Thiết kế e-book hỗ trợ việc dạy và học phần hóa hữu cơ 11 Trung học phổ thông (Chương trình nâng cao)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
(Chương trình nâng cao)
Chuyên ngành : Lí lu ận và phương pháp dạy học hóa học
Trang 2L Ờ I C Ả M Ơ N
Để hoàn thành luận văn này, ngoài nỗ lực của bản thân, tác giả đã
nhận được sự giúp đỡ to lớn của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp
và các em học sinh
Bằng tất cả lòng kính trọng và và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gởi lời
cảm ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu trườ ng ĐHSP TP Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học công nghệ và Sau đại học, quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các học viên hoàn thành khóa học
Tác giả cũng xin gởi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến:
- PGS TS Trần Thị Tửu, cô đã hướng dẫn tận tình, động viên và theo dõi sát sao với tinh thần trách nhiệm cùng lòng thương mến trong
suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này
- TS Trịnh Văn Biều, Trưởng Khoa Hóa, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Cảm ơn thầy đã dành rất nhiều thời gian, công sức và những lời chỉ bảo
tận tình trong suốt quá trình làm luận văn
- Các thầy cô, các bạn đồng nghiệp và các em học sinh tại các trường
thực nghiệp đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực nghiệm sư
phạm
- Cuối cùng xin cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn bè,
đó là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành
tốt luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh 2009
Trang 3DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CĐ : cao đẳng
CNTT : công nghệ thông tin
CSS : cascading Style Sheets – Bảng kiểu xếp chồng
Trang 4M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
- Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh – với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão – thì người giáo viên không thể truyền đạt hết cho học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều; phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp
học ngay từ cấp tiểu học và càng lên cấp học cao hơn càng phải được chú trọng
- Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người
học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học,
khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì
vậy, người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển
biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong
trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
- Sách giáo khoa điện tử là một trong những tài liệu hỗ trợ việc tự học của học sinh, đó là nguồn cung cấp tri thức quan trọng, nguồn tư liệu cốt lõi, cơ bản để tra cứu, tìm tòi Do đó trong quá trình làm việc với sách giáo khoa, học sinh không những nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện các thao tác tư duy, hình thành kĩ năng, kĩ xảo đọc sách
- Ngoài ra, sách giáo khoa điện tử cung cấp hệ thống kiến thức hóa học được trình bày
với những hinh ảnh, phim minh họa sinh động, hấp dẫn nhằm phát huy tính tự giác, chủ động sáng tạo, giúp học sinh sớm làm quen với những ứng dụng của công nghệ thông tin, hình thành hứng thú học tập và niềm say mê bộ môn hoá cho học sinh
- Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, tin học đã xâm nhập vào các ngành nghề và trong mọi lĩnh vực Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học và ngành học là cần thiết
- Để giúp học sinh có cơ hội làm quen với hình thức tự học qua sách giáo khoa điện tử,
tôi đã chọn đề tài: “THIẾT KẾ E-BOOK HỖ TRỢ VIỆC DẠY VÀ HỌC PHẦN HÓA
H ỮU CƠ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO)” với
mong muốn hỗ trợ hoạt động dạy và học, góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy và
học hiện nay
Trang 52 M ục đích nghiên cứu
Thiết kế E-book hỗ trợ hoạt động tự học và phát triển tư duy của học sinh phần hóa hữu
cơ lớp 11 THPT (chương trình nâng cao) nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học hoá học ở trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu: việc thiết kế E-book phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT (chương trình nâng cao)
4 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài:
- Nghiên cứu các phần mềm cần thiết cho việc thiết kế E-book
- Vận dụng cơ sở lý luận và sử dụng các phần mềm để thiết kế E-book hóa hữu cơ lớp
Nếu thiết kế sách giáo khoa điện tử có nội dung hấp dẫn, giao diện đẹp sẽ kích thích
hứng thú học tập của học sinh, phát triển năng lực tư duy, niềm say mê đọc sách, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
7 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài
+ Truy cập và chọn lọc thông tin trên Internet
Trang 6+ Điều tra
+ Thực nghiệm sư phạm
+ Tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu thống kê
- Phương tiện nghiên cứu: sách giáo khoa, sách bài tập và tài liệu liên quan đến đề tài,
máy vi tính và các phần mềm hỗ trợ
8 Nh ững đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
- Ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế các bài học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT (chương trình nâng cao) dưới dạng E-book
- Góp phần nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu SGK cho học sinh
- Giúp học sinh có niềm say mê tìm tòi, hứng thú học tập môn hóa
- Giúp giáo viên có một nguồn tư liệu phong phú để giảng dạy phần hóa học hữu cơ
- Hệ thống phương pháp giải toán hóa hữu cơ lớp 11 với các chuyên đề cụ thể
- Có thêm phần VUI HỌC với nội dung hấp dẫn và phong phú với những kiến thức gắn
liền hóa học cuộc sống và môi trường, giúp học sinh mở rộng thêm vốn kiến thức
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy và học ở trường THPT
Trang 7mạng Internet Việc học trở nên linh hoạt và mở
Chính vì thế, các đề tài nghiên cứu về thiết kế website tự học, xây dựng E-learnig, thiết
kế E-book đang được mọi người quan tâm nhiều hơn Sau đây là một số khoá luận và luận văn tốt nghiệp chuyên ngành hóa học, trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh và ĐHSP Hà Nội:
1 Đỗ Ngọc Linh (2005), Nghiên cứu xây dựng giáo trình đi ện tử hóa học lớp 10, Luận
văn thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐHSP Hà Nội
2 Hỉ A Mổi (2005), Thiết kế website tự học môn hóa học lớp 11 chương trình phân ban thí điểm, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
3 Phạm Dương Hoàng Anh (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX
và Macromedia Flash MX 2004 để thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố
ki ến thức môn Hóa học phần Hiđrocacbon không no mạch hở dành cho học sinh THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
4 Nguyễn Thị Thanh Hà (2006), Ứng dụng phần mềm Macromedia Flash và Macromedia Dreamver để thiết kế website về lịch sử hóa học 10 góp phần nâng cao
ch ất lượng dạy học, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
5 Nguyễn Thị Ánh Mai (2006), Thiết kế sách giáo khoa điện tử (E-book) các chương về
lý thuy ết chủ đạo sách giáo khoa hoá học lớp 10 THPT, Luận văn Thạc sĩ khoa học
Trang 87 Đỗ Thị Việt Phương (2006), Ứng dụng Macromedia Flash MX 2004 và Dreamweaver
MX 2004 để thiết kế website hỗ trợ cho hoạt động tự học hoá học của học sinh phổ thông trong chương halogen lớp 10, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
8 Nguyễn Ngọc Anh Thư (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX
và Macromedia Flash MX 2004 để tạo trang web hỗ trợ cho học sinh trong việc tự học môn hóa h ọc lớp 11 nhóm Nitơ chương trình phân ban thí đi ểm, Khóa luận tốt nghiệp,
ĐHSP TP Hồ Chí Minh
9 Phạm Thị Phương Uyên (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX
2004 và Macromedia Flash MX 2004 thi ết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng
c ố kiến thức cho học sinh môn hoá học nhóm oxi – lưu huỳnh chương trình cải cách,
Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
10 Lê Thị Xuân Hương (2007), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học chương Halogen l ớp 10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
11 Trịnh Lê Hồng Phương (2008), Thiết kế học liệu điện tử chương oxi – lưu huỳnh lớp
10 h ỗ trợ hoạt động tự học hóa học cho học sinh trung học phổ thông, Khóa luận tốt
nghiệp, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
12 Nguyễn Thị Thu Hà (2008), Thiết kế sách giáo khoa điện tử lớp 10 – nâng cao chương “Nhóm Halogen”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
13 Nguyễn Thị Thùy Linh (2008), Xây dựng E-learning chương “Liên kết hóa học và cấu
t ạo phân tử” học phần hóa đại cương trường cao đẳng Giao thông vận tải 3, Luận văn
thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
14 Thái Hoàng Minh (2008), Thi ết kế website hỗ trợ việc kiểm tra đánh giá môn hóa học
l ớp 10 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh
15 Trần Tuyết Nhung (2009), Thiết kế sách giáo khoa điện tử chương “Dung dịch – sự điện li” lớp 10 chuyên hóa học, Luận văn thạc sĩ giáo d ục học, ĐHSP TP Hồ Chí
Minh
- Các website, E-learning và E-book đều có đặc điểm chung là góp phần nâng cao hiệu
quả cho việc tự học, tự nghiên cứu kiến thức của HS Tuy nhiên các tác giả chưa quan tâm đến một số vấn đề sau:
+ Một số website đòi hỏi phải truy cập Internet mới sử dụng được
Trang 9+ Nội sung kiến thức được xây dựng chủ yếu bằng phần mềm DreamWeaver
nên giao diện chưa được hấp dẫn, việc link và load các mục của bài học chậm
+ Website tự học phần hóa hữu cơ còn hạn chế (chủ yếu là hóa học vô cơ và
đ,ại cương)
+ Nguồn tư liệu gắn liền nội dung bài học và thực tiễn cuộc sống, hóa học và
môi trường chưa được phong phú
+ Chưa đề cập đến nhứng lỗi sai, dễ mắc phải của HS khi nghiên cứu bài
mới
+ Việc đọc nội dung từng mục không được linh hoạt, phải sử dụng các nút
tới và lui liên tục
+ Các phim thí nghiệm được đưa trực tiếp vào trang nội dung bài học gây
khó khăn trong việc trình bày bố cục bài học Đôi khi các phim thí nghiệm
phải download về máy mới xem được
+ Phương pháp giải toán chỉ đề cập đến những phương pháp chung mà chưa
phân thành các dạng toán cụ thể
+ Phần vui học giúp HS thư giãn chưa được phong phú và hấp dẫn
1.2 Đổi mới phương pháp dạy và học
1.2.1 Đổi mới PPDH – yêu cầu cấp bách của thời đại
1.2.1.1 Phương pháp dạy học [ 14, tr 29]
Thụật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp (methodos) có nghĩa là con đường
để đạt mục đích Theo đó, PPDH là con đường để đạt mục đích dạy học
PPDH là cách thức hành động của GV và HS trong quá trình dạy học Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể Cách thức và hình thức không tách nhau một cách độc lập PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và HS trong nh ững điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học PPDH là những hình
thức và cách thức, thông qua đó và bằng cách đó GV và HS lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện học tập cụ thể
1.2.1.2 Đổi mới PPDH – yêu cầu cấp bách của thời đại
Trang 10Giáo dục thế kỉ 21 đang đứng trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật, đặc biệt là CNTT Trên thế giới sự tương tác ở mức độ cao của các hệ thống kinh tế, chính
trị, xã hội và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành một nước công nghiệp,
hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao, phẩm chất và năng lực được hình thành trên một nền tảng kiến thức, kĩ năng đủ và chắc chắn Xã hội đòi
hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các trí thức dưới dạng
có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức
mới một cách độc lập, khả năng đánh giá các sự kiện, hiện tượng mới, các tư tưởng một cách thông minh, sáng suốt trong cuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người Chính vì thế, một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là phải tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định “Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay, đổi mới và thực hiện nghiêm minh chế độ thi cử… ” [10, tr 68] Có thể nói mục tiêu cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
1.2.2 M ục đích của đổi mới PPDH [14, tr 30–31]
Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học đến cách thức đánh giá kết quả dạy học, trong đó khâu đột phá là đổi mới PPDH
Mục đích của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ
một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những hình thức khác nhau trong học tập và trong thực
tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập Làm cho “học” là quá trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết,
Trang 11năng lực và phẩm chất Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy HS cách tìm ra chân lí Chú trọng hình thành các năng lực tự học (tự học, sáng tạo, hợp tác, …) dạy phương pháp và
kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống hiện
tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển xã
hội
PPDH tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không hoạt động,
thụ động PPDH tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào việc phát huy tính tích cực của người dạy
Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy Cách dạy quyết định cách học, tuy nhiên, thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy mặt khác
cũng có trường hợp HS mong muốn được học tập theo PPDH tích cực nhưng GV chưa đáp ứng được Do vậy, GV cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì cách dạy theo PPDH tích cực,
tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói quen cho HS Trong đồi mới phương pháp, phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp
hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả PPDH tích cực hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học
1.2.3 Nh ững xu hướng đổi mới PPDH
Theo TS Lê Trọng Tín [62], một số xu hướng đổi mới PPDH nói chung và PPDH hóa
học nói riêng ở nước ta là:
1 Tăng cường tính tích cực, tính tìm tòi sáng tạo ở người học, tiềm năng trí tuệ
nói riêng và nhân cách nói chung thích ứng năng động với thực tiễn luôn đổi
mới
2 Tăng cường năng lực vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống, sản xuất luôn
biến đổi
3 Chuyển dần trọng tâm của PPDH từ tính chất thông báo, tái hiện đại trà
chung cho cả lớp sang tính chất phân hóa – cá thể hóa cao độ, tiến lên theo
nhịp độ cá nhân
4 Liên kết nhiều PPDH riêng lẻ thành tổ hợp PPDH phức hợp
5 Liên kết PPDH với phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại (phương tiện nghe
Trang 12nhìn, máy vi tính…) tạo ra các tổ hợp PPDH có dùng kĩ thuật
6 Chuyển hóa phương pháp khoa học thành PPDH đặc thù của môn học
7 Đa dạng hóa các PPDH phù hợp với các cấp học, bậc học, các loại hình
giải thích, chứng minh các quá trình hóa học
1.2.4 CNTT và truy ền thông góp phần đổi mới PPDH
1.2.4.1 D ạy và học theo quan điểm CNTT
CNTT và truyền thông hay còn được viết tắt là ICT (Information and Communicatio n Technologies) là [113]: “Một tập hợp đa dạng các công cụ và tài nguyên công nghệ được sử
dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu trữ và quản lí thông tin Các công nghệ này bao gồm máy tính, điện thoại, Internet, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh…”
CNTT và truyền thông được coi là những công cụ tiềm năng mạnh mẽ, có khả năng tạo
ra những thay đổi và cải cách giáo dục Ở đó những cơ cấu cứng nhắc theo truyền thống về
mối quan hệ “không gian – thời gian – trật tự thang bậc” sẽ bị phá vỡ Chẳng hạn, việc phát sóng chương trình giáo dục trên đài hay vô tuyến không cần thiết phải có GV và học viên tại cùng địa điểm vật lý Bài học, bài tập, bài giảng,… được ghi vào đĩa CD hoặc được đưa lên
mạng Internet, nhờ đó mọi người có thể học bất cứ lúc nào Những diễn đàn trao đổi về mọi
vấn đề, những buổi hội thảo trực tuyến… sẽ giúp cho người học có thể học mọi lúc, mọi nơi,
mọi lứa tuổi, bất kì ai có khả năng và mong muốn đều học được [114]
Với sự phát triển như vũ bão của CNTT và truyền thông, những thành tựu và sản phẩm
mới liên tục ra đời, trong đó thành tựu quan trọng nhất là mạng Internet thì việc tạo ra, phổ
biến, lưu trữ và quản lý, trao đổi thông tin là rất dễ dàng Vì vậy, trong những năm gần đây,
Trang 13người ta đặc biệt quan tâm đến việc làm thế nào để khai thác một cách hiệu quả nhất máy tính và Internet nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở mọi cấp độ, mọi cơ sở đào tạo và mọi hình thức đào tạo
Theo quan điểm CNTT [14, tr 43–44], để đổi mới PPDH, người ta tìm những “Phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn”
Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, quá trình dạy học đã sử dụng phương tiện dạy
học sau đây:
- Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead
- Phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với LCD – projector (máy chiếu tinh
thể lỏng) hay còn gọi là video - projector
- Phần mềm dạy học (PMDH) giúp HS học trên lớp và ở nhà
- Công nghệ kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính
- Sử dụng mạng Internet để dạy học
Sử dụng phần mềm dạy học làm phương tiện hỗ trợ dạy học một cách hợp lí sẽ cho
hiệu quả cao, bởi lẽ khi sử dụng phần mềm dạy học bài giảng sẽ sinh động hơn, sự tương tác hai chiều được thiết lập, HS được giải phóng khỏi những công việc thủ công vụn vặt, tốn
thời gian, dễ nhầm lẫn, nên có điều kiện đi sâu vào bản chất dạy học
Hai công nghệ hiện đại và ứng dụng có hiệu quả nhất cho giáo dục đào tạo là công nghệ đa phương tiện Multimedia và công nghệ mạng Networking, đặc biệt là mạng Internet Hai công nghệ này đã giúp cho con người thực hiện được khẩu hiệu học ở mọi nơi, học ở
mọi lúc, học suốt đời và dạy cho mọi người với mọi trình độ khác nhau
Sử dụng CNTT để dạy học, PPDH cũng thay đổi GV là người hướng dẫn HS học tập
chứ không đơn thuần chỉ là người “rót” thông tin vào đầu HS GV cũng phải học tập thường xuyên để nâng cao trình độ về CNTT, sử dụng có hiệu quả CNTT trong học tập HS có thể
lấy thông tin từ nhiều nguồn phong phú khác nhau như sách, Internet, CD – ROM… Lúc này
HS phải biết đánh giá và lựa chọn thông tin, không còn chỉ đơn thuần nhận thông tin một cách thụ động vì nguồn thông tin vô cùng phong phú
1.2.4.2 Vai trò c ủa CNTT trong giảng dạy hóa học [47]
Đối với môn hóa học, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy sẽ tạo ra một bước chuyển
cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, phương pháp dạy học Cụ thể là:
Trang 14- CNTT là một công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc xây dựng các kiến thức mới
- CNTT tạo môi trường để khám phá kiến thức nhằm hỗ trợ cho quá trình học tập
- CNTT tạo môi trường để hỗ trợ học tập qua thực hành, qua cộng đồng và qua phản ánh
- CNTT giúp cho việc đánh giá định tính và định lượng hóa học chính xác hơn
1.2.4.3 Ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học
- Ưu điểm
+ Là công cụ đắc lực, hỗ trợ cho việc xây dựng kiến thức
+ Giúp HS dễ hiểu bài, hiểu bài một cách sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn do việc thu
nhận thông tin về sự vật hiện tượng một cách sinh động, chính xác đầy đủ từ đó nâng cao hứng thú học tập môn học, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học
+ HS được tiếp cận, làm quen với các thiết bị, công nghệ hiện đại
+ HS không bị thụ động, có nhiều thời gian nghe giảng để đào sâu suy nghĩ… và điều quan trọng hơn là nhiều HS được dự và nghe giảng bài của nhiều GV giỏi
+ GV chuẩn bị bài dạy một lần thì sử dụng được nhiều lần chỉ cần bổ xung những kiến
thức mới
+ Các phương tiện hiện đại sẽ tạo ra khả năng để GV trình bày bài giảng sinh động hơn,
dễ dàng cập nhật và thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học hiện đại + Các phương tiện sẽ hỗ trợ, chuẩn hóa các bài giảng mẫu, đặc biệt với những phần khó
giảng, những khái niệm phức tạp
+ Giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết h ọc, giúp GV điều khiển được hoạt động nhận thức của HS, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của các em được thuận lợi và cho hiệu suất cao hơn
+ Giải phóng người thầy khỏi một lượng lớn các công việc tay chân do đó làm tăng khả năng nâng cao chất lượng dạy học
+ Đặc biệt nếu áp dụng hình thức đào tạo điện tử (E-Learning) sẽ đáp ứng được mọi tiêu chí: Hình thức đào tạo đa dạng, học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi thứ và học
mềm dẻo, học một cách mở, học suốt đời và tiết kiệm chi phí cho cả người dạy lẫn người học Bởi đặc điểm của E – Learning là có hệ thống giảng bài và có tài liệu học
Trang 15tập được giới thiệu dưới dạng số hóa, được đặc trưng bởi tính đa và siêu phương
tiện, có sự tương tác qua lại giữa người học, hệ thống dạy và người dạy
Với các lý do nêu trên, việc ứng dụng ICT trong dạy học hóa học sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung chương trình, PPDH và phương pháp đào
tạo
- H ạn chế
+ Chi phí đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất lớn
+ Đòi hỏi đội ngũ GV và HS phải có trình độ tin học, ngoại ngữ (tiếng Anh) nhất định + Khi sử dụng máy tính điện tử, người ta dễ đánh mất cảm giác chân thực thiếu đi
những cảm xúc, xúc giác và ấn tượng thực Do đó, ICT chỉ hỗ trợ chứ không thay
thế được các thiết bị thực hành
Theo nhận định của một số chuyên gia, thì việc đưa công nghệ thông tin và truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và
những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn Chẳng hạn:
- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một
mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho
học sinh, vì giáo viên sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ
dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “ vận dụng” đòi hỏi giáo viên phải kết hợp với
phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được kĩ năng cho học sinh
- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên vẫn còn
hạn chế, chưa đủ “vượt ngưỡng” để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh Mặt khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặ t vẫn chưa thể xóa được trong một thời gian tới Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho học sinh, cũng như dạy học sinh cách biết,
Trang 16cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên và đòi hỏi giáo viên phải kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học đồng thời phát huy ưu điểm
của phương pháp dạy học này làm hạn chế những nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy học,
vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó
- Việc sử dụng CNTT để đổi mới PPDH chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng
dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng CNTT trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được
sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới PPDH bằng phương tiện chiếu projector, … còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả
- Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền Công tác đào tạo, công tác
bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ GV chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp
học một cách có hiệu quả
1.2.4.4 Th ực trạng ứng dụng CNTT và truyền thông ở nước ta hiện nay
- Trước đây, trong điều kiện hệ thống giáo dục của nước ta chưa thích nghi được hoàn toàn với kỉ n guyên kinh tế tri thức Nghị quyết TW IV của Ban chấp hành TW đã nhấn
mạnh: “ Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những chương trình của đầu tư phát triển,
tạo điều kiện cho giáo dục đi trước một bước và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp kinh tế - xã
hội” Nhìn lại những năm vừa qua chúng ta thấy nội dung giáo dục ít gắn liền với yêu cầu
của cuộc sống hằng ngày, dạy học vẫn bằng phương pháp lạc hậu: thầy giảng – trò ghi, chưa
cập nhật được những thành tựu khoa học tiên tiến trên thế giới Do đó, sản phẩm giáo dục – con người thông qua gíáo dục đào tạo thường thiếu năng động, sáng tạo, còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi của cuộc sống vốn rất đa dạng và luôn luôn biến đổi không ngừng
- Để hòa cùng với nhịp độ phát triển giáo dục chung của các nước trên thế giới, trong
những năm 1990 trở lại đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những cố gắng trong việc tăng
Trang 17cường trang thiết bị, cung cấp thêm nhiều máy tính cho các trường phổ thông, mở rộng và nâng cao chất lượng sinh viên khoa công ngh ệ thông tin, cử nhiều GV đi học thêm tin họ c,
phổ cập chứng chỉ Intel cho GV ở các trường phổ thông, khuyến khích các cán bộ nghiên
cứu các phần mềm dạy học
- Theo http://vietbao.vn/Giao-duc/ [96]
Năm 1998, ngay sau khi Internet được mở ra tại Việt Nam, Trung tâm CNTT của Bộ (nay là Cục CNTT) đã xây dựng đề án Mạng giáo dục EduNet, để nối mạng toàn ngành và phát triển dịch vụ thông tin giáo dục Ý tưởng nội dung cơ bản của dự án Mạng giáo dục
có thể tóm tắt như sau: Nối tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo vào Internet trên một xa lộ
quốc gia (backbone), phát triển các dịch vụ thông tin và ứng dụng trên Internet, phát triển thông tin (số) về giáo dục; đưa công nghệ dạy học trực tuyến lên mạng EduNet để chia sẻ dùng chung, để mọi người có thể học mọi nơi, mọi lúc; mỗi trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) phải có website riêng, mỗi giáo viên và học sinh có email theo tên miền của trường
Trong khoảng mười năm gần đây, các trường THPT đã triển khai chương trình dạy môn tin học, trình độ giảng dạy và ứng dụng tin học đã có cơ sở vững chắc, nhiều phần
mềm dạy học đã được thử nghiệm Nhiều giáo viên đã thử ứng dụng phần mềm của nước ngoài để làm công cụ dạy học, song các phần mềm còn quá ít ỏi, các ứng dụng còn mang tính thử nghiệm Nếu xây dựng và đưa các phần mềm vào dạy học phổ biến sẽ là một bước ngoặc quan trọng cho nền giáo dục nước nhà
C ục trưởng Cục Công nghệ thông tin Bộ Giáo dục và Đào tạo Quách Tuấn Ngọc:
Cho đến nay, giáo viên các trường đang chủ yếu soạn bài trình chiếu powerpoint và một
số phần mềm dạy học Vẫn còn có sự nhầm lẫn khá lớn giữa khái niệm về giáo án điện tử
với bài trình chiếu, bài giảng điện tử, giữa thiết bị dạy học với phần mềm
Năm học ứng dụng CNTT sẽ tạo ra bước ngoặt mới về việc làm bài giảng điện tử theo công nghệ E -Learning Trong những năm qua , Cục CNTT đã xây dựng website E-Learning http://el.edu.net.vn để tuyên truyền phổ cập công nghệ, nghiên cứu thử nghiệm
và tuyển chọn các phần mềm E-Learning thích hợp, đã Việt hoá phần mềm mã nguồn mở Moodle và đến nay đã có khoảng 70 trường ĐH, CĐ sử dụng Cục CNTT sẽ tổ chức
Trang 18chuyển giao các phần mềm công cụ tạo bài giảng đạt chuẩn quốc tế, phù hợp với yêu cầu
mở ra một hướng mới cho việc đổi mới giáo dục ở nước ta
- Tuy nhiên, nhiều GV vẫn còn quen với cách dạy cũ, ngại thay đổi, tâm lí ngại phải hao tốn nhiều thời gian, công sức để đầu tư, soạn lại giáo án của tất cả bài giảng cho phù hợp
với phương pháp, phương tiện, hình thức dạy học mới
- Một số GV chưa thực sự cố gắng tự học, tự nâng cao khả năng ứng dụng CNTT
- Bên cạnh đó, sinh viên sư phạm chưa ứng dụng nhiều CNTT và các phần mềm dạy
học trong soạn giáo án Theo Th.S Vũ Thị Ngọc Tú [106], Khoa Tâm lý - giáo dục học của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội đã tiến hành một khảo sát về mức độ sử dụng CNTT trong việc
soạn giáo án của các sinh viên tại 6 khoa Toán, Lý, Hóa, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý trong trường Kết quả cho thấy, 19,6% số sinh viên thường xuyên sử dụng CNTT trong việc soạn giáo án; 50,8% thỉnh thoảng sử dụng; 28,8% hiếm khi sử dụng và 0,8% chưa sử dụng CNTT
để soạn giáo án bao giờ Trong 6 khoa được khảo sát, khoa Ngữ Văn và Địa lý lại có số sinh viên thường xuyên sử dụng CNTT nhiều nhất (25%), trong khi đó, số ít nhất lại rơi vào các sinh viên khoa Toán Cá biệt, khoa Hóa học có đến 5% sinh viên chưa từng sử dụng CNTT
để soạn bài giảng Nguyên nhân của tình trạng này là các sinh viên ít có cơ hội được học một cách bài bản hệ thống các phần mềm ứng dụng trong dạy học, những em biết thì hầu hết do
tự học nên không thành thạo hoặc không biết cách sử dụng những phần mềm đó vào việc
soạn giáo án cụ thể
- Nghiên cứu của Th.S Vũ Thị Ngọc Tú cũng cho thấy sự chênh lệch trong việc sử
dụng phương tiện CNTT trong khi soạn giáo án Internet là phương tiện được sử dụng nhiều
nhất (52,1%) Các phương tiện khác cần sự tìm tòi, sáng tạo được sử dụng ít hơn, như bài trình bày đa phương tiện (4, 6%); thiết kế trang Web (17,1%); xây dựng ấn phẩm (17 ,1%);
Trang 19học theo dự án (4,6%); sử dụng các câu hỏi cơ bản (4,6%) Trong khi soạn giáo án, có đến 42,1% sinh viên chưa khi nào yêu cầu học sinh sử dụng CNTT vào việc tìm kiếm thông tin, phát triển tư duy bâc cao và trình bày sản phẩm và tự đánh giá Dưới 50% sinh viên dùng
Internet để hỗ trợ xây dựng các hoạt động trong bài học và đến 42,1% chưa sử dụng CNTT
để trình bày bài giảng của mình cho học sinh
[http://www.giaovien.net/tin-tuc/tin-tuc-ict]
Như vậy, ta có thể khẳng định rằng “Đổi mới phương pháp dạy học hóa học bằng CNTT là xu thế của thời đại ngày nay” Tuy nhiên, việc ứng dụng làm sao để khai thác hợp lí
và hiệu quả của ICT vào dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng lại cần phải có
những nghiên cứu cụ thể và nghiêm túc
1.2.4.5 M ột số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng CNTT ở trường trung học [14, tr
45-46]
Hiện tại nhiều trường trung học đã được trang bị máy vi tính, các phương tiện nghe nhìn, các phương tiện truyền thông khác, khá nhiều trường đã được kết nối Internet GV đã được tập huấn về ứng dụng CNTT trong dạy học HS thường xuyên tiếp xúc với CNTT Để nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong trường trung học, cần thực hiện một số nội dung sau:
- Nâng cao nhận thức cho c án bộ quản lí, GV và HS về việc ứng dụng CNTT trong
- Tổ chức trình diễn các tiết dạy học có ứng dụng CNTT trong trường trung học nhằm
mục đích tuyên truyền, động viên các các nhân, đơn vị tổ chức tốt việc ứng dụng CNTT
- Xây dựng một số dịch vụ giáo dục và đào tạo ứng dụng trên mạng Internet
- Tuyển chọn, xây dựng và hướng dẫn sử dụng các phần mềm quản lí giáo dục và dạy
học
Trang 20- Nâng cao hiệu quả của việc kết nối Internet
- Nghiên cứu để đưa các phần mềm dạy học tốt vào danh mục thiết bị dạy học tối thiểu
- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm về ứng dụng CNTT giữa các trường trung học trong nước và quốc tế
Để việc đổi mới PPDH không chỉ là phong trào, để nó không chỉ được nhìn thấy trên bề
nổi mà còn được nhân rộng ở các nhà trường, từng lớp học, trở thành thói quen của mỗi thầy
cô giáo thì một trong những điều kiện cần thiết là sự quan tâm, chỉ đạo, giúp đỡ thiết thực từ phía ban giám hiệu nhà trường và các cấp quản lý Vì rất nhiều lý do như đã thoát ly giảng
dạy, bận bịu với quá nhiều việc, nên ban giám hiệu các nhà trường thường ít có thời gian dự
giờ, có nơi chưa thực sự đi sâu, đi sát, tháo gỡ kịp thời những băn khoăn, vướng mắc của GV trong việc triển khai yêu cầu này Thực tế cho thấy, nếu hiệu trưởng trường nào quan tâm đến việc đổi mới PPDH, thì chắc chắn GV trường ấy sẽ được tạo điều kiện để tiếp cận với các phương pháp dạy học mới, với trang thiết bị hiện đại, có cơ hội được tham dự những
buổi hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm của những chuyên gia Ngoài việc chuẩn bị điều kiện
cơ sở vật chất, trang thiết bị, tập huấn GV điều quan trọng nữa là ban giám hiệu các trường
phải chủ động, sáng tạo trong cách tổ chức, quản lý để khích lệ GV thường xuyên thực hiện đổi mới trong các giờ dạy, không để tình trạng người làm cũng được, người không làm cũng
chẳng sao
- Các chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục s ớm đưa ra tiêu chí đánh giá tiết dạy có sử
dụng CNTT, chuẩn bài giảng điện tử để có cơ sở thẩm định, tạo ra ngân hàng bài giảng điện
tử có chất lượng
Sự cần thiết phải đổi mới PPDH thì đã rõ, song để thực hiện được rộng khắp trong toàn ngành thật không đơn giản Nó đòi hỏi người thầy không chỉ có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng, mà còn phải tự mình vượt qua những thói quen đã ăn sâu, bám rễ Nói như một vị cán
bộ quản lý ngành: “Nó đòi hỏi thay đổi nhận thức về sự trao đổi chủ thể trong một tiết dạy và
phục vụ cho điều ấy là biết bao công sức: Làm quen với CNTT và những phương tiện dạy
học hiện đại, sử dụng được đa dạng các hình thức kiểm tra đánh giá, tiếp cận với những đòi
hỏi mới về kiến thức cũng như tâm lý của học trò Hãy nhìn vào những đôi mắt học trò! Chúng ta sẽ thấy sự háo hức, niềm khát khao hiểu biết vô bờ Chúng đang mong đợi các thầy
cô truyền cho cách tự phát hiện, chiếm lĩnh và sử dụng tri thức một cách tự nhiên nhất, giản
Trang 21đơn nhất và cũng khó quên nhất Vậy thì, đổi mới PPDH là một nhu cầu không thể thiếu, và
mỗi thầy cô giáo hãy nỗ lực hết mình !”
1.2.4.6 Khai thác s ử dụng một số phần mềm để dạy học môn hóa học
Đối với hóa học, hiện nay trên thế giới khá nhiều đĩa CD – ROM về hóa học phong phú Các phần mềm hóa học bao gồm hai loại chủ yếu: [39]
- Một là, các chương trình tiện ích như ISIS Draw, ChemWin, ChemDraw, Chem3D,… được dùng để viết và vẽ các công thức hóa học; các chương trình tính toán hóa lượng tử như Mopac, Hyper Chem, Gaussian… chương trình Hyper Chem chủ yếu dùng để tính toán các tham số hóa lượng tử và trình diễn mô hình các phân tử Phần mềm thí nghiệm MSS (Multimedia Science School) không những miêu tả cấu trúc nguyên tử, phân tử trong bảng
hệ thống tuần hoàn Mendeleep mà còn miêu tả nhiều phản ứng hóa học mà trong điều kiện thường khó thực hiện được
- Hai là các đĩa CD về thí nghiệm hóa học (Cyber Chem), các mô hình, các câu hỏi trắc nghiệm tự kiểm tra (Quiz),… Xu hướng chung của thế giới hiện nay là làm thế nào cho các
phần mềm dễ sử dụng như dùng các đĩa CD âm nhạc, phim, phim hoạt họa, trò chơi điện tử,
tất nhiên người sử dụng phải đọc và hiểu được tiếng Anh và biết sử dụng máy tính ở mức độ
tối thiểu nào đó
- Phần mềm giảng dạy có thể được hiểu là các phần mềm dùng cho việc dạy và học trên máy tính (có thể nối mạng LAN, WAN, và WWW), về hóa học nó bao gồm các lĩnh vực sau :
+ Sách điện tử là các đĩa CD hướng dẫn học một giáo trình hóa học có bài tập, thí nghiệm mô phỏng, tự kiểm tra đánh giá Có nơi gọi là gia sư
+ Kiểm tra và thi trắc nghiệm trên máy theo đề riêng, tự đánh giá kết quả
+ Xử lý các số liệu thực nghiệm
+ Biểu diễn các mô hình để xây dựng các khái niệm trừu tượng
+ Thực hiện các thí nghiệm mô phỏng trên máy
+ Xem các thí nghiệm thực ghi trên đĩa
Sử dụng phần mềm trong giảng dạy là một công cụ không thể thiếu được trong công nghệ giáo dục nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh Xu hướng học tập và giảng
dạy hiện đại đó đang được phổ biến ở các nước tiên tiến Tuy nhiên, phần mềm dạy học
Trang 22không thể thay thế được vai trò của người thầy, sách giáo khoa, các giáo trình, các công cụ
dạy học khác Các thí nghiệm mô phỏng và các thí nghiệm ảo không thể thay thế được các thí nghiệm thực ở các phòng thí nghiệm dù là còn thô sơ Việc sử dụng phần mềm trong
giảng dạy là một hướng nghiên cứu còn mới mẻ, cần được quan tâm nghiên cứu để tiếp tục phát triển
học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nồng độ
cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện… Đối với HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự
học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao
1.3.2 Các hình th ức của tự học
Theo TS Trịnh Văn Biều [7], có 3 hình thức tự học:
- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các
kiến thức trong đó Cách học này sẽ đem lại rất nhiều khó khăn cho người học, mất nhiều
thời gian và đòi hỏi khả năng tự học rất cao
Trang 23- Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
1.3.3 Chu trình d ạy – tự học
Theo tác giả Nguyễn Kỳ: “Quá trìng dạy – tự học là một hệ thống toàn vẹn gồm 3 thành tố cơ bản: thầy (dạy), trò (tự học), tri thức Ba thành tố cơ bản đó luôn luôn tương tác
với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm kết hợp
chặt chẽ quá trình dạy của thầy với quá trình tự học của trò làm cho dạy học cộng hưởng với
tự học tạo ra chất lượng, hiệu quả giáo dục cao.” [36]
Thời (1) : Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân
Thời (2): Tự thể hiện
Trang 24Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình
huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể
hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính
chất xã hội của cộng đồng lớp học
Thời (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết
luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
1.3.3.2 Chu trình d ạy của thầy
Chu trình dạy của thầy nhằm tác động hợp lí, phù hợp và cộng hưởng với chu trình tự
học của trò, cũng là chu trình ba thời tương ứng với chu trình học ba thời của trò
Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn: tổ chức các cuộc tranh
luận, hội thảo, sinh hoạt
nhóm, các hoạt động tập thể trong và ngoài nhà trường nhằm tăng cường mối quan hệ giao tiếp trò – trò, trò – thầy và sự hợp tác cùng nhau tìm ra kiến thức, chân lí
+ Thời (3): Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra
Thầy là trọng tài, cố vấn kết luận về các cuộc tranh luận, hội thảo, đối thoại… để khẳng định về mặt khoa học kiến thức do người học tự mình làm ra
Cuối cùng, thầy là người kiểm tra đánh giá kết quả tự học của trò, trên cơ sở trò tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh
1.3.4 Vai trò c ủa tự học [47]
- Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người
Trang 25- Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người Tự học giúp cho con người giải quyết mâu thuẫn giữa khát vọng cao đẹp về học vấn với hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống
ít ỏi ở nhà trường
- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Quá trình tự học khác
hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt Quá trình tự học diễn ra theo đúng quy
luật của hoạt động nhận thức Kiến thức có được do tự học là kết quả của sự hứng thú, của sự tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại
kết quả học tập cao hơn Khi học sinh biết cách tự học, học sinh sẽ “có ý thức và xây dựng
thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”
- Người học phải biết cách tự học vì học tập là một quá trình suốt đời Đối với học sinh THPT, nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc
học cao hơn như đại học, cao đẳng… học sinh sẽ khó thích ứng với cách học đòi hỏi phải tự
học tập, tự nghiên cứu thường xuyên do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt
- Tự học của học sinh THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục
và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Với lối dạy theo hướng
“nhồi nhét” trong các nhà trường phổ thông hiện nay, học sinh khó có thể có thời gian để tự
học và tự học có hiệu quả Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học
sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri
thức khoa học Vì vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa
của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông
1.3.5 T ự học qua mạng – Ưu điểm và hạn chế
1.3.5.1 T ự học qua mạng
Trang 26Tự học qua mạng là hình thức của tự học mà không dùng lời nói trực tiếp để giao lưu
với nhau, mà dùng các phương tiện khác đó là máy tính có kết nối mạng Internet Người học
chủ động tìm kiếm tri thức để thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của mình tự củng cố, tự phân tích, tự đào sâu, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm…với sự hỗ trợ của máy tính
1.3.5.2 Ưu điểm
- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: sự phổ cập rộng rãi của Internet đã
dần xóa đi khoảng cách về thời gian và không gian, điều này cho phép các học viên học bất
cứ lúc nào và bất cớ nơi đâu
- Tính hấp dẫn: với sự hỗ trợ của công nghệ multimedia, những bài giảng tích hợp text, hình ảnh minh họa, âm thanh tăng thêm tính hấp dẫn của bài học Người học giờ đây không
chỉ còn nghe giảng mà còn được xem những ví dụ minh họa trực quan, thậm chí còn có thể
tiến hành tương tác với bài học nên khả năng nắm bắt kiến thức cũng tăng lên
- Tính linh hoạt: tự học qua mạng được phục vụ theo nhu cầu người học, chứ không
nhất thiết phải theo một thời gian biểu cố định Vì thế người học có thể điều chỉnh quá trình
học, lựa chọn cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình
- Dễ tiếp cận và truy cập ngẫu nhiên: bảng danh mục bài giảng sẽ cho phép học viên
lựa chọn đơn vị tri thức, tài liệu một cách tùy ý theo trình độ kiến thức và điều kiện truy nhập
mạng của mình Học viên tự tìm ra các kĩ năng học cho riêng mình với sự giúp đỡ của những tài liệu trực tuyến
- Tính cập nhật: nội dung khóa học thường xuyên được cập nhật và đổi mới nhằm đáp ứng tốt nhất và phù hợp nhất với học viên
- Học có sự hợp tác, phối hợp: HS có thể dễ dàng trao đổi với nhau qua mạng qua quá trình học, trao đổi giữa các học viên và với GV Các trao đổi này hỗ trợ tích cực cho quá trình học tập của học viên
- Tâm lý dễ chịu: mọi rào cản về tâm lý giao tiếp của cả người dạy và người học đều bị xóa bỏ, mọi người tự tin hơn trong việc trao đổi quan điểm
- Các kỹ năng giao tiếp, làm việc hợp tác, tự điều chỉnh để thích ứng… của người học
sẽ được hoàn thiện không ngừng
Trang 27- Sự tương tác giữa người dạy và người học vẫn được duy trì thông qua các diễn đàn (forum), hội thoại trực tuyến (chat), thư từ (email), hội nghị truyền hình (video conferencing)…
1.3.5.3 H ạn chế
- Sự giao tiếp cần thiết giữa người dạy và người học bị phá vỡ Người học sẽ không được rèn luyện kỹ năng giao tiếp xã hội
- Đới với những môn học mang tính thực nghiệm như hóa học, sinh học,… tự học qua
mạng không thể đáp ứng yêu cầu môn học, không rèn luyện được cho người học thao tác
thực hành, thí nghiệm, kỹ năng nghiên cứu thực nghiệm
1.4 Sách giáo khoa điện tử E-book
1.4.1 Khái ni ệm E-book [112]
- E-book là từ viết tắt của electronic book (sách điện tử) Hiểu theo cách đơn giản nhất, sách điện tử (E-books hay digital books) là phiên bản dạng số (hay điện tử) của sách Nội dung của sách số có thể lấy từ sách giấy hoặc mang tính độc lập tùy thuộc vào người xuất
bản Một số người thường sử dụng thuật ngữ này để chỉ luôn cả thiết bị dùng để đọc sách
dạng số (còn gọi là book – reading appliances hay E-book readers)”
- Giống như e-mail (thư điện tử) E-book chỉ có thể dùng các công cụ máy tính như máy
vi tính, máy trợ giúp kỹ thuật số cá nhân (palm, pocket pc…) để xem Sách điện tử có những
lợi thế mà sách in thông thường không có được: rất gọn nhẹ, có thể tinh chỉnh về cỡ chữ, màu sắc, và các thao tác cá nhân hóa tuỳ theo sở thích của người đọc Một đặc điểm nổi bậc
của E-book chính là khả năng lưu trữ của nó
- Cùng với sự phát triển vượt bậc của mạng internet và kết hợp với các thiết bị kỹ thuật cao cấp, hầu hết các sách in giấy thông thường đều có thể được làm thành sách điện tử Chính vì vậy mà n gày nay, không khó khăn lắm để bạn tìm một tác phẩm nổi tiếng để đọc
trực tiếp trên mạng hay tải về máy tính để đọc theo dạng e-book
- Không giống như sách in thông thường, sách điện tử cũng có những “định dạng” khác nhau Nói một cách dễ hiểu là sách có nhiều tập tin mở rộng như PDF, PRC, CHM v.v…
Những tập tin này sở dĩ khác nhau là vì chúng được làm từ những chương trình khác nhau và
vì thế, muốn đọc được chúng, bạn cần phải có những chương trình tương ứng
- Một số ví dụ về E-book:
Trang 28• E-book có thể là một cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn, một tác phẩm văn học,… với nhiều tranh ảnh minh họa
• E-book có thể là một cuốn sổ tay đào tạo nhân sự trong doanh nghiệp
• Là một cuốn sách chuyên ngành, sách tự học
• E-book có thể là một CD -ROMs đa năng có đầy đ ủ âm thanh, hình ảnh và video clips…
1.4.2 Các yêu c ầu thiết kế E-book
Việc thiết kế E-book phục vụ cho giáo dục đòi hỏi phải đáp ứng những đặc trưng riêng
về mặt nghe, nhìn, tương tác; do đó theo Nguyễn Trọng Thọ [58] để đáp ứng nhu cầu tự học, chúng ta phải tuân theo đầy đủ các bước của việc thiết kế dạy học (ADDIE là chữ viết tắt của
2 Design (thiết kế nội dung cơ bản):
• Các chiến lược dạy học
• Siêu văn bản (hypertext) và siêu môi trường (hypermedia)
• Hướng đối tượng, kết nối và phương tiện điều hướng
3 Development (phát triển các quá trình):
• Thiết kế đồ hoạ
• Phát triển các phương tiện 3D và đa môi trường (multimedia)
• Hình thức và nội dung các trang Web
• Phương tiện thực tế ảo
4 Implementation (triển khai thực hiện):
Cần tích hợp với chương trình công nghệ thông tin của trường học :
• Chuẩn bị cho phù hợp với thực tế các phòng máy tính
• Thủ tục tiến hành với thầy
• Triển khai trong toàn bộ các đối tượng dạy, học và quản lí
• Quản lí tài nguyên (nhân lực và vật lực)
Trang 295 Evaluation (lượng giá):
Đánh giá hiệu quả huấn luyện thường sử dụng mô hình bốn bậc do Donald Kirkpatrick phát triển (1994) Theo mô hình này, quá tr ình lượng giá luôn được tiến hành theo thứ tự vì thông tin của bậc trước sẽ làm nền cho việc lượng giá ở bậc kế tiếp:
• Bậc 1: Phản ứng tích cực hay tiêu cực (Reactions)
• Bậc 2: Hiệu quả học tập (Learnings)
• Bậc 3: Khả năng chuyển giao hay chuyển đổi (Transfers)
• Bậc 4: Kết quả thực tế (Results)
Hình 1.2 Mô hình lượng giá bốn bậc theo Kirkpatrick
1.4.3 Quy trình xây d ựng một E-book
Quy trình xây dựng một E-book thông qua các bước căn bản sau:
dịch, nhà xuất bản, năm xuất bản…) Bởi lẽ, cũng như sách in, sách điện tử vừa là công cụ
giải trí, vừa là văn bản tra cứu, trích dẫn khi cần nghiên cứu về một vấn đề gì đó
2 Định dạng (format) E-book thật rõ ràng, dễ hiểu
- Xem qua văn bản, soát lỗi chính tả một cách tỉ mỉ nhất có thể (nếu nguồn sách được download trên mạng)
Trang 30- Lập dàn bài cấu trúc của E-book (menu)
- Tạo mục lục liên kết giữa menu và các nội dung của E-book
- Thống nhất bảng mã, font, màu nền và một kiểu thiết kế
- Trình bày từng đề mục thật rõ ràng, dễ hiểu và logic
- Lựa chọn, phim, ảnh, mô phỏng…minh họa để E-book được hấp dẫn hơn
3 Sử dụng các phần mềm cần thiết để thiết kế E-book
Trang 31Chương 2
2.1 Nh ững nội dung cơ bản của chương trình hóa hữu cơ lớp 11
Vì thời gian hạn chế nên tác giả chỉ thiết kế được 3 chương về hiđrocacbon (chương 5,
chương 6, chương 7) thuộc phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
2.1.1 V ị trí
Trong SGK lớp 11 (nâng cao), phần hiđrocacbon gồm 3 chương: chương 5 (Hiđrocacbon no); chương 6 (Hiđrocacbon không no) và chương 7 (Hiđrocacbon thơm – Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên) được nghiên cứu sau chương Đại cương về hóa học hữu cơ
2.1.2 C ấu trúc [15]
Bảng 1.1 Phân phối chương trình nội dung các chương về hiđrocacbon
Bài 39 Anken – Danh pháp, cấu trúc và
Trang 32Bài 45 Thực hành: Tính chất của
CHƯƠNG 7: HIĐROCACBON THƠM
Bài 48 Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên 2
Bài 49
Luyện tập So sánh đặc điểm cấu
trúc của hiđrocacbon thơm với
Bài 50 Thực hành: Tính chất của một số
2.1.3 Nh ững điểm lưu ý về phương pháp giảng dạy [-‘
Khi giảng dạy phần hiđrocacbon trong chương trình hóa hữu cơ ở trường phổ thông, ta
cần chú ý về PPGD nhằm hình thành ở HS những kiến thức đúng đắn về loại hợp chất hữu
cơ đơn giản ban đầu và cả phương pháp học tập phần hóa hữu cơ Cụ thể là:
- Sử dụng triệt để các phương tiện trực quan, thí nghiệm hóa học
- Sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS bắt đầu từ sự phân tích cấu trúc phân tử, dự đoán tính chất đặc trưng, dùng thí nghiệm hoặc các tư liệu thực nghiệm xác nhận dự đoán đúng, nhận xét, kết luận về tính chất
của các loại hiđrocacbon
- Khi tổ chức các hoạt động học tập của HS cần sử dụng triệt để phương pháp so sánh trong các bài dạy Đồng thời qua s o sánh còn làm rõ được mối quan hệ cấu tạo và tính chất
của các chất và cả mối liên quan của các loại hiđrocacbon với nhau
- GV cần đọc thêm các sách tham khảo để chọn lựa tư liệu bổ sung làm phong phú và
cập nhật kiến thức, làm tăng hứng thú học tập cho HS GV nên tổ chức cho HS tham gia sưu
tầm tư liệu, thông tin từ các nguồn thông tin khác và tạo điều kiện cho các em được chia sẻ các tư liệu về hiđrocacbon qua bài dạy, hoạt động ngoại khóa hoặc xây dựng thành các đề tài
và tổ chức cho các nhóm HS thực hiện ngoài giờ học theo phương pháp dạy học theo dự án
- Trong giảng dạy cần chú ý đến một số nội dung mới và khó của chương trình trong các chương cụ thể
2.1.4 M ục tiêu và định hướng phương pháp giảng dạy
2.1.4.1 Gi ảng dạy chương 5: Hiđrocacbon no
- M ục tiêu của chương
Trang 33+ Kiến thức
HS bi ết
Cấu trúc và danh pháp của ankan và xicloankan
Tính chất vật lí, tính chất hóa học của ankan và xicloankan
Phương pháp điều chế, ứng dụng của ankan và xicloankan
HS hi ểu
Nguyên nhân tính tương đối trơ về mặt hóa học của các hiđrocacbon no là do
cấu tạo các phân tử hiđrocacbon no chỉ có các liên kết σ bền
Cơ chế phản ứng thế halogen vào phân tử ankan
+ Kĩ năng
Viết phương trình ph ản ứng chứng minh tính chất hóa học của ankan và xicloankan
Gọi tên một số ankan, xicloankan làm cơ sở cho việc gọi tên các hiđrocacbon và
dẫn xuất hiđrocacbon sau này
+ Giáo dục tình cảm thái độ
HS có phương pháp nghiên cứu chất hữu cơ trong một dãy đ ồng đẳng là cơ sở cho phương pháp nghiên cứu các dãy đồng đẳng sau này
Rèn luyện khả năng suy luận, khái quát hóa trong học tập
- M ột số điểm chú ý về nội dung và phương pháp
Ankan
* Hiđrocacbon no là loại hiđrocacbon chỉ có các liên kết đơn C – C với mạch cacbon
hở là ankan, mạch cacbon vòng là xicloankan GV cần làm cho HS hiểu bản chất, đặc điểm liên kết hóa học trong phân tử ankan và xicloankan để làm cơ sở cho sự dự đoán tính chất hóa học đặc trưng của chúng
* Danh pháp của ankan được g ọi theo IUPAC với ankan phân nhánh và không phân nhánh Cần yêu cầu HS thuộc 10 ankan đầu dãy Dạy tên gọi ankan theo cách mới: ghép tên
mạch chính với đuôi “an”
* Yêu cầu HS chỉ rõ sự tương đồng giữa mô hình rỗng và mô hình đặc
* Cấu dạng là một khái niệm khó nhưng không phải là trọng tâm
Trang 34* Tính chất vật lí quan trọng không kém gì tính chất hóa học vì nó cũng tham gia quyết định khả năng ứng dụng của một chất Học sinh thường xem nhẹ, nên không thể giải thích được các bài tập kiểu nhận biết và tách biệt
* Cần cho học sinh xem kĩ từng cột, nhận xét các số liệu, rồi tự rút ra nhận xét về sự
biến đổi các số liệu đó theo chiều tăng số nguyên tử C trong phân tử
* Cần làm rõ: phản ứng clo hóa xảy ra mạnh hơn nên kém định hướng hơn phản ứng brom hóa (minh họa) Sách giáo khoa cũ thường nói halogen ưu tiên thế vào C bậc cao hơn điều đó chỉ đúng với brom hóa, không đúng với clo hóa, với Flo phản ứng quá mãnh liệt nên phân hủy ankan thành C và H, còn Iot thì không phản ứng với ankan khi chiếu sáng vì quá
yếu
* Cơ chế phản ứng halogen hóa: bắt buộc phải viết vì “chương trình quy định”
* Phản ứng tách (gãy liên kết C – C và C – H) chú ý nói rõ điều kiện phản ứng khắc nghiệt (≥ 5000
C, xt) và phản ứng không có hương ưu tiên (tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau)
* Tuy ankan thuộc loại no, ít ái lực nhưng vì nó là thành phần chính của dầu mỏ, một nguồn hiđrocacbon thiên nhiên qúi giá, do đó phản ứng hóa học của chúng rất được chú
trọng nghiên cứu và đã thu được những thành tựu rực rỡ (sẽ thấy ở các bài sau)
* Điều chế: Cần phân bịêt điều chế và chuyển hóa; điều chế trong phòng thí nghiệm và điều chế (sản xuất) trong công nghiệp
* Ứng dụng: cần tổ chức cho HS đọc và nhận xét, làm rõ những ứng dụng nào dựa chủ
yếu vào tính chất vật lí, ứng dụng nào dựa chủ yếu vào tính chất hóa học?
Xicloankan
* Không cần chú ý chi tiết về cấu trúc mà chỉ nhằm làm cho học sinh hiểu rằng từ propan ra các xicloankan khác đ ều không phải là những vòng phẳng
* Cần làm cho học sinh thấy được vòng 3, 4 cạnh có tính chất khác bịêt, còn các vòng ≥
5 cạnh thì tương tự như ankan
Trang 352.1.4.2 Gi ảng dạy chương 6: Hiđrocacbon không no
- M ục tiêu của chương
+ Kiến thức
HS biết
Cấu trúc electron của liên kết đôi, liên kết ba và liên kết đôi liên hợp trong phân tử của các loại hiđrocacbon không no tương ứng
Đồng phân, danh pháp và tính chất của anken, ankađien và ankin
Phương pháp điều chế, ứng dụng của anken, ankađien và ankin
Khái niệm tecpen
HS hiểu
Nguyên nhân tính không no của các hiđrocacbon không no
Các hiđrocacbon không no có nhiều đồng phân hơn hiđrocacbon no có cùng số
C vì ngoài đồng phân mạch cacbon còn có đồng phân vị trí liên kết bội
Qui tắc cộng Mac-cốp-nhi-cốp
+ Kĩ năng
Viết các phương trình ph ản ứng chứng minh tính chất hóa học của anken, ankađien, ankin
Giải thích khả năng phản ứng của các hiđrocacbon không no
Lựa chọn sản phẩm chính trong các phản ứng cộng theo qui tắc
Mac-cốp-nhi-cốp
+ Giáo dục tình cảm thái độ
HS thấy được ứng dụng của sản phẩm trùng hợp của anken, ankađien trong đời sống
sản xuất và ý nghĩa tầm quan trọng của các chất hữu cơ, ngành hóa học hữu cơ đối với
nền kinh tế mà có hứng thú học tập, quyết tâm chiếm lĩnh kiến thức
- M ột số điểm chú ý về nội dung và phương pháp
Anken
* Khi phân tích cấu trúc phân tử cần cho HS quan sát mô hình, nhận xét trung tâm phản ứng là liên kết đôi C=C trong đó có một liên kết π kém bền dễ đứt ra tạo điều kiện tạo thành liên kết σ với các nguyên tử khác
Trang 36* Đồng phân của anken cần chú trọng điều kiện để anken có đồng phân cis, trans và chú ý đến mạch chính của anken để xác định dạng đồng phân cis, trans
* Tiếp tục rèn kĩ năng nghiên cứu các số liệu trong bảng số và từ số liệu rút ra nhận xét (bảng 6.1)
* Phản ứng cộng Cl2: bắt đầu từ hình vẽ mô tả thí nghiệm, rèn kĩ năng quan sát thực nghiệm rút ra nhận xét GV cần chú ý đến trạng thái các halogen tham gia phản ứng nhất la
phản ứng với brom, khi nói dung dịch brom thì cần hiểu không chỉ là dung dịch brom trong nước mà còn có dung dịch brom trong dung môi hữu cơ như CCl4 Nếu anken phản ứng với dung dịch brom trong CCl4 thì sản phẩm phản ứng cộng tạo dẫn xuất đibrom không màu, còn
với dung dịch nước brom thì ngoài sản phẩm đibrom còn có sản phẩm phụ là R – CHBr –
CH2OH và ngoài phản ứng cộng còn có phản ứng oxi hóa
* Phản ứng cộng axit và cộng nước: cơ chế không quan trọng nhưng quy tắc nhi-côp là trọng tâm cần làm cho học sinh nắm vững
Mac-côp-* Điều chế trong phòng thí nghiệm khác sản xuất trong công nghiệp
* Ứng dụng: Ngày nay etilen giữ vai trò quan trọng, nó là một trong các nguyên liệu cơ
sở cho công nghiệp hóa chất hữu cơ, thay thế cho vai trò của axetilen trước kia
thực tiễn, mặt khác gây được hứng thú cho học sinh, làm cho học sinh thấy được giá trị tài nguyên thiên nhiên của đất nước
Trang 37* Vì công thức phức tạp nên không yêu cầu HS phải thuộc mà chỉ cần hiểu được đặc điểm
cấu tạo, so sánh chúng với các loại hợp chất hữu cơ đơn giản đã học Đặc biệt cần nêu rõ giá trị ứng dụng, và làm nhen nhóm lên trong lòng học sinh tinh thần ham tìm hiểu nghiên cứu thiên nhiên (ví dụ minh họa)
* Chưng cất lôi cuốn hơi nước là một phương pháp tách biệt quan trọng trong phòng thí nghiệm và trong sản xuất cần nắm được
Ankin
* GV cần lưu ý rằng xét về mặt cấu tạo các ankin tương tự các anken, phản ứng của ankin tương tự anken nhưng so với anken tương ứng, khả năng phản ứng cộng electrophin
của ankin thấp hơn
* Trước đây ankin là nguyên liệu quan trọng nhất trong công nghiệp tổng hợp hữu cơ vì
từ axetilen tổng hợp ra các hóa chất hữu cơ thiết yếu và các polime thông dụng
Ngày nay etilen đã thay thế vai trò đó một cách kinh kế hơn Vì vậy, phần ứng dụng
của axetilen trình bày khác trước
* Cần chú ý nên hạn chế việc ra các bài tập kiểu “từ đá vôi than đá” tổng hợp ra đủ mọi
thứ như trước
Luy ện tập
* Độ không no [π + v] là một khái niệm dễ hiểu, dễ tiếp thu mà rất tiện dụng, nó luôn
cần đến trong các bài tập xác định công thức cấu tạo Trong bài học không trình bày nhưng bài tập 1 đủ để hướng dẫn cho học sinh hình thành và sử dụng khái niệm đó
2.1.4.3 Gi ảng dạy chương 7: Hiđrocacbon thơm – Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên
- M ục tiêu của chương
+ Kiến thức
HS biết
Cấu trúc phân tử, đồng phân, danh pháp và ứng dụng của aren
Tính chất của benzen, ankyl benzen, stiren, naphtalen
Phản ứng thế và quy tắc thế ở nhân benzen
Thành phần, tính chất và tầm quan trọng của dầu mỏ bằng phương pháp hóa
học Chưng khô than mỏ
HS hiểu
Trang 38 Cấu trúc nhân benzen quyết định tính chất “thơm” của các aren
Qui tắc thế ở vòng benzen cho biết hướng và khả năng phản ứng thế vào vòng benzen
+ Kĩ năng
Viết các phương trình phản ứng chứng minh tính chất của các aren
Giải thích một số hiện tượng thí nghiệm
+ Giáo dục tình cảm thái độ
Giáo dục cho HS ý thức tiết kiệm nguồn nguyên liệu, tài nguyên của đất nước và ý thức
học tập tốt để khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên này
- M ột số điểm chú ý về nội dung và phương pháp
* Phản ứng nitro hóa benzen cần hướng HS chú ý đến vai trò của H2SO4 đặc là tạo ra tác nhân phản ứng (NO2+) để tránh sự hiểu lầm là dùng H2SO4 đặc để tách nước trong phản ứng
* Phản ứng oxi hóa ankylbenzen một mặt giới thiệu kiến thức mới, một mặt củng cố thêm
nhận xét về tính bền vững của vòng thơm
Stiren và naphtalen
* GV cho HS quan sát và nhận xét công thức cấu tạo của phân tử stiren, từ đặc điểm
cấu tạo đó mà dự đoán tính chất hóa học của stiren
* Để giúp HS hiểu được khái niệm phản ứng trùng hợp stiren và phản ứng đồng trùng
hợp stiren và butađien, GV cần tổ chức cho HS so sánh, nhận xét về các tiểu phân tham gia
phản ứng và hai định nghĩa của chúng
* Phản ứng oxi hóa stiren được mô tả bằng sự mất màu của dung dịch KMnO4, GV có
thể cho HS so sánh với phản ứng của etilen làm mất màu dung dịch thuốc tím, stiren bị oxi
Trang 39hóa ở nhóm vinyl, còn mục cấu tạo của stiren được trình bày dưới dạng giải 1 bài tập, nhằm xây dựng phương pháp giải bài tập, xác định cấu tạo dựa vào tính chất hóa học
* Tính chất của stiren và naphtalen có bổ sung thêm 2 phản ứng dẫn tới các sản phẩm
có ứng dụng thực tế (phản ứng hiđro hóa và oxi hóa naphtalen)
Ngu ồn hiđrocacbon thiên nhiên
* GV cần sử dụng sơ đồ dụng cụ chưng cất phân đoạn trong phòng thí nghiệm và sơ đồ chưng cất chế hóa dầu mỏ, đồng thời cần giúp HS hiểu được mục đích của các quá trình chưng cất dưới áp suất thấp, dưới áp suất cao để thu được các sản phẩm khác nhau
* Chế biến dầu mỏ là các phương pháp quan trọng của ngành công nghiệp hóa dầu Thông qua các phương trinh phản ứng để HS nhận xét rút ra khái niệm, nội dung của các phương pháp rifoming và crăcking dầu mỏ đồng thởi HS cũng cần hiểu được ý nghĩa của
từng phương pháp và sự khác nhau giữa chúng
* GV có thể tổ chức cho HS hoạt động độc lập hoặc sử dụng phương pháp dạy học theo
dự án Nội dung bài học được phân chia thành các đề tài nhỏ và phân chia cho các nhóm HS
thảo luận, xây dựng đề án, nghiên cứu triển khai và báo cáo kết quả Đây là PPDH hiệu quả trong việc rèn luyện HS khả năng làm việc độc lập và phối hợp trong nhóm, nâng cao hứng thú học tập và nghiên cứu khoa học
2.2 C ấu trúc và nội dung E-book
2.2.1 C ấu trúc E-Book
Trang 40Hình 2.1 Cấu trúc của E-book
2.2.2 N ội dung E-book
- GIÁO KHOA: bao gồm các chương và các bài trong chương trình hóa học hữu cơ lớp
11 (nâng cao) Tác gi ả chỉ thực hiện được 3 chương (chương 5, 6, 7) thuộc phần
hiđrocacbon
Trong mỗi chương gồm có các bài học, nội dung mỗi bài học gồm có:
+ Lý thuyết với cấu trúc và nội dung dựa trên sách giáo khoa hóa học lớp 11 (nâng cao)
+ Phim thí nghiệm, mô phỏng hóa học về cơ chế phản ứng, hình ảnh minh
họa,…nhằm tăng tính trực quan, hấp dẫn khi HS học E-book
+ Phần tư liệu: cung cấp những kiến thức, nhũng hiện tượng hóa học nhằm gắn liền
nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống
+ Đúng / Sai: đưa ra những sai sót (S) thường gặp, khó nhận ra của HS và chỉnh sửa
bằng những kiến thức đúng (Đ)
+ Phần bài tập: