Thiết kế e-book hỗ trợ khả năng tự học của học sinh lớp 12 chương `Đại cương về Kim loại` chương trình cơ bản
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phạm Thùy Linh
Chuyên ngành : Lý luận và Phương pháp dạy học môn Hóa học
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS VŨ ANH TUẤN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
THƯ
VIỆN
Trang 2“Người thầy trung bình chỉ biết nói,
Người thầy giỏi biết giải thích,
Người thầy xuất chúng biết minh họa,
Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng” (William A.Ward)
Vâng! Bằng tất cả lòng kính trọng và biết ơn, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến những người thầy ưu tú đã truyền cảm hứng cho tác giả để đạt được thành quả như ngày hôm nay:
- Thầy Trịnh Văn Biều; Trưởng Khoa hóa, trường ĐHSP TP HCM; đã dìu dắt, chỉ
bảo, dạy dỗ tận tình trong suốt khóa học
- Thầy Vũ Anh Tuấn, hiện công tác tại Vụ Trung học phổ thông, Bộ GD & ĐT Việt Nam Cảm ơn thầy đã dành nhiều thời gian và công sức, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình làm luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến:
- Ban giám hiệu, Phòng khoa học công nghệ và sau đại học, Khoa Hóa trường
ĐHSP TP HCM; quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các học viên hoàn thành khóa học
- Các thầy cô giáo và các em học sinh trường Đinh Tiên Hoàng, Trấn Biên, Trị An
thuộc tỉnh Đồng Nai đã giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình thực nghiệm sư phạm đề tài
- Các thầy cô giáo tỉnh Đồng Nai, Bình Thuận, Bến Tre và TP HCM đã nhiệt tình
đóng góp ý kiến cho e-book
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn
Vì thời gian và khả năng còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy các cô cùng các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT : công nghệ thông tin
CSS : cascading Style Sheets – Bảng kiểu xếp chồng
GV : giáo viên
HS : học sinh
HTML : hypertext Markup Language – Ngôn ngữ liên kết siêu văn bản
ICT : information and communication technology – Công nghệ thông tin và truyền thông PPDH : phương pháp dạy học
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thực tế, nhiều trường phổ thông hiện nay, giờ học chính khóa tăng, trong một tuần nhiều ngày học sinh học cả 2 buổi sáng, chiều; đặc biệt là học sinh các trường tư thục Vì thế, lượng kiến thức các em học trong một ngày là rất nhiều, và thời gian học ở nhà của học sinh vào buổi tối xem ra quá
ít so với lượng kiến thức đã tiếp thu
Với môn hóa học, ở học kỳ II lớp 11 và học kỳ I lớp 12 các em chỉ học về hóa hữu cơ, nên khi bắt đầu học về kim loại ở cuối học kỳ I lớp 12, đa số các em gặp nhiều khó khăn bỡ ngỡ vì đã quên khá nhiều, cả về lý thuyết, phương trình phản ứng, các dạng bài tập về kim loại; mà các dạng bài tập
về kim loại thì nhiều và khó
Bên cạnh đó, do thời gian dạy môn hoá trên lớp còn hạn hẹp, thời gian hệ thống hoá lại lý thuyết các chất vô cơ và giải bài tập chưa được nhiều, không phải học sinh nào cũng đủ thời gian để thấu hiểu, ghi nhớ và vận dụng những kiến thức mà giáo viên truyền dạy ngay trên lớp Vì vậy việc
tự học ở nhà của học sinh là rất quan trọng và cần thiết
Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy là một bước tiến mới, thúc đẩy quá trình đổi mới phương pháp dạy học Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề này và đã
cụ thể hóa bằng chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 30/7/2001 về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục Một trong bốn mục tiêu được đặt ra là: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học”
Từ những lí do trên, với mong muốn hỗ trợ hoạt động tự học hóa học của học sinh và góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, chúng tôi chọn đề tài: THIẾT KẾ E- BOOK HỖ TRỢ KHẢ NĂNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH LỚP 12 CHƯƠNG “ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI”
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài:
Cơ sở lí thuyết về hoạt động tự học ;
Cơ sở lí thuyết về E-book ;
Trang 5 Cơ sở lí thuyết về các phần mềm thiết kế E-book ;
Cơ sở lí thuyết của chương “Đại cương về kim loại lớp 12” - Chương trình Cơ Bản
- Thiết kế E- book chương “Đại cương về kim loại” Lớp 12 chương trình cơ bản, gồm các trang:
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của E-book đã thiết kế
-Tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
a Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hoá học trường THPT ở VN
b Đối tượng nghiên cứu
Thiết kế E- book để hỗ trợ hoạt động tự học của học sinh
5 Phạm vi nghiên cứu
Chương 5 “ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI” Hoá Học 12- Chương trình cơ bản
Trang 66 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế E- book có nội dung hấp dẫn, giao diện đẹp và dễ sử dụng sẽ kích thích hứng thú
tự học của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học lớp 12
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài
- Truy cập thông tin trên Internet
- Điều tra bằng các phiếu câu hỏi và phỏng vấn
- Thiết kế nội dung E-book bằng các phần mềm tin học
- Phân tích và tổng hợp
- Thực nghiệm sư phạm
- Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu
8 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
E-book thiết kế thành công sẽ cung cấp cho học sinh một công cụ tự học, cho giáo viên một phương tiện dạy học; và khẳng định sự cần thiết của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học
Trang 71 Hỉ A Mổi (2005), Thiết kế website tự học môn hóa học lớp 11 chương trình phân ban thí
điểm, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
2 Phạm Dương Hoàng Anh (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX và
Macromedia Flash MX 2004 để thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố kiến thức môn Hóa học phần Hiđrocacbon không no mạch hở dành cho học sinh THPT, Khóa luận tốt nghiệp,
ĐHSP TP.HCM
3 Nguyễn Thị Thanh Hà (2006), Ứng dụng phần mềm Macromedia Flash và Macromedia
Dreamver để thiết kế website về lịch sử hóa học 10 góp phần nâng cao chất lượng dạy học, Khóa
luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
4 Phạm Duy Nghĩa (2006), Thiết kế Website phục vụ việc học tập và ôn tập chương nguyên tử
cho học sinh lớp 10 bằng phần mềm Macromedia Flash và Dreamweaver, Khóa luận tốt nghiệp,
ĐHSP TP.HCM
5 Nguyễn Ngọc Anh Thư (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX và
Macromedia Flash MX 2004 để tạo trang web hỗ trợ cho học sinh trong việc tự học môn hóa học lớp 11 nhóm Nitơ chương trình phân ban thí điểm, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
6 Phạm Thị Phương Uyên (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX 2004
và Macromedia Flash MX 2004 thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố kiến thức cho học sinh môn hoá học nhóm oxi – lưu huỳnh chương trình cải cách, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP
TP.HCM
7 Đỗ Thị Việt Phương (2006), Ứng dụng Macromedia Flash MX 2004 và Dreamweaver MX
2004 để thiết kế website hỗ trợ cho hoạt động tự học hoá học của học sinh phổ thông trong chương halogen lớp 10, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
8 Lê Thị Xuân Hương (2007), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học chương Halogen lớp
10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
Trang 89 Trịnh Lê Hồng Phương (2008), Thiết kế học liệu điện tử chương oxi – lưu huỳnh lớp 10 hỗ
trợ hoạt động tự học hóa học cho học sinh trung học phổ thông, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP
TP.HCM
10 Nguyễn Thị Ánh Mai (2006), Thiết kế sách giáo khoa điện tử (E-book) các chương về lý
thuyết chủ đạo sách giáo khoa hoá học lớp 10 THPT, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐHSP
Hà Nội
11 Nguyễn Thị Thu Hà (2008), Thiết kế sách giáo khoa điện tử lớp 10 - nâng cao chương
“nhóm halogen”, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐHSP TP HCM
12 Trần Tuyết Nhung (2009), Thiết kế Sách giáo khoa điện tử chương “Dung dịch- Sự điện
li” lớp 10 chuyên hóa học, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐHSP TP HCM
Các website và E-book này đều có điểm chung là giúp HS có một công cụ tự học hiệu quả Mặc dù vậy, các tác giả chưa quan tâm nhiều đến một số vấn đề sau:
- Nội dung kiến thức trình bày chưa thật sự hấp dẫn, chủ yếu được xây dựng trên phần mềm Dreamweaver mà không phối hợp một số phần mềm khác
- Ở mỗi bài học chưa có phần trọng tâm; không có các câu hỏi hướng dẫn tư duy để HS suy luận tự tìm ra kiến thức
- Ở phần bài tập, chưa cung cấp đủ các câu hỏi lí thuyết và đáp án cho từng bài học
Phần bài tập trắc nghiệm, các tác giả chủ yếu đưa ra những câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra chung cho cả chương mà chưa có những câu hỏi trắc nghiệm cho mỗi bài học
- Phim thí nghiệm không thể xem trực tiếp trên nội dung bài học mà thường phải download về máy tính rồi mới xem được
- Chưa cung cấp cho HS các phương pháp giải nhanh các bài toán hoá học…
Ngoài ra, đa số các website và E-book trên chú trọng đến những vấn đề thuộc chương trình lớp
10 và 11, còn chương trình lớp 12 thì chưa đi sâu vào nghiên cứu
1.2 Đổi mới phương pháp dạy học
1.2.1 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Theo TS Trịnh Văn Biều [5], một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới
và ở nước ta hiện nay là:
1 Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng tạo, tìm tòi, khám phá
2 Cá thể hóa việc dạy học
3 Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học
4 Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống Chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa
Trang 9kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức
5 Cải tiến việc kiểm tra và đánh giá kiến thức
6 Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời
7 Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo cấp học, bậc học)
Trong 7 xu hướng đổi mới trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng tự học của HS
đang là những xu hướng đổi mới quan trọng về phương pháp dạy và học hiện nay (xu hướng 1 và 6)
1.2.2 Phương pháp dạy học tích cực
1.2.2.1 Tính tích cực
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người Con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội
Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển xã hội
Tính tích cực trong hoạt động học tập là tính tích cực nhận thức, đăc trưng ở khát vọng hiểu biết,
cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
Trong học tập, học sinh phải “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên
Như Xocrates đã nói: “Tôi không thể dạy cho ai bất cứ điều gì, tôi chỉ có thể bắt họ suy nghĩ”
1.2.2.2 Phương pháp học tập tích cực
Hiện nay việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ
từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương pháp dạy học đến cách thức đánh giá kết quả dạy học, trong đó khâu đột phá là đổi mới phương pháp dạy học
Mục đích trong việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học
truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy - học tích cực” nhằm giúp học sinh phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập Làm cho “học” là quá trình kiến tạo: học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin,… tự hình thành hiểu biết, năng lực
và phẩm chất Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lý Chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội
Trang 10Vậy, Phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động trái với
không hoạt động, thụ động Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ
không chỉ hướng vào việc phát huy tính tích cực của người dạy
1.2.3 Ứng dụng CNTT trong dạy học
Trong báo cáo về “Công nghệ thông tin trong giáo dục” ngày 2/11/2005 [26], tác giả Quách Tuấn Ngọc đã đưa ra một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy và học với sự hỗ trợ của CNTT:
a Xu hướng đổi mới nhờ CNTT
Bảng 1.1 Xu hướng đổi mới nhờ CNTT
Xây dựng trường lớp với bảng, bàn… Một hạ tầng tri thức (trường học, phòng thí nghiệm,
radio, TV, Internet) Các lớp học Từng người học một (tính cá thể)
Giáo viên như là người cung cấp tri thức Giáo viên như là người hướng dẫn và tạo điều kiện
tìm tri thức
Bộ sách giáo khoa và một vài đồ dùng phụ trợ
nghe nhìn tương tự (radio-cassette…)
Dụng cụ đa phương tiện Multimedia (in ấn, âm thanh, thiết bị số ) và nguồn thông tin trên mạng máy tính
b Đổi mới phương pháp dạy và học
Bảng 1.2 Đổi mới phương pháp dạy và học
Về phương pháp trình
bày
Từ phấn bảng độc thoại, thầy đọc trò chép
sang trình chiếu điện tử
đối thoại, diễn giả, trình bày
sang e - book đa phương tiện (multimedia)
Vai trò thầy Từ độc thoại, người dạy dỗ
…
sang vai trò hướng dẫn, kích hoạt các hoạt động, để HS tự động não thu nhận, thảo
Trang 11luận …
Thầy soạn bài, soạn giáo án ngay trên máy
vi tính bằng word, powerpoint
Vai trò học sinh: Tăng cường tính tự học, giao lưu quốc tế,
nhiều khi trò giỏi hơn thầy…
1.3 Tự học
1.3.1 Tự học là gì?
Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001 [18], tự học là: “…quá trình tự
mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành…”
Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó cũng được hình thành
bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nồng độ học tập nhất định”
Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triễn lãm, xem phim, kịch, giao tiếp với những người có học, với các chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện… Đối với HS,
tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm
và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao
1.3.2 Các hình thức tự học [14]
Tự học có thể diễn ra theo 3 hình thức:
- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các kiến
thức trong đó
- Tự học có hướng dẫn: Có giáo viên ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các
phương tiện thông tin khác
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với giáo viên một số tiết trong ngày,
trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
1.3.3 Chu trình tự học của học sinh [14]
Chu trình tự học của học sinh là một chu trình 3 thời:
- Tự nghiên cứu
Trang 12- Tự thể hiện
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Hình 1.1 Chu trình học 3 thời
Thời (1): Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn
đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân
Thời (2): Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn
đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học
Thời (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
1.3.4 Vai trò tự học [14]
- Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người
- Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người Tự học giúp cho con người giải quyết mâu thuẫn giữa khát vọng cao đẹp về học vấn với hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống cá nhân
- Tự học khắc phục nghịch lý: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn Sự bùng nổ thông tin làm cho người thầy không có cách nào truyền thụ hết kiến thức cho trò, trò phải học cách học, tự học, tự đào tạo để không bị rơi vào tình trạng “tụt hậu” Đối với học sinh THPT, quỹ thời gian 3 năm được đào tạo ở bậc học này chắc chắn sẽ không thể nào tiếp thu được hết khối lượng kiến thức khổng lồ trong chương trình Vì vậy, tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường
Trang 13- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Quá trình tự học khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt Quá trình tự học diễn ra theo đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức có được do tự học là kết quả của sự hứng thú, của sự tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi học sinh biết cách tự học, học sinh sẽ “có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”
- Người học phải biết cách tự học vì học tập là một quá trình suốt đời Đối với học sinh THPT, nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng… học sinh sẽ khó thích ứng với cách học đòi hỏi phải tự học tập, tự nghiên cứu thường xuyên do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt
- Tự học của học sinh THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Với lối dạy theo hướng “nhồi nhét” trong các nhà trường phổ thông hiện nay, học sinh khó có thể có thời gian để tự học và tự học có hiệu quả Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông
1.3.5 Tự học qua mạng và lợi ích của nó [14]
1.3.5.1 Tự học qua mạng
Tự học qua mạng là hình thức của tự học mà không dùng lời nói trực tiếp để giao lưu với nhau, mà dùng các phương tiện khác đó là máy tính có kết nối mạng Internet Người học chủ động tìm kiếm tri thức để thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của mình tự củng cố, tự phân tích, tự đào sâu, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm…với sự hỗ trợ của máy tính
1.3.5.2 Lợi ích của việc tự học qua mạng
Tự học hoàn toàn thì rất khó, phải có một sự hướng dẫn được tổ chức chu đáo Tự học qua mạng ra đời nhằm cung cấp sự hướng dẫn đó cho bất cứ ai muốn học một chương trình nào đó hoặc xem lại, bổ sung, mở rộng phần kiến thức đã học ở trường lớp Sự hướng dẫn này có cấp độ chung
và cấp độ cụ thể Cấp độ chung hướng dẫn học về các mặt tư tưởng, quan điểm, phương pháp luận, những phương pháp chung nhất, phổ biến nhất Cấp độ cụ thể hướng dẫn học môn cụ thể, từng bài học cụ thể Cấp độ chung soi sáng cho cấp độ cụ thể và cấp độ cụ thể minh họa, củng cố cấp độ chung Cả hai cấp độ hướng dẫn này khi vào học sẽ hòa quyện vào nhau, tác động lẫn nhau để tạo nên một phong cách tự học có hiệu quả, người học sẽ có trong tay một công cụ cơ bản để học suốt
Trang 14đời Một sự hướng dẫn được coi là có hiệu quả nếu người tiếp thu thật sự chủ động khiến cho yêu cầu “được hướng dẫn” cũng sẽ giảm dần cho đến khi người học có thể tự học hoàn toàn
Tự học qua mạng, người học không bị ràng buộc vào thời khóa biểu chung, một kế hoạch chung, có thời gian để suy nghĩ sâu sắc một vấn đề, phát hiện ra những khía cạnh xung quanh vấn
đề đó và ra sức tìm tòi học hỏi thêm Dần dà, cách tự học đó trở thành thói quen, giúp người học phát triển được tư duy độc lập, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo
Tự học qua mạng giúp người học có thể tìm kiếm nhanh chóng và dễ dàng một khối lượng lớn thông tin bổ ích Về mặt này, người học hoàn toàn thuận lợi so với việc tìm kiếm trên sách báo Với tính năng siêu liên kết và giao diện thân thiện, website sinh động, hấp dẫn, tiện dụng cho người học góp phần nâng cao hứng thú học tập
* Tóm lại, có thể nói tự học chính là con đường để mỗi chúng ta tự khẳng định khả năng của mình Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người Tuy tự học có một vai trò hết sức quan trọng nhưng tự học của HS cũng không thể đạt được kết quả cao nhất nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người thầy Chính vì vậy, “trong nhà trường điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn… mà là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề”
(Thủ tướng Phạm Văn Đồng-1969) GV cần giúp cho HS tìm ra phương pháp tự học thích hợp và
cung cấp cho HS những phương tiện tự học có hiệu quả Dạy cho HS biết cách tự học qua mạng chính là một trong những cách giúp HS tìm ra chiếc chìa khóa vàng để mở kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại
1.4 E-book (Sách giáo khoa điện tử)
1.4.1 Khái niệm E-book
Theo trang web www.thuvien-ebook.com [86] “E-book là từ viết tắt của electronic book (sách điện tử) Hiểu theo cách đơn giản nhất, sách điện tử (E-books hay digital books) là phiên bản dạng số (hay điện tử) của sách Nội dung của sách số có thể lấy từ sách giấy hoặc mang tính độc lập tùy thuộc vào người xuất bản Một số người thường sử dụng thuật ngữ này để chỉ luôn cả thiết bị dùng để đọc sách dạng số (còn gọi là book – reading appliances hay E-book readers)”
Trong luận văn này, có thể hiểu sách giáo khoa điện tử thực chất giống như một cuốn sách
giáo khoa bình thường nhưng có bổ sung nhiều hình ảnh, phim thí nghiệm, nhiều bài tập hoá học…
và được sử dụng thông qua hệ thống máy tính
Những tính năng ưu việt của E-book: Sách điện tử có những lợi thế mà sách in thông thường không có được:
- Rất gọn nhẹ, giá thành rẻ
- Nhiều hình ảnh, phim minh họa rõ nét, hấp dẫn
Trang 15- Khả năng lưu trữ lớn, có thể chứa rất nhiều thông tin, hình ảnh, phim…
Cùng với sự phát triển vượt bậc của mạng internet và kết hợp với các thiết bị kỹ thuật cao cấp, hầu hết các sách in giấy thông thường đều có thể được làm thành sách điện tử Chính vì vậy mà ngày nay, không khó khăn lắm để chúng ta tìm một tác phẩm nổi tiếng để đọc trực tiếp trên mạng hay tải về máy tính để đọc theo dạng E-book
Nhược điểm của E-book
- Giống như e-mail (thư điện tử) E-book chỉ có thể dùng các công cụ máy tính như máy vi tính, máy trợ giúp kỹ thuật số cá nhân (palm, pocket pc…) để xem
- Không giống như sách in thông thường, sách điện tử cũng có những “định dạng” khác nhau Nói một cách dễ hiểu là sách có nhiều tập tin mở rộng như pdf, prc, lit, … Những tập tin này sở dĩ khác nhau vì chúng được làm từ những chương trình khác nhau và vì thế, muốn đọc được chúng, ta cần phải có những chương trình tương ứng
1.4.2 Mục đích thiết kế E-book
Thiết kế sách giáo khoa điện tử (E-book) hỗ trợ cho hoạt động tự học hóa học của HS phổ thông như là một công cụ tự học thích hợp từ đó nâng cao hiệu quả tự học thông qua những kiến thức được minh họa một cách sinh động, hấp dẫn Ngoài ra, khi GV ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học có thể sử dụng sách giáo khoa điện tử như là một tài liệu tham khảo
1.4.3 Các yêu cầu thiết kế E-book
Việc thiết kế E-book phục vụ cho giáo dục đòi hỏi phải đáp ứng những đặc trưng riêng về mặt nghe, nhìn, tương tác; do đó theo TS Nguyễn Trọng Thọ [42] để đáp ứng nhu cầu tự học, chúng ta
phải tuân theo đầy đủ các bước của việc thiết kế dạy học (ADDIE là chữ viết tắt của 5 bước):
1 Analysis (phân tích tình huống để đề ra chiến lược phù hợp):
Hiểu rõ mục tiêu
Các tài nguyên có thể có
Đối tượng sử dụng
2 Design (thiết kế nội dung cơ bản):
Các chiến lược dạy học
Siêu văn bản (hypertext) và siêu môi trường (hypermedia)
Hướng đối tượng, kết nối và phương tiện điều hướng
3 Development (phát triển các quá trình):
Thiết kế đồ hoạ
Phát triển các phương tiện 3D và đa môi trường (multimedia)
Hình thức và nội dung các trang Web
Phương tiện thực tế ảo
Trang 164 Implementation (triển khai thực hiện):
Cần tích hợp với chương trình công nghệ thông tin của trường học :
Chuẩn bị cho phù hợp với thực tế các phòng máy tính
Thủ tục tiến hành với thầy
Triển khai trong toàn bộ các đối tượng dạy, học và quản lí
Quản lí tài nguyên (nhân lực và vật lực)
5 Evaluation (lượng giá):
Đánh giá hiệu quả huấn luyện thường sử dụng mô hình bốn bậc do Donald Kirkpatrick phát triển (1994) Theo mô hình này, quá trình lượng giá luôn được tiến hành theo thứ tự vì thông tin của bậc trước sẽ làm nền cho việc lượng giá ở bậc kế tiếp:
Bậc 1: Phản ứng tích cực hay tiêu cực (Reactions)
Bậc 2: Hiệu quả học tập (Learnings)
Bậc 3: Khả năng chuyển giao hay chuyển đổi (Transfers)
Bậc 4: Kết quả thực tế (Results)
Hình 1.2 Mô hình lượng giá bốn bậc theo Kirkpatrick
Trang 171.4.4 Các phần mềm thiết kế E-book
1.4.4.1 Macromedia Dreamweaver 8 [35], [43], [48]
Phần mềm Dreamweaver MX 2004 do hãng Macromedia sản xuất là một công cụ biên soạn HTML chuyên nghiệp nhằm để thiết kế và quản lý các Website Môi trường đồ họa của Dreamweaver với các bảng điều khiển và các cửa sổ sẽ cho phép những người mới sử dụng tạo được các Website cao cấp cho dù chưa từng viết mã HTML
Với Dreamweaver ta có thể bổ sung các đối tượng Flash mà chúng ta tạo trực tiếp trong Dreamweaver như: Flash Button, Flash text và Flash Movie
Với Dreamweaver ta có thể:
Xây dựng trang chủ của E-book và các trang liên kết khác
Tạo kiểu, bố trí nội dung trang
Tạo các liên kết từ trang này đến các trang khác
Bổ sung các file Flash Slide Presentation, Flash movies, Flash text, …
Ngoài ra ta có thể tạo và chỉnh sửa các hình ảnh trong Macromedia Firework, sau đó cập nhật trực tiếp vào Dreamweaver và mã nguồn HTML tự động được cập nhật
Trang 181.4.4.2 Macromedia Flash Professional 8 [36], [49]
Flash là một công cụ sáng tạo, cho phép tạo ra các thiết kế, các ứng dụng có khả năng tương tác cao Có thể sử dụng Flash để tạo các thí nghiệm, mô phỏng cơ chế phản ứng, tạo những hiệu ứng hoạt hình sinh động…
Với nhiều tính năng ưu việt, Macromedia Flash Professional 8 – phiên bản mới ngày càng khẳng định vai trò của mình Khác với các phiên bản trước đây, phiên bản mới này cho phép tạo các trình diễn (Slide Presentation) với nhiều hình ảnh đẹp, có thể tích hợp các film thí nghiệm vào trong các slide trình diễn Ngoài ra, Macromedia Flash Professional 8 còn hỗ trợ việc tạo nhiều loại câu hỏi trắc nghiệm như: câu hỏi đúng – sai, câu hỏi nhiều lựa chọn, câu điền khuyết, câu hỏi ghép cặp dạng kéo – thả…
Đặc biệt các tập tin flash (.swf) có kích thước nhỏ, gọn có thể đưa lên website một cách dễ dàng và nhanh chóng Đây cũng là phần mềm chính mà chúng tôi đã sử dụng để tạo nội dung các bài học cũng như bài tập trong E-book
1.4.4.3 Sothink Glanda [94]
Trang 19Sothink Glanda là một công cụ tạo Flash hoàn hảo cho những người dùng không chuyên nghiệp Nó có nhiều đặc tính nổi bật nhưng lại rất dễ sử dụng như tạo một đoạn văn bản có hiệu ứng Có thể tạo những đoạn film Flash như album, tiêu đề hoạt hình sinh động và cả những nút hoặc menu tương tác… một cách dễ dàng và nhanh chóng Trong E-book, tựa đề các bài học được tạo ra
từ phần mềm Sothink Glanda
Ở giao diện chính có bốn lựa chọn:
1 Blank document: Tạo tập tin trắng để bạn bắt tay vào thiết kế ngay từ đầu
2 Album: Tạo album ảnh
3 Banner: Tạo bảng quảng cáo
4 Navigation button: tạo nút
-Thanh trình đơn (menu) gồm các mục File, Edit, View, Insert, Modify, Tools, Help và các mục con
-Thanh công cụ Toolbar gồm các lệnh: New, Open, Save, Import, Cut, Copy, Paste, Add text , Undo, Redo, Preview, Export movie
-Vùng thiết kế và hiển thị kết quả (Design panel) : Vùng này cho phép bạn thực hiện các mẫu thiết kế và cho kết quả chuyển động khi nhấp vào nút Preview trên thanh công cụ
Dùng Sothink Glanda để thiết kế tiêu đề chương và tiêu đề các bài học
- Mở chương trình Sothink Glanda: Start > Sothink Glanda
Trang 20- Trong cửa sổ New From Template chọn Banner, rồi nhấp OK
- Chọn banner kiểu BlueSky trong ô Template, nhấp Next, cuối cùng nhấp Finish
- Chỉnh sửa kích thước và đánh chữ vào banner cho phù hợp
Trang 21Menu chính của SWFText gồm 9 công cụ Ngoài Help để trợ giúp thì 8 công cụ còn lại đều hỗ trợ bạn tạo ra những banner khiến người khác phải trầm trồ:
1 Movie: ấn định kích thước banner với các số đo cơ bản như chiều dài, chiều rộng và tốc độ
hiển thị Ở đây, bạn cũng có thể click chọn Display border around flash movie - hiển thị đường viền quanh banner, Enable right-click context menu over flash movie - hiển thị menu khi click chuột phải, Add preload to movie - hiển thị preload, Protect flash movie from being imported - chống
"xâm phạm bản quyền"
2 Background: Để chọn hình nền cho banner Các lựa chọn cho nền gồm màu đơn nhất -
Solid hoặc hiệu ứng màu Gradient Độc đáo hơn, bạn có thể tận dụng kho hình nền phong phú của mình bằng cách chỉ đường dẫn đến file hình ảnh, chọn chế độ hiển thị Stretch hay Tile Nhanh nhất
và cũng đơn giản nhất là Transparent - nền trong suốt
3 Background Effect: với các hiệu ứng mới, độc đáo như Heart, Leaf, Matrix, Festival ; mỗi
hiệu ứng đều cho phép thay đổi màu sắc, tần số lặp để tạo nét riêng cho banner
4 Text là phần vô cùng quan trọng của banner Để nhập mới text, bạn nhấn Add rồi nhập đoạn
văn bản cần hiển thị SWFText sẽ tự động thêm vào danh mục text và cho văn bản lần lượt "xuất hiện" theo thứ tự từ trên xuống dưới Nếu muốn sắp xếp lại, bạn nhớ click Up và Down
5 Text Effect: hiệu ứng cho chữ
6 Font: với các lựa chọn như chữ đậm, chữ "nghiêng", màu, kích cỡ, góc quay, canh lề,
khoảng cách giữa các chữ
7 Interaction, người dùng được phép thay đổi vòng lặp Ngoài ra, Interaction cũng hỗ trợ tạo
liên kết giữa banner và website bằng cách nhập URL vào hộp ký tự Liên kết có thể được kích hoạt bằng cách click chuột hoặc tự động mở khi flash kết thúc
8 Sound: thêm nhạc vào flash Bạn cần chỉ đường dẫn đến file nhạc, lưu ý là SWFText chỉ hỗ
trợ file MP3 và WAV Nhớ đừng quên chọn vòng lặp hoặc kết thúc chơi nhạc khi flash kết thúc
Trang 22Sau khi đã hoàn thành mọi bước, bạn có thể nhấn Preview để duyệt trước, thao tác cuối cùng - Publish
Ba lựa chọn cơ bản là "phát hành" dưới dạng SWF, GIF hay AVI Ngoài ra, nếu chọn lưu file dưới dạng flash, bạn có thể "xin" đoạn mã HTML để dễ dàng chèn vào website hay blog
1.4.4.5 Violet v1.5 [78]
Violet là phần mềm công cụ giúp cho giáo viên có thể tự xây dựng được các bài giảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả So với các công cụ khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác rất phù hợp với học sinh từ tiểu học đến THPT
Violet được viết tắt từ cụm từ tiếng Anh: Visual & Online Lesson Editor for Teachers (công cụ soạn thảo bài giảng trực tuyến dành cho giáo viên)
Tương tự phần mềm Powerpoint, Violet có đầy đủ các chức năng dùng để tạo các trang nội dung bài giảng như: cho phép nhập các dữ liệu văn bản, công thức, các file dữ liệu multimedia (hình ảnh, âm thanh, phim, hoạt hình Flash ), sau đó lắp ghép các dữ liệu, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh hình ảnh, tạo các hiệu ứng chuyển động và biến đổi, thực hiện các tương tác với người dùng Riêng đối với việc xử lý những dữ liệu multimedia, Violet tỏ ra mạnh hơn so với Powerpoint, ví dụ như cho phép thể hiện và điều khiển các file Flash hoặc cho phép thao tác quá trình chạy của các đoạn phim v.v
Violet cũng có các module công cụ dùng cho vẽ hình cơ bản và soạn thảo văn bản nhiều định dạng (Rich Text Format) Ngoài ra, Violet còn cung cấp sẵn nhiều mẫu bài tập chuẩn thường được
sử dụng trong các SGK và sách bài tập như:
Bài tập trắc nghiệm, gồm có các loại: một đáp án đúng, nhiều đáp án đúng, ghép đôi, chọn đúng sai, v.v
Bài tập ô chữ: học sinh phải trả lời các ô chữ ngang để suy ra ô chữ dọc
Trang 23 Bài tập kéo thả chữ / kéo thả hình ảnh: học sinh phải kéo thả các đối tượng này vào đúng những vị trí được quy định trước trên một hình ảnh hoặc một đoạn văn bản Bài tập này còn có thể thể hiện dưới dạng bài tập điền khuyết hoặc ẩn/hiện
Violet còn cho phép chọn nhiều kiểu giao diện (skin) khác nhau cho bài giảng, tùy thuộc vào
bài học, môn học và ý thích của giáo viên
Sau khi soạn thảo xong bài giảng, Violet sẽ cho phép xuất bài giảng ra thành một thư mục chứa file EXE hoặc file HTML chạy độc lập, tức là không cần Violet vẫn có thể chạy được trên mọi máy tính, hoặc đưa lên máy chủ thành các bài giảng trực tuyến để sử dụng qua mạng Internet
Violet có giao diện được thiết kế trực quan và dễ dùng, ngôn ngữ giao tiếp và phần trợ giúp đều hoàn toàn bằng tiếng Việt, nên phù hợp với cả những giáo viên không giỏi Tin học và Ngoại ngữ Mặt khác, do sử dụng Unicode nên font chữ trong Violet và trong các sản phẩm bài giảng đều đẹp, dễ nhìn
và có thể thể hiện được mọi thứ tiếng trên thế giới Thêm nữa, Unicode là bảng mã chuẩn quốc tế nên font tiếng Việt luôn đảm bảo tính ổn định trên mọi máy tính, mọi hệ điều hành và mọi trình duyệt Internet
1.4.4.6 Articulate_Quizmaker_09 [95]
Articulate Quizmaker '09 là một trong những công cụ hay nhất và dễ sử dụng nhất trong việc tạo những bộ đề thi trắc nghiệm để thí sinh trả lời trên máy tính hoặc trên giấy Sản phẩm của chương trình là những file đề thi dạng *.html hay *.doc nên có thể chạy được trên hầu hết các máy tính cho dù không cài Articulate Quizmaker Ngoài việc cung cấp nhiều thể loại thi trắc nghiệm, tính điểm, nhận xét kết quả , chương trình còn hỗ trợ font tiếng Việt Unicode, kể cả giao diện đề thi cũng có thể được Việt hóa hoàn toàn
Sau đây là 4 bước để tạo một bộ đề trắc nghiệm:
1 Khởi động Articulate Quizmaker từ biểu tượng ở desktop
Tại giao diện chính, bạn bấm vào Create a new Articulate Quizmaker Quiz, chọn tên của bộ
đề (có thể đánh tiếng Việt với mã Unicode) > Next > Begin
2 Bấm vào nút Quiz Properties để hiệu chỉnh các thông số cho bài trắc nghiệm Tại thẻ Quiz Info, phần Passing Score, bạn gõ vào phần trăm số điểm để đủ tiêu chuẩn đậu
3 Tại thẻ QuestionFeedback, ở khung trên và dưới bạn lần lượt gõ các thông báo khi người thi trả lời đúng hoặc sai Thẻ Result, ở hai khung trên và dưới bạn lần lượt gõ dòng chữ sẽ hiện ra khi người thi đạt hoặc không đạt điểm quy định cho bộ đề này Sau đó bấm OK để đồng ý các thông số thiết lập
Trang 244 Ở cửa sổ chính bạn bấm vào nút Add Graded Question để bắt đầu tạo câu hỏi Câu hỏi có
nhiều thể loại như đúng/sai (True/False), nhiều lựa chọn (Multi Choice), nhiều đáp án (Multi Response) Ở đây tôi chọn Multi Choice
Trong hộp thoại Multi Choice, bạn gõ câu hỏi vào ô Enter the Question, có thể bấm vào Image để thêm vào hình ảnh minh họa Ở khung Enter the choices, phần Choice bên trái bạn gõ
vào các lựa chọn, sau đó đánh dấu vào lựa chọn đúng ở phần Correct bên phải
Ở hộp Number of attempts permitted bạn chọn số lần trả lời được phép hay đánh dấu vào
Shuffle answer để không hạn chế
Ở ô Points bạn nhập vào số điểm đạt được khi trả lời đúng Sau đó nhấn Review để xem thử
Để trả lời, người thi chọn đáp án rồi nhấn Submit, nếu trả lời đúng thì thông báo với nội dung bạn
đã tạo ở bước 2 hiện ra
5 Bạn cứ tiếp tục như trên để tạo thêm các câu hỏi Sau đó bấm vào Save Quiz để lưu lại bộ
câu hỏi
6 Nếu bạn muốn Việt hóa toàn bộ bộ đề, bấm vào nút Player Text Label, gõ tiếng Việt tương ứng vào các ô tiếng Anh ở khung Custom Text > OK
7 Sử dụng bộ đề thi trắc nghiệm: sau khi hoàn thành, bạn bấm vào Publish, chọn thẻ Web,
bấm vào Browse để xác định nơi lưu
Trang 25axit- Protein; và Polime- Vật liệu polime
2.1.1.2 Mục tiêu của chương
Về kiến thức :
HS biết :
- Vị trí, đặc điểm về cấu tạo nguyên tử, tính chất vật lý và hóa học chung của kim loại, dãy điện hóa của kim loại
- Khái niệm hợp kim và cấu tạo của hợp kim
- Các phương pháp điều chế kim loại
HS hiểu :
- Nguyên nhân gây ra các tính chất vật lí chung của kim loại (dẫn điện, dẫn nhiệt, dẻo, có ánh kim)
- Nguyên nhân gây ra tính chất hóa học chung của kim loại (tính khử)
HS vận dụng : biết cách bảo vệ kim loại khỏi bị ăn mòn
Về kỹ năng
Rèn kĩ năng :
- Từ cấu tạo của nguyên tử kim loại và tinh thể kim loại suy ra tính chất
- Giải bài tập về kim loại
- Kĩ năng làm thí nghiệm đơn giản về kim loại
Trang 262.1.2 Cấu trúc nội dung của chương
Hình 2.1 Hệ thống kiến thức của chương
2.1.3 Một số điểm lưu ý về nội dung và phương pháp dạy học
- Nội dung chương trình cơ bản, phần hóa học kim loại lớp 12 THPT có thể chia thành hai phần: Phần thứ nhất tìm hiểu về vị trí của các kim loại trong bảng tuần hoàn, tính chất vật l ý và hóa học chung của kim loại, hợp kim, sự ăn mòn kim loại và điều chế kim loại (thuộc kiến thức Chương
5 Đại cương về kim loại); Phần thứ hai đi sâu tìm hiểu một số kim loại cụ thể quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân Như vậy, nội dung của phần thứ nhất (chương 5) rất quan trọng, nó là lí thuyết chủ đạo của sự tìm hiểu các kim loại cụ thể ở phần thứ hai
- Cần sử dụng rộng rãi phương pháp suy diễn (diễn dịch) từ vị trí của những nguyên tố kim loại trong bảng tuần hoàn, suy ra cấu tạo nguyên tử của nguyên tố kim loại và sau đó dự đoán những tính chất hóa học cơ bản của kim loại, tiếp đến là kiểm chứng những tính chất hóa học này bằng thực nghiệm và viết các phương trình hóa học
Vị trí → cấu tạo nguyên tử → tính chất → ứng dụng → điều chế
+ Dựa trên cơ sở cấu tạo tinh thể của kim loại, gợi ý để HS có thể tự giải thích được những tính chất vật lý , hóa học của kim loại
+ Từ cấu tạo nguyên tử của nguyên tố kim loại, suy ra được tính chất hóa học đặc trưng của kim loại là tính khử và dẫn dắt để HS có thể tự dẫn ra được những phản ứng hóa học minh họa dựa trên các kiến thức về kim loại đã được học ở lớp 9
Bài 17 : Vị trí của kim loại trong bảng tuần
hoàn và cấu tạo của kim loại
Bài 18 : Tính chất của kim loại
Dãy điện hóa của kim loại
Bài 19 : Hợp kim Bài 20 : Sự ăn mòn kim loại
Bài 21 : Điều chế kim loại
Bài 24 : Thực hành Tính chất , điều chế kim loại , sự ăn mòn
Trang 27- Tăng cường sử dụng phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: Tìm tòi để phát hiện hoặc vận dụng những định lý, lý thuyết đã biết để bác bỏ giả thiết sai, khẳng định giả thiết đúng, từ đó hình thành những kiến thức mới, những khái niệm mới
- Tăng cường sử dụng phương pháp kiến tạo và phương pháp hợp tác trong nhóm nhỏ
- Tăng cường hoạt động độc lập của HS dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên như nghiên cứu sách giáo khoa, lập bảng tổng kết, làm thí nghiệm có tính chất nghiên cứu…
2.1.4 Dạy học các bài cụ thể
2.1.4.1 Bài 17 Vị trí của kim loại trong bảng tuần hoàn và cấu tạo của kim loại
* Trong số 110 nguyên tố đã biết chỉ có 22 nguyên tố phi kim loại, chúng nằm ở góc phải
(phía trên) của bảng tuần hoàn Số còn lại là các nguyên tố kim loại
Do số nguyên tố phi kim loại ít, ta nhớ dễ dàng vị trí của các nguyên tố phi kim loại trong bảng tuần hoàn, phần còn lại là vị trí của nguyên tố kim loại
Nhóm IA IIA IIIA IVA VA VIA VIIA VIIIA
Hình 2.2 Vị trí của các nguyên tố phi kim loại trong bảng tuần hoàn
* Cần phân biệt cấu tạo của nguyên tử kim loại và cấu tạo của đơn chất kim loại : Chỉ khi ở trạng thái hơi, kim loại mới tồn tại ở dạng những nguyên tử riêng biệt Ở trạng thái rắn, kim loại tồn tại ở dạng tinh thể Mạng tinh thể kim loại gồm các ion dương dao động liên tục ở các nút mạng và các electron tự do chuyển động hỗn loạn giữa các ion dương, chúng gắn các ion lại với nhau
GV cần làm rõ cấu tạo của nguyên tử kim loại và của đơn chất kim loại
a) Cấu tạo của nguyên tử kim loại (cấu tạo vi mô)
HS đã biết các nguyên tử kim loại nhóm IA, IIA, IIIA có 1, 2, 3 electron ở lớp electron ngoài cùng Chỉ có một số ít kim loại mà electron lớp ngoài cùng có nhiều hơn 3 electron Đó là Sn
2 2 2 2
(5s 5p ), Pb (6s 6p ) và Bi 2 3
(6s 6p ). Lớp electron ngoài cùng của các nguyên tố kim loại họ lantan
và họ actini (xếp thành hai hàng ở cuối bảng) đều có 2e
b) Cấu tạo của đơn chất kim loại (cấu tạo vĩ mô)
+ Trong mạng tinh thể kim loại : các ion dương kim loại và nguyên tử kim loại ; các electron
tự do và electron liên kết luôn luôn có sự biến đổi qua lại với nhau (trạng thái cân bằng động)
Trang 28Mật độ các ion dương trong các kiểu mạng tinh thể là không giống nhau Trong mạng tinh thể lập phương tâm diện và mạng tinh thể lục phương có mật độ electron lớn hơn, ở đây những ion kim loại chiếm tới 74% thể tích mạng tinh thể, trong khi đó, ở mạng tinh thể lập phương tâm khối là 68%
* Từ cấu tạo của đơn chất kim loại, GV hình thành cho HS khái niệm liên kết kim loại; cần lưu
ý 3 điểm :
- Sự hình thành liên kết kim loại
- Khái niệm về liên kết kim loại (nêu định nghĩa liên kết kim loại)
- So sánh liên kết kim loại với liên kết ion và liên kết cộng hoá trị
2.1.4.2 Bài 18 Tính chất của kim loại Dãy điện hoá của kim loại
* Tính chất vật lí của kim loại
Ngoài việc rèn luyện cho HS khả năng biết vận dụng những kiến thức về cấu tạo của kim loại
để giải thích nguyên nhân của những tính chất vật lí chung của kim loại như tính dẫn điện, dẫn
nhiệt, dẻo và có ánh kim; thì cũng cần nói đến những tính chất vật lí riêng của kim loại như: khối
lượng riêng, nhiệt độ nóng chảy, tính cứng, … Cần thông báo cho HS biết là những tính chất này không chỉ phụ thuộc vào mật độ electron tự do trong kim loại mà còn phụ thuộc vào bán kính, điện tích, khối lượng của ion kim loại và kiểu mạng tinh thể của kim loại
Ngay cả những tính chất vật lí chung nhưng ở các kim loại khác nhau cũng có mức độ khác
nhau đó là do mật độ electron tự do trong kim loại không giống nhau
- Các kim loại có độ dẫn điện khác nhau Bạc là chất dẫn điện tốt nhất, tiếp sau bạc là đồng, vàng, nhôm, sắt
- Thường thì các kim loại dẫn điện tốt cũng dẫn nhiệt tốt
- Các kim loại có khối lượng riêng khác nhau Người ta quy ước kim loại có khối lượng riêng nhỏ hơn 5 là kim loại nhẹ, lớn hơn 5 là kim loại nặng Kim loại nhẹ nhất là liti (D = 0,53 g/cm3) và nặng nhất là osimi (D = 22,6 g/cm3)
- Các kim loại có nhiệt độ nóng chảy khác nhau Xesi có thể nóng chảy bằng nhiệt độ của lòng bàn tay, vonfam nóng chảy ở 3410oC Kim loại duy nhất ở trạng thái lỏng trong điều kiện thường là thuỷ ngân (tnc= – 39oC)
- Các kim loại có độ cứng rất khác nhau : Cứng nhất là crom (có thể cắt được kính), mềm nhất
là kali, rubiđi và xesi (cắt được bằng dao)
Khối lượng riêng, nhiệt độ nóng chảy, độ cứng của kim loại phụ thuộc vào độ bền của liên kết kim loại Độ bền của liên kết kim loại đặc biệt lớn đối với các kim loại nặng
Trang 29* Tính chất hoá học của kim loại
a) Kim loại tác dụng với phi kim : Cần rút ra kết luận là kim loại khử nguyên tử phi kim đến
số oxi hoá âm và kim loại bị oxi hoá đến số oxi hoá dương
b) Kim loại tác dụng với axit
- Đối với nhóm axit thứ nhất (HCl, H2SO4 loãng), kim loại đứng trước hiđro trong dãy điện hoá có thể khử được ion H+ trong dung dịch axit thành hiđro tự do
- Đối với nhóm axit thứ hai (HNO3 và H2SO4 đặc, nóng) hầu hết kim loại có thể khử được 5
N
trong HNO3 và S6
trong H2SO4 xuống mức oxi hoá thấp hơn, nguyên tử kim loại bị oxi hoá đến mức oxi hoá cao nhất
c) Kim loại tác dụng với dung dịch muối
Cần lưu ý HS đến điều kiện của phản ứng kim loại mạnh đẩy kim loại yếu hơn ra khỏi dung dịch muối (kim loại mạnh không tác dụng với nước và muối phải tan trong nước)
Có thể khắc sâu điều kiện này bằng những phản ứng mà HS dễ phạm sai lầm Chẳng hạn như các phản ứng :
* Dãy điện hoá của kim loại
Trong SGK lớp 9 đã giới thiệu dãy hoạt động hoá học của một số kim loại như sau :
K, Na, Mg, Al, Zn, Fe, Pb, (H), Cu, Ag, Au
ở lớp 9 chỉ đề cập sự tương tác của kim loại với dung dịch axit và dung dịch muối, với nội dung là những kim loại nào có thể đẩy được hiđro ra khỏi dung dịch axit, đẩy được kim loại khác ra khỏi dung dịch muối
Ở lớp 12, dãy hoạt động hoá học của kim loại được nghiên cứu trên cơ sở của những lí thuyết
đã học về cấu tạo nguyên tử, cấu tạo của đơn chất kim loại, liên kết hoá học, phản ứng oxi hoá - khử, sự điện li, … Do vậy, nội dung tìm hiểu phải hoàn chỉnh hơn, lí thuyết được vận dụng ở mức
độ cao hơn, bản chất của hiện tượng hoá học cần làm rõ hơn
Vì trên cơ sở khái niệm cặp oxi hoá - khử của kim loại và so sánh tính chất những cặp oxi hoá
- khử để sắp xếp kim loại theo chiều tính khử giảm dần và sắp xếp ion kim loại theo chiều tính oxi hoá tăng dần, gọi là dãy điện hoá của kim loại
Cần luyện tập để HS :
- Nhớ được trình tự các cặp oxi hoá - khử trong dãy điện hoá và viết đúng kí hiệu của mỗi cặp
Trang 30- Biết vận dụng dãy điện hoá để xét chiều của phản ứng hoá học, khi cho một kim loại nào đó tác dụng với dung dịch muối của kim loại khác hoặc dung dịch axit Đó là : chất oxi hoá mạnh nhất
sẽ oxi hoá chất khử mạnh nhất, sinh ra chất oxi hoá yếu hơn và chất khử yếu hơn (quy tắc)
2.1.4.3 Bài 19 Hợp kim
* Nghiên cứu về hợp kim là một việc khó và phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học
như hoá học, vật lí, toán học, … Trong SGK hoá học phổ thông, chúng ta chỉ xem xét sơ lược về hợp kim Trọng tâm của bài học là tính chất vật lí và cơ học của hợp kim
* Về tính chất và ứng dụng của hợp kim, cần làm cho HS thấy được mối quan hệ giữa tính
chất và ứng dụng của hợp kim Cần so sánh hợp kim với kim loại thành phần về các mặt tính chất và ứng dụng
Hợp kim có cấu tạo giống kim loại là do trong hợp kim cũng có liên kết kim loại và cấu tạo mạng tinh thể Trong hợp kim có các electron tự do, đó là nguyên nhân của tính dẫn điện, dẫn nhiệt, tính dẻo và ánh kim của hợp kim
Khác với các kim loại thành phần, trong hợp kim còn có liên kết cộng hoá trị, vì vậy mật độ electron tự do trong hợp kim giảm đi rõ rệt Do vậy, tính dẫn điện, dẫn nhiệt của hợp kim giảm so với kim loại thành phần
Hợp kim có độ cứng cao hơn so với các kim loại thành phần là do có sự thay đổi về cấu tạo mạng tinh thể, thay đổi về thành phần của ion trong mạng tinh thể
Nếu hợp kim được tạo nên bởi nhiều tinh thể hợp chất hoá học giữa kim loại và phi kim (thí dụ
Fe3C), hoặc giữa các nguyên tử kim loại với nhau (thí dụ: AuZn3, Mg2Pb, …) thì độ cứng và điện trở của hợp kim lại tăng lên rõ rệt
* Về tính chất hoá học, nhìn chung hợp kim có tính chất hoá học tương tự tính chất hoá học
của các kim loại thành phần Vì trong hợp kim có các tinh thể dung dịch rắn và tinh thể hỗn hợp, trong đó tính chất hoá học của các kim loại vẫn được bảo tồn Thí dụ, cho hợp kim Al – Cu vào dung dịch HCl hoặc dung dịch H2SO4 loãng thì chỉ có Al tan, giải phóng khí H2, còn Cu không tan Còn khi cho hợp kim Al–Cu vào dung dịch HNO3 đặc, nóng thì hợp kim tan hoàn toàn và giải phóng khí
NO2
* Về thành phần của một số hợp kim
- Thép không gỉ (gồm Fe, C, Cr, Ni)
- Đuyra là hợp kim của nhôm (gồm 96% Al , 3% Cu và 1% Mg)
- Hợp kim Au–Cu (gồm từ 8% – 12% Cu) cứng hơn vàng, dùng đúc tiền, làm đồ trang sức, ngòi bút máy, …
- Hợp kim Pb – Sb (gồm 80% Pb và 20% Sb) cứng hơn Pb nhiều, dùng đúc chữ in
- Hợp kim của thuỷ ngân gọi là hỗn hống
Trang 31– Có hợp kim chịu nhiệt cao, chịu ma sát mạnh dùng làm ống xả trong động cơ phản lực
- Có hợp kim có nhiệt độ nóng chảy rất thấp dùng chế tạo giàn ống dẫn nước chữa cháy tự động Trong các kho hàng hoá, khi có cháy, nhiệt độ tăng làm hợp kim nóng chảy và nước phun xuống qua những lỗ được hàn bằng hợp kim này
2.1.4.4 Bài 20 Sự ăn mòn kim loại
* Cần làm cho HS thấy rõ sự khác nhau giữa hiện tượng ăn mòn hoá học và ăn mòn điện hoá
Sự ăn mòn điện hoá xảy ra phổ biến hơn trong thực tế so với ăn mòn hoá học
- Cần lưu ý HS, bản chất của sự ăn mòn kim loại là quá trình oxi hoá- khử, trong đó kim loại bị oxi hoá thành ion dương Như vậy, kim loại bị ăn mòn sẽ mất dần những tính chất hoá học, tính chất vật lí và cơ học vốn có của kim loại
- Cần gợi ý để HS có thể tìm được một số thí dụ minh hoạ như :
+ Thiết bị bằng gang, thép bị ăn mòn hoá học khi tiếp xúc với hơi nước ở nhiệt độ cao Thí dụ
Fe bị oxi hoá thành Fe3O4 ở nhiệt độ dưới 570oC hoặc thành FeO ở trên 570oC
+ Máy móc, thiết bị trong các nhà máy hoá chất tiếp xúc với các khí khô O2, Cl2, …
Cũng cần nhấn mạnh đặc điểm của ăn mòn hoá học là nhiệt độ của môi trường càng cao thì tốc
độ ăn mòn hoá học càng lớn và kim loại càng hoạt động, càng dễ bị ăn mòn Sự ăn mòn hoá học không tạo ra dòng điện
- Khi luyện tập về sự ăn mòn điện hoá cần lưu ý HS bản chất là quá trình oxi hoá - khử xảy ra trên bề mặt các điện cực Trên bề mặt cực âm xảy ra sự oxi hoá kim loại, trên bề mặt cực dương xảy
ra sự khử ion H+ (nếu dung dịch điện li là axit) hoặc khử H2O cùng với O2 (nếu dung dịch điện li là trung tính) Sự khử và sự oxi hoá trên bề mặt các điện cực xảy ra đồng thời
Có thể cho HS biết, tốc độ ăn mòn điện hoá phụ thuộc vào các yếu tố sau :
+ Vị trí của cặp kim loại tiếp xúc trong dãy điện hoá, nếu chúng càng đứng xa nhau thì tốc
độ ăn mòn càng lớn
Thí dụ, kim loại Al lẫn tạp chất là Zn và kim loại Al lẫn tạp chất là Cu thì cặp sau sẽ bị ăn mòn điện hoá nhanh hơn cặp trước
+ Nồng độ của các chất trong dung dịch điện li tiếp xúc với kim loại Nồng độ càng cao, tốc độ
ăn mòn kim loại càng lớn
Trang 32* Gợi ý để HS có thể vận dụng những hiểu biết về pin điện để làm rõ sự ăn mòn điện hoá khi
trình bày thí nghiệm ăn mòn điện hoá và cơ chế sự gỉ của sắt trong không khí ẩm
* Thành phần của gỉ sắt khá phức tạp Để đơn giản ta coi gỉ sắt có thành phần chính là
2Fe2O3.nH2O
* Bảo vệ kim loại
Tráng men hoặc mạ điện là phương pháp bảo vệ kim loại thường được dùng để bảo vệ các đồ dùng làm bằng sắt, thép trong đời sống thường ngày
Tôn là sắt tráng kẽm Kẽm là kim loại dễ bị oxi hoá hơn Fe, nhưng có thể bảo vệ được Fe vì trên bề mặt Zn có lớp kẽm oxit rất mịn, chắc không cho khí hoặc dung dịch điện li thấm qua Vì vậy, tốc độ ăn mòn Zn trong tự nhiên xảy ra rất chậm
Sắt tây là sắt tráng thiếc dùng đựng thực phẩm, đồ uống (đồ hộp) vì Sn là kim loại khó bị oxi hoá ở nhiệt độ thường, màng oxit thiếc mịn và mỏng cũng có tác dụng bảo vệ thiếc và thiếc oxit không độc lại có màu trắng bạc, khá đẹp
Thiếc là kim loại mềm, dễ bị sây sát Nếu vết sây sát sâu tới lớp sắt bên trong thì sẽ xảy ra ăn mòn điện hoá, kết quả là sắt bị ăn mòn nhanh Vì vậy, cần phải chú ý giữ gìn lớp thiếc tráng mạ bên ngoài vật bằng sắt thép
Vậy khi mạ ngoài lá sắt bằng kẽm, niken, thiếc, crom để cách li sắt với môi trường xung quanh thì :
– Khi màng kim loại bảo vệ là kim loại có tính khử kém sắt (thí dụ niken, thiếc) bị thủng, sắt không được bảo vệ nữa và bị gỉ nhanh hơn, vì trong quá trình ăn mòn điện hoá sắt bị oxi hoá thành ion dương
– Khi màng kim loại bảo vệ là kim loại có tính khử mạnh hơn sắt (thí dụ : kẽm, crom) bị thủng, sắt vẫn được tiếp tục được bảo vệ, vì trong quá trình ăn mòn điện hoá, kim loại dùng để mạ
sẽ bị oxi hoá thành ion dương
- Sắt tây dùng làm hộp đựng thực phẩm là sắt được tráng thiếc, vì thiếc không độc đối với cơ thể người
2.1.4.5 Bài 21 Điều chế kim loại
* Cần làm rõ mối quan hệ giữa mức độ hoạt động hoá học của kim loại và phương pháp điều
chế
Tính chất hoá học đặc trưng của kim loại là tính khử : M Mn+ + ne
Để điều chế kim loại, tức là chuyển ion Mn+ thành kim loại M Như vậy, kim loại có tính khử càng mạnh, ion kim loại đó có tính oxi hoá càng yếu, nghĩa là càng khó bị khử trở lại thành kim loại Do đó, việc chọn phương pháp điều chế kim loại phụ thuộc vào tính oxi hoá mạnh hay yếu của ion kim loại đó
Trang 33GV cần khắc sâu nguyên tắc chung của việc điều chế kim loại và cho HS thấy bản chất của quá trình điều chế kim loại là phản ứng oxi hoá- khử SGK nêu 3 phương pháp phổ biến dùng điều chế kim loại
a) Phương pháp điện phân
- Cần nhấn mạnh điện phân là quá trình oxi hoá- khử xảy ra trên bề mặt các điện cực, nhờ tác dụng của dòng điện một chiều Trong điện phân, tác nhân khử và oxi hoá tại các điện cực mạnh hơn nhiều lần các chất hoá học
Thí dụ, không một chất hoá học nào có thể oxi hoá được ion F – hoặc có thể khử được ion Rb + ,
- Cần nhấn mạnh, bằng phương pháp điện phân, người ta có thể điều chế được hầu hết các kim loại, kể cả những kim loại có tính khử mạnh nhất và điều chế được nhiều phi kim, kể cả phi kim có tính oxi hoá mạnh nhất
– Đối với những kim loại có tính khử rất mạnh như K, Na, Ca, Mg, Al thì ion của chúng có tính oxi hoá rất yếu, chỉ có thể khử chúng bằng dòng điện Bởi vậy, phương pháp được sử dụng là điện phân muối, hiđroxit hoặc oxit nóng chảy
b) Phương pháp nhiệt luyện : là phương pháp công nghiệp quan trọng, người ta thường dùng
chất khử mạnh để khử ion dương kim loại trong oxit
Có thể dùng chất khử rắn như cacbon, kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm hoặc chất khử
Trang 34- Đối với những kim loại rất kém hoạt động như Ag, Hg thì oxit của chúng rất kém bền, dễ dàng phân huỷ thành kim loại khi đun nóng nên không cần dùng chất khử
c) Phương pháp thuỷ luyện : Chỉ viết PTHH của phản ứng ở công đoạn dùng kim loại mạnh để khử ion của kim loại yếu trong dung dịch
Cơ sở của phương pháp thuỷ luyện là dùng những dung môi như dung dịch H2SO4, NaOH, NaCN, … để hoà tan kim loại và tách chúng ra khỏi phần không tan có trong quặng Sau đó, khử những ion kim loại này bằng kim loại có tính khử mạnh hơn
Thí dụ, vàng lẫn trong đất đá có thể tan dần trong dung dịch NaCN cùng với O2 của không khí, được dung dịch muối phức của vàng :
4Au + 16NaCN + 3O2 + 6H2O 4Na[Au(CN)4] + 12NaOH
Sau đó, dùng kim loại Zn khử ion Au3+
Zn + 2Na[Au(CN)4] Na2[Zn(CN)4] + 2Au
Phương pháp thuỷ luyện còn gọi là phương pháp ướt, được dùng để điều chế những kim loại
có độ hoạt động hoá học kém như Au, Ag, Hg, Cu, …
Để đơn giản, SGK chỉ viết PTHH của phản ứng dùng kim loại mạnh để khử ion của kim loại yếu hơn, đó chỉ là công đoạn sau cùng của phương pháp thuỷ luyện
Ở lớp 9, HS đã biết kim loại mạnh đẩy được kim loại yếu hơn ra khỏi muối tan trong nước, đến lớp 12 sau khi đã học phản ứng oxi hoá- khử ta cần nói theo quan điểm oxi hoá- khử
Phương pháp này dùng để điều chế những kim loại yếu, đó là những kim loại đứng sau H trong dãy điện hoá
Cần lưu ý HS, điều kiện của phương pháp này là kim loại dùng làm chất khử phải có tính khử mạnh hơn kim loại sẽ được giải phóng và ion kim loại trong dung dịch muối phải có tính oxi hoá mạnh hơn ion kim loại sẽ sinh ra
Mặt khác, những kim loại dùng làm chất khử ở đây phải chưa đủ mạnh để có thể khử được
H2O (không dùng những kim loại như K, Na, Ca)
2.1.4.6 Bài 24 Thực hành : Tính chất, điều chế và sự ăn mòn kim loại
-HS cần được hướng dẫn ôn tập để củng cố các kiến thức về tính chất của kim loại, dãy điện hoá của kim loại, nguyên tắc điều chế kim loại, sự ăn mòn kim loại, cách chống ăn mòn kim loại
- Hầu hết các thí nghiệm trong bài được tiến hành theo phương pháp so sánh, nghiên cứu để chứng minh cho những kết luận về lí thuyết đã được học Thí dụ dùng 3 ống nghiệm đựng dung dịch HCl để tiến hành thí nghiệm với 3 kim loại Mg, Fe, Cu để chứng minh cho kết luận trong dãy điện hoá : tính khử của Mg mạnh hơn Fe và tính khử của Fe mạnh hơn Cu GV hướng dẫn HS tiến hành thí nghiệm, biết cách quan sát, so sánh để rút ra những kết luận cần thiết
Trang 352.2 Cấu trúc và nội dung sách giáo khoa điện tử
2.2.1 Cấu trúc sách giáo khoa điện tử
TRANG CHỦ
GIÁO KHOA
TÀI LIỆU HỌC THI
Vị trí- Cấu tạo của kim loại Tính chất của kim loại Dãy điện hóa của kim loại
BÀI TẬP
BẢNG TUẦN HOÀN
TÀI NGUYÊN HỌC TẬP
LIÊN HỆ TRỢ GIÚP
Hợp kim
Sự ăn mòn kim loại Điều chế kim loại Luyện tập: Tính chất của kim loại
Luyện tập: Điều chế kim loại và sự
ăn mòn kim loại
(Các bài tương tự trang Giáo Khoa)
Phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm về kim loại
Đề thi các năm Cách học- thi hiệu quả
Thực hành: Tính chất, điều chế kim loại, sự ăn mòn kim loại
Trắc nghiệm Toán- Lý- Hóa
Thư viện bài tập + bài giảng
Hóa học vui
Trang 362.2.2 Nội dung sách giáo khoa điện tử
2.2.2.1 Trang chủ
a Ý tưởng thiết kế
Trang chủ giới thiệu các nội dung có trong E-book một cách khái quát nhất để HS dễ dàng
sử dụng và nhanh chóng đạt được mục đích học tập của mình HS có thể từ trang chủ nhấp vào các đường link đến các trang con như:
Giáo khoa: Giới thiệu hệ thống các bài trong chương, mỗi bài được thiết kế giống nội dung
trình bày trong sách giáo khoa, gồm lí thuyết và bài tập sách giáo khoa Nhưng ở phần lí thuyết có
thêm các câu hỏi hướng dẫn HS tư duy, suy luận; có thêm hình ảnh minh họa, phim thí nghiệm và một số kiến thức mở rộng, giúp các em có thể tự học một cách hào hứng và dễ dàng nhất Ngoài ra ở
một số bài còn được lồng vào các hình ảnh, đoạn phim hấp dẫn để gây hứng thú học tập, kích thích trí tò mò của các em trước khi bắt đầu nghiên cứu nội dung bài học
Bài tập: Sau khi đã học xong phần lí thuyết và bài tập SGK ở trang Giáo khoa, HS có thể vận dụng kiến thức để làm các bài tập trắc nghiệm và tự luận theo từng bài học cụ thể Mỗi câu hỏi đều có đáp án, giúp HS có thể kiểm tra bài làm dễ dàng và nhanh chóng
Sau đó HS có thể tự kiểm tra kiến thức bằng cách hoàn thành 2 bài kiểm tra trắc nghiệm và bài kiểm tra học kỳ I (năm học trước) của Sở GD& ĐT Đồng Nai; HS làm xong máy sẽ tự chấm điểm giúp cho HS tự đánh giá được kết quả học tập của mình
Tài liệu học - thi: Trang này cung cấp một số phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm
về kim loại, đề thi tốt nghiệp, cao đẳng, đại học các năm; và cẩm nang học- thi hiệu quả rất hữu ích
mà HS không thể bỏ qua được
Tài nguyên học tập: Gồm phần trắc nghiệm Toán- Lý- Hóa; thư viện bài tập và bài giảng
hóa học; và hóa học vui giúp HS vừa giải trí với những kiến thức bổ ích, hấp dẫn mà lại vừa tích lũy
thêm kiến thức về hóa học
Bảng tuần hoàn: [17] Bảng tuần hoàn của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (Trường THPT Ngô
Quyền, Biên Hòa, Đồng Nai) được thiết kế đẹp mắt với 111 nguyên tố hóa học Mỗi nguyên tố có
chú thích với hình ảnh minh họa rõ nét; đặc biệt khi nhìn vào bảng tuần hoàn sẽ phân biệt được nguyên tố thuộc chất khí, chất lỏng hay chất rắn; ngoài ra còn giới thiệu thêm mức năng lượng của các obitan và cấu trúc lớp electron lớp ngoài cùng của nguyên tố được tham khảo từ phần mềm
Plato Một điểm độc đáo khác là nó được cập nhật thông tin mới nhất từ bảng tuần hoàn của
IUPAC (22/6/2007)
Trợ giúp: hướng dẫn cách sử dụng E-book
Liên hệ: họ tên và địa chỉ liên lạc của người thiết kế E-book
b Thể hiện ý tưởng bằng Dreamweaver;photoshop và swf text
Trang 37 Dùng Dreamweaver để thiết kế trang chủ
- Sử dụng công cụ Table để thiết kế bố cục trang
+ Ở chế độ Layout View, vẽ các Layout Table tại nơi muốn chèn bảng
+ Trong mỗi Layout Table vẽ các Layout cell để chèn các file hình ảnh
- Chèn banner 1 vào trang chủ bằng cách đặt con trỏ ở vị trí cần chèn, trên thanh menu chọn
Insert > Media > Flash (Ctrl+Shift+F) Hộp thoại Select File hiển thị, chọn tập tin Flash Movie Banner 1 và nhấp OK
- Định thuộc tính và thiết lập các liên kết cho hình ảnh đến các trang con bằng Rollover Image:
đặt con trỏ ở vị trí cần chèn Rollover Image, trên thanh menu chọn Insert > Image Object > Rollover Image; hộp thoại Insert Rollover Image xuất hiện:
+ Image name: đặt tên
+ Original image: chọn hình thứ nhất, hình này hiện ra trước tiên
+ Rollover image: chọn hình thứ hai, hình này sẽ hiện ra khi người xem đưa chuột vào hình 1 + URL: địa chỉ trang web liên kết đến khi người xem nhấp chuột vào
=> Nhấp OK
Theo cách trên, chúng tôi lập 7 Rollover Image, tương ứng với các trang con: Giáo khoa, Bài tập, Tài liệu học thi, Tài nguyên học tập, Liên hệ, Trợ giúp, Bảng tuần hoàn
- Chèn background vào table bằng cách:
+ Đặt con trỏ chuột tại vị trí table muốn tạo background
Trang 38+ Trong hộp kiểm soát Properties, chọn ô Bg, chọn đường dẫn đến thư mục chứa hình nền
Sản phẩm thu được:
Dùng Photoshop để thiết kế hình nền và các hình ảnh dùng cho 7 Rollover Image ở trên
Dùng SWF text để thiết kế banner 1 cho trang chủ
Mở chương trình SWF Text từ biểu tượng:
=> Hiện bảng điều khiển SWF Text:
+ Định kích thước Movie: Width: 1000; Height: 140
+ Chọn Background làm nền cho movie:
Trang 39+ Chọn hiệu ứng cho Background: vào Background Effect
+ Thêm chữ : vào Text, chọn Add Text => Gõ chữ; sau đó chọn font chữ, màu chữ ở Font; cuối cùng chọn hiệu ứng cho chữ bằng cách vào Text Effect; chọn 1 hiệu ứng thích hợp
- Sản phẩm thu được:
- Xuất thành file flash: nhấp nút Publish
=> Hiện bảng điều khiển Publish: Chọn kiểu file xuất ra => OK
=> Hiện hộp thoại Save As; chọn đường dẫn lưu file, đặt tên cho file xuất ra => Nhấp Save
2.2.2.2 Trang “Giáo khoa”
a Ý tưởng thiết kế
Trang 40Đây là phần chính của E-book, cung cấp các kiến thức trong chương “Đại cương về kim loại” theo sách giáo khoa lớp 12 cơ bản
Trang “Giáo khoa” bao gồm:
- Tựa đề: Chương 5 – Đại cương về kim loại
- 8 bài trong chương ”Đại cương về kim loại” tương ứng với 8 trang
Cấu trúc trang “Giáo khoa”
GIÁO KHOA
Vị trí- Cấu tạo của kim loại
Hợp kim
Lý thuyết
Tính chất của kim loại Dãy điện hóa của kim loại
Luyện tập: Điều chế kim loại và sự ăn mòn kim loại
Sự ăn mòn kim loại
Điều chế kim loại
Luyện tập: Tính chất của kim loại Dãy điện hóa của kim loại
Bài tập sách giáo khoa
Lý thuyết Bài tập sách giáo khoa
iệ
Lý thuyết Bài tập sách giáo khoa
Thực hành: Tính chất, điều chế kim loại, sự ăn mòn kim loại
Lý thuyết Bài tập sách giáo khoa
Lý thuyết Bài tập sách giáo khoa
Lý thuyết Bài tập sách giáo khoa
Lý thuyết Bài tập sách giáo khoa