DẤU HIỆU HẬU QUẢ “GÂY ẢNH HƯỞNG XẤU ĐẾN AN NINH, TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI”
Thực tiễn áp dụng dấu hiệu hậu quả “gây ảnh hưởng xấu ến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” c a tội gây rối trật tự công cộng
Hiện nay, việc giải quyết các vụ án thường gặp khó khăn do nhận định chung về hậu quả "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" Đặc biệt, các bản án của Tòa án thể hiện quan điểm khác nhau khi xem xét dấu hiệu này Dưới đây, tác giả sẽ trình bày một số vụ án điển hình để minh họa cho vấn đề này.
Bản án số 361/2019/HS-PT ngày 28/6/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 22-4-2018, tại hẻm 237 T, Phường X1, quận Y, TP Hồ Chí Minh, Trần Thế T1 và Nguyễn Minh S xảy ra mâu thuẫn liên quan đến cá cược đá gà, dẫn đến cãi vã và T1 đã rời đi Lê Kim Long V (tự V mụn) điều khiển xe Honda SH đến hẻm 237 T và gặp Lê Quốc B cùng Phan Văn T1, người đã thông báo rằng mình say rượu và vừa cãi nhau với S Sau đó, V đã gọi điện cho T1 để hỏi lý do đến hẻm của mình gây rối, và T1 cho biết bị S cùng một số người đuổi đánh V đã khuyên S gọi điện cho T1 để hòa giải, nhưng cuộc gọi dẫn đến việc hai bên chửi nhau và thách thức đánh nhau Dù S định đi gặp T1 một mình, nhưng Huỳnh Hữu Thanh N1 (bạn của T1) đã khuyên nên gọi thêm người đi cùng, dẫn đến việc S và V đã gọi cho một số người khác như Nguyễn Anh V, Nguyễn Đăng H2, Phan Trọng N2, Đào Tấn H2, Hoàng Văn Q, và Đào Quốc để tham gia.
A, Đào Tuấn K và Bùi Anh T2 đến hẻm 237 đường T để đi đánh nhau với nhóm của T1 Lúc này, Phạm Vũ Trường N (tự B) điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 66F-369.16 từ nhà số 79/116A T, Phường X, uận Y (nhà của chị Đặng Ngọc Vi T3) đi công chuyện Khi chạy xe ngang qua hẻm 237 T, N nhìn thấy nhóm của S đang tập trung rất đông N dừng xe hỏi S có chuyện gì, S kể cho N nghe chuyện mâu thuẫn với T1 N biết là nhóm S chuẩn bị đi đánh nhau, nên N cũng muốn tham gia giúp S N ngồi ở hẻm một lúc thì thấy có một người chạy xe gắn máy chở theo một bao mã tấu, dao tự chế đến để dưới đất, những người có mặt đến lấy hung khí và khẩu trang che mặt Thấy vậy, N cũng lấy một con dao tự chế dài khoảng 1,6m (bằng ống tuýp sắt tròn) và một khẩu trang đeo vào rồi bỏ xe của mình lại hẻm 237 T, lên xe gắn máy của một thanh niên đeo khẩu trang (không biết là ai) chạy theo nhóm của S ra đường Trường Sa Khi đến chân cầu L, N xuống xe cùng nhóm S chạy qua cầu xông vào chém nhóm của T1 Nhóm của T1 bỏ chạy được một đoạn thì Ngô Giang Tuấn (nhóm của T1) quay lại lấy từ trong túi xách ra một khẩu súng bắn trúng vào người của Huỳnh Hữu Thanh N1 Thấy vậy, N cùng đồng phạm bỏ chạy, khi gần đến chân cầu L thì cả nhóm dừng lại và ném đá vào nhóm bên kia Sau đó, mọi người bỏ chạy, N lên xe của thanh niên (không rõ lai lịch) ngồi sau cầm con dao tự chế chạy về hẻm 237 T N xuống xe bỏ dao tự chế lại chỗ để hung khí lúc đầu, lấy xe gắn máy chạy về nhà, rồi bỏ trốn Đến ngày 23-4-
2018, Huỳnh Hữu Thanh N1 tử vong tại bệnh viện
Theo bản kết luận giám định số 440-18/KLGĐ-PY ngày 15-5-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP.Hồ Chí Minh, nguyên nhân tử vong của Huỳnh Hữu Thanh N1 là do sốc mất máu không hồi phục do vết thương do đạn bắn ở vùng ngực trái, xuyên thủng cơ hoành, gan, dạ dày, tụy và động mạch chủ bụng Người này có nhóm máu O và không phát hiện ma túy trong máu.
Ngày 04-5-2018, Cơ quan CSĐT - Công an TP Hồ Chí Minh ra quyết định khởi tố vụ án “Giết người”, “Gây rối trật tự công cộng”; quyết định khởi tố bị can đối với Ngô Giang T3 về tội “Giết người”, Trần Thế T1, Nguyễn Đức T4, Nguyễn Mạnh H3, Nguyễn Đỗ Hoàng N2, Lê Kim Long V, Nguyễn Minh S, Chien Gia P, Nguyễn Quang V2, Nguyễn Anh V, Nguyễn Đăng H2, Phạm Vũ Trường N, Phan Trọng N2, Đào Tấn H2, Hoàng Văn Q, Đào uốc A, Đào Tuấn K, Bùi Anh T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng”
Ngày 08-11-2018, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt đối với các bị cáo Trần Thế T và Nguyễn Minh S mức án 04 năm t ; Nguyễn Đỗ Hoàng N2, Chien Gia P, Nguyễn Quang V2 với mức án 02 năm
06 tháng t ; Nguyễn Đức T4, Nguyễn Mạnh H3 với mức án 02 năm t ; Lê Kim
Long V với mức án 02 năm 06 tháng t cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm (về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 408/2018/HSST ngày 08- 11-2018) Ngô Giang T3, Nguyễn Anh V, Nguyễn Đăng H2, Phan Trọng N2, Đào Tấn H2, Hoàng Văn Q, Đào uốc A, Đào Tuấn K, Bùi Anh T2 và Phạm Vũ Trường
Vào ngày 13-7-2018, Cơ quan CSĐT Công an TP Hồ Chí Minh đã ra quyết định truy nã đối với các bị can do N bỏ trốn Đến ngày 12-10-2018, Phạm Vũ Trường N đã bị bắt bởi Công an Phường 9, quận 3 theo quyết định truy nã Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: Đã được xử lý tại Bản án số 408/2018/HSST ngày 08-11-
Vào năm 2018, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp nhận vụ kiện dân sự liên quan đến gia đình nạn nhân Huỳnh Hữu Thanh N1, trong đó chị Huỳnh Thị Mộng T5 đại diện cho gia đình yêu cầu bồi thường số tiền 264.000.000 đồng.
Vào ngày 16-01-2019, Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-P2, truy tố bị cáo Phạm Vũ Trường N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ra bản án hình sự sơ thẩm số 44/2019/HS-ST vào ngày 06-3-2019, tuyên bố bị cáo Phạm Vũ Trường.
N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Phạm Vũ Trường N bị xử phạt 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 12/10/2018 Bản án sơ thẩm cũng quy định án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 20-3-2019, bị cáo Phạm Vũ Trường N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do là mức án quá nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo.” 2
Bản án đã chỉ ra rằng hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Vũ Trường N rất nghiêm trọng, xâm phạm trật tự công cộng và nếp sống văn minh, gây mất an toàn xã hội và tâm lý hoang mang cho người dân địa phương Bị cáo không kiểm soát được bản thân, bị lôi kéo và sử dụng hung khí nguy hiểm để giải quyết mâu thuẫn, ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự.
Bản án số 361/2019/HS-PT ngày 28/6/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, để duy trì trật tự an ninh tại địa phương, việc xử phạt bị cáo với mức án phù hợp là cần thiết Điều này không chỉ nhằm răn đe và giáo dục bị cáo mà còn góp phần phòng ngừa tội phạm cho toàn xã hội.
* Nhận xét, nh giá và vướng mắc ặt ra từ vụ án:
Giải pháp nhằm xác ịnh úng hậu quả “gây ảnh hưởng xấu ến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” c a tội gây rối trật tự công cộng
Các vướng mắc trong các vụ án đã được phân tích trong Mục 1.2 của Luận văn cho thấy sự cần thiết phải có văn bản hướng dẫn cụ thể và chi tiết về các dấu hiệu định tội.
Tội gây rối trật tự công cộng, được quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, có thể gây ra những tác động tiêu cực đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
Nguyên nhân gây ra các vướng mắc liên quan đến dấu hiệu định tội “gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội” trong tội gây rối trật tự công cộng được nêu tại Mục 1.2 của Luận văn có thể được xác định từ nhiều yếu tố khác nhau.
Dấu hiệu định tội "gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội" trong tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 BLHS năm 2015 là một sự thay đổi quan trọng, thay thế cho dấu hiệu "gây hậu quả nghiêm trọng" của Điều 245 BLHS năm 1999 Tuy nhiên, việc thiếu văn bản hướng dẫn thi hành hiện nay đã dẫn đến sự không thống nhất trong áp dụng trên thực tế.
Dấu hiệu “gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội” mang tính chất định tính, phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người áp dụng pháp luật Điều này dẫn đến việc cùng một vụ việc có thể được đánh giá khác nhau; một người có thể cho rằng nó đã “gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương”, trong khi người khác lại có thể xem xét và cho rằng không đủ điều kiện để áp dụng dấu hiệu này.
Năng lực và trình độ chuyên môn của người tiến hành tố tụng có sự khác biệt, dẫn đến việc hiểu và áp dụng pháp luật không đồng nhất.
Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải có văn bản hướng dẫn về dấu hiệu định tội “gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương” liên quan đến tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 BLHS năm 2015 Việc ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sẽ giúp đảm bảo áp dụng pháp luật một cách thống nhất Bên cạnh đó, cần tổ chức các Hội nghị tập huấn nhằm nâng cao nhận thức cho những người tiến hành tố tụng về dấu hiệu này.
Trên cơ sở đó, cứu tác giả xin đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:
Cần xây dựng văn bản hướng dẫn rõ ràng về dấu hiệu định tội “gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương” trong tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trước đây, “gây hậu quả nghiêm trọng” của tội gây rối trật tự công công (Điều
Theo Nghị quyết 02/2003/HĐTPTANDTC của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 17/4/2003, tác giả đề xuất hướng dẫn dấu hiệu định tội "gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội" trong tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318 BLHS năm 2015) tương tự như dấu hiệu "gây hậu quả nghiêm trọng" Đề xuất này cần được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh hiện nay, nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc xử lý các hành vi vi phạm.
Dấu hiệu gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội của tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 BLHS năm 2015 bao gồm: cản trở, ách tắc giao thông dưới 02 giờ; cản trở hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, và đơn vị vũ trang nhân dân; thiệt hại về tài sản từ mười triệu đồng trở lên; dẫn đến chết người; hoặc gây thương tích cho người khác với tỷ lệ thương tật nhất định.
Các trường hợp thương tích và tổn hại sức khỏe được phân loại như sau: (1) Tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên; (2) Nhiều người có tỷ lệ thương tật dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật từ 41% trở lên; (3) Người bị thương với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và thiệt hại tài sản từ mười triệu đồng trở lên; (4) Nhiều người có tỷ lệ thương tật dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật từ 30% đến 40% cùng với thiệt hại tài sản từ mười triệu đồng trở lên Ngoài ra, các trường hợp gây ảnh hưởng xấu đến đường lối của Đảng và chính sách Nhà nước, cũng như an ninh, trật tự xã hội, sẽ được xem xét Cuối cùng, những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản chưa đủ mức nghiêm trọng như đã nêu nhưng kết hợp lại vẫn gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh và trật tự xã hội cũng cần được lưu ý.
Trong từng trường hợp cụ thể, cần phải đánh giá mức độ hậu quả do tội phạm gây ra để xác định xem có thực sự "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" hay không.
Cơ sở để hướng dẫn nêu trên xuất phát từ các lý do sau:
Tội gây rối trật tự công cộng không chỉ xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng mà còn có thể ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác Hậu quả của tội này có thể gây thiệt hại phi vật chất, cũng như các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản Trong những trường hợp cụ thể, tội phạm này có thể dẫn đến nhiều loại thiệt hại khác nhau, bao gồm cả thiệt hại thể chất và vật chất Việc xác định dấu hiệu hậu quả “gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội” theo Điều 318 BLHS năm 2015 thông qua các trường hợp thiệt hại cụ thể là cần thiết để định lượng mức độ ảnh hưởng của tội gây rối trật tự công cộng.
Cụ thể hóa dấu hiệu định tính “gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội” thông qua các định lượng về hậu quả là cần thiết để phân biệt giữa hành vi gây rối trật tự công cộng bị coi là tội phạm và trường hợp chỉ bị xử lý vi phạm hành chính Điều này đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật Hướng dẫn này giúp đánh giá việc “gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội” trong các bản án trở nên dễ dàng và thống nhất hơn, giảm thiểu sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật hình sự.
Các cơ quan tiến hành tố tụng nên tổ chức các Hội nghị tập huấn nhằm nâng cao nhận thức cho những người tham gia tố tụng về hậu quả tiêu cực đối với an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
ĐỊNH TỘI DANH TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
Thực tiễn ịnh tội danh Tội gây rối trật tự công cộng
Hiện nay, Tòa án ở một số địa phương có những cách hiểu khác nhau về việc định tội danh Tội gây rối trật tự công cộng Tội danh này đang có sự tranh chấp với các nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của con người, cũng như với các tội xâm phạm sở hữu và tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.
2.2.1 Đối với trường hợp người phạm tội gây rối trật tự công cộng và dẫn đến chết người
Bản án số 22/2014/HSST ngày 23/10/2014 của TAND tỉnh Bạc Liêu Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 15/10/2012, Hứa Đức Trung đã dùng dao tự chế để rượt đuổi Nguyễn Chí Nguyện, dẫn đến việc Nguyện gọi Nguyễn Ngọc Trường và Huỳnh Phạm Sơn Lâm đến ứng cứu Trong quá trình rượt đuổi, Nguyện, Trường và Lâm đã dùng cây gỗ và dây xích để đánh Trung Hậu quả là Trung đã ngã xuống kênh và bị ngạt nước, dẫn đến tử vong Mặc dù ba người không có ý định tước đoạt mạng sống của Trung, nhưng hành động rượt đuổi với nhiều người cầm dao đã khiến họ phải nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra, điều này đã thực sự xảy ra khi Trung rơi xuống sông.
Trong quá trình giải quyết vụ án này, có hai quan điểm như sau:
13 Võ Khánh Vinh (2013), “Lý luận chung về định tội danh”, NXB Khoa học xã hội, tr.9-10
14 Bản án số 22/2014/HSST ngày 23/10/2014 của TAND tỉnh Bạc Liêu.
Theo quan điểm của người bào chữa, các bị cáo chỉ phạm tội gây rối trật tự công cộng, không có hành vi đánh người bị hại Chứng cứ từ biên bản khám nghiệm tử thi và lời khai của nhân chứng cho thấy cái chết của bị hại do ngạt nước là ngoài mong muốn của các bị cáo Họ chưa đến mức phải buộc bị hại nhảy xuống kênh, do đó không thể quy kết tội giết người cho các bị cáo.
Theo quan điểm của VKSND và TAND tỉnh Bạc Liêu, các bị cáo đã phạm tội giết người khi thực hiện hành vi rượt đuổi nạn nhân, khiến nạn nhân phải chạy một đoạn đường dài và cuối cùng rơi xuống kênh dẫn đến tử vong do ngạt nước Sử dụng xe mô tô và hung khí như đoạn cây tầm vong, dây xích, các bị cáo đã liên tục đe dọa và truy đuổi nạn nhân, tạo ra tình huống nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng của nạn nhân Khi nạn nhân rơi xuống kênh, các bị cáo đã chia nhau canh gác, bỏ mặc nạn nhân trong khoảng thời gian từ 5 đến 7 phút mà không thấy nạn nhân nổi lên, cho thấy họ ý thức được khả năng gây chết người từ hành vi của mình Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm cho cái chết của nạn nhân do lỗi gián tiếp của họ.
* Nhận xét, nh giá và vướng mắc ặt ra từ vụ án:
Trong vụ án này, các bị cáo đã có hành vi gây rối trật tự công cộng dẫn đến cái chết của nạn nhân, đủ để cấu thành tội danh này Tranh chấp chính trong vụ án là xác định nguyên nhân cái chết của nạn nhân có đủ yếu tố cấu thành tội giết người hay không Vấn đề đặt ra là liệu hành vi của các bị cáo có đủ dấu hiệu của tội giết người theo quy định của pháp luật hay không.
123 BLHS năm 2015) thì có xử lý hình sự thêm về tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318 BLHS năm 2015) nữa hay không?
Trong vụ án tại Bạc Liêu, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân tỉnh xác định các bị cáo có hành vi giết người nhưng chỉ xử lý về tội giết người mà không xem xét tội gây rối trật tự công cộng, mặc dù có đủ dấu hiệu Tác giả đồng tình rằng hành vi của các bị cáo không chỉ gây mất an ninh trật tự mà còn xâm phạm tính mạng của nạn nhân, do đó cần xét xử về tội giết người Vấn đề đặt ra là Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn rõ ràng về cách định tội trong trường hợp vừa có hành vi gây rối trật tự công cộng vừa có hành vi giết người.
Bản án số 38/2019/HS-PT ngày 18/4/2019 của TAND tỉnh Quảng Bình Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 20/12/2016, xe ô tô khách mang biển kiểm soát 29B - XXXX của Công ty TNHH thương mại và du lịch H, do Trần Ngọc S điều khiển, dừng đón khách trên quốc lộ 1A gần cầu Lộc Đại, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình Cùng lúc, xe ô tô khách biển kiểm soát 29B - AAAA của Công ty CP vận tải du lịch HL, do Dương điều khiển, đã đến và phụ xe HL là Trương Tiến C lên xe CH để giành khách, dẫn đến xô xát với Trần Ngọc S Hành khách Nguyễn Xuân H trên xe CH đã thông báo sự việc cho quản lý Đỗ Đức N, người sau đó đã liên lạc với các cá nhân khác để xử lý tình huống.
H trú tại TDP 6, phường N đã cùng ra ngã ba B để xem xét sự việc H điều khiển xe ô tô BKS 73A - CCCC chở Trần Đình N, cư trú tại TDP 11, phường B, cùng với Trần Văn T cũng trú tại TDP.
7, phường H; Nguyễn Ngọc A trú tại TDP 2, phường Đ N điện thoại cho Phan Thế
N, N rủ thêm Mai Khắc C, Nguyễn Trường T đều trú tại thị trấn N, huyện B cùng đi đến Khi đến địa điểm trên N thấy xe HLBKS 29B - DDDD do Ngô Mạnh H trú tại thôn B, xã V, huyện Q điều khiển vừa dừng đón khách N yêu cầu H điện thoại cho Nguyễn Hoàng T đến nói chuyện Lúc này Ngô Mạnh H bị một số người dùng tay, chân đánh vào người Chu Thanh H (phụ xe HL BKS 29B- DDDD) điện báo cho
Nguyễn Hoàng T, quản lý xe HL, điều khiển ô tô BKS 30AMMMM và liên lạc với Đặng Phúc T tại TDP 13, phường N, thành phố Đ Trong khi đó, Trương Tiến C đã gọi cho Trần Trọng H và Trần Ngọc H, cùng trú tại TDP 5, phường N, cùng với Nguyễn Đức L ở TDP 3, phường N, để tham gia Trong lúc xảy ra cãi vã, Trần Hùng C, trú tại TDP 5, phường N, điều khiển xe máy BKS 73K6 - NNNN chở Lê Đăng D cũng đến hiện trường Trần Hùng C đã sử dụng dao để tấn công Bùi Ngọc T và Nguyễn Minh C, gây thương tích cho họ.
T và Nguyễn Minh C được mọi người đưa đến Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu
Vào ngày 20/12/2016, Đỗ Đức N đã cùng với Đoàn Ngọc H và khoảng 25-30 đối tượng khác, mang theo nhiều hung khí, đến nhà Nguyễn Tuấn A ở thôn 15, xã L để tìm Nguyễn Hoàng T và Trần Hùng C nhằm giải quyết mâu thuẫn Trong sự việc này, anh Bùi Ngọc T bị thương với tỷ lệ tổn hại sức khỏe 38%, trong khi Nguyễn Minh C cũng bị thương nhưng đã từ chối giám định Đỗ Đức N đã điều khiển xe ô tô BKS 73A-HHHH, dẫn đầu đoàn, trong khi Dương Thanh H và Hoàng Trọng H cũng điều khiển các xe ô tô khác chở theo nhiều đối tượng tham gia.
B trú tại TDP N, phường Đ, thành phố Đ và Phan Kiều H tại thôn G, xã Đ, thành phố Đ, đã tham gia giao thông cùng nhiều người khác Nguyễn Quốc T lái xe ô tô BKS 73A-LLLL chở Nguyễn Thế C, Trương Thế Q, Hoàng Quý T, Trần Văn T và Đinh Gia K, tất cả đều trú tại các TDP khác nhau trong thành phố Đ Trần Đình N điều khiển xe ô tô BKS 73A-KKKK chở Trần Văn T, Nguyễn Ngọc A và Trần Biên C, cũng trú tại thành phố Đ Nguyễn Anh T lái xe BKS 73A-YYYY chở Nguyễn Trường T, Phan Thế N và Mai Khắc C từ Thị trấn N, huyện B Cuối cùng, Nguyễn Quốc V tại TDP 3, phường B, lái xe ô tô BKS 15A-VVVV chở Phạm Tuấn Mai trú tại TDP 5, phường Đ, thành phố Đ.
Vào ngày 9, tại phường B, xe ô tô BKS 73A-XXXX do Nguyễn Phú Liêu Đ điều khiển, chở theo các hành khách gồm Nguyễn Mạnh H, Lưu Trọng D, Nguyễn Thanh B, Trần Công D, Phạm Lê Anh T và Nguyễn Lý H, tất cả đều cư trú tại phường N, thành phố Đ Sau khi đến Cầu P, Nguyễn Mạnh H đã rời đi trước, trong khi các hành khách còn lại tiếp tục hành trình.
H, chuyển sang đi xe của Phan Mạnh H Các đối tượng trên đi tìm Nguyễn Hoàng
T, Trần Hùng C ở nhiều nơi trên địa bàn thành phố Đồng H nhưng không gặp Đỗ Đức N điện thoại cho Trần Hùng C, hai bên hẹn gặp nhau tại cầu vượt Nam Lý Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/12/2016, nhóm của Đỗ Đức N đến ngã tư giao nhau giữa đường Trần Hưng Đạo - Hoàng Diệu, thuộc địa phận TDP 15, phường
N, thành phố Đ thì gặp Trần Hùng C và Nguyễn Chí T chạy xe máy BKS 73K6 - FFFF đến dừng trước Cửa hàng thế giới di động Trần Hùng C và Nguyễn Chí T đi bộ đến vòng xuyến ngã tư đường Trần Hưng Đạo - Hoàng Diệu Đỗ Đức N và Trần Hùng C gặp nhau nói chuyện hai bên xảy ra cãi nhau Lúc này, Trần Hùng C cầm
Giải pháp nhằm xác ịnh úng tội danh Tội gây rối trật tự công cộng 43 Kết luận Chương 2
Phụ ục 1 Bản án số 361/2019/HS-PT ngày 28/6/2019 của TAND cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta337070t1cvn/chi- tiet-ban-an
Phụ ục 2 Bản án số 31/2020/HS-PT ngày 13/5/2020 của TAND tỉnh Bắc Ninh, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta601811t1cvn/chi-tiet-ban-an
Phụ ục 3 Bán số 36/2020/HS-ST ngày 06/5/2020 của TAND thành phố Long
Xuyên, tỉnh An Giang, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta596803t1cvn/chi-tiet- ban-an
Phụ ục 4 Bản án số 16/2020/HS-ST ngày 14/7/2020 của TAND huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta567294t1cvn/chi- tiet-ban-an
Phụ ục 5 Bản án số 70/2020/HS-ST ngày 13/5/2020 của TAND thành phố Thủ
Dầu Một, tỉnh Bình Dương, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta497776t1cvn/chi-tiet- ban-an
Phụ lục 6 chứa thông tin về Bản án số 22/2014/HSST, được ban hành vào ngày 23 tháng 10 năm 2014 bởi Tòa án Nhân dân tỉnh Bạc Liêu Phụ lục 7 đề cập đến Bản án số 38/2019/HS-PT, được phát hành vào ngày 18 tháng 4 năm 2019 bởi Tòa án Nhân dân tỉnh Quảng Bình Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy tại trang web của Tòa án.
Phụ ục 8 Bản án số 260/2019/HSST ngày 13/6/2019 của TAND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta337682t1 cvn/chi-tiet-ban-an
Phụ ục 9 Bản án số 66/2020/HSST ngày 25/6/2020 của TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta512435t1cvn/chi-tiet- ban-an
Phụ ục 10 Bản án số 82/2020/HSST ngày 14/8/2020 của TAND Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta582657t1cvn/chi- tiet-ban-an