Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải rắn của thành phố quy nhơn tỉnh bình định Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải rắn của thành phố quy nhơn tỉnh bình định Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải rắn của thành phố quy nhơn tỉnh bình định
Trang 1CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lýmôi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Mỗi một công cụ có mộtchức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau Công cụ quản lýmôi trường có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau:
gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốcgia, các ngành kinh tế, các địa phương
động sản xuất kinh doanh Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nềnkinh tế thị trường
về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ônhiễm trong môi trường Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giámôi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải Các công cụ kỹthuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế pháttriển như thế nào
Quản lý chất thải không chỉ dựa vào công cụ luật pháp, công cụ kỹ thuật mà phải sửdụng các công cụ liên quan đến kinh tế Tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, con ngườiluôn phải tìm mọi giải pháp để phục hồi môi trường ở trạng thái cân bằng và tính đếnnhu cầu về kinh tế
I.1 Khái niệm công cụ kinh tế.
Công cụ kinh tế là những công cụ chính sách nhằm thay đổi chi phí và lợi ích củanhững hoạt động kinh tế thường xuyên tác động đến môi trường, tăng cường ý thứctrách nhiệm của các cá nhân, tổ chức…trước những tác động gây ra sự huỷ hoại môitrường
Công cụ kinh tế là một trong những công cụ quản lý môi trường và là một công
cụ quan trọng để điều chỉnh hành vi có tác động đến môi trường của các chủ thể
Công cụ kinh tế sử dụng sức mạnh thị trường để ra quyết định nhằm đạt tới mục tiêumôi trường từ đó có cách ứng xử hiệu quả chi phí cho hoạt động môi trường Công cụkinh tế là biện pháp“cung cấp những tín hiệu thị trường để giúp cho những người ra
Trang 2quyết định ghi nhận hậu quả môi trường trong việc lựa chọn của họ” Qua những kháiniệm về công cụ kinh tế ta thấy nội dung của công cụ kinh tế:
làm tổn hại đến môi trường lên hoặc hạ giá của hành động BVMT xuống
sao cho phù hợp với điều kiện của họ
Công cụ kinh tế duy trì một tập hợp tương đối rộng rãi các hành động môi trường
có tính pháp lý nhưng có xác định hậu quả khác nhau đối với những lựa chọn khácnhau Trong quản lý môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng cần sửdụng các công cụ kinh tế vì nó đem lại những điều kiện thuận lợi:
1 Tăng hiệu quả chi phí
2 Khuyến khích nhiều hơn cho việc đổi mới
3 Khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin tốt hơn
Bên cạnh đó công cụ kinh tế còn có những ưu điểm:
giá cả thị trường do người tiêu dùng và người sản xuất phải chịu
hại môi trường và khuyến khích nhà sản xuất không kinh doanh các sản phẩmđầu vào gây tổn hại môi trường
môi trường khác nhau
Các loại công cụ kinh tế:
1 Thuế và phí: thuế đầu vào (thuế nguyên liệu) và thuế đầu ra (phí sản phẩm), phí
xả thải và phát thải, phí người sử dụng…
2 Chương trình thương mại: giấy phép xả thải, tiền trợ cấp tiêu thụ sản phẩm…
Trang 3Công cụ kinh tế để kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường như thuế, phí bồihoàn chi phí tái tạo lại môi trường do người tiêu dùng và các nhà sản xuất gây ra ônhiễm Bản chất của các công cụ kinh tế được các cơ quan tổ chức nhà nước sử dụng làdùng kinh tế để điều chỉnh hành vi cá nhân và tổ chức gây ô nhiễm, sử dụng nguồn vốnnày để tái tạo lại hoặc sản xuất các hàng hoá và dịch vụ công cộng nhất định cho cộngđồng.
Tạo lập nguồn vốn để chi hoàn cho việc sản xuất hàng hoá hay dịch vụ công cộng
do ô nhiễm gây ra Việc áp dụng công cụ kinh tế về phí ô nhiễm do các hộ gia đình vàcác cơ quan chi trả khi sử dụng dịch vụ môi trường là để bồi hoàn một phần chi phí chocông ty làm sạch chất thải
Ngoài ra công cụ kinh tế còn thay đổi hành vi của người tiêu thụ và sản xuất haychúng có thể được sử dụng để bồi hoàn chi phí cuả các dịch vụ công cộng
Các công cụ kinh tế
Kiểm soát ô nhiễm
Thuế môi trường và phí ô nhiễm
Tác động khuyến khích
Phí đánh vào người sử dụng
Bồi hoàn chi phí
Trang 4c) Vai trò
Các công cụ kinh tế đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát ô nhiễm và bảo vệmôi trường Cụ thể, các công cụ kinh tế giúp đưa ra các khoản chi phí cho những tổnhại môi trường thông qua giá cả thị trường do người tiêu dùng và người sản xuất phảigánh chịu, khuyến khích người tiêu dùng không tiêu dùng các sản phẩm gây tổn hạimôi trường và khuyến khích các nhà sản xuất không sử dụng các đầu vào gây tổn hạimôi trường, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ kiểm soát ô nhiễmmới và các phương pháp sản xuất bền vững
Bên cạnh đó, các công cụ kinh tế giúp tạo nguồn tài chính mới để sử dụng vàocác mục đích thân môi trường khác nhau: đầu tư cho các hoạt động bảo vệ môi trường,khuyến khích tuân thủ luật pháp môi trường, hỗ trợ thực hiện các hoạt động khác trongphạm vi kế hoạch phát triển nhà nước
I.3 Các nguyên tắc áp dụng công cụ kinh tế
I.3.1 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.(Polluter pays priciple– PPP)
Nguyên tắc này bắt nguồn từ sáng kiến do tổ chức hợp tác phát triển (OECD) đưa
ra vào năm 1972 và bổ xung vào năm 1974 Nội dung của nguyên tắc cho rằng nhữngtác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát và phòng chống ônhiễm Đến năm 1974 đưa thêm nội dung là những người gây ô nhiễm ngoài việc phảitrả tiền để khắc phục ô nhiễm thì còn phải trả thêm một khoản bồi thường thiệt hại do ônhiễm đó gây ra Nói tóm lại theo nguyên tắc này thì người gây ô nhiễm phải trả mọichi phí liên quan đến khắc phục ô nhiễm nhằm đảm bảo cho môi trường ở trạng thái cóthể chấp nhận được [ 9]
Nguyên tắc này xuất phát từ luận điểm của Pigou về nền kinh tế phúc lợi Trong
đó nội dung quan trọng nhất là giá cả các loại hàng hoá có bao gồm cả chi phí môitrường trong đó, giá cả nói lên sự thật về sự tiêu dùng hàng hoá dịch vụ nếu không sẽdẫn đến sự tiêu dùng bừa bãi nguồn tài nguyên.Trong quản lý chất thải rắn nguyên tắcPPP cho rằng những người thải chất thải rắn ra khu vực đô thị, thành phố phải trả mọikhoản chi phí do sự thải bỏ chất thải của mình Khoản phí này có thể coi là phí xả thải
I.3.2 Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả phí (Benefit pays priciple– BPP )
Nguyên tắc này chủ trương nhằm tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu
về môi trường Đối lập với việc người gây ô nhiễm phải trả tiền thì người được hưởngmột môi trường đã được cải thiện cũng phải trả phí cho việc cải tạo đó
Trang 5Nguyên tắc này đưa ra chủ trương rằng việc việc phòng ngừa ô nhiễm cần được
sự hỗ trợ từ những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá chonhững chất thải gây ra ô nhiễm môi trường Thực hiện nguyên tắc này sẽ tạo ra mộtkhoản thu nhập đáng kể, tuy nhiên khoản phí này không phải lúc nào cũng do công tytrực tiếp gây ô nhiễm trả cho nên nó không tạo ra bất kỳ một sự khuyến khích nàotrong BVMT trực tiếp Nhưng trong một số trường hợp lại khác ví dụ trong quản lýchất thải rắn chẳng hạn tiền phí vệ thu trên đầu người hoặc thu trên khối lượng rác thảithì chính những đối tượng thải bỏ chất thải phải trả phí bên cạnh những đối tượngkhông thải bỏ, do họ được hưởng một loại hình dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lýrác thải do cơ quan chuyên trách thực hiện
Về thực chất nguyên tắc BPP có thể được sử dụng như một định hướng hỗ trợnhằm đạt các mục tiêu môi trường, cho dù đó là mục tiêu bảo vệ hay phục hồi môitrường Nếu mức phí thu có thể đủ để dành cho các mục tiêu môi trường thì lúc đó cóthể coi chính sách này đạt hiệu quả về mặt môi trường Trong quản lý chất thải rắn thìnguyên tắc BPP đã đạt được cả hiệu quả kinh tế và công bằng kinh tế vì người thải bỏrác và nguời hưởng các dịch vụ công cộng đôi khi là một
I.4 Điều kiện áp dụng công cụ kinh tế.
Việc áp dụng công cụ kinh tế vào trong quản lý môi trường nói chung và trongquản lý chất thải nói riêng trong những trường hợp cụ thể thường gặp phải những thuậnlợi và khó khăn nhất định
I.4.1 Điều kiện thuận lợi
Hệ thống văn bản pháp luật của ta ngày càng hoàn thiện hơn cho phù hợp vớiđiều kiện thực tế hiện nay Trong quản lý chất thải rắn có một số văn bản pháp lý được
áp dụng:
1 Luật bảo vệ môi trường do Chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành năm 2001
2 Luật bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, ban hành năm 1991
3 Quy chế quản lý chất thải nguy hại, ban hành ngày 16/7/1999
4 Quy chế quản lý chất thải y tế - bộ y tế - Hà Nội 1999
5 Chiến lược quản lý chất thải đô thị và quyết định số 152/1999/QĐ – TTg củaThủ tướng chính phủ ngày 10/7/1999 về việc phê duyệt chiến lược quản lý chấtthải rắn tại các đô thị và các khu công nghiệp Việt Nam
Trang 66 Pháp lệnh phí và lệ phí do Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày28/8/2001
Nhận thức của người dân về môi trường ngày càng nâng cao do mức sống của họđược nâng lên nên họ mong muốn được hưởng một môi trường trong lành Như vậy rấtthuận tiện cho công tác tuyên truyền, vận động về các biện pháp BVMT cũng như mứcbằng lòng chi trả của họ là cao
kinh nghiệm trong việc áp dụng chúng
I.4.2.Điều kiện khó khăn
Tuy hệ thống văn bản của ta đang dần được hoàn thiện nhưng khả năng áp dụngchúng trong thực tế còn gặp khó khăn do một mặt chưa có cán bộ quản lý có năng lực,quản lý chưa tốt mặt khác điều kiện áp dụng các văn bản chưa tốt Bên cạnh đó mặc dùnhân thức của người dân được nâng cao nhưng đó chỉ là một số ít những hộ, cá nhân cómức sống cao còn những hộ có thu nhập thấp thì sự bằng lòng chi trả của họ là thấp dovậy khả năng áp dụng công cụ kinh tế không khả thi
I.5 Hệ thống phí vệ sinh.
Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức hay cá nhânkhác cung cấp dịch vụ Trong hệ thống phí có rất nhiều loại phí như phí sản phẩm môitrường, phí đổ bỏ, phí người sử dụng…nhưng trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đềchỉ xin đề cập đến phí vệ sinh thuộc phí người sử dụng
I.5.1 Khái niệm phí vệ sinh
Phí vệ sinh là khoản thu nhằm bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí đầu tư chohoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn thành phố như chi phí chohoạt động của đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải theo quy trình kỹ thuật của
cơ quan có thẩm quyền quy định (chưa bao gồm các chi phí xử lý rác đảm bảo tiêuchuẩn môi trường) Phí vệ sinh (phí người sử dụng) là khoản thu trực tiếp phân bổ chotất cả các đối tượng xả thải nhằm trang trải các chi phí xử lý ô nhiễm cho cả tập thể hay
cả cộng đồng do việc thải bỏ hàng ngày
Phí vệ sinh được áp dụng phổ biến cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lýchất thải đô thị Chúng được coi là khoản phải trả thông thường cho các dịch vụ, rấthiếm khi được coi là biện pháp kích thích liên tục cho các hộ dân cư giảm thiểu chấtthải Thông qua phí này thì những cố gắng nhằm xử lý những ô nhiễm do rác thải gây
Trang 7ra được đền bù, đồng thời khuyến khích về mặt kinh tế và nâng cao ý thức BVMT củamọi đối tượng.
a) Bản chất của phí vệ sinh.
Công tác quản lý chất thải rắn đô thị nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường của khuvực và thực chất là một loại hình công cộng Phí vệ sinh có các đặc trưng:
dụng của một ai)
Phí vệ sinh là khoản thu nhằm mục đích bù lại những chi phí đầu tư ban đầu chocông tác quản lý chất thải do vậy nó mang tính bắt buộc đối với mọi người sử dụngdịch vụ công cộng này Trong điều kiện kinh tế thị trường thì đây chính là giá trị tươngđương để trao đổi theo nguyên tắc ngang giá Giá phí mà người dân phải nộp được xácđịnh trên cơ sở sự bằng lòng chi trả tuy nhiên nếu loại hình dịch này do tư nhân quản lýthì bên cạnh sự bằng lòng chi trả còn thêm yếu tố thị trường Hiện nay ở Bình Địnhviệc thu phí là do Công ty TNHH Môi Trường Đô thị Quy Nhơn trực tiếp thu sau khithu thì 100% công ty giữ lại để chi trả cho các hoạt động của công ty và phí được xácđịnh dựa trên sự bằng lòng chi trả của người dân
Phí vệ sinh thể hiện rõ nguyên tắc BPP vì phí này vừa là việc thu hồi một phầnchi phí đầu tư cung cấp cho các dịch vụ công cộng hữu hình, một mặt nó là khoản chiphí mà người dân phải nộp khi hưởng các dịch vụ công cộng đó Tóm lại phí vệ sinh làloại phí mang bản chất của các hoạt động dịch vụ công cộng hữu hình, thông qua hoạtđộng sự nghiệp là công tác quản lý chất thải rắn của thành phố và sau khi thu sẽ đượctập trung toàn bộ vào ngân sách nhà nước
b) Vai trò của phí vệ sinh.
Phí vệ sinh là một trong những công cụ kinh tế được áp dụng một cách mềm dẻo
và đem lại hiệu quả cao trong việc nâng cao chất lượng môi trường Nếu thực hiện mộtcách hợp lý thì phí vệ sinh sẽ đem lại những hiệu quả rất thiết thực đối với kinh tế, xãhội bên cạnh những lợi ích về mặt môi trường
Do đây là một khoản thu nhằm bù đắp lại những chi phí đầu tư ban đầu nên mộtphần phí này được nộp vào ngân sách nhà nước Phần phí mà công ty thu được có thểđược xem là một phần thu nhập của công ty và phần phí này có thể giúp công ty thựchiện các công tác quản lý của mình giúp giảm ngân sách cho nhà nước Khoản tiền thu
Trang 8được đã tạo ra thu nhập để tài trợ và nâng cao hiệu quả các hoạt động bảo vệ môitrường và bù đắp ít nhất một phần cho những chi phí không được thanh toán của cáchoạt động xã hội
Khoản chi phí mà người dân phải nộp cho cơ quan quản lý khi được hưởng cáchoạt động dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải và nhằm thực hiện nguyên tắcBPP và cũng thực hiện tính công bằng xã hội Việc trả một khoản phí nhất định nhưvậy sẽ tác động đến ý thức của người dân trong việc xả thải Như vậy ta thấy phí vệsinh không những là một khoản thu mà nó còn là công cụ để điều chỉnh hành vi củacon người Phí vệ sinh giúp cho các đối tượng có ý thức tôn trọng các giá trị vật chất vàtinh thần của cộng đồng và của xã hội Việc trả một chi phí nhất định khi được hưởngdịch vụ vệ sinh môi trường sẽ có tính chất quyết định đến hành vi xả thải và giảm thiểuchất thải của người dân Họ sẽ co ý thức trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn và hưởngthụ dịch vụ được cung cấp, nhưng đôi khi phí vệ sinh không có tính công bằng xã hội
và không thu trên sự bằng lòng chi trả của người dân thì có một khối lượng rác đáng kểthải bỏ vào môi trường do họ không chấp nhận và không nộp phí
c) Các yếu tố ảnh hưởng đến phí vệ sinh.
Như trên đã biết để phí vệ sinh thực hiện đúng vai trò của mình thì cần có một cơ chếthu hồi phí hợp lý đảm bảo cho mọi người dân có thể chấp nhận mức phí cho một loạihình dịch vụ công cộng Khi đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến phí vệ sinh ta có thểliệt kê các yếu tố sau:
Bất kể một loại hình dịch vụ nào muốn đạt được hiệu quả tốt trong việc thu phíthì mức phí mà họ đặt ra phải trùng với mức bằng lòng chi trả của người dân Đối vớiphí vệ sinh cũng vậy khi chất lượng phục vụ tốt giá phí quá cao thì người dân cũngkhông thể chấp nhận loại hình dịch vụ này Giá phí được cân đối với mức sống trungbình của người dân để nó không trở thành gánh nặng về mặt tài chính với họ
Đối với những người có thu nhập cao họ bằng lòng chi trả một khoản phí phù hợp
để được hưởng một chất lượng phục vụ tốt đảm bảo cho môi trường được cải thiệnnhưng có một số lượng khá lớn người dân có thu nhập thấp nên khả năng chi trả chomột loại hình dịch vụ là thấp Chính vì vậy vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý là mứcphí như thế nào cho phù hợp với tình hình chung, nhưng cũng phải đảm bảo giảm đượcgánh nặng về mặt tài chính cho cơ quan quản lý, chi phí thu về phải đủ bù đắp các
Trang 9khoản thanh toán Để có thể đảm bảo được hiệu quản quản lý chất thải và không tạogánh nặng kinh tế cho bất kỳ đối tượng nào thì mức chi phí cho công tác quản lý đượcxác định dựa trên tỉ lệ: phí vệ sinh không chiếm quá 1% thu nhập của người dân và chiphí quản lý chất thải thì chiếm không quá 1% tổng sản phẩm quốc nội.
Việc tính phí vệ sinh thông thường trong đó có cả chi phí xử lý và vận chuyểnchất thải do vậy nó chịu ảnh hưởng của tính chất và khối lượng chất thải Đối với chấtthải nguy hại thì thông thường có một bảng thống kê các loại chất thải độc hại và chiphí cho từng loại đó, với một khối lượng nhỏ thì người dân không mất tiền xử lý nhưngvới một khối lượng lớn thì mức phí đối với loại chất thải này là rất cao do tính chất độchại của chúng Hiện nay ở nước ta đối với rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp dothành phần và tính chất của các chất có trong rác thải cho nên giá phí đối với các loạinày là khác nhau còn với chất thải xây dựng thì biện pháp xử lý hiệu quả nhất là đemsan lấp mặt bằng do vậy giá phí chỉ tính đến chi phí nhân công thu gom, san lấp Tínhphí theo tính chất và thành phần rác thải nhằm khuyến khích người dân tiêu dùng cácloại sản phẩm dễ phân huỷ, ít độc hại và có thể tái sử dụng nhằm làm giảm khoản phíphải nộp
Bên cạnh yếu tố tính chất chất thải thì yếu tố khối lượng rác thải cũng ảnh hưởngđến giá phí vệ sinh Thực tế cho thấy giá phí có thể tính theo khối lượng hay tính theothể tích trên đầu người trong một ngày đêm Giá phí có thể qui định theo một mức nhấtđịnh khi lượng rác thải ở một giới hạn là A tấn/ngày đêm còn nếu vượt quá giới hạnnày thì mức phí lại cao hơn Thực tế tại các nước phát triển đã áp dụng thu phí vệ sinhtheo túi rác hay phát tem, túi đựng rác với một thể tích nhất định vượt ra ngoài phầnđược phát thì các hộ phải trả thêm tiền Việc tính phí theo khối lượng rác nhằm khuyếnkhích người dân giảm khối lượng rác thải phát sinh bên cạnh việc giảm gánh nặng kinh
Trang 10hay các hộ kinh doanh …phải trả tiền phí nhiều hơn so với những hộ gia đình do khốilượng rác thải phát sinh hàng ngày cao hơn Hiện nay sự phát triển tại các nước trên thếgiới nói chung và ở Việt Nam nói riêng bên cạnh việc tạo ra sự phát triển của nền kinh
tế thì cũng tạo ra những khó khăn nhất định cho công tác quản lý lượng nước thải, khíthải thải và rác thải thải vào môi trường, trong đó rác thải là mối đe dọa lớn đối với môitrường và sức khoẻ cộng đồng vì lượng rác thải ngày càng nhiều và đặc biệt là chất thảirắn nguy hại
I.6 Vấn đề áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở các nước đang phát triển và Việt Nam.
Tìm ra các công cụ quản lý môi trường hữu hiệu ở các nước đang phát triển chính
là tìm ra các công cụ phục vụ mục tiêu phát triển bền vững Các công cụ kinh tế có thểđáp ứng được những yêu cầu này và phù hợp với điều kiện của từng nước đang pháttriển nhằm thúc đẩy quá trình phát triển bền vững
Tuy đã có những bước tiến nhất định, nhưng các công cụ kinh tế vẫn chưa được sửdụng một cách rộng rãi ở các nước đang phát triển và việc áp dụng các công cụ nàyđang vấp phải những khó khăn nhất định
các công cụ này có nguồn gốc từ các nước phát triển ở những nước này việc ápdụng các công cụ kinh tế chủ yếu là nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách nhànước, không chú trọng nhiều đến việc điều chỉnh hành vi của các đối tượng gây
ô nhiễm môi trường
các công cụ kinh tế, những kinh nghiệm cho đến nay chưa được tổng kết, đánhgiá và trên thực tế có rất ít tư liệu về vấn đề này Các nước đang phát triển cũngkhông đồng nhất cả về mức độ phát triển kinh tế- xã hội, hệ thống chính trị vàcác điều kiện sinh thái
kiểm soát nhằm cưỡng chế tuân thủ đối với các hành vi có tác động xấu đến môitrường Việc từ bỏ và thay thế dần dần các công cụ này bằng các công cụ kinh tế
là vấn đề đang được quan tâm do các công cụ “kiểm soát- mệnh lệnh” tỏ ra thiếuhiệu quả, thiếu linh hoạt, do nhu cầu về tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
và do đòi hỏi khách quan cần tìm ra các công cụ hài hoà chính sách kinh tế vàchính sách môi trường
Trang 11Sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã dẫn đến sự tăng nhanh tiêu thụ tàinguyên thiên nhiên và tác động xấu đến môi trường Tốc độ tăng trưởng dân số nhanhcũng đã và đang đặt nhiều áp lực hơn lên môi trường tự nhiên, 70% dân số phụ thuộctrực tiếp vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên Rõ ràng thách thức lớn hiện nay là làmsao bảo đảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên được sử dụng một cách khôn khéo, bềnvững và sự phát triển không làm tổn hại tới môi trường.Nghị quyết Trung ương Đảnglần V khoá IX một lần nữa khẳng định phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và kinh tế
tư nhân như là một thành phần kinh tế quan trọng góp phần vào nỗ lực phát triển quốcgia Việc áp dụng đúng đắn và kịp thời các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ởnước ta là cần thiết và là một đòi hỏi khách quan vì những lý do sau:
trường
về quản lý môi trường (bao gồm cả vấn đề tổ chức, bộ máy và pháp luật) vẫnchưa được hoàn thiện, nhận thức về môi trường và phát triển bền vững vẫn còn
ở mức thấp đối với tất cả các cấp và người dân
đang được quan tâm chỉ đạo thực hiện Quá trình này vừa tạo ra quyền tự chủtương đối cho địa phương, nhưng cũng tạo ra sự khó khăn nhất định trong việcthực hiện các quyết định của trung ương
trường nói chung và việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trườngnói riêng
Những thách thức về môi trường hiện nay khắc hoạ đặc tính bối cảnh mà trong đónước ta đang tìm con đường theo đuổi phát triển bền vững.Chiến lược phát triển kinhtế- xã hội 2000- 2010 đã chỉ ra rằng phát triển kinh tế- xã hội quan hệ mật thiết với bảo
vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm hài hoà giữa môi trường tự nhiên và môi trườngnhân tạo, bảo tồn đa dạng sinh học.Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 và Định hướng chiến lược phát triển bền vững ởViệt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) đều đưa ra khung chính sách trong
đó nhấn mạnh việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Nhìn chung, mặc dù có những tiến bộ quan trọng về chính sách và quản lý môitrường trong thời gian qua, nhưng các Báo cáo hiện trạng môi trường những năm gần
Trang 12đây đã chỉ ra rằng sự suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm và suy thoáimôi trường tiếp tục gia tăng Các báo cáo cho thấy một bức tranh không như mongmuốn về các hoạt động khai thác khoáng sản, xói mòn đất, ô nhiễm các nguồn nước, ônhiễm môi trường công nghiệp, đô thị và nông thôn, cũng như thiên tai thường xuyênxảy ra với tần suất cao và diễn biến phức tạp, sự suy giảm các nguồn tài nguyên đadạng sinh học và vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới Những xu hướng này sẽ tiếp tục diễn
ra trong những năm tới Trong các giải pháp nhằm đảo ngược các xu thế này, chắcchắn việc áp dụng đúng đắn và kịp thời các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Chất thải rắn đô thị được định nghĩa là vật chất mà người tạo ra ban đầu vứt bỏ đitrong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó Thêm vào
đó, chất thải được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như mộtthứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ
II.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, có thể ở nơi này hay ởnơi khác, chúng khác nhau về số lượng, kích thước, phân bố về không gian Việc phânloại các nguồn phát sinh chất thải rắn đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lýchất thải rắn Một cách tổng quát chất thải rắn sinh hoạt được phát sinh từ các nguồnsau :
Khu công cộng (nhà ga, bến tàu, sân bay, công viên, khu vui chơi, đường phố…)
Trang 13II.3 Phân loại chất thải rắn
Việc phân loại chất thải rắn là một công việc khá phức tạp bởi vì sự đa dạng vềchủng loại, thành phần và tính chất của chúng Có nhiều cách phân loại khác nhau chomục đích chung là để có biện pháp xử lý thích đáng nhằm làm giảm tính độc hại củachất thải rắn đối với môi trường Dựa vào công nghệ xử lý, thành phần và tính chấtchất thải rắn được phân loại tổng quát như sau:
Phân loại theo công nghệ quản lý – xử lý:
Phân loại chất thải rắn theo loại này người ta chia làm: các chất cháy được, các chất không cháy được, các chất hỗn hợp.
Bảng II.1: Phân loại theo công nghệ xử lý[10]
Nông nghiệp, hoạt động xử lý rác thải
Trang 14- Chất dẻo
- Da và cao su
tre, rơm
- Các vật liệu và sảnphẩm từ chất dẻo
- Các vật liệu và sảnphẩm từ thuộc da và caosu
- Phim cuộn, túi chất dẻo,bịch nilon,…
- Túi sách da, cặp da, vỏ ruộtxe,
- Các loại vật liệu không
bị nam châm hút
- Các loại vật liệu và sảnphẩm chế tạo từ thuỷ tinh
- Các vật liệu không cháykhác ngồi kim loại vàthuỷ tinh
- Hàng rào, dao, nắp lọ,…
- Vỏ hộp nhuôm, đồ đựngbằng kim loại
- Chai lọ, đồ dùng bằng thuỷtinh, bóng đèn,…
- Vỏ ốc, gạch đá, gốm sứ,…
không phân loại ở phần 1
và 2 đều thuộc loại này
- Đá, đất, cát,…
Chất thải thực phẩm: Là loại chất thải mang hàm lượng chất hữu cơ cao như
những nông sản hư thối hoặc dư thừa: thịt cá, rau, trái cây và các thực phẩm khác.Nguồn thải từ các chợ, các khu thương mại, nhà ăn vv… Do có hàm lượng chủ yếu làchất hữu cơ nên chúng có khả năng thối rữa cao cũng như bị phân hủy nhanh khi cóđiều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao Khả năng ô nhiễm môi trường khá lớn do sự phân rãcủa chất hữu cơ trong thành phần của chất thải
Rác rưởi: Nguồn chất thải rắn này rất đa dạng thường sinh ra ở các khu dân cư,
khu văn phòng, công sở, khu thương mại, nhà hàng, chợ, các khu vui chơi giải trí vv…
Trang 15Thành phần của chúng chủ yếu là các loại giấy, bao bì, giấy carton, plastic, nilon vv…Với thành phần hóa học chủ yếu là các chất vô cơ, cellolose, và các loại nhựa có thểđốt cháy được Ngoài ra trong loại chất thải này còn có chứa các loại chất thải là cáckim loại như sắt, thép, kẽm, đồng, nhôm vv… là các loại chất thải không có thành phầnhữu cơ và chúng không có khả năng tự phân hủy Tuy nhiên loại chất thải này hoàntoàn có thể tái chế lại mà không phải thải vào môi trường.
Chất thải rắn là sản phẩm của các quá trình cháy: Loại chất thải rắn này chủ
yếu là tro hoặc các nhiên liệu cháy còn dư lại của các quá trình cháy tại các lo đốt Cácloại tro thường sinh ra tại các cơ sở sản xuất công nghiệp, các hộ gia đình khi sử dụngnhiên liệu đốt lấy nhiệt sử dụng cho mục đích khác Xét về tính chất thì loại chất thảirắn này là vô hại nhưng chúng lại rất dễ gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường do khó
bị phân hủy và có thể phát sinh bụi
Chất thải độc hại: Các chất thải rắn hóa học, sinh học, chất gây phóng xạ, chất
cháy, chất dễ gây nổ như pin, bình acquy…Khi thải ra môi trường có ảnh hưởng đặcbiệt nghiệm trọng tới môi trường Chúng thường được sinh ra từ các hoạt động sinhhoạt của người dân.Ngoài ra rác thải như bông băng, kim tiêm, bệnh phẩm cũng là loạiChất thải rắn có tính nguy hại lớn tới môi trường, cũng được xếp vào dạng chất thảiđộc hại
Chất thải sinh ra từ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp:Các chất thải rắn dư
thừa trong quá trình sản xuất nông nghiệp rất đa dạng và phức tạp Chúng bao gồm cácloại tàn dư thực vật như cây, củi, quả không đạt chất lượng bị thải bỏ, các sản phẩmphụ sinh ra trong nông nghiệp, các loại cây con giống không còn giá trị sử dụng… loạichất thải này thường rất dễ xử lý, ít gây ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, trong quá trìnhsản xuất nông nghiệp một số hóa chất được áp dụng như thuốc trừ sâu bệnh, phân bónđược thải bỏ hoặc dư thừa cũng đã ảnh hưởng đến môi trường đất, nước
Chất thải rắn sinh ra trong xây dựng: Là loại chất thải rắn sinh ra trong quá
trình đập phá, đào bới nhằm xây dựng các công trìng công cộng, dân dụng, giao thông,cầu cống vv… loại chất thải này có thành phần chủ yếu là các loại gạch đá, xà bần, sắtthép, bê tông, tre gỗ…Chúng thường xuất hiện ở các khu dân cư mới, hoặc các khu vựcđang xây dựng
Chất thải rắn sinh ra từ các cống thoát nước, trạm xử lý nước:Trong loại chất
thải này thì thành phần chủ yếu của chúng là bùn đất chiếm tới 90 - 95% Nguồn gốcsinh ra chúng là các loại bụi bặm, đất cát đường phố, xác động vật chết, lá cây, dầu mỡ
Trang 16rơi vãi, kim loại nặng… trên đường được thu vào ống cống Nhìn chung loại chất thảinày cũng rất đa dạng và phức tạp và có tính độc hại khá cao Ngoài ra còn một loại chấtthải rắn khác cũng được phân loại chung vào là bùn thải sinh ra từ các nhà máy xử lýnước thải, trạm xử lý nước thải, phân rút từ hầm cầu, bể tự hoại Các loại chất thải rắnnày cũng chiếm một lượng nước khá lớn ( từ 25 – 95%) và thành phần chủ yếu cũng làbùn đất, chất hữu cơ chưa hoại.
II.4 Thành phần và tính chất của chất thải rắn
Thành phần chất thải rắn được định nghĩa là những thành phần riêng biệt tạo nênrác thải và thường được tính theo phần trăm khối lượng Các thông tin liên quan đếnthành phần chất thải rắn cần thiết để tính toán nhu cầu trang thiết bị, hệ thống xử lý,vận chuyển và quản lý rác
Thành phần lý, hoá học của chất thải rắn đô thị rất khác nhau tùy thuộc vào từngđịa phương, vào các mùa khí hậu, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác
Bảng II.2 Thành phần phân loại của chất thải rắn đô thị [1]
m3)Khoảng
giá trị(KGT)
Trungbình
Trang 17Thành phần chất thải của các nước có thu nhập thấp và các nước có thu nhập caocũng có sự khác biệt Ở những nước có thu nhập cao, tỷ lệ chất thải hữu cơ thấp hơn ởcác nước có thu nhập thấp vì trong chất thải của các nước có thu nhập cao có nhiều baogói và giấy lộn hơn Điển hình như: khối lượng chất thải hữu cơ trung bình trên toànquốc ở khu vực thành thị là 55% và ở khu vực nông thôn là 60-75% [13]
Bảng II.3 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt ở một số nước [1]
bình(750USD-Quốc gia có thunhập
Trang 18Để xác định được thành phần của chất thải rắn sinh hoạt một cách chính xác làmột việc làm rất khó vì thành phần của rác thải phụ thuộc rất nhiều vào tập quán cuộcsống, mức sống của người dân, mức độ tiện nghi của đời sống con người, theo mùatrong năm…Thành phần rác thải có ý nghĩa rất quan trọng trong việc lựa chọn các thiết
bị xử lý, công nghệ xử lý cũng như hoạch định các chương trình quản lý đối với hệ
thống kỹ thuật quản lý chất thải rắn Theo tài liệu của EPA – USA, trình bày kết quả
phân tích thành phần vật lý của chất thải rắn sinh hoạt cho thấy khi chất lượng cuộcsống ngày càng cao thì các sản phẩm thải loại như giấy, carton, nhựa ngày càng tănglên Trong khi đó thành phần các chất thải như kim loại, thực phẩm càng ngày cànggiảm xuống
Độ ẩm: Độ ẩm của chất thải rắn được định nghĩa là lượng nước chứa trong một
đơn vị trọng lượng chất thải ở trong trạng thái nguyên thuỷ Việc xác định độ ẩm củarác thải dựa vào tỉ lệ giữa trọng lượng tươi hoặc khô của rác thải Độ ẩm khô được biểuthị bằng phần trăm trọng lượng khô của mẫu Độ tươi khô được biểu thị bằng phầntrăm trọng lượng ướt của mẫu và được xác định bằng công thức:
Độ ẩm = a- b/ a * 100%
Trong đó:
a : Trọng lượng ban đầu của mẫu (kg)
Độ ẩm của rác phụ thuộc vào mùa mưa hay nắng Chất thải rắn đô thị ở Việt Namthường có độ ẩm từ 50 - 70%
Tỷ trọng: Tỷ trọng của rác được xác định bằng phương pháp cân trọng lượng để
Tỷ trọng rác phụ thuộc vào các mùa trong năm, thành phần riêng biệt, độ ẩm không
khí Đối với nước ta do khí hậu nóng ẩm nên độ ẩm của chất thải rắn rất cao, thành
phần rất phức tạp và chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân huỷ do đó tỷ trọng của rác khá
II.4.2 Thành phần hoá học: Thành phần hoá học của chất thải rắn đô thị bao gồm
chất hữu cơ, chất tro, hàm lượng carbon cố định, nhiệt lượng
Chất hữu cơ: Chất hữu cơ được xác định bằng cách lấy mẫu rác đã làm phân tích
Trang 19khi nung, thông thường chất hữu cơ dao động trong khoảng 40 – 60% giá trị trung bình
53% Chất hữu cơ được xác định bằng công thức sau:
Chất hữu cơ (%) = c – d / c * 100
Trong đó:
c : là trọng lượng ban đầu
hay chất vô cơ và được tính:
Chất vô cơ(%) = 100 – chất hữu cơ (%)
phần phần trăm của C ( cacbon), H ( hydro), N ( nitơ), S ( lưu huỳnh) và tro được dùng
để xác định nhiệt lượng của rác
Hàm lượng carbon cố định:Hàm lượng carbon cố định là hàm lượng carbon còn
lại sau khi đã loại bỏ các phần vô cơ khác không phải là carbon trong tro khi nung ở
chất vô cơ chiếm khoảng 15 - 30%, giá trị trung bình là 20%
Nhiệt lượng: Là giá trị nhiệt tạo thành khi đốt chất thải rắn Giá trị nhiệt được
xác định theo công thức Dulong:
Btu = 145.4C + 620 (H 1/8 O) + 41STrong đó: C : Carbon (%)
H : Hydro (%)
O : Oxy (%)
S : Lưu huỳnh (%)
II.5 Các phương pháp xử lý chất thải rắn
Tùy theo yêu cầu xử lý và đặc điểm của rác thu gom mà lựa chọn phương pháp xử lý thíchhợp Khi lựa chọn phương pháp xử lý chất thải rắn cần xem xét các yếu tố như :Thànhphần tính chất của chất thải rắn, tổng lượng chất thải rắn cần xử lý, hả năng phân loạirác để tái sử dụng và yêu cầu bảo vệ môi trường Tuy nhiên về cơ bản có 3 phương phápthường hay sử dụng nhất là:
II.5.1 Phương pháp đốt
Trang 20Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại rác nhất định màkhông thể xử lý bằng các biện pháp khác Đây là một giai đoạn oxy hóa nhiệt độ caovới sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó có rác độc hại được chuyển thành khí
và các chất thải rắn không cháy Các chất thải rắn được làm sạch hoặc không làm sạchthốt ra ngồi không khí, còn chất thải rắn thì được chôn lấp
Ứng dụng của phương pháp đốt được sử dụng để xử lý các loại chất thải sau:
do quá trình đốt có thể xảy ra Ở Việt Nam công nghệ thiêu đốt thích hợp cho việc xử
lý chất thải bệnh viện, chất thải nguy hại, các loại chất thải có thời gian phân huỷ lâudài Thiêu đốt là phương pháp xử lý phổ biến nhất ngày nay được nhiều quốc gia trên
và hơi nước theo phản ứng:
CxHyOz + (x+y/4+z/2)O2 -> xCO2 + y/2H2OViệc sử dụng các lò thiêu đốt hiện nay không dừng lại ở mục đích giảm thể tích banđầu của rác ( giảm khoảng 90% ), mà còn thu hồi nhiệt lượng phục vụ các nhu cầukhác như: tận dụng cho lò hơi, lò sưởi, cấp điện,…
Khi thiết kế lò đốt, có 4 yếu tố cần thiết cho sự đốt cháy hoàn toàn của rác thải là:
tuỳ loại chất thải) thời gian đốt chất thải và mức độ xáo trộn bên trong lò Ngoài ra cònphải chú ý thêm vật liệu chế tạo lò đốt để đảm bảo chịu nhiệt cao.Khí thải sau khi làm
Trang 21nguội có thể được xử lý bằng dung dịch kiềm để trung hòa các chất độc hại tạo thànhsau khi nung.
Ưu điểm: của phương pháp thiêu đốt là xử lý triệt để rác thải, tiêu diệt các vi sinh vật
gây bệnh và các chất ô nhiễm, xử lý tốt các chất ô nhiễm, diện tích xây dựng nhỏ, vậnhành đơn giản, ít tốn nhiên liệu, có thể xử lý chất thải rắn có chu kỳ phân huỷ lâu dài
Nhược điểm: vận hành dây chuyền phức tạp, đòi hỏi năng lực và kỹ thuật tay nghề cao,
giá thành đầu tư lớn, chi phí tiêu hao năng lượng và chi phí xử lý cao, sinh khói bụi và
đốt phải xây dựng kèm theo hệ thống xử lý khí thải Chi phí đầu tư ban ban đầu cao,ước tính khoảng 160 – 200 triệu USD cho một nhà máy có công suất 3000 tấn/ngày.Thành phần rác đòi hỏi nhiệt lượng cao khoảng 4.500kcal/kg quá trình thiêu đốt mớikinh tế Khi áp dụng phương pháp đốt rác ở nhưng nước có thu nhập thấp, có hai hạnchế chính cần lưu ý đó chính là chi phí và lợi ích
trạm điện đốt rác Bởi vì tính kinh yế luôn phụ thuộc vào việc trả “chi phí quacửu” khá cao cho chính quyền thành phố để được chấp nhận nguồn rác của họ
và vì thế ngay cả ngững nước đạt tiêu chuẩn cao cho những khu thải rác, nơi cónhững bãi rác thải được thiết kế và quản lý tốt, việc chôn lấp vẫn đỡ tốn kemhơn nhiều so với các qui trình hay phương pháp xử lý nào.Chỉ riêng về chi phí,các phương pháp đốt rác có nhiều hạn chế trong ứng dụng ở các nước có thunhập thấp.Thành phần hiện tại của những loại rác nàycos năng suất tỏa nhiệtthấp, ở một số nơi lại có thành phần độ ẩm cao, làm cho việc đốt rác rất khó nếunhư không sử dụng thêm một số nhiên liệu và ngay cả nếu rác thải cháy được,làn giảm mọt cách đáng kể doanh thu tiền tàng từ năng lượng tạo ra
quan tâm Hầu hết chất thải rắn đô thị ở các nước có thu nhập thấp có đặc tính:loại chất thải này có năng suất tỏa nhiệt thấp, bắt cháy chậm và mất thời gian đểsinh ra dòng điện Thêm vào đó, những nước chậm phát triển, khi sử dụng côngnghệ thường rơi vào tình trạng yếu kém về chi phí vận hành và bảo trì cao,doanh thu không đủ để thanh toán chi phí này
II.5.2 Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh:
Trang 22Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trên hầu hết tất cả các quốc gia.Phương pháp chôn lấp chất thải hợp vệ sinh về thực chất có nghĩa là lưu giữ chất thảitrong một bãi đất và có lớp phủ lên trên bề mặt chất thải.
Chôn lấp hợp vệ sinh là phương pháp kiểm soát sự phân huỷ chất thải rắn khi chúngđược chôn nén và được phủ lên bề mặt một lớp vật liệu Chất thải rắn trong bãi chônlấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân huỷ sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuốicùng là các chất dinh dưỡng như acid hữu cơ, nitơ, các hợp chất amoni và một số khí
sinh học, vừa là biện pháp kiểm soát các thông số chất lượng môi trường trong quátrình phân huỷ chất thải khi chôn lấp
Ưu điểm của phương pháp như sau:
tế nhất cho việc đổ bỏ chất thải;
phương pháp khác;
thu gom riêng lẻ hay phân loại từng loại;
tăng cường thêm công nhân và thiết bị cơ giới, trong khi các phương pháp khácphải mở rộng quy mô công nghệ để tăng công suất;
côn trùng, chuột bọ, ruồi muỗi khó có cơ hội sinh sôi nảy nở;
thiểu được mùi hôi thối phát sinh, ít gây ô nhiễm không khí;
Trang 23 Do hệ thống có lớp lót và hệ thống thu nước rò rỉ ở đáy bãi rác vệ sinh nên cóthể giảm thiểu đến mức tối đa khả năng gây ô nhiễm tầng nước ngầm và nướcmặt;
các công viên, sân vận động, sân golf, hay các công trình công cộng khác
Nhược điểm của phương pháp như sau:
khí độc hại khác có khả năng gây cháy nổ hay gây độc hại Tuy nhiên khí Mêtan
có thể được thu hồi làm khí đốt;
nhiễm nước ngầm, ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm không khí và ô nhiễm đất
cuối cùng của quá trình là một loại phân hữu cơ dạng lòng dùng cho nông nghiệp.Nhược điểm chính của phương pháp này là vận hành khó do phải dùng điều kiện yếmkhí nghiêm ngặt
* Xử lý tạo phân compost
Tận dụng rác thải sinh hoạt làm phân compost đã được áp dụng nhiêu nơi trên thếgiới Phương pháp này áp dụng qúa trình lên nen sinh học các chất hữu cơ, loại trừđược 50% lượng rác sinh hoạt bao gồm các chất hữu cơ là thành phần gây ô nhiễm môitrường đất, nước và không khí; Sử dụng lại được các chất hữu cơ đó chế biến làm phânbón phục vụ nông nghiệp theo hướng cân bằng sinh thái, hạn chế việc sử dụng phânbón hóa học để bảo vệ đất; Tiết kiệm cho chôn lấp chất thải , tăng khả năng chống ônhiễm môi trường
Phương pháp này phù hợp với đặc điểm rác thải và khí hâu của nước ta với những
ưu điểm như xử lý chất thải triệt để không gây ô nhiễm môi trường nên có thể đặt gần
Trang 24thành phố để giảm chi phí vận chuyển Do đó, đây được xem là phương pháp có nhiều
ưu điểm nhất Tuy nhiên, phương pháp này có một vài nhược điểm như: mức độ tựđộng hóa của công nghệ chưa cao, việc phân loại và nạp liệu phải tiến hành thủ côngnên công nhân phải làm việc trong điều kiện độc hại, năng suất thấp
Ưu điềm của phuơng pháp:
ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí
cân bằng sinh thái
Nhược điểm của phương pháp:
Đây chỉ là một số phương pháp xử lý chất thải rắn thường hay được sử dụng nhất ởnước ta cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới Tuy nhiên mỗi phương pháp đều cónhững ưu nhược điểm riêng của nó Vì vậy khi xử lý chúng ta cần phải xem xét thật kỹcác yếu tố cần thiết để lựa chọn một phương pháp xử lý cho phù hợp
CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN THÀNH PHỐ III.1 Giới thiệu chung về Thành Phố Quy Nhơn.
III.1.1 Điều kiện tự nhiên của Thành Phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định.
III.1.1.1 Vị trí địa lý.
Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía đông nam của tỉnh Bình Định, có toạ độ địa lý
phía Nam giáp huyện Sông Cầu tỉnh Phú Yên, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây
Trang 25giáp huyện Tuy Phước, cách Hà Nội 1065km về phía Bắc, cách thành phố Pleiku (TâyNguyên) 176km và cách thành phố Hồ Chí Minh 690km về phía Nam, nơi chạy quacửa đường quốc lộ số 1, tuyến đường sắt xuyên Việt
Thành Phố Quy Nhơn gắn với tỉnh Bình Định là một vùng đất có bề dày lịch sửvới nền văn hoá Sa Huỳnh, hình thành phát triển cùng với nền văn hoá Chămpa thế kỷ
11, triều đại Tây Sơn và Cảng Thị Nại thế kỷ 18 Năm 1998, Thành phố Quy Nhơnđược công nhận là đô thị loại II Với ưu thế về vị trí địa lý , có cảng biển và có cơ sở hạtầng đô thị phát triển Quy Nhơn được Thủ Tướng Chính phủ Xác định là trong batrung tâm thương mại và du lịch của vùng duyên hải Nam Trung Bộ
Khu vực thành phố Quy Nhơn có địa hình và cảnh quan địa lý đa dạng như núirừng, gò đồi, đồng ruộng, bãi, đầm, hồ, sông ngòi, biển, đảo và bán đảo.Quy Nhơn códải bờ biển dài 42km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật biển phongphú, có nhiều loài đặc sản quý, có giá trị kinh tế cao Khí hậu thành phố Quy Nhơn cótính chất nhiệt đới gió mùa, nói chung tương đối thuận lợi, lượng mưa không quánhiều, mùa Đông có nhiệt độ không quá thấp, nhiều nắng, tương đối thích hợp cho việcxây dựng đô thị, tuy nhiên khô hạn cũng thường kéo dài gây nên cạn kiệt nguồn nướcmặt, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất, chế độ mưa lũ không đều cũng gây nênnhững tác động khó khăn cho việc xây dựng cải tạo hệ thống thoát nước
Hiện nay thành phố Quy Nhơn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá và khoahọc của tỉnh Bình Định, là thành phố Cảng, đầu mối giao thông thuỷ bộ quan trọng củavùng Nam Trung Bộ, cửa ngõ quan trọng của Tây Nguyên, Nam Lào, Đông BắcCampuchia, Thái Lan, ra biển Đông, là một trong những đô thị hạt nhân của vùng NamTrung Bộ
III.1.1.2 Điều kiện khí hậu :
Thành phố Quy Nhơn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa mang đặc tính khí hậucủa vùng Trung-Trung Bộ, bị chi phối bởi gió Đông Bắc trong mùa mưa và gió Tâyvào mùa khô Mùa Đông ít lạnh, thịnh hành gió Tây Bắc đến Bắc Mùa hè có nhiệt độ
8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 (lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80% lượngmưa cả năm) Hướng gió chủ yếu là Đông đến Đông Nam, nhưng chiếm ưu thế trongnửa đầu mùa Hạ là hướng Tây đến Tây Bắc Mùa mưa tại khu vực Quy Nhơn thường
có bão và bão lớn tập trung nhiều nhất vào tháng 9 và 10
Trang 26Khí hậu thành phố Quy Nhơn nói chung tương đối thuận lợi, lượng mưa khôngquá nhiều, mùa Đông có nhiệt độ không quá thấp, nhiều nắng, tương đối thích hợp choviệc xây dựng đô thị, tuy nhiên khô hạn cũng thường kéo dài gây nên cạn kiệt nguồnnước mặt, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất, chế độ mưa lũ không đều cũng gây nênnhững tác động khó khăn cho việc xây dựng cải tạo hệ thống thoát nước.
Bảng III.1 Một số đặc trưng khí hậu về thành phố Quy Nhơn: [23].
III.1.3 Điều kiện Địa hình
Khu vực thành phố Quy Nhơn có địa hình đa dạng gồm cả đồi núi, các dải đấtbằng phẳng, ruộng lúa, ao đầm, hồ, sông ngòi, biển, bán đảo và đảo, Quy Nhơn có dải
bờ biển dài 42km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật biển phong phú,
có nhiều loài đặc sản quý, có giá trị kinh tế cao
Địa hình thành phố Quy Nhơn nhìn chung được chia thành hai khu vực:
Khu vực thành phố cũ: nằm sát bờ biển, bị chia cắt bởi núi Bà Hỏa cao
279,2m và núi Vũng Chua cao 500m thành hai khu vực nhỏ:
-Khu vực trung tâm nội thành ở phía Đông núi Bà Hỏa, địa hình tương đốibằng phẳng; cao độ thay đổi từ 1,5-5,5m; hướng dốc từ núi ra biển và từ núi
về triền sông; độ dốc trung bình từ 0,5-1%; khu vực ven sông, biển có cao độthấp hơn 2m, bị ngập lụt từ 0,5-1m
-Khu vực phường Bùi Thị Xuân-Trần Quang Diệu-thị xã Long Mỹ nằm haibên Đông và Tây của Quốc lộ 1A, là thung lũng hẹp, kẹp giữa núi Bà Hỏa vànúi Hòn Chà Địa hình phía Tây Quốc lộ 1A tương đối bằng phẳng Cao độthấp nhất là 5,5m Cao độ trung bình 8m, có hướng dốc từ Tây sang Đông và
từ Nam ra Bắc với độ dốc từ 0,5% đến 1,5% rất thuận lợi cho xây dựng Địahình phía Đông Quốc lộ 1A thấp trũng, phần lớn là ruộng lúa Cao độ thấpnhất là 1,1m Cao độ cao nhất là 15m Có hướng dốc dần từ Nam ra Bắc với
Trang 27độ dốc từ 0,5% đến 2% Thường bị ngập lụt từ 0,5-2,5m ở các khu vực cócao độ <3m Địa hình khu Long Mỹ tương đối bằng phẳng có cao độ từ 5,5mtrở lên.
Khu vực mở rộng bán đảo Phương Mai: là một cồn cắt ngang ổn định dài
khoảng 18km Nơi rộng nhất là 4,5km; hẹp nhất là 1km Cao độ lớn nhất 31,5m;thấp nhất là 0,3m; trung bình là 15m Địa hình có hướng dốc về hai phía Đông
và Tây với độ dốc từ 0,5% đến 2%
III.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
III.1.2.1 Dân số - lao động
Theo số liệu niên giám thống kê thành phố Quy Nhơn, dân số chính thức năm
Trong đó dân số của 16 phường nội thị là 239027 người, chiếm 90,2% dân số toànthành phố Dân số ngoại thị là 25741 người, bao gồm các xã : Nhơn Lý, Nhơn Hải,Nhơn Hội, Nhơn Châu, Phước Mỹ Quy mô trung bình của một hộ gia đình là 5 người
Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm là 1,7% Dân số thành phố trong độ tuổi laođộng chiếm tỷ lệ 78,98% dân số
Bảng III2: Cơ cấu lao động thành phố[14]
động
58,15
Trong đó: Có khả năng lao
động
153950152037
Trang 28BảngIII.3: Cơ cấu lao động thành phố [14]
Tổng số lao dộng làm việc trong các
sở, ngành giao thông vận tải, bưu điện có 703 cơ sở và ngành xây dựng cơ bản có 204
cơ sở So với năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp của Quy Nhơn trong năm 2007
tăng trưởng 18,63%, nông nghiệp tăng 5,62%, lâm nghiệp tăng 6,41%, thủy sản giảm5,56%
Các ngành đóng góp lớn cho Ngân sách nhà Nước là công nghiệp chế biến, côngnghiệp khai thác mỏ, du lịch GDP trung bình đầu người của thành phố Quy Nhơn là16,72triệu đồng/người/năm Cơ sở kinh tế kỹ thuật thành phố Quy Nhơn đã có nhữngbước tăng trưởng đáng kể Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 2007 có2.568 cơ sở sản xuất lớn nhỏ, giải quyết việc làm cho 56.795 lao động Tổng giá trị sảnxuất công nghiệp năm 2007 đạt 2.915 tỷ đồng Đến nay, thành phố Quy Nhơn đã trởthành một trung tâm công nghiệp lớn của tỉnh Bình Định, với những cơ sở sản xuất
như:
Bảng III.4: Cơ sở sản xuất công nghiệp [14]
Chia theo thành phần kinh tế
Trang 29- Tư nhân 48 43 53 72
BảngIII.5: Dân số và cơ cấu dân số thành phố Quy Nhơn: [14]
Trang 30Thành phố có 6 bệnh viện đa khoa, 2 phòng khám khu vực, 2 trung tâm y tế kế hoạchhóa gia đình, 1 đội vệ sinh phòng dịch và 20 trạm y tế, nhà hộ sinh phường
Thành phố có 1280 giường bệnh, đạt 5,08 giường bệnh trên 1000 dân, 1647 cán bộ y
tế, đạt 6,22 người trên 1000 dân, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân thànhphố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, cũng như khu vực miền Trung và Tây Nguyên
d, Văn hoá, giáo dục:
Thành phố Quy Nhơn là một trong những trung tâm giáo dục không chỉ của tỉnhBình Định mà còn của cả khu vực Nam Trung Bộ Trường Đại học Sư Phạm QuyNhơn đã vươn lên thành trường đại học đa ngành với quy mô 15800 sinh viên, trong đó
có 14500 sinh viên dài hạn, mỗi năm có trên 2000 sinh viên tốt nghiệp Hệ thống cáctrường cao đẳng, trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh đào tạo mỗi năm hàngnghìn sinh viên tốt nghiệp bổ sung vào nguồn nhân lực của cả khu vực Nam-Trung Bộ
Tỷ lệ người được đào tạo ngày càng tăng Giáo dục phổ thông cũng được cũng cố, đầu
tư trang bị cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, cơ cấu ổn định Trên địa bàn thành phố
có 48 trường phổ thông với 1335 lớp học và trên 50000 học sinh, chiếm tỷ lệ xấp xỉ20% dân số
III.2 Giới thiệu về Công ty TNHH Môi Trường và Đô Thị Quy Nhơn
III.2.1 Chức năng và nhiệm vụ
Công ty TNHH Môi Trường Đô Thị Quy Nhơn tiền thân là Phòng Quản lý NhàĐất và Công Trình Công Cộng Thị xã Quy Nhơn, được thành lập năm 1975 sau ngàyđất nước hàn toàn giải phóng Năm 1982,được Ủy ban nhân dân thị xã Quy Nhơn chothành lập ban công trình công cộng thị xã Quy Nhơn, Tháng 7 năm 1986 Ban côngtrình công cộng thị xã Quy nhơn được đổi tên thành Công ty Công Trình Đô Thị QuyNhơn, Năm 1998 do nhu cầu quản lý đô thị và phát triển thành phố, Công ty Công
Trang 31Chính Quy Nhơn được tách ra thành ba doanh nghiệp hoạt động công ích trực thuộcUBND thành phố Quy Nhơn, gồm: Công ty Môi Trường Đô Thị Quy Nhơn, Công tyCông viên cây xanh và chiếu sáng đô thị Quy Nhơn, Công ty Quản lý sửa chửa đường
bộ Quy Nhơn
Năm 2007, thực hiện Quyết định số 85/2005/QĐ-TTg ngày 21/4/2005 của thủtướng chính phủ đổi mới doanh nghiệp Nhà Nước thuộc UBND tỉnh Bình Định, NghịĐịnh số 95/2006/NĐ-CP ngày 08/9/2006 của chính phủ về chuyển đổi doanh nghiệpNhà nước thành Công ty TNHH 1 thành viên.Theo đó, công ty Môi Trường Đô thị Quy
Nhơn được chuyển thành Công ty TNHH Môi Trường Đô Thị Quy Nhơn và chính thức
đi vào hoạt động từ ngày 1/7/2007 theo quyết định số:14/QĐ-UBND ngày 09/01/2007của UBND tỉnh Bình Định
Chức năng nhiệm vụ chính của Công ty là vệ sinh môi trường: thu gom,vậnchuyển, xử lý rác, phun nước rửa đường, quản lý nghĩa trang và dịch vụ tang lễ, sảnxuất và mua bán các sản phẩm dịch vụ vệ sinh môi trường, các sản phẩm chế biến từrác và vật liệu xây dựng Thi công xây dựng các công trình: dân dụng, công nghiệp,giao thông, thủy lợi, điện chiếu sáng, điện công nghiệp, hệ thống xử lý chất thải rắn,vỉa hè, sửa chửa các công trình vệ sinh và san ủi mặt bằng, sửa chửa ô tô Hút và xử lý
bể phốt hầm cầu Kinh doanh các ngành nghề khác phù hợp với quy định của pháp luật
III.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty :
Sơ đồ tổ chức quản lý Công ty:
Đội vận tải
và sửa chữa ôtô
Xí nghiệpquản lý
& Chế biến
Đội Kiểm tra vệ sinh môi
Đội quản lý nghĩa trang &
DV Phòng Tổ chức
Hành chính Phòng Kế toán Thống kê Phòng Kỹ thuật Phòng Kế hoạch Vật tư
Trang 32III.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn
III.3.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn tại thành phố Quy Nhơn
Hiện tại chất thải rắn thành phố Quy Nhơn phát thải hàng ngày từ các nguồn sau:
a) Chất thải rắn sinh hoạt : bao gồm chất thải rắn phát sinh từ hộ gia đình, đường phố,
chợ, các khu du lịch, công viên, các khu dịch vụ theo số liệu thống kê của công tyTNHH Môi trường đồ thị Quy Nhơn, khối lượng chất thải rắn phất sinh hàng ngày trên
160 tấn/ngày.đêm(dao động trong khoảng ±10%) với chỉ số phát thải chất rắn sinh hoạtbình quân đầu người ở mức 0,815kg/người/ngày và thành phần cụ thể như sau:
Bảng III.6:Hiện trạng thành phần chất thải rắn sinh hoạt của thành phố Quy Nhơn.[22]
Bảng III.7: Số liệu rác thu gom qua các năm.[22]
Trang 33là 23.461 tấn/năm nhưng đến năm 2002 đã tăng lên 50.480 tấn/năm, năm 2004 tới60.050 tấn/năm và đến năm 2006 lượng chất thải tăng lên đến 66.583 tấn/năm.
b) Chất thải bệnh viện :
Bao gồm tất cả các loại chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động hàng ngày (chấtthải y tế và chất thải sinh hoạt) của các bệnh viện và các trung tâm y tế trên địa bàn.Riêng tổng khối lượng chất thải rắn y tế năm 2008 của thành phố Quy Nhơn, theo sốliệu thống kê của Công ty TNHH Môi Trường Đô Thị Quy Nhơn là 52 Tấn/năm vàđược trình bày chi tiết tại bảng Tuy nhiên, theo chiến lược quản lý chất thải rắn đô thị
và công nghiệp, khối lượng chất thải rắn bệnh viện được tính bình quân theo giườngbệnh là 1,8-2,2 kg/ngày, trong đó chất thải y tế chiếm từ 20-25% Với tính chất đô thịcủa thành phố Quy Nhơn, nếu lấy chỉ số phát thải chất thải rắn bệnh viện bình quântheo giường bệnh là 1,9 kg/ngày thì hiện tại tổng khối lượng chất thải rắn bệnh việnchất thải hàng ngày trên địa bàn thành phố Quy Nhơn là khoảng 2888 kg/ngày (tươngđương 1054,12 tấn /năm)
Bảng III.8 Thống kê khối lượng chất thải y tế phát thải trên thành phố Quy Nhơn
tế năm 2008 (kg)
Trang 349 Trung Tâm Y Tế Dự phòng 417
(Nguồn : Sở Tài Nguyên và Môi Trường Bình Định )
Bảng III.9 Thành phần, tính chất chất thải rắn y tế
Tỷ trọng trung bình của rác thải y
c) Chất thải rắn công nghiệp và xây dựng :
Bao gồm các phế thải từ vật liệu, nhiên liệu, phế thải từ các hoạt động công nghệtrong sản xuất công nghiệp và các phế thải từ quá trình xây dựng Riêng đối với chấtthải rắn công nghiệp, theo tài liệu báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bình Định năm
1999 của Sở Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường tỉnh Bình Định (hiện đã tách thành
Sở Khoa Học Công Nghệ và Sở Tài Nguyên và Môi Trường ), Khối lượng chất thải rắncông nghiệp phát thải trên địa bàn thành phố Quy Nhơn là khoảng 29029 tấn/ năm.Thành phần chất thải rắn công nghiệp rất phức tạp, đặc biệt là CTR công nghiệp nguy
Trang 35hại, phụ thuộc vào nguyên liệu sản xuất, sản phẩm tạo thành của từng công nghệ và cácdịch vụ có liên quan.Chất thải rắn công nghiệp nguy hại chiếm 2-25% tổng lượng chấtthải nguy hại Công nghiệp thành phố Quy Nhơn chủ yếu là công nghiệp khai thác đá,chế biến gỗ, thủy sản,… lượng chất thải rắn công nghiệp nguy hại được thể hiện ở bảng
(%)
Tốc độ phát triển xây dựng đô thị Quy Nhơn là khá cao đến 7%, do việc xây dựng ởđây đang được chú trọng, lượng CTR xây dựng năm 2007 là 24248 tấn
III.3.2 Quản lý bằng công cụ phí vệ sinh
III.3.2.1 Căn cứ áp dụng phí vệ sinh
a) Căn cứ pháp lý.
Trước tiên để có thể tính phí hay thuế đối với một loại hình dịch vụ, kinh doanhnào thì cũng cần phải có một hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành và văn bản quyđịnh mức thu cụ thể đối với từng đối tượng Đối với quản lý chất thải rắn cũng vậy, hệthống văn bản được sử dụng thường là các quyết định của UBND tỉnh, thành phố vềviệc thu phí đối với từng loại Các văn bản có thể kể đến như:
- Luật Bảo vệ môi trường ngày 29/11/ 2005
- Quyết định số 23/2008/QĐ-UBND ngày 08/7/2008 của UBND Tỉnh
Trang 36Ngoài ra còn một số các văn bản khác quy định về việc sử dụng phí vệ sinh saukhi thu về Trên cơ sở các hệ thống văn bản tương đối đầy đủ như vậy tạo điều kiệnthuận lợi hơn cho việc thực hiện thu và sử dụng nguồn tài chính này.
b) Căn cứ thực tế và lý thuyết.
Với đặc trưng là thành phố loại II đang trên đà phát triển, mật độ dân số lại ở mứccao do đó lượng chất thải lớn, hơn nữa còn có một số khu công nghiệp, trường học, cơquan hành chính sự nghiệp trên địa bàn thành phố cũng tương đối lớn do vậy trongcông tác quản lý của mình UBND tỉnh cần có những biện pháp nhằm làm giảm sự tácđộng của các hoạt động của con người đến môi trường, trong đó sự tác động của chấtthải rắn Do vậy một biện pháp được coi là hiệu quả là sử dụng công cụ kinh tế mà cụthể là phí vệ sinh trong việc quản lý chất thải
Phí vệ sinh là loại phí được tính trên từng hộ gia đình, từng đơn vị hành chính và
là loại phí cũng dễ thực hiện do nó được xác định trên cơ sở khối lượng hay thể tíchcủa chất thải, thành phần cũng như tính chất của nó Ngoài ra khi mức sống của ngườidân được nâng cao thì họ mong muốn được sống trong một môi trường trong lànhtrong khi đó phí vệ sinh lại nhằm đạt hiệu qủa môi trường Trên cơ sở đó thì có thể tiếnhành áp dụng công cụ phí vệ sinh
Tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế là một trong những giải pháp đượckhuyến nghị nhằm bảo vệ môi trường, góp phần đạt mục tiêu phát triển bền vững Theophân tích của các chuyên gia, công cụ kinh tế có vai trò quan trọng trong quản lý nguồntài nguyên và bảo vệ môi trường, bởi tác dụng tăng hiệu quả quản lý, khuyến nghị đổimới và tăng khả năng tiếp nhận, xử lý thông tin
III.3.2.2 Cơ sở tính phí vệ sinh.
Mức phí thu tại thành phố được áp dụng theo đơn giá do UBND tỉnh ban hành.Đơn giá phí được tính dựa vào đối tượng xả thải (cơ quan hành chính, các bệnh viện,doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, bến xe, chợ, các hộ dân cư…) đồng thời cũng dựavào tính chất, thành phần và khối lượng chất thải được thải ra.Tiền vệ sinh bao gồmtiền công thu gom, vận chuyển và xử lý
Phí vệ sinh là công cụ kinh tế được sử dụng ở khu vực đô thị, quy định thu phí doUBND thành phố hoặc các tỉnh quy định, do vậy mức thu phí có thể khác nhau và phụthuộc vào từng địa phương Mọi khoản phí công ty thu được phải nộp vào ngân sáchnhà nước Các khoản thu phí sau đó sẽ được chuyển từ ngân sách nhà nước cho công ty
để thanh toán các dịch vụ Được hình thành trên cơ sở thỏa thuận của cơ chế thị trường
Trang 37cung và cầu về dịch vụ môi trường, những vấn đề bức bách cần phải giải quyết có tínhchất cộng đồng hay cục bộ địa phương
Phí vệ sinh là một khoản thu nhằm bù đắp một phần chi phí đầu tư ban đầu choquản lý của tỉnh Do vậy phí vệ sinh nhằm đạt được hai mục tiêu cơ bản
- Là công cụ góp phần bảo vệ môi trường và khuyến khích người dân giảm
III.3.2.3 Cở chế thu hồi và sử dụng phí.
a) Quản lý trong quá trình quy định giá phí.
Hiện nay, đơn vị làm dịch vụ mà cụ thể là Công ty TNHH Môi Trường & Đô Thịđều thực hiện cân đối thu chi hàng năm và xem xét điều chỉnh mức thu phí vệ sinhhàng năm cho phù hợp với từng thời kỳ
Giá phí mà công ty đề xuất cần được sự thông qua của Hội đồng nhân dân(HĐND) tỉnh Bình Định nhằm tránh tình trạng đơn vị tự quy định khoản thu, đồng thờiđảm bảo tính công bằng và sức thuyết phục đối với người dân thị xã Trước khi đưa raquyết định thông qua giá phí, HĐND tỉnh phối hợp cùng các cơ quan có liên quan xemxét cân nhắc các đề xuất và đi đến thống nhất giá phí
Sau khi HĐND thông qua giá phí, UBND là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định phêduyệt giá phí và Công ty TNHH Môi Trường & Đô Thị sẽ thi hành thu với đơn giá đãthông qua
b) Quản lý trong quá trình thu phí.
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định quản lý thu phí là UBND tỉnh
Bình Định Trong quá trình thu phí, tổ trưởng tổ quét rác là người trực tiếp thu phí tại
địa bàn tổ phụ trách Việc thu phí được thực hiện theo từng quý, tháng trong năm vàngười thu phí có trách nhiệm đưa biên lai cho đối tượng nộp phí và giữ lại cuống biên
lai Hàng tháng, quý, năm tiền thu phí được quyết toán đầy đủ và công khai Cuối kỳ
căn cứ vào kế hoạch thu chi và kết quả thực thu, công ty sẽ tiến hành họp tổng kết
c) Quản lý qúa trình sử dụng phí.
Trang 38Như đã trình bày trong các chương trước Công ty TNHH Môi Trường & Đô Thị
là một doanh nghiệp công ích nhà nước Mục đích hoạt động hàng đầu của công tykhông phải vì mục tiêu lợi nhuận mà là vì mục tiêu phục vụ các hoạt động kinh tế xãhội Sản phẩm tạo ra của công ty là cung cấp dịch vụ vệ sinh, dịch vụ hữu hình cho thị
xã đồng thời công ty cũng thực hiện thu phí vệ sinh khi cung cấp dịch vụ
Phí là một khoản thu có tính chất thu hồi một phần ngân sách nhà nước chi chohoạt động quản lý chất thải rắn, do đó việc sử dụng các khoản thu phí cần phải dành chitrở lại cho chính hoạt động đó Toàn bộ nguồn thu từ phí được sử dụng vào mục đíchbảo vệ môi trường và được sử dụng như sau: Tổng mức thu hàng tháng chi bồi dưỡngcho người lao động trực tiếp làm vệ sinh, thu phí vệ sinh và mua biên lai, chứng từ, sổsách phục vụ cho thu phí vệ sinh, sửa chữa, mua sắm trang thiết bị trực tiếp phục vụviệc thu gom vận chuyển, xử lý rác thải đô thị và cải tạo vỉa hè, trồng cây xanh đườngphố
III.3.2.4 Mức phí vệ sinh được áp dụng:
Công tác quản lý chất thải rắn của Thành phố do Công ty TNHH Môi Trường ĐôThị Quy Nhơn trực tiếp quản lý Công ty thực hiện quản lý bằng các công cụ kinh tế làchính, trong đó công ty dùng phí vệ sinh là công cụ quản lý của mình
Công tác quản lý chất thải rắn ở Công ty đã đem lại những hiệu quả nhất định trongvấn đề môi trường cũng như trong vấn đề kinh tế Thông qua hình thức thu phí vệ sinhđối với từng hộ gia đình, từng cơ quan, công sở… một mặt nhằm bù đắp lại những chiphí cho công ty thì cũng khuyến khích người dân giảm lượng phát thải ngay từ trong sựtiêu thụ của mình
Phí vệ sinh là một công cụ kinh tế được công ty sử dụng hiệu quả trong công tác quản
lý của mình Mức phí vệ sinh được quy định đối với từng đối tượng, từng loại chất thảikhác nhau.Công ty đã áp dụng công cụ kinh tế cụ thể là mức thu phí vệ sinh rác thải(kèm theo quyết định số 23/2008/QĐ-UBND)
Bảng III.13 Mức phí vệ sinh
phố quy nhơn
I Đối với hộ gia đình cá nhân
Đường được thảm nhựa, thâm nhập
nhựa hoặc bê tông xi măng
Đồng/hộ/tháng 13000
Trang 39Đường chưa được thảm nhựa, thâm
nhập nhựa hoặc chưa được bê tông xi
măng và các đường nội bộ ở các khu
quy hoạch dân cư
II Đối với các hộ kinh doanh buôn bán nhỏ
1 Hộ kinh doanh buôn bán nhỏ tại nhà
với hộ kinh doanh buôn bán cố
b Mức thu đơn vị thu gom rác thải
thu đối với ban quản lý, đơn vị quản
lý chợ.
III Trường học, nhà trẻ,trụ sở làm việc
của các doanh nghệp, cơ quan hành
chính sự nghiệp
Riêng đối với các cơ sở dịch vụ khác
như căn tin, kí túc xá…trong các cơ
Trang 40quan, đơn vị, trường học
IV Đối với các cửa hàng, khách sạn,
nhà hàng kinh doanh ăn uống
Đồng/hộ/tháng 130000
V Đối với các nhà máy, bệnh viện, cơ
sở sản xuất, nhà ga, bến tàu ,bến xe.
III.3.3 Công tác thu gom và vận chuyển chất thải rắn tại thành phố.
III.3.3.1 Hiện trạng thu gom chất thải rắn sinh hoạt
a) Hiện trạng thu gom chất thải rắn sinh hoạt:
Hiện tại Công ty TNHH môi trường đô thị Quy Nhơn (URENCO) là đơn vị hoạtđộng công ích chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ chất thải rắn toàn bộ khu vực thànhphố Quy Nhơn và một số khu vực lân cận Theo số liệu thống kê của công ty đến tháng2/2008, có khoảng 27649 số hộ gia đình (chiếm 55% số hộ khu vực nội thị) và 250 cơquan có hợp đồng thu gom rác với công ty Số công nhân trực tiếp tham gia thu gomchất thải rắn sinh hoạt hiện có là 260 người, chia làm 5 đội, gồm 4 đội vệ sinh môitrường số 1,2,3,4 và một đội vệ sinh môi trường mặt nước với tổng cộng 254 xe đẩy
sáng làm việc từ 3h30 phút, và ca chiều từ 15 h 30 phút
Hàng ngày chất thải rắn được thu gom bằng các xe đẩy tay và đưa tới các điểm tậpkết trung chuyển tạm thời để các phương tiện vận tải đến chuyên chở về bãi xử lý, chônlấp chất thải rắn của thành phố Hiện tại việc thu gom CTRSH ở nội thành thành phốQuy Nhơn được tiến hành đến từng hẻm phố, triền núi ven sông và dọc theo bờ biểnvới tỷ lệ thu gom khá cao đạt xấp xỉ 85% năm 2003, nhưng tại khu vực 4 xã đảo, bánđảo của thành phố tỷ lệ thu gom này chỉ đạt khoảng 60%
Nhìn chung công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn hiện vẫn còn gặpnhiều khó khăn, nhất là đối với những ngỏ hẻm nhỏ mà phương tiện thu gom khôngvào được, người công nhân bắt buộc phải vào nhặt rác và đưa ra xe đẩy tay đê bênngoài nên rất vất vả Ngoài ra do thiếu ý thức nên một lượng chất thải rắn sinh hoạtngười dân đổ xuống các ao, đầm, kênh mương, ven bờ biển gây nhiều khó khăn chocông tác thu gom và ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị của thành phố
Quy trình thu gom có 3 giai đoạn sau:
Giai đọan 1: đây là giai đọan thu gom thô sơ của lực lượng công nhân vệ sinh môitrường, phương tiện thu gom là xe cải tiến đẩy tay Họ quét và thu gom rác trên cáctuyến đường, hộ dân, chợ rồi đưa đến các điểm tập kết Công việc quét dọn,thu gom