Trong nền sản xuất xã hội của bất kỳ một quốc gia nào, tiền lương luôn luôn là một vấn đề “ thời sự nóng bỏng”. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tiền lương, sau quá trình học tập tại trường Cao Đẳng Ngoại Ngữ Công Nghệ Việt Nhật và thực tập tại công ty giấy Đông Á, em đã lựa chọn đề tài: “ Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý tiền lương cho công ty giấy Đông Á.
Trang 1Chương 1 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong nền sản xuất xã hội của bất kỳ một quốc gia nào, tiền lương luôn luôn làmột vấn đề “ thời sự nóng bỏng” Nó hàm chứa trong đó nhiều mối quan hệ giữasản xuất và phân phối trao đổi, giữa tích luỹ và tiêudùng, giữa thu nhập và nângcao mức sống của các thành phần dân cư
Khi nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấpsang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp phải tựchủ trong sản xuất kinh doanh, tự hạch toán chi phí mà trong đó chi phí tiền lươngchiếm phần không nhỏ, thì tiền lương càng trở thành vấn đề quan trọng trong cácdoanh nghiệp đó Nó là nhân tố kích thích người lao động hăng hái làm việc nhằmđạt hiểu quả kinh tế cao trong quá trình sản xuất kinh doanh
Tiền lương đối với người lao động là phần thu nhập chủ yếu, là nguồn sống, làđiều kiện để người lao động tái sản xuất sức lao động mà họ đã hao phí Đối vớidoanh nghiệp thì tiền lương được coi là một khoản chi phí trong quá trình sản xuất
và được tính vào giá thành sản phẩm
Thực tế đã chứng minh rằng ở doanh nghiệp nào có chính sách tiền lương đúngđắn, tiền lương mà người lao động nhận được xứng đáng với công sức mà họ đã bỏ
ra thì người lao động trong doanh nghiệp đó sẽ hăng hái lao động, tích cực cải tiến
kỹ thuật, sáng tạo đem lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cao Ngược lại nếudoanh nghiệp không có chính sách tiền lương tốt, người lao động được trả lươngkhông xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra hoặc không công bằng trong việc trảlương thì sẽ không kích thích được người lao động thậm chí họ sẽ bỏ việc
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tiền lương, sau quá trình học tập tạitrường Cao Đẳng Ngoại Ngữ Công Nghệ Việt Nhật và thực tập tại công ty giấyĐông Á, em đã lựa chọn đề tài: “ Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quản
lý tiền lương cho công ty giấy Đông Á
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Các doanh nghiệp lựa chọn hình thức trả lương hợp lý có thể tiết kiệm được chi phítiền lương mà vẫn kích thích được người lao động, khi tiền lương được trả hợp lý
Trang 2sẽ tạo động lực cho người lao động làm việc tốt hơn và giá trị thặng dư do lao độngcủa họ đem lại là vô cùng to lớn Vì vậy không ngừng hoàn thiện công tác trảlương là yêu cầu khách quan đối với mỗi doanh nghiệp.
Với nhận thức đó đề tài: Hoàn thiện công tác trả lương tại Công ty giấyĐông Á nhằm mục đích sau:
Về lý thuyết: Hệ thống hoá kiến thức về tiền lương
Về thực tiễn: áp dụng lý thuyết phân tích, đánh giá công tác trả lương củaCông ty Giấy Đông Á đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trả lương tạiCông ty
1.3 Lịch sử nghiên cứu
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1.4.1 Địa điểm: Công ty giấy Đông Á- Bắc Ninh
1.4.2 Thời gian: Tù 1 tháng 4 đến 18 tháng 4 năm 2010
1.4.3 Nội dung: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tiền lương tại
công ty giấy Đông Á
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý
tiền lương
Trang 3CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm tiền lương
Tiền lương phản ánh nhiều mối quan hệ trong kinh tế xã hội Trong nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung, tiền lương không phải là giá cả của sức lao động, không phải
là hàng hoá cả trong khu vực sản xuất kinh doanh cũng như khu vực quản lý nhànước, quản lý xã hội
Trong kinh tế thị trường, tiền lương được hiểu là: "Tiền lương được biểu hiện bằngtiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động Được hình thành thôngqua quá trình thảo luận giữa hai bên theo đúng quy định của nhà nước" Thực chấttiền lương trong nền kinh tế thị trường là giá cả của sức lao động, là khái niệmthuộc phạm trù kinh tế, xã hội, tuân thủ theo nguyên tắc cung cầu giá cả thị trường
và pháp luật hiện hành của nhà nước Tiền lương là một khái niệm thuộc phạm trùphân phối, tuân thủ những nguyên tắc của quy luật phân phối
Tiền lương dưới chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN)
Trong thời kỳ TBCN, mọi tư liệu lao động điều được sở hữu của các nhà tư bản,người lao động không có tư liệu lao động phải đi làm thuê cho chủ tư bản, do vậytiền lương được hiểu theo quan điểm sau: “Tiền lương là giá cả của sức lao động
mà người sử dụng lao động trả cho người lao động” Quan điểm về tiền lương dướiCNTB được xuất phát từ việc coi sức lao động là một hàng hoá đặc biệt được đưa
ra trao đổi và mua bán một cách công khai
Tiền lương luôn được coi là đối tượng quan tâm hàng đầu của người lao động vàcủa các doanh nghiệp Đối với người lao động thì tiền lương là nguồn thu nhập chủyếu của bản thân người đó và với gia đình họ, còn đối với doanh nghiệp thì tiềnlương lại là một yếu tố nằm trong chi phí sản suất
Trong mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau thì quan niệm
về tiền lương cũng có sự thay đổi để phù hợp với hình thái kinh tế xã hội
2.1.2 Bản chất, chức năng của tiền lương.
Trang 42.1.2.1 Bản chất của tiền lương
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung tiền lương có đặc điểm sau :
Tiền lương không phải giá cả của sức lao động, không phải là hàng hoá cả trong khu vực sản xuất kinh doanh cũng như quản lý nhà nước xã hội
Tiền lương là một khái niệm thuộc phạm trù phân phối, tuân thủ những nguyên tắccủa quy luật phân phối
Tiền lương được hiểu là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền
tệ, được nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân - viên chức - lao động phùhợp với số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến, tiền phảnánh việc trả lương cho công nhân - viên chức - lao động dựa trên nguyên tắc phânphối theo lao động
Tiền lương được phân phối công bằng theo số lượng, chất lượng lao động của người lao động đã hao phí và được kế hoạch hoá từ trung ương đến cơ sở Được nhà nước thống nhất quản lý
Từ khi nhà nước ta chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Do
sự thay đổi của quản lý kinh tế, do quy luật cung cầu, giá cả Thì khái niệm về tiền lương được hiểu một cách khái quát hơn đó là: "Tiền lương chính là giá cả của sức lao động, là khái niệm thuộc phạm trù kinh tế - xã hội, tuân thủ các nguyên tắc cung cầu, giá cả thị trường và pháp luật hiện hành của nhà nước xã hội chủ nghĩa"
Đi cùng với khái niệm về tiền lương còn có các loại như tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế, tiền lương tối thiểu, tiền lương kinh tế, vv …
Tiền lương danh nghĩa là một số lượng tiền tệ mà người lao động nhận từ người sửdụng lao động, thông qua hợp đồng thoả thuận giữa hai bên, theo quy định của pháp luật Thực tế, ta thấy mọi mức trả cho người lao động đều là danh nghĩa.Tiền lương thực tế được xác nhận bằng khối lượng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ
mà người lao động nhận được qua tiền lương danh nghĩa
Tiền lương thực tế được xác định từ tiền lương danh nghĩa bằng công thức :
Trang 5=
IGDNIG
Trong đó: ILTT : Chỉ số tiền lương thực tế
ILDN : Chỉ số tiền lương danh nghĩa
Nếu tiền lương danh nghĩa không thay đổi Chỉ số giá cả thay đổi do lạm phát, giá
cả hàng hoá tăng, đồng tiền mất giá, thì tiền lương thực tế có sự thay đổi theo chiềuhướng bất lợi cho người lao động
Tiền lương tối thiểu: Theo nghị định 197/CP của Chính phủ ngày 31/12/1994 về việc thi hành bộ luật lao động ghi rõ: "Mức lương tối thiểu là mức lương của ngườilao động làm công việc đơn giản nhất, (không qua đào tạo, còn gọi là lao động phổthông), với điều kiện lao động và môi trường bình thường " Đây là mức lương thấp nhất mà nhà nước quy định cho các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trả cho người lao động
Tiền lương kinh tế là số tiền trả thêm vào lương tối thiểu để đạt được sự cung ứng lao động theo đúng yêu cầu của người sử dụng lao động
Về phương diện hạch toán, tiền lương của người lao động trong các doanh nghiệp sản xuất được chia làm 2 loại tiền lương chính và tiền lương phụ
Trong đó tiền lương chính là tiền trả cho người lao động trong thời gian họ thựchiện nhiệm vụ chính của mình, bao gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấpkèm theo Còn tiền lương phụ là tiền trả cho người lao động trong thời gian họthực hiện công việc khác ngoài nhiệm vụ chính của họ
2.1.2.2 Chức năng của tiền lương.
Trang 6Tiền lương là phần thu nhập chủ yếu của người lao động do vậy khi thực hiện việc chi trả lương chúng ta cần phải biết được các chức năng của tiền lương như sau :
2.1.2.3 Chức năng thước đo giá trị của sức lao động
Cũng như mối quan hệ của hàng hoá khác sức lao động cũng được trả công căn cứvào giá trị mà nó đã được cống hiến và tiền lương chính là biểu hiện băng tiền củagiá trị sức lao động trong cơ chế thị trường Ngày nay ở nước ta thì tiền lương cònthể hiện một phần giá trị sức lao động mà mỗi cá nhân đã được bỏ ra trong quátrình sản xuất kinh doanh
2.1.2.4Chức năng duy trì và mở rộng sức lao động
Đây là chức năng cơ bản của tiền lương đối với người lao động bởi sau mỗi quátrình sản kinh doanh thì người lao động phải được bù đắp sức lao động mà họ đã
bỏ ra để có thể bù đắp lại được, họ cần có thu nhập mà bằng tiền lương cộng vớicác khoản thu khác (mà tiền lương là chủ yếu) do vậy mà tiền lương phải giúpngười lao động bù đắp lại sức lao động đã hao phí để họ có thể duy trì liên tục quátrình sản xuất kinh doanh
Mặt khác do yêu cầu của đời sống xã hội nên việc sản xuất không ngừng tăng lên
về quy mô, về chất lượng để đáp ứng được yêu cầu trên thì tiền lương phải đủ để
họ duy trì và tái sản xuất sức lao động với ý nghĩa cả về số lượng và chất lượng
2.1.3 Chức năng động lực đối với người lao động
Để thực hiện tốt chức năng này thì tiền lương là phần thu chủ yếu trong tổng số thunhập của người lao động, có như thế người lao động mới dành sự quan tâm vào công việc nghiên cứu tìm tòi các sáng kiến cải tiến máy móc thiết bị và quy trình công nghệ, nâng cao trình độ tay nghề làm cho hiệu quả kinh tế cao
2.1.4 Chức năng kích thích và thúc đẩy phân công lao động xã hội
Khi tiền lương là động lực cho người lao động hăng hái làm việc sản xuất thì sẽlàm cho năng xuất lao động tăng lên, đây là tiền đề cho việc phân công lao động
Trang 7xã hội một cách đầy đủ hơn Người lao động sẽ được phân công làm những côngviệc thuộc sở trường của họ
Ngoài các chức năng trên tiền lương còn góp phần làm cho việc quản lý lao độngtrong đơn vị trở nên dễ dàng và tiền lương còn góp phần hoàn thiện mối quan hệ
xã hội giữa con người với con người trong quá trình lao động
2.1.5 Các hình thức tiền lương trong doanh nghiệp.
2.1.5.1 Các nguyên tắc trả lương trong doanh nghiệp.
Để có thể tiến hành trả lương một cách chính xác và có thể phát huy được một cách hiệu quả nhất những chức năng cơ bản của tiền lương thì việc trả công lao động cần phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
- Trả lương ngang nhau cho lao động ngang nhau
Đây là nguyên tắc cơ bản hàng đầu, nó phản ánh việc phân phối theo lao động,dựa trên số lượng và chất lượng lao động, đảm bảo tính công bằng, không phânbiệt tuổi tác, giới tính dân tộc
- Đảm bảo tăng tốc độ, tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc độ tăng tiềnlương bình quân
Đây là nguyên tắc làm cơ sở cho việc hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ
để tái sản xuất mở rộng, tăng năng xuất lao động là điều kiện để phát triển sảnxuất
Tăng tiền lương bình quân là để tăng sự tiêu dùng
Tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, vì khi người lao độnglàm việc sẽ tiêu hao sức lao động do đó cần có sự bù đắp phần hao phí đó Vì vậytrong tiền lương phải tính đến điều đó để duy trì sức lao động bình thường chongười lao động để họ tiếp tục làm việc
- Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa các nghành, các lĩnh vựckinh tế quốc dân
Nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực cũng như tầm quan trọng về ý nghĩa của nó (tiền lương), trong nền kinh tế quốc dân
Trang 8Nguyên tắc này hiện nay chúng ta chưa vận dụng một cách đầy đủ, dẫn đến bậc lương cao Tay nghề giỏi bỏ doanh nghiệp đi làm ngoài, nơi có tiền lương cao hơn Hoặc chuyển từ ngành này sang ngành khác, gây mất cân đối về lao động trong các ngành.
2.1.5.2 Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp hiện nay.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp mà có hình thức trả lươngthích hợp
a) Trả lương theo thời gian:
Đây là hình thức trả lương căn cứ vào thời gian lao động và cấp bậc để tính lươngcho từng người lao động Hình thức này thường áp dụng chủ yếu cho lao động giántiếp, còn lao động trực tiếp thường áp dụng đối với những bộ phận không địnhmức được sản phẩm
Hình thức này có 2 cách:
Trả lương theo thời gian lao động giản đơn
Trả lương theo lao động giản đơn: Đây là phương thức mà tiền lương nhận được của người lao động tuỳ thuộc vào cấp bậc và thời gian làm việc thực tế nhiều hay
ít, bao gồm:
Lương tháng: Là lương trả cho người lao động theo tháng, theo bậc lương đã sắp xếp và các khoản phụ cấp (nếu có) áp dụng đối với người lao động không xác định chuẩn xác được khối lượng công trình hoàn thành
Ta có:
Lương tháng = Mức lương theo bảng
lương của Nhà nước +
Các khoản phụ cấp(nếu có)
Lương tuần = Tiền lương ngày x số ngày làm việc/tuần
Lương ngày: Là lương trả cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế của họ
Lương ngày = Lương tháng
26 ngày hoặc 22 ngày làm việc tuỳ theo chế độ
Trang 9Lương công nhật: Là tiền lương thoả thuận giữa người sử dụng lao động với người lao động, làm việc ngày nào hưởng lương ngày ấy theo quy định đối với từng loại công việc.
Hình thức trả lương theo thời gian có ưu điểm, để tính toán giản đơn
Nhưng mang tính bình quân, thường không khuyến khích được tính tích cực của người lao động, ít quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động
Trả lương theo thời gian có thưởng:
Thực chất là sự kết hợp trả lương theo thời gian giản đơn với tiền thưởng, khiđạt được những chỉ tiêu về số lượng hoặc chất lượng và điều kiện thưởng quy định
Lương tháng = Tiền lương theo
thời gian lao động + Tiền thưởngHình thức này không những phản ánh được trình độ thành thạo, thời gian thực
tế mà còn gắn liền với những thành tích công tác của từng người thông qua chỉ tiêu xét thưởng đã đạt được Do đó nó là biện pháp khuyến khích vật chất đối với người lao động, tạo cho họ tinh thần trách nhiệm cao với công việc
b) Trả lương sản phẩm:
Đây là hình thức trả lương cho người lao động theo số lượng và chất lượng công việc hoàn thành Là hình thức trả lương khá phổ biến hiện nay trong các đơn vị sảnxuất kinh doanh Tiền lương của công nhân phụ thuộc vào đơn giá tiền lương của đơn vị sản phẩm và số sản phẩm hợp quy cách đã được sản xuất ra
Hình thức trả lương theo sản phẩm khá phù hợp với nguyên tắc phân phối theo lao động, gắn thu nhập với người lao động với kết quả sản xuất kinh doanh, khuyến khích người lao động hăng say lao động Hình thức trả lương này tỏ ra hiệu quả hơn so với việc trả lương theo thời gian
Công thức tính:
LSP = qigi Trong đó:
LSP: Tiền lương theo sản phẩm
qi : Số lượng sản phẩm loại i sản xuất ra
Trang 10gi: Đơn giá tiền lương một sản phẩm loại i
Tiền lương sản phẩm trực tiếp cá nhân được tính đơn giản dễ hiểu, khuyến khích người lao động nâng cao trình độ lành nghề, nâng cao năng xuất lao động nhằm tăng thu nhập Tuy nhiên chế đọ lương này làm cho người lao động ít quan tâm đến máy móc thiết bị, chỉ chạy theo số lượng, không chú ý đến chất lượng, tiết kiệm nguyên vật liệu và không chú ý đến tập thể
+ Trả lương theo sản phẩm tập thể: Hình thức tiền lương này áp dụng đối với công
việc yêu cầu một nhóm người phối hợp thực hiện như lắp ráp thiết bị, sản xuất các
bộ phận, làm việc theo dây chuyền, sửa chữa cơ khí
Trường hợp công việc đa dạng có thể tiến hành theo mức lao động trên cơ sở khoa học, nhưng thực tiễn tiền lương dựa trên cơ sở kinh nghiệm đơn giá tiền lương Cách tính như sau:
Nếu tổ chức sản xuất hoàn thành nhiều sản phẩm trong kỳ:
Đg = LCB x QoNếu tổ hoàn thành sản phẩm trong kỳ:
Đg = LCB x ToTrong đó:
Đg : Đơn giá tiền lương sản phẩm trả theo tổ LCB: Tiền lương cấp bậc của công nhân
Qo : Mức lương của cả tổ
To : Mức thời gian của cả tổ
Trang 11Tiền lương thực tế nhận được cả tổ:
L1 = Q1 x T1Trong đó:
L1: Tiền lương thực tế nhận được cả tổ nhận được
Q1: Số lượng thực tế tổ hoàn thành
T1: Mức thời gian thực tế của tổ
Vấn đề quan trọng đặt ra với hình thức tiền lương trả theo sản phẩm là xây dựng quy chế, phương thức phân phối tiền lương đến từng người trong nhóm
Tiền lương theo sản phẩm tập thể có tác dụng khuyến khích mỗi người lao động trong nhóm nâng cao trách nhiệm với tập thể, quan tâm kết quả cuối cùng của nhóm, khuyến khích các tổ làm việc theo mô hình tổ chức lao động tự quản
Nhưng sản phẩm của mỗi lao động không trực tiếp quyết định đến tiền lương của
họ, nên ít kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân Mặt khác chưa tính được tình hình của từng người lao động cũng như cố gắng của mỗi người nên chưa thể hiện được đầy đủ phân phối theo số lượng và chất lượng lao động
+ Trả lương theo sản phẩm gián tiếp: áp dụng tiền lương cho những người làmcông việc phục vụ, cho hoạt động công nhân chính
- Tiền lương của công nhân phụ được tính bằng cách nhân đơn giá tiền vớilương cấp bậc của công nhân phục vụ với tỷ lệ % hoàn thành định mức sản lượngbình quân của công nhân chính
- Hình thức tiền lương được tính bằng công thức:
Lp = LCB x TCTrong đó:
Lp : Tiền lương của công nhân phục vụLCB : Mức lương phụ cấp của công nhân
TC : Tỉ lệ % hoàn thành định mức sản lượng của công nhânchính
Trang 12TC =
Sản lượng thực hiện
Định mức sản xuất Cách tính tiền lương này kích thích công nhân phục vụ tốt hơn cho công nhân chính nâng cao năng suất lao động Nhưng vì tiền lương phụ thuộc vào kết quả của công nhân chính, do đó việc trả lương chưa được chính xác, chưa được đảmbảo đúng hao phí mà công nhân phụ bỏ ra
+ Tiền lương sản phẩm có thưởng:
Là tiền lương trả theo sản phẩm kết hợp với tiền thưởng khi công nhân thực hiện được các chỉ tiêu trên
Trả lương theo sản phẩm có thưởng gồm:
- Phần trả theo sản phẩm cố định là số lượng sản phẩm hoàn thành.
- Phần tiền thưởng được tính dựa vào mức độ hoàn thành vượt mức các chỉ
tiêu (thời gian, số lượng, chất lượng)
Tiền lương sản phẩm có thưởng được tính theo công thức:
LTT = L(M x h)
L + 100
Trong đó:
L : Tiền lương sản phẩm có thưởng
L : Tiền lương trả theo đơn giá cố định
M : Tỉ lệ % tiền lương (tính theo lương sản phẩm với đơn giá
cố định)
H: Tỉ lệ % hoàn thành kế hoạch vượt mức được tính thưởng.Chế độ tiền lương này kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động, chấtlượng sản phẩm, rút ngắn thời gian hoàn thành các mức lao động Tăng thu nhậpcho người lao động, nâng cao đời sống vật chất
+ Tiền lương theo sản phẩm luỹ tiến
Là hình thức trả lương dùng bằng hai loại đơn giá
Đơn giá cố định dùng để trả cho những sản phẩm thực tế đã hoàn thành.Đơn giá luỹ tiến dùng để tính tiền lương cho những sản phẩm vượt định mứcđơn giá cố định nhân với tỉ lệ tăng đơn giá Tỉ lệ đánh giá được quy định
Trang 13Khi tổ chức tiền lương theo đơn giá luỹ tiến phải tuân theo nguyên tắc sau:Xác định đúng đắn tỉ lệ tăng đơn giá tiền lương đảm bảo chi phí cố định.Phải giảm nhiều hơn hoặc bằng mức lương tăng lên.
Số lượng sản phẩm vượt mức luỹ tiến phải tính theo kết quả cả tháng tránhtình trạng có ngày vượt định mức được hưởng lương luỹ tiến, ngày không ổn địnhmức hưởng lương cố định, do vậy mỗi tháng cộng lại vẫn không hoàn thành địnhmức
Hình thức này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp cần hoàn thành gấpmột số công việc trong một khoảng thời gian nhất định (ví dụ để kịp giao sản phẩmcho khách hàng) Với cách trả lương này, tốc độ tăng tiền lương có thể vượt trêntốc độ tăng sản phẩm và tạo ra tình hình vượt chi quỹ lương
c) Trả lương khoán:
Hình thức này áp dụng với các công việc nếu giao từng chi tiết, bộ phận sẽ không
có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng công việc cho cả nhóm nhân viên hoànthành trong một thời gian nhất định Tiền lương khoán áp dụng cho công việc đơngiản, có tính chất đột xuất mà xét không có vụ lợi về mặt kinh tế khi chúng ta tínhtheo tiền lương sản phẩm cá nhân Hình thức khoán gọn áp dụng cho những doanhnghiệp mà quy trình sản xuất trải qua nhiều giai đoạn công nghệ nhằm khuyếnkhích người công nhân quan tâm đến sản phẩm cuối cùng
Hình thức lương khoán áp dụng trong xây dựng cơ bản, trong nông nghiệp
và sửa chữa cơ khí
Tiền lương khi nào được tính: