ngừa kiến tha hột Đối với cà thấp cây có thể trồng dầyhơn, khoảng cách cây 0.3-0.4m
Chuẩn bị đất trồng
- Chọn đất:
+ Cà chua chịu úng kém nên chọn đất cao ráo dễ thoát nước
+ Trên đất cũ (đất chuyên rau, đã trồng rau vụ trước): Chú ý ít nhất 1-2 vụtrước không trồng các cây nhóm cà (ớt, cà tím, cà pháo, thuốc lá) Bởi vì các câynày cùng chung họ hàng nên có cùng tác nhân gây hại (bệnh héo xanh trên cà chua,
cà phổi, ớt) và chúng có sẳn trong đất dễ dàng gây hại cây con
+ Trên đất mới (mới lên liếp trồng): Trồng cà dễ thành công hơn, bởi vì đấtđược ngập nước trong thời gian trồng luá nên một số mầm bệnh ở trong đất bị tiêudiệt
Mô hình trồng cà chua dưới ruộng trong mùa mưa rất tiêu biểu ở Tiền Giang,một số nông dân tỉnh Cần Thơ trồng trên những chân ruộng không bị ngập nướctrong muà lũ lụt, phần lớn bà con các nơi khác trồng trên đất ruộng vụ Xuân-hè
- Lên liếp
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 11
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 12+ Liếp đôi: mặt liếp rộng 1,0 -1,3 m, cao 20 cm, trồng 2 hàng, lối đi 0,5 m,khoảng cách cây 0,5 m, mật độ 2.500 cây/1.000 m2, phù hợp trồng trong mùanắng và loại hình sinh trưởng thấp cây cà chua F1 giống 607.
+ Liếp đơn: Mặt liếp rộng 0,6 m, cao 0,3-0,4 cm, trồng 1 hàng, lối đi 0,6 m,khoảng cách cây 0,5 m, mật độ 1.600 cây/1.000 m2 Thích hợp trồng mùa hoặc loạicây sinh cao cây như cà RedCrown 250
+ Trồng cà chua vụ xuân lên luống cao hơn vụ thu đông
+ Bón lót và trồng cà chua ra ruộng sản xuất:
+ Hố trồng cuốc sâu 12 – 15 cm Mỗi hố bón 1kg phân chuồng hoai mục (cóthể thay phân chuồng bằng nước phân trên mỗi luống đánh 2 rãnh sâu 12 – 18 cmcách nhau 80 cm, phân nước được tưới vào rãnh này và phủ đất lên, phơi đấtkhoảng 2 ngày rồi trồng cây)
+ Mật độ trồng cà chua tuy thuộc vào đặc điểm của giống, mức độ phì nhiêucủa đất nhưng có thể bố trí như sau: Nên trồng cà chua vào buổi chiều Hàng cáchhàng 80 cm, cây cách cây 60 cm, hoặc có thể là cây cách cây 40 cm Khi trồng nêncắt bớt rễ cái để cho cây khi trồng bén rễ nhanh Nên trồng cây to với cây to cây nhỏvới cây nhỏ để tiện chăm sóc Sau khi trồng ấn nhẹ đất vào gốc cây và làm bằngphẳng đất chung quanh gốc Trồng xong tưới nước cho cà chua ngay Nếu chưa kịpbón lót thì tưới nước, pha thêm phân bắc để cung cấp dinh dượng cho cây
2.2.2.4 Kỹ thuật chăm sóc
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 12
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 13- Hạn chế côn trùng và bệnh hại: Mặt màu bạc của màng phủ phản chiếu ánhsáng mặt trời nên giảm bù lạch, rầy mềm, giảm bệnh do nấm tấn công ở gốc thân vàđốm trên lá chân
- Ngăn ngừa cỏ dại: Mặt đen của màng phủ ngăn cản ánh sáng mặt trời, làmhạt cỏ bị chết trong màng phủ
- Điều hoà độ ẩm và giữ cấu trúc mặt đất: Màng phủ ngăn cản sự bốc hơi nướctrong mùa nắng, hạn chế lượng nước mưa nên rễ cây không bị úng nước, giữ độ ẩm
ổn định và mặt đất tơi xốp, thúc đẩy rễ phát triển, tăng sản lượng
- Giữ phân bón: Giảm rửa trôi của phân bón khi tưới nước hoặc mưa to, ít bayhơi nên tiết kiệm phân
- Tăng nhiệt độ đất: Giữ ấm mặt đất vào ban đêm (mùa lạnh) hoặc thời điểmmưa dầm thiếu nắng mặt đất bị lạnh
- Hạn chế độ phèn, mặn: Màng phủ làm giảm sự bốc hơi qua mặt đất nênphèn, mặn được giữ ở tầng đất sâu, giúp bộ rễ hoạt động tốt hơn
Cách sử dụng màng phủ nông nghiệp
+ Vật liệu và qui cách: Dùng 2 cuồn màng phủ khổ rộng 0.9-1m trồng cà hàngđơn, còn hàng đôi 1,5 cuồn màng khổ 1,2-1,4 m, diện tích vải phủ càng rộng thìhiệu quả phòng trừ sâu bệnh càng cao Chiều dài mỗi cuồn màng phủ là 400 m Khiphủ liếp mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống
+ Lên liếp: Lên liếp cao 20-40 cm tùy mùa vụ, mặt liếp phải làm bằng phẳngkhông được lồi lõm vì rễ khó phát triển và màng phủ mau hư, ở giữa liếp hơi caohai bên thấp để tiện việc tưới nước
+ Rãi phân lót: Liều lượng cụ thể hướng dẫn bên dưới, nên bón lót lượng phânnhiều hơn trồng phủ rơm vì màng phủ hạn chế mất phân Có thể giảm bớt 20%lượng phân so với không dùng màng phủ
+ Xử lý mầm bệnh: Phun thuốc trừ nấm bệnh như Oxyt đồng hoặc Copper B(20 g/10 lít) hoặc Validacin (20 cc/10lít) đều trên mặt liếp trước khi đậy màng phủ.+ Đậy màng phủ: Mùa khô nên tưới nước ngay hàng trồng cây trước khi đậymàng phủ Khi phủ kéo căng vải bạt, hai bên mép ngoài được cố định bằng cách
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 13
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 14dùng dây chì bẻ hình chữ U mỗi cạnh khoảng 10 cm ghim sâu xuống đất (dây chì sửdụng được nhiều năm) hoặc dùng tre chẻ lạc ghim mé liếp.
- Tưới tiêu nước: Cà chua cần nhiều nước nhất lúc ra hoa rộ và phát triển tráimạnh Giai đoạn này thiếu nước hoặc quá ẩm đều dẫn đến đậu trái ít Nếu khô hạnkéo dài thì tưới rảnh (tưới thấm) là phương pháp tốt nhất, khoảng 3-5 ngày tưới/lần.Tưới thấm vào rãnh tiết kiệm nước, không văng đất lên lá, giữ ẩm lâu, tăng hiệu quả
sử dụng phân bón Mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt, không để nước ứ đọng lâu
- Làm giàn: Việc làm giàn được tiến hành sau khi cây ra chùm hoa thứ nhất,giàn giữ cho cây đứng vững, để cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại dosâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất, giúp kéo dài thời gian thu trái.Kiểu giàn chữ nhân như giàn cho dưa leo đối với giống cao cây, còn giống thấp câythì nên đóng trụ tre hoặc tràm xuanh quanh hàng cà, cao 50 cm, dùng dây ni longcột xung quanh
- Tỉa chồi, lá, nụ hoa
+ Tỉa chồi: Nhiều nghiên cứu cho thấy trồng cà chua không tỉa chồi cho năngsuất thấp hơn có tiả chồi Tạp quán nông dân trồng cà chua ở đồng bằng sông CửuLong không tỉa cành, thân lá xum xuê thường không đạt năng suất cao Cần tiả kịpthời khi nhánh mới lú ra 3-5 cm để dinh dưỡng tập trung nuôi trái, thường xuyên tỉa
bỏ mầm nách vô hiệu Dùng tay đẩy gẩy chứ không dùng móng tay ngắt hoặc dùng
ké cắt vì dễ nhiễm bệnh qua vết thương
+ Tỉa lá: Nên tỉa bớt các lá chân đã chuyển sang màu vàng để ruộng đượcthoáng, nhất là những chân ruộng rậm rạp, dễ nhiễm bệnh trồng dầy trong muà mưa.+ Tỉa trái: Mỗi chùm hoa chỉ nên để 4-6 trái, ngắt cuối cành mang trái để dinhdưỡng tập trung nuôi trái, trái lớn đều cở, giá trị thương phẩm cao
+ Bấm ngọn: Đối với giống thời gian sinh trưởng dài, cao cây, giai đoạn gầncuối thu hoạch nên bấm ngọn để trái lớn đều, thu tập trung giúp kết thúc mùa vugọn
- Ngăn ngừa rụng quả: Để ngăn ngừa hiện tượng rụng quả, quả ta sử dụng chấtkích thích sinh trưởng 2,4 – D (phun thuốc này ngay cả khi hoa chưa thụ phấn) Khi
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 14
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 15phun thuốc cần chờ cho hoa nở được khoảng hơn một nửa rồi mới phun 2,4 – D cầntránh không cho thuốc dây vào lá vì thuốc làm quăn lá nếu xảy ra trường hợp nàythì phải bón bổ sung 1 – 2 lần phân loãng.
Khi phun 2,4 – D làm cho quả cà chua không hạt nên sử dụng thuốc này cho ruộng
cà chua giống
2.2.2.5 Bón phân
Tùy theo loại đất, mức phân bón trung bình toàn vụ cho 1.000 m2 như sau: 20 kgurea + 50 kg super lân + 20 kg Clorua kali + 12 kg Calcium nitrat + 50 kg 16-16-8(đối với giống thấp cây) hoặc 70 kg 16-16-8 (đối với giống cao cây) + 1 tấn chuồnghoai + 100 kg vôi bột, tương đương với lượng phân nguyên chất (185-210N)-(150-180P2O5)-(160-180K2O) kg/ha
- Bón lót: 50 kg super lân, 3 kg Clorua kali, 2 kg Calcium nitrat, 10-15 kg 16-8, 1 tấn phân chuồng và 100 kg vôi Vôi rải đều trên mặt đất trước khi cuốc đấtlên liếp, phân chuồng hoai, lân rãi trên toàn bộ mặt liếp xới trộn đều Nên bón lótlượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì phân nằm trong màng phủ ít bị bốc hơi doánh nắng, hay rửa trôi do mưa
16 Bón phân thúc
+ Lần 1: 15 ngày sau khi cấy (giống thấp cây) và 20 ngày sau khi cấy (giốngcao cây) Số lượng 4 kg Urê, 3 kg Clorua kali, 10 kg 16-16-8 + 2 kg Calcium nitrat.Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân một bên hàng cà hoặc đục lổ màngphủ giữa 2 gốc cà
+ Lần 2: 35-40 ngày sau khi cấy, khi đã đậu trái đều
Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 2 kg Calcium nitrat.Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại cà hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà
+ Lần 3: Khi cây 60-65 ngày sau khi cấy, bắt đầu thu trái rộ
Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg Calcium nitrat.Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà
+ Lần 4: Khi cây 70-80 ngày sau khi cấy đối với giống cao cây, còn giống thấpcây đã kết thúc thu hoạch
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 15
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 16Lượng bón: 4 kg Urê, 4 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg Calcium nitrat.Vén màng phủ lên rãi phân hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.
Chú ý: Cây họ cà rất nhạy cảm với triệu chứng thiếu Calcium, biểu hiện là thối đít
trái Ngoài việc bón lót vôi bột (tức là đã cung cấp thêm Calcium), nếu không bónthúc Calcium Nitrat vào đất như hướng dẫn trên bà con có thể bổ sung bằng Cloruacanxi (CaCl2), nồng độ 2-4 %o phun trên lá định kỳ 7-10 ngày/lần từ lúc trái nonphát triển
Nếu không dùng màng phủ, nên chia nhỏ lượng phân hơn và bón nhiều lần đểhạn chế mất phân
Có thể dùng thêm phân bón lá vi lượng như Master Grow, Risopla II và IV,Miracle, phun định kỳ 10 ngày/lần từ khi cấy đến 10 ngày trước khi thu hoạch đợtđầu tiên, nồng độ theo khuyến cáo trên nhản chai phân Không nên lạm dụng chấtkích thích tăng trưởng nhất là giai đoạn phát triển trái vì dễ bị bệnh và giảm phẩmchất trái
2.2.2.6 Kỹ thuật để giống cà chua
Khi cần tạo giống thì chọn những cây khoẻ, quả chín sớm, sai quả Sau khi chọncây chú ý theo dõi quá trình ra quả của cây Tiến hành loại quả chùm quả thứ nhấtchỉ lấy chùm quả thứ 2 – 3 để lấy quả làm hạt giống Mỗi chùm giống tiến hành tỉachỉ để lại 2 – 3 Khi quả giống chín tiến hành thu hoạch cắt quả giống để vào chậusành, sứ 5 -6 ngày cho thối rữa hết thịt quả tiến hành đãi lấy hạt Hạt được phơi nơithoáng mát, dung đũa đảo đều cho nhanh khô Cho hạt bảo quản trong thùng lớndưới đáy để vôi sống chống ẩm Trung bình muốn cứ 1kg hạt giống thì phải chọn
150 – 200 quả cà chua giống
2.2.2.7 Thu hoạch
Cà cho thu hoạch khoảng 75-80 ngày sau khi trồng, thời gian cho thu hoạch kéodài 30-60 ngày tùy theo giống vô hạn hay hữu hạn và điều kiện chăm sóc Năngsuất giống địa phương thấp 10-15 tấn/ha, giống nhập nội 30-40 tấn/ha
2.3 Các bệnh hại chính trên cây cà chua
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 16
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 17Cây cà chua hay bị 3 bệnh chính: xoăn lá, héo xanh và mốc sương gây thất thulớn.
2.3.1 Bệnh xoăn lá cà chua
- Nguyên nhân
+ Bệnh do vi rút gây ra:Vi rút xoắn lá cà chua có thể gây nhầm lẫn với một sốtình trạng bệnh cà chua khác như: là nụ hoa cà chua lớn, cà chua vàng trên đầu,bệnh xoắn lá sinh lý và bệnh thiếu photphat và magiê Bệnh lớn nụ cà chua có thểphân biệt được vì nó làm cho hoa có màu xanh lá cây Vi rút gây bệnh vàng đầu càchua làm cho lá non có kích thước nhỏ và tròn, với mép lá cong lên hoặc congxuống Bệnh xoắn lá sinh lý do áp lực nước không làm cây còi cọc và mô lá nonphát triển thì mềm chứ không cứng
+ Thiếu photphat làm cho cây còi cọc, cứng và nhuốm màu hơi tím và mọi bộphận của cây đều nhỏ lại Thiếu magiê làm vàng vùng giữa gân lá ở những lá ở giữa
và dưới thân cây Với những vi rút xoắn lá cà chua, chỉ những bộ phận mới pháttriển sau khi nhiễm bệnh mới bị thu nhỏ kích thước Cũng vậy, cây thiếu photphat
và magiê, không ít thì nhiều, có khuynh hướng phân bố đồng đều khắp cả đồn điềntrong khi đó những cây nhiễm vi rút thì thường phân bố rải rác hoặc từng cụm
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 17
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.1: Bệnh xoăn lá cà chua
Trang 18- Triệu chứng
+ Cây bị bệnh còi cọc, lá hơi cứng, nhỏ, biến dạng nhăn lốm đốm Bệnhthường xuất hiện trên lá non, cây có thể phân hóa nhiều cành, cho ít trái và trái nhỏ.+ Sự lây lan: Vi rút bệnh xoắn lá cà chua không truyền qua hạt, đất, hoặc từcây này sang cây khác khi cầm Chúng nằm ở trong cây nhiễm bệnh, trong số đó cóthể có cây mọc dại mà chúng không biểu hiện triệu chứng Những vi rút này đượctruyền từ cây này qua cây khác do loài ruồi trắng lá bạc
- Phòng trừ
+ Sự lây lan của vi rút gây bệnh xoắn lá cà chua có thể ngăn ngừa bằng cáchloại bỏ các cây ký chủ ra khỏi vùng có bệnh, và bằng cách chế ngự loài ruồi trắng
có mặt trên cây trước khi loại bỏ cây
+ Ở những vùng nhiễm bệnh, việc chế ngự dịch bệnh vi rút cà chua phụ thuộcvào việc chế ngự sự lan tràn của loài ruồi trắng Cách thức làm việc trên đồn điềnnơi đã có những cây cũ bị nhiễm vi rút cà chua và cũng là nơi có số lượng ruồi trắngquá cao thì đặc biệt quan trọng Nếu ruồi trắng ởnhững cây cũ bị nhiễm bệnh khôngđược chế ngự, thì chúng có thể di chuyển sang những cây mới và làm cho nhữngcây này bị nhiễm vi rút cà chua Có nhiều thông tin về cách thức xử lý loài ruồi
trắng trong số phát hành "Cách thức xử lý loài ruồi trắng lá bạc cho các vụ hoa màu hay nhất”
2.3.2 Bệnh mốc sương cà chua (Phytophthora infestans)
Trang 19đoạn sợi nấm, sinh sản vô tính (bào tử phân sinh – bào tử động) và sinh sản hữu tínhtạo ra bào thử trứng.
+ Sợi nấm hình ống, đơn bào, có nhiều nhân Cành bào tử phân sinh đâm rangoài qua lỗ khí khổng hoặc trực tiếp qua biểu bì cây, đơn độc từng cành hoặc từngnhóm 2 – 3 cành Trong điều kiện độ ẩm 90 – 100%, đặc biệt đêm có sương và mưaphùn, nhiệt độ 14,6 – 22,90C thì bào tử được hình thành rất nhiều Bào tử phân sinhnảy mầm theo 2 kiểu: hoặc hình thành bào tử động, hoặc hình thành ống mầm Bào
tử động chuyển động được nhờ 2 lông roi Nhiệt độ thích hợp để nảy mầm hìnhthành bào tử động là 12 – 140 Từ 180C trở lên bào tử phân sinh này mầm tạo thànhống mầm Khi nhiệt độ trên 280C hoặc dưới 40C bào tử phân sinh không nảy mầm.Bào tử phân sinh được hình thành trong điều kiện thích hợp, nhiệt độ dưới 180C, độ
ẩm càng cao thì khả năng nảy mầm càng lớn, tuổi bào tử càng non thì tỷ lệ nảy mầmcàng cao, nấm xâm nhập vào cây qua lỗ khí khổng hoặc trực tiếp qua biểu bì Mộtbào tử phân sinh hoặc bào tử động cũng có thể tạo thành vết bệnh Nhiệt độ tối thiểu
để nấm xâm nhập là 120C, thích hợp nhất là 18 – 220C Thời kỳ tiềm dục của nấm
ở là là 2 ngày, trên quả là 3 – 10 ngày
+ Nguồn bệnh truyền từ năm này qua năm khác bằng sợi nấm, bào tử trứngtrên tàn dư cây cà chua bị bệnh, sợi nấm còn tồn tại ở hạt cà chua Trong thời kỳ câysinh trưởng, bệnh lây lan phát triển nhanh chóng bằng bào tử phân sinh
+ Nấm phytophthora infestans có nhiều dạng sinh học Những nghiên cứu vềmới quan hệ giữa các dạng sinh học của nấm phytophthora infestans với các giống
cà chua đã biết trước hệ thống gen di truyền đã chỉ ra một phương hướng mớiphòng trừ bệnh bằng con đường tạo giống chống bệnh
- Triệu trứng
+ Bệnh xuất hiện trên thân, lá, hoa và quả của cây Trên lá vết bệnh thườngxuất hiện đầu tiên ở đầu lá, mép lá hoặc gần cuống lá Vết bệnh lúc đầu hình trònhoặc hình bán nguyệt, màu xanh tối, về sau không định hình màu nâu đen Giới hạngiữa phần bệnh và phần khoẻ không rõ rang, mặt dưới vết bệnh màu nhạt hơn Vếtbệnh có thể lan rộng khắp lá, lan qua cuống lá con làm toàn bột lá chết Khi trời ẩm
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 19
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 20ướt, mặt dưới vết bệnh ình thành lớp mốc trắng, đó là cành bào tử phân sinh và bào
tử phân sinh của nấm, lớp mốc này còn lan rộng ra phần xung quanh vết bệnh, khitrời nắng, nhiệt độ cao, lớp mọc trắng này nhanh chóng bị mất đi
+ Ở trên thân, cành vết bệnh ban đầu hình bầu dục nhỏ hoặc hình dạng khôngđều đặn, sau đó vết bệnh lan rộng bao quanh và kéo dài dọc thân cành, màu nâuhoặc nâu sẫm, hơi lõm và ủng nước Khi trời ẩm ướt, thân cành bị bệnh giòn, tópnhỏ, dễ gẫy Khi trời khô ráo vết bệnh không phát triển thêm, màu nâu xám, cây cóthể tiếp tục sinh trưởng
+ Trên hoa: vết bệnh màu nâu hoặc màu đen xuất hiện ở đài hoa ngay sau khi
nụ được hình thành, bệnh lan sang cánh hoa, nhị hoa, cuống hoa làm cho cả chùmhoa bị rụng
+ Trên quả: trên quả lớn vết bệnh có thể xuất hiện ở núm hoặc ở giữa quả, lúcđầu màu nâu nhạt, sau thành nâu đậm hoặc nâu đen, vết bệnh lan khắp bề mặt quả.Quả bệnh khô cứng, bề mặt sù sì lồi lõm Thịt quả bên trong vết bệnh cũng có màunâu, khoảng trống trong quả có tán nấm trắng, khi trời ẩm ướt trên bề mặt vết bệnh
ở quả cũng có lớp nấm trắng xốp bao phủ Về sau quả bệnh thối đen nhũn
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 20
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.2: Bệnh sương mai trên quả cà chua
Trang 21+ Trên hạt: hạt trong quả bị bệnh cũng bị hại, hạt bị bệnh nặng thường nhỏ hơnhạt khoẻ, vết bệnh màu nâu chiếm một phần hoặc toàn bề mặt hạt Quả bị bệnh nặngthối rữa, hạt đen.
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 21
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.3: Bệnh mốc sương mai trên lá cây cà chua
Trang 22+ Đất: Đất phải được tơi xốp, thoát nước và bắt buộc phải được luân canh + Biện pháp hóa học: Hiện nay, việc dùng thuốc để phòng trừ BMSKT nhằmgiữ vững và nâng cao năng suất là biện pháp không thể thiếu được Do đó, nhà nôngcần phải biết nên sử dụng thuốc gì, khi nào sử dụng và sử dụng như thế nào để chohiệu quả phòng trừ và hiệu quả kinh tế cao Sau khi phun, thuốc phải được rải đềutrên khắp bề mặt thân cành lá, nhất là mặt dưới lá và những vị trí thân cành bị bệnh.Tranh thủ bơm thuốc khi trời khô ráo, không có mưa Mùa nắng nên bơm sáng sớmhoặc chiều mát
2.3.3 Bệnh héo xanh và héo vàng cà chua
+ Cây nhiễm bệnh biểu hiện ban đầu là các lá ngọn héo xanh rũ xuống, về saucác lá phía gốc tiếp tục héo xanh cụp xuống, cuối cùng dẫn tới toàn cây héo rũ táixanh, gãy gục xuống và chết
+ Hiện tượng héo xanh ban đầu xảy ra có thể ở một cành, thân hoặc một nhánh
về một phía của cây cà chua, sau đó dẫn tới toàn cây héo xanh rũ xuống Quan sátnhững cây nhiễm bệnh thường thấy ở phần phía gốc sát mặt đất vỏ thân sù sì đó lànét triệu chứng đặc trưng của cây cà chua khi bị bệnh héo xanh vi khuẩn
+ Điều kiện phát sinh gây bệnh: Xuất hiện gây hại ở cả giai đoạn vườn ươmcây con và ở ruộng trồng ngoài sản xuất, gây hại nặng khi cây cà chua đã lớn, nhất
là giai đoạn ra nụ - hoa đến hình thành quả non - quả già thu hoạch Ở giai đoạn câycon nhiễm bệnh thường làm toàn bộ lá héo rũ nhanh chóng, lá héo xanh gục xuống,cây chết xanh Vi khuẩn tồn tại trong đất, trong tàn dư cây trồng, cỏ dại Vi khuẩn
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 22
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 23có thể lan truyền qua cây giống, gió, nhờ nước, côn trùng và cả qua công cụ chămsóc, tỉa cành Vi khuẩn dễ dàng xâm nhập qua vết thương cơ giới hoặc vết chích củacôn trùng ở rễ, thân Sau khi chúng xâm nhập vào cây trồng chúng tấn công vàomạch dẫn và di chuyễn theo mạch dẫn làm hư bó mạch, cây không thể vận chuyểnnước và dinh dưỡng dẫn đến hiện tượng héo và chết Tốc độ xâm nhiễm và gâybệnh trong cây trồng rất nhanh, tốc độ này phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng câytrồng, ẩm độ đất và nhiệt độ môi trường Chúng phát triển nhanh ở ẩm độ đất cao,nhiệt độ từ 24 – 380C.
- Phòng ngừa
+ Đây là loại bệnh rất khó phòng trị, sử dụng thuốc hoá học không có hiệu quảcao, do vậy áp dụng các biện pháp phòng trị tổng hợp có hiệu quả cao hơn
+ Biện pháp canh tác: Luân canh cây trồng; đây là biện pháp có hiệu quả cao,
có thể luân canh với cây khác họ cà hoặc luân canh với lúa nước Không nên trồng
cà chua 2 vụ liên tiếp trên một chân đất
+ Xử lý hạt giống trong nước nóng 500C trong 25 phút
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 23
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.4: Bệnh héo xanh, héo vàng trên cây cà chua
Trang 24+ Sử dụng cây giống ở vườn ươm không bị bệnh.
+ Vệ sinh đồng ruộng dọn sạch cỏ dại
+ Sử dụng phân hữu cơ hoai mục để bón
+ Nhổ bỏ cây bị bệnh gom lại đem đi đốt
+ Tránh việc tiếp xúc giữa cây bệnh và cây khỏe, lưu ý khi tưới nước, tỉa cành,thu hái trái
+ Bệnh do vi khuẩn gây ra dùng thuốc hóa học hiệu quả không cao Cần pháthiện sớm dùng các loại thuốc như Kasuran 50 WP, Kanamin 47 WP… có thể hạnchế được bệnh
2.4 Thành phần sâu hại và thiên địch trên cây cà chua
2.4.1 Các loại sâu hại chính trên cây cà chua
2.4.1.1 Sâu xanh đục quả
Tên khoa học: Helicoverpa armigera
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 24
SVTH: Nguyễn Thị Minh Hình 2.5: Quả bị sâu xanh đục
Trang 25+ Khi quả đã già và chín, sâu thường đục từ núm xuống, sau đó nằm gọn trongquả cà phá hại quả Những quả bị hại có thể rụng hoặc gặp phải trời mưa thì quả bịthối nhũn nhanh chóng.
+ Việc kết hợp hợp lý các biện pháp trên là góp phần rất to lớn trong chiếnlược phát triển nền nông nghiệp bền vững và môi trường sinh thái tự nhiên
+ Tuy nhiên nếu trong điều kiện sâu xanh phát triển mạnh, bắt buộc chúng taphải dùng thuốc bảo vệ thực vật để bảo vệ cây trồng như các chế phẩm sinh họcNPV, Bt (ViBt 16000UI), Vibamec 1.8EC, Vimatrine 0.6L hoặc kết hợp NPV và
Bt Trường hợp sâu xanh phát triển tới ngưỡng kinh tế thì phải dùng đến một số loạithuốc hóa học bảo vệ thực vật, Visher 25ND, Vifast 5ND, Viphensa 50ND, Vifel50ND, Vifenva 20ND, Virofos 20EC, Viaphate75BHN, Vibafos 15EC
Trang 26- Triệu trứng tác hại:
+ Thành trùng hoạt động mạnh từ 7 - 9 giờ sáng và từ 4 - 5 giờ chiều Thànhtrùng cái dùng bộ phận đẻ trứng rạch mặt lá tạo nhiều lỗ Trong số đó có một số lổchứa trứng, chỉ khoảng 1%, phần lớn các lỗ còn lại dùng làm thức ăn cho thànhtrùng cái và đực do chất lỏng tiết ra từ vết chích Các lỗ đục thường xuất hiện ởchóp lá hay dọc theo 2 bìa lá
+ Ruồi gây hại cho cây bằng cách đục thành những đường ngoằn ngoèo ở mặttrên lá, lúc đầu đường đục nhỏ, càng lúc càng to dần cùng với sự phát triển của cơthể ấu trùng Đường đục xuất hiện ở cả hai mặt lá nhưng thấy rõ nhất là ở mặt trên
lá Khi trưởng thành, dòi đục thủng biểu bì chui ra ngoài và làm nhộng trên mặt láhay trên các bộ phận khác của cây hoặc buông mình xuống đất làm nhộng.Các vếtđục khắp mặt lá làm cho lá bị khô, trái nhỏ, giảm phẩm chất của trái, nếu trầm trọnglàm năng suất giảm Ngoài cây cà chua còn thấy chúng gây hại trên nhiều loài câythuộc họ Đậu: đậu đũa, đậu cô ve, đậu trạch, các cây thuộc họ bầu bí như: bầu, bí,mướp, dưa hầu, dưa leo cà pháo, khoai tây, nên việc phòng trừ chúng đôi khi cũnggặp không ít khó khăn
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 26
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 27+ Dòi đục lá đục ăn mô lá làm giảm diện tích quang hợp, do vậy chúng làm câyvàng, cằn cỗi, lá rụng sớm, chúng gây hại nặng giai đoạn cây con Ngoài ra, vếtthương trên lá do dòi đục lá gây ra tạo điều kiện cho các vi sinh vật gây hại câykhác xâm nhập Dòi đục lá có thể xuất hiện nhiều lứa gây hại trong năm nhưngthường gây hại nặng vào mùa nắng
- Biện pháp phòng trừ
+ Không nên trồng quá dầy để ruộng cà luôn được thông thoáng, hạn chế bớt
sự phát triển của ruồi
+ Mạnh dạn cắt bỏ những lá cà đã bị sâu hại quá nặng, mang ra khỏi ruộng tiêuhủy để hạn chế bớt mật số của ruồi ở các lứa sau
+ Trước khi trồng dùng màng phủ nông nghiệp (vải nilon) phủ lên trên luống
cà chua, biện pháp này không những giảm bớt được công làm cỏ, công tưới màcòn có tác dụng hạn chế bớt một số lọai sâu bệnh, trong đó có ruồi đục lá.Không nên trồng liên tục nhiều năm những cây thường bị ruồi đục lá gây hại (như
đã nói ở phần trên) trên cùng một khu vực Tốt nhất là, sau vài vụ cà lại luân canhmột vụ với lúa, rau muống để cắt đứt nguồn thức ăn của ruồi trên đồng ruộng + Nếu ruộng cà đã bị ruồi gây hại nhiều bạn có thể sử dụng một trong các lọaithuốc như: Vertimex; Baythroid; Sherpa; Sherbush; Decis; Polytrin; Trigard để
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 27
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.6: Ruồi đục lá
Trang 28phun xịt (về liều lượng và cách sử dụng thuốc bạn có thể đọc hướng dẫn của nhàsản xuất có in sẵn trên bao bì)
+ Ruồi đục lá có vòng đời ngắn, mặt khác chúng lại sinh sản rất nhiều nênchúng rất nhanh quen thuốc Vì thế, bạn nên thường xuyên thay đổi lọai thuốc đểgiảm bớt áp lực gây quen thuốc cho chúng Nếu ruộng cà đã bị ruồi gây hại nặng thìsau khi phun xịt thuốc nên bón bổ sung thêm phân để bồi dưỡng sức cho cây
2.4.1.3 Bọ phấn trắng
Tên khoa học: Bemisia tabaci
Họ: Aleyrodidae
Bộ: Hemiptera
- Đặc điểm hình thái và tập quán sinh sống:
+ Trưởng thành bay kém nhưng phát tán rộng nhờ gió Một con cái có thể đẻ
100 – 150 quả trứng, trứng được đẻ ở mặt dưới lá từng trứng riêng lẻ hoặc từngnhóm chúng lột xác 3 lần và hóa nhộng, giai đoạn ấu trùng keó dài 2 - 4 tuần tùythuộc vào nhiệt độ
+ Bọ phấn trưởng thành rất nhỏ, có 4 cánh và được phủ lớp phấn sáp màutrắng, hoặc trắng hơi vàng, dài khoảng 1mm
+ Trứng có màu trắng sau chuyển màu nâu
+ Ấu trùng có màu trắng hơi xanh hình oval, dài 0,3 – 0,6 mm
+ Bọ trưởng thành: con đực thân dài 0,75 – 1mm, sải cánh dài 1,1 – 1,5mm.Con cái thân dài 1,1 – 1,4mm, sải cánh dài 1,75 – 2,0mm Hai đôi cánh trước và saugần tương đương nhau Toàn thân và cánh phủ một lớp phấn màu trắng nên gọi là
bọ phấn, dưới lớp phấn trắng, thân màu vàng nhạt Mắt kép có một rãnh ngang chiamặt thành 2 phần trông hơi giống số 8 Râu đầu có 6 đốt, 2 đốt đầu hơi tròn, nhữngđốt còn lại dài và nhỏ, đốt cuối cùng một một long dạng gai Chân dài và mảnh, bànchân có 2 đốt, có 2 vuốt bàn chân, ở giữa 2 vuốt có một vật lồi Bụng có 9 đốt; đốtthứ nhất hơi thót lại làm cơ thể có dạng hình ong Mảnh lưng đốt bụng cuối cùng ởcon đực có hại vật lồi, từ đó có bộ phận sinh dục bên ngoài Ống đẻ trứng ở con cáitạo nên từ ba đôi vật lồi lại như một mũi khoan
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 28
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 29+ Sâu non: Cơ thể bọ non có màu vàng nhạt Khi mới nở có chân và bò dướimặt lá Sau đó sâu cố định một chỗ mặt dưới lá, khi lột xác sang tuổi 2 và khôngcòn chân Tuy vậy trong suốt giai đoạn sâu non đều có mắt kép và râu đầu, kíchthước bọ non đẫy sức dài từ 0,7 – 0,9mm, rộng 0,5 – 0,6mm Sâu non có 3 tuổi.+ Nhộng giả: cơ thể hình bầu dục, màu sáng có một số long thưa sắp xếp 2 bênsườn, phía sau lỗ hậu môn có rãnh mông Miệng thoái hoá, râu và chân ngắn hơicong.
+ Trứng hình bầu dục có cuống, trứng dài 0,18 – 0,2mm (trừ phần cuống), vỏtrứng mỏng Khi mới đẻ trong suốt, sau 24 giờ chuyển sang màu vàng sáp ong, sau
48 giờ chuyển thành màu nâu xám
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 29
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.7: Bọ phấn trắng trên cà chua
Trang 30+ Tác hại lớn nhất của bọ phấn là làm môi giới truyền bệnh virut xoăn lá càchua Tỉ lệ bệnh xoăn lá cà chua trên đồng ruộng tăng khi mật độ bọ phấn trắng tănglên Cà chua bị bệnh xoăn lá nghiêm trọng do đó mức độ gây hại của bọ phấn đốivới sản xuất là rất lớn
+ Dùng bẫy dính màu vàng để thu hút con trưởng thành
+ Hạn chế phun thuốc hóa học vì thuốc có thể giết chết các loài thiên địch cóích trên xuống và bọ phấn dễ bị kháng thuốc
+ Có thể dùng các loại thuốc như Actara, Pyrinex, Hopsan,…
từ núm quả xuống và chui vào trong ăn phần thịt của quả
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 30
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Trang 31- Biện pháp phòng trừ
+ Vệ sinh đồng ruộng trước và sau khi trồng, cày ải phơi đất
+ Dẫn nước ngập ruộng trước khi làm đất
+ Tổ chức bắt sâu non tuổi nhỏ (mới nỏ) và ngắt ổ trứng
+ Hạn chế phun thuốc để bảo tồn các loài thiên địch thường xuất hiện trênruộng như nhện, bọ rùa, ong kí sinh
+ Thể dùng thuốc có gốc Pyrethroid như Sherpa, Polytrin Dùng các loại chếphẩm vi sinh như NPV, Vi-BT, hoặc thảo mộc như Rotenone hoặc Neem có hiệuquả cao
2.4.2 Thành phần các loài có ích trên cây cà chua
2.4.2.1 Các loài nhện bắt mồi
Nhện là loài động vật nhỏ rất giống với côn trùng, nhưng nhìn kỹ lại thì cơ thểcủa chúng chỉ chia làm hai phần là đầu liền ngực còn bụng thì rời ra, chớ khôngphải chia ba phần rõ rệt là đầu, ngực và bụng như côn trùng (thí dụ con kiến chẳnghạn)
Một sự khác biệt nữa là nhện không bao giờ có cánh để bay như côn trùng,nhưng có khả năng nhả tơ giăng lưới để bắt mồi vì thức ăn của chúng là các loại côntrùng nhỏ, chớ không ăn thực vật hay cây trồng như côn trùng khác Do đó, hầu hết
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 31
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.8: Sâu khoang
Trang 32các loài nhện đều có lợi, vì chúng ăn các loài sâu rầy để giúp nhà nông bảo vệ câytrồng
Chúng ăn tạp nên có thể ăn bất cứ loại côn trùng nào mà chúng bắt được, do đóchúng thường có mặt rất sớm trong ruộng để ăn các loài côn trùng nhỏ khác và chờkhi sâu rầy đến sẽ tấn công ngay từ đầu làm cho mật số của sâu rầy khó gia tăngnhanh được Vì vậy, mà trong biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu rầy (IPM) người ta
đề nghị là “không nên phun thuốc trừ sâu sớm trong vòng 30 ngày đầu sau khi sạlúa” nhằm mục đích để bảo vệ chúng và các loài côn trùng thiên địch khác cũng cónhiều vào lúc nầy như: chuồn chuồn, bọ rùa, kiến ba khoang…
Có rất nhiều loài nhện cư ngụ trong ruộng lúa từ giăng lưới trên cây đến làm ổtrên lá, và đặc biệt là các loài nhện săn mồi tự do ở dưới gốc lúa, có khi chạy đượctrên mặt hay lặn vào trong nước Sau đây là một số loài nhện thường thấy theo thứ
tự quan trọng do khả năng bắt mồi đối với sâu rầy, hay mật số của chúng trongruộng lúa
Trang 33Tên khoa học: Tetragnatha spp (Tetragnathidae, Araneae).
- Gồm nhiều loài với màu sắc khác nhau, loại nhện nầy có đặc điểm dễ nhậnbiết là chân rất dài, ban ngày thường thấy nằm duỗi chân bất động theo chiều dàicủa mặt lá lúa để lẩn trốn, đến khi chiều tốn bớt gió thì chúng thức dậy để giăng tơgiữa các đầu lá lúa thành một mạng lưới ngang hình tròn và nằm chờ mồi ở ngaychính giữa lưới Do đó nếu ra đồng sớm vào những buổi sáng cuối năm khi trời lànhlạnh và có nhiều sương mù như lúc nầy thì các bạn sẽ thấy trên đầu lá lúa có nhữnglưới nhện đọng sương giăng ngang và con nhện còn đang rình mồi ở giữa
- Đến khi nắng lên có gió thì chúng sẽ đi gom lưới lại và mang mẻ mồi vừa bắtđược qua đêm (thường là các con rầy, muỗi nước, bướm sâu phao hay sâu cuốnlá…) về một cành hay lá cây ven bờ, hoặc ngay trên trên lá lúa trong ruộng, để nằm
đó nhấm nháp con mồi rồi làm một giấc cho đến chiều tối
- Trông thì nhàn hạ lắm nhưng rủi gặp đêm mưa hay có gió lớn làm rách lướithì loại nhện này đành trắng tay vì chúng không tự đi săn mồi được Có khi trongruộng rầy trưởng thành đã bay hết rồi và chỉ còn lại có rầy cám ở dưới gốc lúa thìchúng cũng chịu thua vì chả có con nào bay được để mắc lưới, thôi thì đành nhìn tụinhện sói chúng ăn liên hoan rầy non ở phía dưới Thế mới biết “nhện chờ mối ai” làvậy, vì “mối mang gì mấy cô cậu ơi, nằm chờ mồi coi bộ khó hơn là tự đi săn, nên
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 33
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.10: Nhện chân dài
Trang 34các nhà sinh học nông nghiệp trân trọng bọn nhện sói hơn tụi tui, nhưng cũng đượccái hay là buổi sáng ra đồng mà nhìn ruộng nào thấy có nhiều tơ nhện của bọn tui ởphía trên là coi như ruộng đó còn nhiều thiên địch do không bị nhiễm thuốc trừ sâu,nông dân sẽ an tâm hơn!”.
Nhện linh miêu
Tên khoa học: Oxyopes javanus
- Gồm rất nhiều loài nhện nhỏ xíu nhưng rất lanh lẹ trong việc săn bắt mồi.Đặc biệt là chúng có cặp mắt tròn xoe và sáng quắc ở trước đầu (nên mới gọi là linhmiêu), có thể quay đi ngó lại để ngắm nghía con mồi và thừa lúc nào thuận tiện thìnhảy tới vồ ngay con mồi, có khi còn lớn hơn chúng nhiều lần Có khi đói quáchúng cũng liều bắt luôn các con nhện khác lớn hơn đang rình mồi trên lưới, bằngcách dùng chân trước khều nhẹ trên lưới cho rung rung, làm cho con nhện kia tưởng
có mồi đang mắc lưới nên vội chạy đến thì… bị con nhện linh miêu tấn công bấtngờ
- Loại nhện này rất phổ biến, đôi khi thấy ở trong nhà, nhứt là ở các cửa kiếng
để rình bắt ruồi muỗi đang tìm đường ra
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 34
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.11: Nhện linh miêu
Trang 35 Nhện bầu
- Thuộc họ nhện nhỏ Linyphiidae (Araneae), thường có thân mình tròn, chân
ngắn trông có vẻ yếu ớt nên thường bu ở sát gốc lúa để bắt các con mồi nhỏ như rầycám hay bồ hong, muỗi nước… Do đó, mặc dù khó thấy nhưng mật số của chúngrất đông nên cũng góp phần đáng kể trong việc làm giảm mật số rầy nâu còn nonvừa mới nở ra
- Một số loài nhện khác như: nhện xếp lá, nhện dương, nhện chân gai… cũngthường có mặt trong ruộng lúa để cùng với các loài côn trùng thiên địch khác tấncông sâu rầy Do đó, chúng thật sự là những người bạn tự nhiên không mời, khôngphải nuôi dưỡng của nông dân, chỉ cần theo dõi đồng ruộng cho thật chặt chẽ đểphát hiện sâu rầy kịp thời nhằm có biện pháp phòng trừ hữu hiệu, đó là chỉ sử dụngthuốc trừ sâu khi nào thật sự cần thiết, theo nguyên tắc “4 đúng”, để có cơ hội chocác loài thiên địch nầy phát triển trong ruộng lúa, cùng canh gác sâu rầy với nôngdân
2.4.2.2 Bọ rùa
- Bọ rùa là tên gọi chung cho các loài côn trùng nhỏ, mình tròn hình cái trống,phủ giáp trụ, trên mặt cánh có những chấm đen (có loài không có) Người ta phânloại bọ rùa tùy theo số chấm và hình thái cơ thể
- Loài bọ rùa thường thấy nhất là bọ rùa 7 sao Trên bộ cánh vỏ vàng cam có 7nốt đen (mỗi cánh có nốt, còn một nốt ở chỗ giáp lại giữ hai cánh) Đây là loài bọrùa to nhất và là một thợ săn đáng khâm phục
- Bọ rùa, hay còn gọi là bọ hoàng hậu, ăn được nhiều thứ, thức ăn chính củachúng là rệp lúa Rệp lúa có rất nhiều trên cây cối Một con bọ rùa một ngày trungbình có thể ăn được đến hơn 100 con rệp lúa Vào mùa xuân, rệp lúa từ trứng nở ra,
bọ rùa cũng "thức giấc" sau kì trú đông, vì thế chúng có đủ lượng thức ăn dồi dào
- Sinh sản
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 35
SVTH: Nguyễn Thị Minh