Cùng với khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăngvà đa dạng của người tiêu dùng cả về số lượng và chất lượng, trong những năm đổi mới vừa qua, ngành công nghiệp sữa Việt Nam đã có những đ
Trang 1thay đổi căn bản mọi mặt của đời sống xã hội Cùng với tốc độ tăng trưởng
kinh tế đạt ở mức cao liên tục trong nhiều năm, thu nhập và mức sống của
người dân đã và đang được cải thiện đáng kể, nhu cầu sử dụng sữa và các sản
phẩm từ sữa tăng rõ rệt về số lượng, chất lượng và chủng loại
Theo các số liệu điều tra về thống kê, vào năm 2000 mức tiêu thụ sữa
bình quân đầu người ở Việt Nam chỉ là 6 lít, năm 2002 đạt xấp xỉ 7 lít, năm
2004 đã là 8 lít, và năm 2006 ước tính đạt khoảng trên 9 lít Sự gia tăng của
mức cầu này vừa là điều kiện vừa là hệ quả phát triển của ngành công nghiệp
sữa Việt Nam hiện nay Cùng với khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng
tăngvà đa dạng của người tiêu dùng cả về số lượng và chất lượng, trong
những năm đổi mới vừa qua, ngành công nghiệp sữa Việt Nam đã có những
đóng góp nhất định về giải quyết việc làm, tạo nguồn thu cho ngân sách, mở
ra những hình thức liên kết kinh tế và sản xuất kinh doanh mới, đồng thời đã
có những tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật – công nghệ Tuy nhiên những thách
thức đang đặt ra cho ngành công nghiệp sữa Việt Nam cũng khá phức tạp và
đang đòi hỏi những biện pháp giải quyết thích hợp có hiệu quả: làm thế nào
để đảm bảo gia tăng ổn định nguồn cung ứng nguyên liệu đầu vào, để huy
động tốt hơn các nguồn lực đầu tư, tiếp tục hạ thấp giá thành và nâng cao chất
lượng sản phẩm, và đặc biệt là để cạnh tranh được với các hãng sữa nước
ngoài đã có bề dày lịch sử hàng trăm năm khi Việt Nam phải thực hiện tự do
hoá thương mại và đầu tư theo các nguyên tắc chung của AFTA và WTO
Trang 2Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Liên quan đến ngành công nghiệp sữa Việt Nam, trong những năm gần
đây ở nước ta đã có một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí và khá nhiều
văn bản báo cáo mang tính chất nội bộ của ngành này, đơn cử như: Báo cáo
tổng kết tình hình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp ngành sữa từ năm
1996 đến năm 2002; Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của Công ty
Vinamilk – Công ty kiểm toán Việt Nam năm 2002, 2003, 2004; Báo cáo tình
hình thực hiện dự án của Công ty Nestle; Dự thảo đề cương chi tiết chiến lược
phát triển khoa học công nghệ ngành công nghiệp chế biến sữa đến năm 2020,
và lộ trình thực hiện đến năm 2005 (do bộ Công nghiệp xây dựng năm 2003);
Định hướng phát triển bò sữa đến năm 2010 của Nguyễn Đăng Vang Ngoài
ra, còn có một số văn bản do các cơ quan quản lý nhà nước công bố như sau:
Quyết định của thủ tướng chính phủ về một số biện pháp và chính sách phát
triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam thời kỳ 2001-2010 (ban hành tháng 10
năm 2002); Quyết định của Bộ trưởng Bộ công nghiệp phê duyệt quy hoạch
phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020
Những tài liệu trên có giá trị tham khảo rất quan trọng đối với việc thực
hiện đề tài của luận văn Tuy nhiên có thể khẳng định cho đến nay chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về thực trạng của ngành công
nghiệp sữa Việt Nam dưới góc độ kinh tế chính trị
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
Trang 3Gắn với mục đích trên, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, giải quyết
những vấn đề chính dưới đây:
- Phân tích vai trò và đặc điểm của ngành công nghiệp sữa; làm rõ các
nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của nó; bước đầu tổng kết kinh
nghiệm của một số nước trong việc phát triển ngành công nghiệp sữa và rút ra
những khía cạnh có thể tham khảo cho Việt Nam
- Đánh giá khái quát quá trình phát triển của ngành công nghiệp sữa
Việt Nam những năm gần đây, phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên
nhân
- Luận chứng các căn cứ khoa học và thực tiễn gắn với định hướng và
giải pháp phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam trong những năm tới
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ đã được xác định, luận văn dựa
trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, từ đó sử dụng các phương pháp điều tra, thống kê và phân tích
các tài liệu, số liệu có liên quan, đồng thời kết hợp sử dụng phương pháp đối
chiếu, so sánh, tổng hợp để rút ra các nhận định
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng của ngành Công nghiệp sữa
Việt Nam trong một số năm đổi mới kinh tế gần đây và góp phần thúc đẩy
ngành này phát triển trong giai đoạn 2006-2010 và đặt trong tầm nhìn đến
Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
Trang 4Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
quả hơn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về ngành công nghiệp sữa
Chương 2: Ngành công nghiệp sữa Việt Nam: Lịch sử phát triển và
thực trạng
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp sữa
Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và đến năm 2020
Formatted: Font: Times New Roman, Dutch
Trang 51.1 VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA
1.1.1 Vai trò cơ bản của ngành công nghiệp sữa
Chức năng chủ yếu của ngành công nghiệp sữa là sản xuất, cung ứng
sữa và các sản phẩm đa dạng chế biến từ sữa phù hợp với kinh tế thị trường,
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Riêng ở Việt Nam
theo số thống kê, năm 2000 mức tiêu dùng sữa bình quân trên một đầu người
của người đạt khoảng 6 lít; năm 2002 là 6,7 lít; năm 2005 là 8 lít và dự báo
đến năm 2010 sẽ đạt khoảng 12 lít
Ngành công nghiệp sữa góp phần thúc đẩy sự liên kết nông nghiệp -
công nghiệp - dịch vụ Thực tế cho thấy, sự phát triển của ngành công nghiệp
sữa đã kéo theo sự phát triển của các ngành nông nghiệp và dịch vụ, thể hiện
khá rõ ở trạng thái tương đối sôi động sôi động của ngành chăn nuôi bò sữa
và của mạng lưới phân phối các sản phẩm về sữa ở Việt Nam trong vòng 10
năm trở lại đây
Mặt khác, ngành công nghiệp sữa còn góp phần giải quyết việc làm cho
xã hội (cả ở ba khâu: sản xuất và cung ứng nguyên liệu đầu vào; chế biến sản
phẩm và trong hệ thống mạng lưới tiêu thụ các loại thành phẩm) Chỉ riêng ở
khâu sản xuất, cung ứng nguyên liệu đầu vào là sữa tươi, chương trình phát
triển đàn bò sữa đã thu hút đáng kể lực lượng lao động nông thông, giải quyết
một khối lượng việc làm đáng kể cho nông dân Ngành công nghiệp sữa đã và
sẽ tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nhập
cho nông dân, góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam Bên
cạnh đó, lực lượng bác sĩ thú y chuyên sâu chăm sóc, hỗ trợ cho chăn nuôi bò
Trang 6Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
ứng sản phẩm sữa trên khắp thị trường 84 triệu dân Việt Nam, để sản phẩm
sữa cải thiện cuộc sống của người dân
Ngành công nghiệp sữa có vai trò nhất định đối với sự phát triển của
nền công nghiệp Việt Nam, và trong một số năm gần đây đã đạt tốc độ tăng
cao hơn tốc độ tăng bình quân của toàn ngành công nghiệp Tính theo giá trị
sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 1996 – 2000 đạt tốc độ tăng trưởng là
20%/ năm trong khi toàn ngành công nghiệp là 13,57%/ năm trong cùng thời
kỳ 1996-2000 (Nguồn: Bộ Công nghiệp)
Ngành công nghiệp sữa cũng là ngành đóng góp nhiều cho ngân sách
nhà nước, tiêu biểu là Vinamilk:
Bảng 1.1 : Kết quả sản xuất kinh doanh của Vinamilk ( 2003 - 2005 )
2004/2003 2005/2004
Tổng giá trị tài sản 2.631.571 2.554.708 3.897.936 96 152
Doanh thu thuần 3.809.414 3.775.183 5.638.784 99 149
Lợi nhuận từ hoạt động
Lợi nhuận trước thuế 822.147 461.549 602.600 56 130
Lợi nhuận sau thuế 512.466 461.549 517.671 90 112
Trang 7công nghiệp sữa Việt Nam đã đang và sẽ góp phần làm cho hoạt động của thị
trường ngày càng sôi động
1.1.2 Một số đặc điểm chính của ngành công nghiệp sữa
1.1.2.1 Đặc điểm của nguyên liệu đầu vào
Ngành sữa Việt Nam hiện nay mới chỉ tự túc được khoảng 13% nguyên
liệu phục vụ nhu cầu chế biến và tiêu dùng trong nước Số còn lại được nhập
khẩu dưới dạng bột sữa nguyên liệu, sữa bột các loại, sữa đặc có đường, sữa
tươi tiệt trùng, phomat, bơ, kem từ New Zealand, Hà Lan, Pháp, Đan
Mạch, và phần lớn nhập khẩu qua cảng thành phố Hồ Chí Minh
Trong cơ chế thị trường hiện nay , việc nhập khẩu các sản phẩm sữa
nhìn chung không quá khó khăn khó khăn.Tuy nhiên, do chưa chủ động được
nguồn nguyên liệu đầu vào và giá sữa nguyên liệu trên thị trường quốc tế lại
luôn trong tình trạng biến động, hoạt động sản xuất kinh doanh của của ngành
công nghiệp sữa nói chung và của Vinamilk nói riêng đã vấp phải không ít trở
ngại
Ngoài sữa bột nguyên liệu, nhiều loại phụ liệu và vật tư cho sản xuất
vẫn phải nhập như dầu bơ, các loại bao bì
Theo số liệu của Vinamilk , trong cơ cấu giá thành sản phẩm sữa bột
hơn 68% là chi phí nguyên liệu, vật tư nhập khẩu Trong đó khoảng 42% giá
thành là chi phí nhập sữa bột gầy Trong cơ cấu giá thành sữa tươi hoàn
nguyên , chi phí ngoại tệ cũng chiếm khoảng gần 76% Đăc biệt, chi phí bao
Trang 8Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
là 31,29% Trong giai đoạn 1996-2000 tốc độ tăng trưởng của đàn bò sữa đạt
11,7%/năm Trên 93% đàn bò sữa được nuôi trong hộ gia đình, quy mô từ 3
đến 10 con Có một số hộ nuôi trên 30 con Hầu hết các nông trường thuộc sở
hữu nhà nước chuyên chăn nuôi bò sữa đã thực hiện hình thức khoán cho các
hộ thông qua hợp đồng kinh tế-kỹ thuật, nông trường chỉ đảm nhận dịch vụ kỹ
thuật, thú y và thu mua toàn bộ sản phẩm sữa tươi để chế biến
Năng suất sữa hiện nay của giống bò sữa lai đã có ở Việt Nam đạt bình
quân 3.000-3.400 lít/chu kỳ Cá biệt có con đạt 6.000 lít/chu kỳ Tuy nhiên
năng suất này thấp hơn rất nhiều so với các nước có truyền thống chăn nuôi
bò sữa Phân theo năng suất sữa bò, trên thế giới thường chia làm ba nhóm:
Nhóm có năng suất cao, nhóm trung bình và nhóm kém Nhóm có năng suất
cao là các nước Mỹ, Nhật, Canada, Nauy, Thuỵ sĩ và một số nước EU, nhóm
trung bình là Úc, Hungary, Czech ; Việt Nam gần như đứng ở tốp cuối của
nhóm có năng suất kém
1.1.2.2 Đặc điểm về quy trình sản xuất, công nghệ chế biến và đặc tính của
sản phẩm
Trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, hầu hết các cơ sở
sản xuất lớn của ngành sữa Việt Nam đều nỗ lực để có được những trang thiết
bị công nghệ tiên tiến của thế giới ở Công ty Sữa Việt Nam, phần lớn các nhà
máy thành viên đều được trang bị các dây chuyền sản xuất thông qua liên kết
với các công ty nổi tiếng của EU và Mỹ (như Tetrapak, APV), chỉ duy nhất
một dây chuyền vỏ lon 99 của Nhà máy Dielac là dùng thiết bị của Việt Nam
Trang 9(mới được đưa vào sử dụng trong năm 2002) Hầu như tất cả các thiết bị của Vinamilk đều mới được sử dụng, một số được trang bị từ năm 1989, số còn lại được trang bị từ năm 1996 trở lại đây và thuộc thế hệ thiết bị mới của thế giới (ngoại trừ lò hơi 3,4 tấn/h của Nhà máy Dielac đã sử dụng từ năm 1973)
Các công ty liên doanh với nước ngoài cũng được đầu tư trang thiết bị hiện đại
Như vậy, ngành sữa Việt Nam là một trong số ít ngành công nghiệp ở nước ta có trang thiết bị và công nghệ đạt trình độ tiến tiến trên thế giới Với công nghệ tiên tiến và thiết bị hiện đại, các sản phẩm đảm bảo chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế Sản phẩm của Công ty Sữa Việt Nam được các cơ quan chuyên trách trong và ngoài nước xác nhận về chất lượng( Vinacontrol, Viện Kiểm tra Đo lường chất lượng của áo )
Tuy nhiên về tổng thể, Việt Nam chưa xây dựng được bộ tiêu chuẩn hoàn chỉnh cho các sản phẩm sữa từ sữa nguyên liệu xuất nhập khẩu đến sữa thành phẩm Việc quản lý của Nhà nước về mặt tiêu chuẩn chưa chặt chẽ và còn tuỳ thuộc vào cách làm của từng công ty
Nhìn chung, các đơn vị sản xuất lớn trong ngành đều trang bị các máy phân tích đo lường tiên tiến và hiện đại, nên việc quản lý chất lượng sản phẩm khi sản xuất và cả trong quá trình tiêu thụ, về cơ bản đáp ứng được nhu cầu
Các đại lý tiêu thụ , các quầy giới thiệu sản phẩm của Vinamilk, của Công ty giống bò sữa Mộc Châu không được phép bán các sản phẩm sữa đã mãn hạn
sử dụng và những sản phẩm hết hạn sử dụng này đều được thu hồi về nơi sản xuất
1.1.2.3 Đặc tính của thị trường.
Thị trường sữa ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng về chủng loại sản phẩm và chất lượng hàng hóa Với dân số 84 triệu người và mức tiêu thụ sữa
Trang 10Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Chia sẻ, cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sữa Việt Nam đang là mối quan tâm hàng đầu của các công
ty chế biến sữa nước ngoài Ngoài ra, dựa vào những ưu thế của Việt nam cùng với sự cạnh tranh trên thị trường thì việc đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm sữa cũng là ưu tiên số một của các công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm sữa tại Việt Nam ( đặc biệt là Vinamilk)
* Thị trường tiêu thụ nội địa:
Nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ phát triển khá cao trong hơn 10 năm qua Do vậy chất lượng cuộc sống người dân được cải thiện đáng kể, và việc tiêu dùng các sản phẩm sữa đã trở thành nhu cầu thường xuyên của nhiều bộ phận dân chúng Những chương trình xã hội của Nhà nước như Chương trình dinh dưỡng học đường, Chương trình chống suy dinh dưỡng cũng tạo điều kiện tốt cho việc tăng mức tiêu thụ sữa trên thị trường nội địa Riêng Công ty Vinamilk cũng đã chủ động và tích cực quảng bá sản phẩm của mình qua các chương trình tài trợ, chương trình tiếp thị và phát triển mạng lưới nhà phân phối trên toàn quốc Doanh thu của Vinamilk năm 2003 đạt 3.809 tỷ đồng, năm 2004 đạt 3.775 tỷ đồng, năm
2005 đạt 5.659 tỷ đồng và đến năm 2006 đã lên tới 6.746 tỷ đồng Với định hướng phục vụ số đông người tiêu dùng trong nước, nhằm nâng cao thể trạng
và phù hợp với mức thu nhập của người dân, giá sản phẩm của Vinamilk thường được xây dựng thấp hơn giá của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài
và vẫn đảm bảo cho người chăn nuôi bò có mức lãi nhất định
Mặc dù sản phẩm do ngành sữa cung cấp cho thị trường trong nước tăng đều hàng năm, nhưng cũng chỉ đáp ứng được một phần mức tiêu thụ trong những năm qua Dự kiến đến năm 2010 mức tiêu thụ tính theo đầu người sẽ đạt 10 - 12kg/ người/năm - tăng bình quân hàng năm khoảng 0,5 lít sữa cho mỗi người dân (khoảng trên dưới 40 triệu lít sữa qui đổi mỗi năm)
Trang 11Điều đó chứng tỏ thị trường nội địa còn rất rộng mở và sẽ là thị trường chiến lược đối với ngành sản xuất sữa Việt Nam Sản phẩm sữa tươi tiệt trùng (UHT) của Vinamilk đang chiếm giữ thị phần lớn ( theo đánh giá của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, sản phẩm của Vinamilk chiếm lĩnh khoảng 70 - 75% thị phần trong nước, cụ thể như sau: sữa đặc có đường 70 - 75%, nhóm sữa bột khoảng 50 - 60%, sữa tươi 95 - 98%)
* Thị trường xuất khẩu
Hiện nay ở Việt Nam chỉ có duy nhất Vinamilk là doanh nghiệp có sữa
và các sản phẩm từ sữa xuất khẩu được sang một số nước Về giá trị tổng sản lượng xuất khẩu năm 2003 đạt 785 tỷ đồng, năm 2004: 372 tỷ đồng, năm 2005: 394 tỷ đồng Kim ngạch xuất khẩu năm 2003 đạt trên 67 triệu USD, năm 2004 đạt trên 34 triệu USD và năm 2005 đạt trên 89 triệu USD
Thị trường xuất khẩu của Vinamilk trong thời gian qua chủ yếu là là các nước Trung Đông ngoài ra còn sang Trung Quốc, Mỹ, Đức, úc Xét về mặt chất lượng, giá thành, sản phẩm sữa Việt Nam có tiềm năng gia xuất khẩu, nhất là đối với thị trường ASEAN và Trung Quốc
1.2 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA
1.2.1 Nhu cầu tiêu dùng và sự tăng trưởng mức cầu tiêu dùng sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa
Nhu cầu về sản phẩm sữa của xã hội rất đa rạng Gắn với nhu cầu sữa cho tiêu dùng trong nước và nhu cầu xuất khẩu
Nhìn tổng quát theo góc độ kinh tế, có thể gộp thành hai nhu cầu cơ bản:
Một là, nhu cầu tự nhiên mà thực chất là nhu cầu về sản phẩm sữa của
dân cư tính theo số lượng dân số Đối với tất cả các các nước trên thế giới
Trang 12Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
một trong những tiền đề để hình thành nên tổng cầu về các sản phẩm sữa theo mức độ quan tâm của chính phủ và các chiến lược phát triển quốc gia Yếu tố trên là phương diện mà các nhà chính sách cần tính tới khi thiết lập giải pháp
để cân bằng cung cầu trong phát triển ngành sữa
Hai là, nhu cầu kinh tế, được hiểu là nhu cầu có khả năng thanh toán,
hay là cầu sản phẩm sữa mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định Xét về phương diện kinh tế của các nhà kinh doanh thì đây là điều rất đáng chú ý
Phần lớn người tiêu dùng nước ta có thu nhập thấp, sức mua hạn chế, nhất là khu vực nông thôn, đặc biệt vùng trung du và miền núi cao (chiếm 76% dân số) Chiếm tỷ trọng cao vềsức mua trên thị trường là dân cư thành thị ( 24% dân số) Đặc Đặc điểm này thể hiện rất rõ nét qua một số số liệu thống kê dưới đây về tiêu thụ sản phẩm Vianamilk tại một số tỉnh phía Bắc năm 2005 như sau:
Biểu đồ 1.1: Thu nhập của người lao động Việt Nam (tính bình quân cho
giai đoạn 2000 - 2005)
Formatted: 1, Left, Line spacing: single,
Don't suppress line numbers, Tab stops: Not at 0"
Trang 13500 USD - 999 USD
300 USD -499 USD
150 USD - 299 USD ThÊp h¬n 150 USD
Thµnh Thi N«ng Th«n
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 20 trang 120) Nguồn : Niên giám thống kê
h ng năm thời kỳ 2000 – 2005
Formatted: Dutch (Netherlands) Formatted: Left
Trang 14Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Bảng 1.2 : Mức chi tiêu năm 2005 cho sản phẩm Vinamilk tại một số
Bình quân (Ngìn.đ/người)
Hà Giang Nam Định Sơn La
ĐBSH Đ.Bắc ĐBSH ĐBSH B.Tr.Bộ
Đ Bắc B.Tr.Bộ
Đ Bắc ĐBSH
T Bắc
Đ Bắc
T Bắc
Đ Bắc ĐBSH
T Bắc
2,67 1,00 0,88 1,67 2,86 0,67 3,47 0,66 1,79 0,76 0,61 0,59 0,60 1,89 0,88
177,0 19,7 15,3 27,6 30,3 5,5 21,4 3,6 8,9 3,5 2,6 2,1 1,9 4,8 1,5
76.900 19.700 17.386 16.527 10.820 8.200 6.167 5.455 4.972 4.605 4.262 3.559 3.167 2.540 1.705
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5)
(Nguồn: Công ty cổ phần sữa Việt Nam)
Sự chênh lệch về mức độ tiêu thụ sữa còn thể hiện rất rõ nét giữa thành thị, nông thôn và miền núi Chẳng hạn, riêng tại thủ đô Hà Nội, doanh thu của Vinamilk đạt xấp xỉ tổng doanh thu ở các tỉnh đồng bằng như Hưng Yên, Hải
Formatted: Font: 14 pt, Bold, Dutch
Formatted: 2, Left, Line spacing: single,
Don't suppress line numbers, Tab stops: Not at 0"
Trang 15Dương, Thái Bình, Nam Định, và gấp 3 lần tổng doanh thu từ các tỉnh vùng núi cao như Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng
Về mặt địa lý, thị trường sữa Việt Nam được phân chia thành 3 vùng Bắc, Trung, Nam với sự khác nhau về khí hậu, điều kiện sống, phong cách sống, thu nhập và thói quen tiêu dùng Trong 3 vùng, miền Nam là nơi có mức độ tiêu thụ sữa cao nhất, tiếp theo là miền Bắc rồi đến miền Trung Sự khác nhau về thói quen hay thị hiếu còn thể hiện ở sản lượng tiêu thụ của sản phẩm Ví dụ: người dân miền Nam ưa dùng sữa tươi không đường, còn người miền Bắc lại thích dùng sữa tươi có đường
miền trung, miền nam
Doanh thu nội địa
Miền Trung 5%
Miền Nam 70%
Miền Bắc 25%
Sữa đặc có đường
Miền Trung 5%
Miền Nam 72%
Miền Bắc 23%
Sữa bột
Miền Bắc 14%
Miền Trung 7%
Sữa tươi
Miền Bắc 28%
Miền
Formatted: 1, Left, Line spacing: single,
Don't suppress line numbers, Tab stops: Not at 0"
Trang 16Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5)
(Nguồn: Công ty cổ phần sữa Việt Nam)
Để thấy rõ hơn sự chênh lệch về mức tiêu dùng giữa các vùng miền, chúng tôi xin minh hoạ bằng đồ thị dưới đây
Biểu đồ 1.3: Mức tiêu thụ sữa bình quân năm 2005
(tính theo lít/đầu người)
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5)
Nguồn : Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn
Kết quả phân tích các số liệu đã được trích dẫn ở trên cho thấy, 1 người dân ở phía Nam có mức tiêu thụ sữa gấp 1,67 lần người dân ở miền Trung, gấp 2,4 lần người dân ở miền Bắc và gấp 4,7 lần người dân ở khu vực Tây Nam Bộ Tuy nhiên, khi thu nhập quốc dân tăng lên, chi tiêu cho tiêu dùng hàng ngày, nhất là đối với vấn đề dinh dưỡng, cũng được người tiêu dùng chú trọng dần Thói quen dùng sữa đã tăng cao đặc biệt là ở đối tượng trẻ em Quan tâm đến chất lượng cuộc sống của mình, các đối tượng tiêu dùng khác đã có nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm sữa có bổ sung thêm các thành phần dinh dưỡng cần thiết, như sữa có bổ sung canxi cho người cao tuổi nhất
là phụ nữ, sữa không béo nhằm ngăn ngừa tăng cholesterol trong máu, sữa bổ sung DHA , Taurin, oligo fructose cho phụ nữ có thai hay cho trẻ sơ sinh
Trang 17Tâm lí chuộng hàng ngoại hoặc muốn „„tỏ ra sành điệu‟‟ còn rõ nét trong người tiêu dùng Việt Nam Mặt khác, phần lớn người tiêu dùng Việt Nam hiện nay còn có đặc điểm rất nhạy cảm với quảng cáo Do đó, trái ngược với việc đa số người có thu nhập thấp muốn mua hàng hoá với giá bán thấp thì một số đối tượng sẵn sàng chịu chi phí cao cho những sản phẩm nhập ngoại hay mang thương hiệu ngoại, đắt tiền, đặc biệt là sữa bột
Tuy không có những lợi thế như ngành sản xuất rượu, bia, thuốc lá
nhưng ở thị trường Việt Nam hiện tại, ngành sữa có thể hy vọng vào sự tăng trưởng mạnh của nhóm sữa tươi, trong đó các sản phẩm sữa tươi thanh trùng
Tỷ lệ tăng trưởng của nhóm sữa tươi là 8-10% /năm do thị hiếu tiêu dùng đang dịch chuyển từ việc sử dụng sữa đặc có đường hay sữa bột sang việc dùng sữa tươi
Như vậy, ta có thể thấy nhu cầu về sản phẩm sữa và sự tăng trưởng mức cầu tiêu dùng chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi các nhân tố sau:
- Trước hết, là giá cả sản phẩm trên thị trường, chủng loại và chất lượng sản phẩm sữa
- Mức thu nhập của người tiêu dùng: sức mua hay nhu cầu có khả năng thanh toán của người tiêu dùng là yếu tố quyết định qui mô và dung lượng thị trường và ở mức độ nhất định, đóng vai trò điều tiết sản xuất
- Các yếu tố thuộc về khẩu vị và sở thích của người tiêu dùng đối với từng sản phẩm sữa
- Các yếu tố về văn hoá, thói quen truyền thống sử dụng sữa của người dân Yếu tố này có sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực thị trường đặc biệt là giữa các vùng, miền ở nước ta
1.2.2 Khả năng sản xuất và cung ứng các nguyên liệu đầu vào
Đây là nhân tố lớn thứ hai, có ảnh hưởng trực tiếp đến ngành sữa, Việc
Trang 18Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
nguồn chủ yếu: hoặc do sản xuất trong nước hoặc nhập từ nước ngoài Tuỳ theo điều kiện của từng nước, tỷ trọng của nhuyên liệu nội địa và nguyên liệu nhập khẩu thường không giống nhau Khả năng cung thực tế của sản lượng sữa phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau:
- Môi trường tự nhiên mà trước hết là khí hậu thuận lợi thường giúp ngành chăn nuôi bò sữa phát triển mạnh Thông thường những quốc gia thuộc miền khí hậu ôn đới thì đều có ngành công nghiệp sản xuất sữa phát triển
Ngày nay, công nghiệp chế biến và sản xuất sữa của thế giới phụ thuộc rất nhiều vào các nước đó, điển hình là Hà Lan, New Zealand, Mỹ, Australia nhìn chung thị trường sữa nguyên liệu đều bị các nước trên chi phối Khi các công ty sản xuất và kinh doanh sữa không chủ động được nguồn nguyên liệu sẽ bị ảnh hưởng lớn đến doanh thu dù sản phẩm sản xuất ra để xuất khẩu hay tiêu thụ trong nước ở Việt Nam ngành chăn nuôi bò sữa mới bắt đầu chuyển qua cơ chế thị trường Trong thời gian qua, sản lượng sữa bò của Việt Nam luôn tăng dần do công nghiệp chế biến sữa và tiêu thụ sữa đã từng bước phát triển , đây cũng chính là yếu tố quyết định thúc đẩy tăng trưởng đàn bò sữa cả nước
Bảng 1.3: Sản lượng sữa bò Việt Nam giai đoạn 1995-2000
Đơn vị : T ấ nt ấ n
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000
T/độ tăng trưởng 96-
2000 (%) Sản lượng sữa tươi 24.600 27.800 31.200 32.800 42.302 52.172 16,2 Sản lượng sữa thu
mua của Vinamilk 16.700 21.700 27.509 30.000 39.000 50.848 24,9
Tỷ lệ thu mua của Vinamilk(%) 67,89 78,06 88,17 91,46 92,19 97,46
Nguồn : Báo cáo tổng kết của Bộ Công nghiệp (1995 - 2000)
Formatted: 2, Left, Line spacing: single
Formatted Table
Trang 19(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 3) Năm 1990 sản lượng sữa tươi ở nước ta đạt 17.000 tấn, đến năm 2001 đã tăng lên đáng kể đạt gần 70.000 tấn Năm 2004 sản lượng sữa thu mua của Vinamilk là 112.680 tấn
Trong hơn 10 năm từ 1990 đến 2001 sản lượng sữa bò đã tăng lên 4 lần Tuy nhiên cho đến nay lượng sữa nguyên liệu của Việt Nam mới chỉ đáp ứng tối đa trên 13% nhu cầu tiêu thụ sữa
Công ty sữa Việt Nam, Công ty Dutch Lady (liên doanh với Hà Lan )
và Công ty cổ phần sữa Việt Nam là những đơn vị chủ lực về thu mua sữa của các hộ chăn nuôi bò sữa Sản lượng thu mua của các công ty này tăng lên liên tục và chiếm giữ tỷ lệ ngày càng cao so với sản lượng sữa tươi của cả nước Việc thu mua sữa tươi được thực hiện qua các trạm thu mua sữa Các trạm này hầu hết của tư nhân đứng ra tổ chức gom mua sữa tươi của các hộ trong vùng, làm lạnh bảo quản rồi vận chuyển đến bán cho các nhà máy chế biến sữa Các trạm trung chuyển này ban đầu được hình thành tự phát, sau đó được sự hỗ trợ và hướng dẫn của các nhà máy chế biến sữa Các công ty chế biến sữa đã cử cán bộ hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra chất lượng sữa tươi trước khi thu mua Riêng ở T.P Hồ Chí Minh có hơn 20 trạm thu mua sữa tươi Và
ở thành phố này hiện có 43 bồn lạnh, mỗi bồn chứa được 2,4 tấn sữa tươi, đảm bảo mỗi ngày làm lạnh khoảng 100 tấn sữa tươi Do có các trạm trung chuyển này mà các hộ nuôi bò sữa dù với quy mô nhỏ cũng bán được sữa cho nhà máy chế biến Giá mua sữa tươi tại nhà máy là 3.550 đ/kg, tại các trạm trung chuyển là 3.200đ/kg và nhìn chung giữ được ổn định từ năm 1995 đến nay
Ở Mộc Châu, giá thu mua tại nhà máy là 2.300đ/kg do các hộ tự bảo quản và vận chuyển về nhà máy chế biến của Trung tâm giống bò sữa Mộc Châu Tương tự, ở Ba Vì các hộ nông dân bán trực tiếp cho Công ty sữa Nestle với giá 2.000 đ/kg
Trang 20Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Vùng ngoại thành Hà Nội, sữa tươi được bán cho Nhà máy chế biến sữa Phú Thuỵ với giá 3.100 đ/kg tại điểm thu gom , 3.300đ/kg tại Nhà máy Tuy nhiên, việc thu mua vận chuyển bảo quản sữa tươi tại các vùng chăn nuôi bò sữa các tỉnh phía Bắc còn một số khó khăn cần khắc phục: Giá thu mua còn thấp, hệ thống thu mua - bảo quản - vận chuyển sữa thông qua các trạm trung chuyển mới được hình thành, hoạt động chưa tốt, đã ảnh hưởng lớn đến tâm lý của các hộ chăn nuôi bò sữa
1.2.3 Khả năng sử dụng vốn và các nguồn lực phát triển
Ngoài các công ty liên doanh với nước ngoài như Dutch Lady, Vinamilk đã kết hợp với một số tập đoàn thực phẩm hàng đầu thế giới để hợp tác đầu tư tại Việt nam với mục tiêu thu hút nguồn vốn và chất xám cho Vinamilk nói riêng và ngành công nghiệp sữa Việt nam nói chung, đồng thời thúc đẩy việc mở rộng thị trường của Vinamilk cả ở trong nước cũng như quốc tế
Tháng 3/2005, Vinamilk đã hợp tác liên doanh với Tập đoàn Campina, một tập đoàn sữa lớn nhất châu Âu và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, quảng bá các sản phẩm cao cấp trên thế giới Liên doanh này có tổng số vốn
là 4 triệu USD, sản xuất các sản phẩm sữa và bột sữa dinh dưỡng cao cấp với những thương hiệu Campina mới nhằm cạnh tranh với các sản phẩm cao cấp của các tập đoàn đa quốc gia đang có mặt tại thị trường Việt Nam
Quy mô và năng lực sản xuất của ngành công nghiệp sữa Việt Nam, trong chừng mực nhất định, được phản ánh qua các số liệu dưới đây :
Bảng 1.4 : Các đơn vị chủ lực trong ngành sữa Việt Nam hiện nay
D/nghiệp
Năm s/xuất
Năng lực
SX, T/n(qui sữa tươi)
1 Công ty Sữa Việt Nam (Vinamilk)
Trang 21-Nhà máy Sữa Trường Thọ -Nhà máy Sữa Dielac -Nhà máy Sữa Hà Nội -Nhà máy Sữa Cần Thơ
2 Liên doanh Sữa Bình Định
3 Cty cổ phần sữa Hànội (Hanoi
4 Cty Thực phẩm và nước giải khát Dutch Lady V.N (Hà Lan và tỉnh Bình Dương)
LD với nước ngoài 1996 60.000
5 Cty TNHH Nestle Việt Nam 100% FDI 1998 5.000
6 Cty Giống bò sữa Mộc Châu QD TW 10.000 (Nguồn: Tài liệu tham khảo số 3)
Ngoài ra, còn có Công ty F&N trong Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore tham gia chế biến sữa tươi tiệt trùng với công suất 2,8 triệu lít/năm, Công ty Unilever –Hà Lan đóng tại Củ Chi ( Thành phố Hồ Chí Minh ) chế biến 9 triệt lít kem /năm
Năm 2003, Nhà máy Sữa Nghệ An ( liên doanh giữa Nghệ An và Vinamilk ) đã hoàn tất xây dựng và được đưa vào sản xuất
Một số liên doanh với nước ngoài đã được cấp giấy phép xây dựng hoạt động nhưng chưa được triển khai hoặc đã giải thể, trong đó có Liên doanh sản xuất pho mát Mộc Châu ở Sơn La
Bên cạnh các cơ sở sản xuất, chế biến sữa quy mô lớn còn có một số cơ
sở nhỏ và hộ tư nhân chế biến thủ công tiêu thụ tại chỗ và trong các cửa hàng giải khát với tổng sản lượng khoảng gần 10% lượng sữa tươi nguyên liệu
Phần lớn các cơ sở sản xuất và chế biến sữa tập trung tại các trung tâm
đô thị và công nghiệp lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; một số cơ sở
Formatted: Centered
Formatted: Centered
Formatted: Centered
Formatted: Centered Formatted: Centered
Trang 22Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
vừa và nhỏ hoạt động trên các vùng nguyên liệu có điều kiện chăn nuôi và phát triển đàn bò sữa như ở Mộc Châu, Ba Vì, Lâm Đồng
Trong các cơ sở sản xuất trên, năng lực sản xuất của Vinamilk chiếm tới 80% tổng năng lực sản xuất của toàn ngành Tiếp đến là Công ty Dutch Lady Việt Nam và Nestle Việt Nam, là những cơ sở có thiết bị công nghệ tiên tiến, thương hiệu có uy tín trên thị trường Việt Nam và có nhiều khả năng phát triển trong tương lai
Bảng 1.5: Năng lực sản xuất hàng năm phân theo ngành hàng
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5)
Nguồn : Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Đánh giá mức huy động công suất theo nhóm sản phẩm:
Bảng 1.6 : mức huy động công suất thiết bị của Vinamilk
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5)
Nguồn : Công ty cổ phần sữa Vinamilk
Từ các số liệu trên đây, có thể rút ra một số nhận xét:
Formatted: 2, Left, Line spacing: single
Formatted: 2, Left, Line spacing: single
Trang 23- Năng lực sản xuất sản phẩm sữa đặc còn khá lớn Nếu không có gì đột biến về thị trường ( nội địa và xuất khẩu ) thì trong vài năm tới chưa cần đầu
tư mới dây chuyền sản xuất sữa đặc.Thị trường tiêu thụ chính của sữa đặc là khu vực nông thôn và miền núi, với số dân ở khu vực này hiện có khoảng gần
60 triệu người trong năm 2000
- Hệ số sử dụng công suất thiết bị sản xuất sữa tươi tiệt trùng và sữa chua đạt khá cao Những năm gần đây nhóm sản phẩm này có mức tăng trưởng cao ( trên 20% /năm ) và nhu cầu tiêu thụ sữa tươi, sữa chua đang có chiều hướng tăng nhanh ở khu vực thành thị và các trung tâm công nghiệp Vì vậy cần có biện pháp đầu tư thích hợp để tăng năng lực sản xuất nhóm sản phẩm này trong vài năm tới
-Sữa bột các loại: Sản lượng sữa bột các loại của Vinamilk đạt tốc độ tăng trưởng 8% từ năm 2001 và đã đạt công suất thiết bị, những năm gần đây tốc độ tăng trưởng còn cao hơn
1.2.4 Khả năng thích ứng với thị trường
Sở dĩ ngành sản xuất sữa Việt Nam ngày càng phát triển vì những doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất sữa đều nắm bắt được điểm mấu chốt trong cơ chế thị trường là hiểu sâu sắc các yếu tố văn hóa, xã hội và tính cách, tâm lý người tiêu dùng theo từng khu vực địa lý nhất định Các doanh nghiệp này đều biết rằng phải có chiến lược phát triển kênh phân phối hợp lý Đối với sản phẩm sữa, các doanh nghiệp thâm nhập thị trường bằng cách xây dựng hệ thống phân phối chuyên nghiệp, tạo ra nhiều kênh phân phối như kênh truyền thống, kênh hiện đại và kênh khách hàng đặc biệt để làm sao đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất Khi đưa các sản phẩm qua các kênh này, các doanh nghiệp kinh doanh sữa sẽ phải lựa chọn các trung gian phù hợp với tiêu chí mà mình đưa ra Để vận hành hệ thống kênh phân phối,
Trang 24Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
nghiệp có khả năng đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên dưới quyền trở nên chuyên nghiệp
Bằng việc xây dựng hệ thống phân phối chuyên nghiệp, các doanh nghiệp kinh doanh sữa nhanh chóng đưa được nhãn hiệu của họ ra thị trường, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với người tiêu dùng và có được lợi thế khi nghiên cứu về người tiêu dùng
Các sản phẩm sữa rất phong phú về giá cả Các doanh nghiệp kinh doanh sữa có hệ thống giá riêng biệt, phù hợp tính kinh doanh của từng kênh phân phối nhằm đáp ứng mua hàng của người tiêu Các trung gian tiêu thụ sản phẩm sữa đều bán hàng theo chính sách giá nhất định của doanh nghiệp và thu lợi nhuận từ hoa hồng sản phẩm Mỗi doanh nghiệp kinh doanh sữa có lợi thế cạnh tranh khác biệt so với những sản phẩm cùng loại đó chính là lợi thế tuyệt đối trong việc đáp ứng đa số các nhu cầu của người tiêu dùng ở mọi nơi, mọi giới và mọi tầng lớp
Cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ của ngành đã đầu tư hiện đại hoá đạt mức tiên tiến trung bình của thế giới Các sản phẩm sữa cũng đã phát triển đa dạng về chủng loại với chất lượng cao và mẫu mã đẹp, phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường Sản phẩm sữa của Việt Nam bước đầu đã xâm nhập vào thị trường thế giới và khu vực
Cùng chung bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay go khốc liệt như mọi ngành sản xuất kinh doanh khác trên thị trường Việt Nam, ngành sản xuất và kinh doanh các sản phẩm sữa cũng đang có nhiều bước đổi thay rõ nét
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA
Trong việc phát triển kinh tế nói chung và phát triển nong nghiệp, nông thôn nói riêng,nhiều nước trên thế giới đã kếm chú trọngđến việc gắn kết phát triển phân bổ sữa với các cơ sở sane xuất, chế biến các sản
Trang 25phẩm về sữa Tuỳ theo điều kiện cụ thể, mỗi nước lại có những chiến lược và chính sách khác nhau để thúc đẩy kinh tế phát triển Nhưng một yếu tố chung cho phát triển là phải tạo được đầu ra cho sản phẩm trong nước Đối với ngành công nghiệp chế biến sữa cũng vậy yếu tố tiêu thụ sản phẩm có tính chất then chốt cho ngành chăn nuôi cũng như công nghiệp chế biến các sản phẩm từ sữa Thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm sữa là một kênh tiêu thụ rất lớn cho ngành công nghiệp chế biến sữa Các quốc gia đều có những chính sách cụ thể thu hút đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực chăn nuôi, trồng cỏ và áp dụng khoa học công nghệ trong từng công đoạn của sản xuất
Trong khuôn khổ của luận văn tác giả xin trình bày một số kinh nghiệm trong việc phát triển ngành công nghiệp sữa của một số nước có điều kiện tương tự Việt Nam
Trung Quốc là một nước đang phát triển, có nhiều nét tương đồng với Việt Nam Với điều kiện khí hậu, địa lý thuận lợi ở nhiều vùng, và là một quốc gia đông dân nhất thế giới, Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến việc phát triển sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm sữa Qui hoạch phát triển các vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp sữa rất rõ ràng, những vùng địa phương có khí hậu ôn đới đều được ưu tiên phát triển ngành công nghiệp chăn nuôi bò sữa Từ đó, về cơ bản Trung Quốc đã ttựgiải quyết được phần lớn nguồn nguyên liệu để sản xuất sữa, giúp hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Trung Quốc có chính sách hỗ trợ xuất khẩu rất mạnh nên giá các sản phẩm sữa của Trung Quốc thường rẻ hơn các nước khác Chiến lược của Trung Quốc là chiếm lĩnh thị trường trước thu lợi nhuận sau
Hiện nay Chính phủ Trung Quốc coi phát triển ngành sữa là một trong
Trang 26Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
nông ‟‟ nhằm tái cơ cấu nông nghiệp, và cải thiện sức khỏe của người dân và thúc đẩy xu hướng tiêu dùng trong nước
Bên cạnh đó, Trung Quốc còn rất thành công trong việc sử dụng Hoa Kiều để làm cầu nối nâng cao kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm sữa, đặc biệt là thị trường Mỹ và các thị trường có đông dân Hoa kiều cư trú Để xây dựng được kênh phân phối tốt ở nước ngoài, Trung Quốc đã tận dụng được trí tuệ, kinh nghiệm kinh doanh và hệ thống phân phối hàng hoá của các doanh nhân Hoa kiều Từ đó từng bước thâm nhập thị trường và xây dựng thương hiệu tại thị trường đó Ngoài ra Trung quốc còn đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại “China Town" của người Hoa ở nhiều nơi trên thế giới nhằm quảng bá thương hiệu các sản phẩm của Trung Quốc
Một kinh nghiệm khác cũng đáng chú ý của Trung Quốc: các doanh nhân trong hiệp hội “sữa” rất đoàn kết với nhau trong tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường Các hiệp hội hoạt động đều được sự trợ giúp rất tích cực từ phía Chính phủ trong quảng bá thương hiệu cho hàng hóa cũng như thu thập, phân tích thông tin về sản phẩm trên thị trường, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp sữa
Thái Lan là nước cũng rất thành công trong trong việc phát triển sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm sữa Khác với Trung Quốc, Thái Lan không được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu để phát triển các vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến sữa nhưng ngành công nghiệp chế biến thực phẩm phát triển khá sôi động từ nhiều năm nay
Do đi vào kinh tế thị truờng theo mô hình của các nước phương tây đã khá lâu Thái Lan đã thu hút đượ các công ty chế biến và kinh doanh sữa nổi tiếng trên thế giới như Pamarat, Duch Lady, Hoogwegt …Công nghệ cùng kỹ
Trang 27năng quản lý hiện đại đã giúp các sản phẩm sản xuất tại Thái Lan có tính cạnh tranh rất cao trên thị trường
Thái Lan đã sớm xây dựng một chiến lược cấp quốc gia để phát triển và quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm của mình Chiến lược này dựa trên cơ
sở một hình ảnh Thái Lan trên thị trường toàn cầu như một đất nước với những nét văn hóa đặc trưng Đặc biệt, khoảng hơn 10 năm trở lại gần đây, Thái Lan chú trọng tăng cường sử dụng thương mại điện tử rộng rãi như một công cụ hữu hiệu để phát triển kinh tế nói chung và ngành công nghiệp sữa nói riêng
Thái Lan là một nước có ngành công nghiệp du lịch rất phát triển, do vậy Chính phủ Thái Lan đã sử dụng chiến lược thúc đẩy xuất khẩu bằng hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua khách du lịch để quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm sữa cũng như cho các công ty chế biến sữa Cùng với ngành công nghiệp du lịch, thì hoạt động xuất khẩu các sản phẩm thực phẩm chế biến của Thái Lan cũng rất có uy tín trên thị trường quốc tế Chính phủ nước này luôn cùng với doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động tìm thị trường đầu ra cho các sản phẩm sữa
Quan hệ giữa Mỹ và Thái Lan có tính chiến lược nên việc tiêu thụ các sản phẩm sữa của Thái Lan tại thị trường Mỹ rất được sự ưu ái của chính phủ hai bên và đây là một trong những nhân tố quan trọng khiến cho hoạt động xuất khẩu các sản phẩm sữa của Thái Lan phát triển ngày càng mạnh Mỹ là một thị trường tiêu dùng lớn nhất trên thế giới và Thái Lan luôn coi thị trường
Mỹ là trọng tâm để xuất khẩu hàng hóa nói chung và các sản phẩm sữa nói riêng Thực tế nhiều năm qua cho thấy, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm sữa của Thái Lan bị chi phối rất nhiều bởi thị trường này
Trang 28Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
New Zealand là một nước được thiên nhiên cực kỳ ưu đãi về điều kiện khí hậu và địa lý nên ngành công nghiệp chế biến sữa rất phát triển New Zealand là nước xuất khẩu các sản phẩm sữa lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ
Các sản phẩm sữa xuất khẩu của New Zealand rất đa dạng, và có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới
Trọng điểm trong chiến lược xuất khẩu mặt hàng sữa của New Zealand rất rõ ràng - đó là xuất khẩu sữa nguyên liệu (bột sữa gầy - Skim Milk Powder) và nhượng quyền thương mại trong buôn bán quốc tế New Zealand
là một trong những nước xuất khẩu sữa nguyên liệu lớn nhất thế giới Từ những lợi thế trên, các công ty kinh doanh sản phẩm sữa xuất khẩu của họ được hưởng những thuận lợi rất lớn trong việc thâm nhập thị trường tiêu thụ toàn cầu
Công nghệ chế biến sữa trên thế giới có thể giống nhau, do quá trình đầu tư và chuyển giao công nghệ Tuy vậy vvè nguyên liệu để sản xuất sữa thì nhiều nước không có đủ khả năng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm này (Việt nam là một ví dụ) Năm bắt nhạy bén tình hình này, và bán sát lợi thế riêng của mình, từ lâu New Zealand đã rất chú trọng đầu tư cho ngành công nghiệp chăn nuôi bò sữa và xuất khẩu nguyên liệu sang nhiều nước trên thế giới
Để đa dạng hoá các loại hình xuất khẩu, New Zealand sử dụng phương thức nhượng quyền kinh doanh Các nhà phân phối độc quyền của các công ty sữa New Zealand ở nước ngoài chỉ phải đặt hàng số lượng cần tiêu thụ là sẽ
có sản phẩm với thương hiệu của New Zealand, nhưng các yếu tố khác trên bao bì đều bằng ngôn ngữ của nước nhập khẩu, giúp cho sản phẩm phù hợp với thị trường tiêu thụ hơn
Trang 291.3.4 Một số bài học cho Việt Nam
Từ việc khảo cứu khái lược kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp sữa của một số nước trên đây có thể rút ra một khía cạnh có giá trị tham khảo
bổ ích đối với Việt Nam trong việc đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp sữa
Chiến lược cấp quốc gia cho các sản phẩm thực phẩm chế biến (trong
đó có các sản phẩm từ sữa) giúp các nước nông nghiệp như Việt Nam xây dựng hình ảnh quốc gia trên thị trường thế giới bằng bản sắc dân tộc độc đáo trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại như hiện nay Phát triển công nghiệp sữa cần phải gắn chặt với việc phát triển ngành công nghiệp chăn nưôi bò sữa nhằm tăng dần tỷ lệ nguyên liệu trong nước, giảm dần tỷ lệ sữa bột nguyên liệu nhập khẩu Để thực hiện yêu cầu trên cần đa dạng hóa các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào ngành chế biến và chăn nuôi Theo hướng này, các cơ sở chế biến sữa cần phải gắn chặt với việc phát triển đàn
bò sữa trong nước và phải có chương trình đầu tư cụ thể đối với ngành chăn nuôi Bên cạnh sự đầu tư của các doanh nghiệp, Nhà nước cần có kế hoạch để phát triển đàn bò sữa một cách lâu dài và ổn định ở Việt Nam, đảm bảo sự phát triển đồng bộ và hợp lý giữa các vùng, các địa phương.Từ chỗ ổn định về khâu nguyên liệu sản xuất sẽ giảm được chi phí sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm sữa trên thị trường nội địa và thế giới
Sản phẩm sữa là sản phẩm có liên quan đến sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, an toàn thực phẩm của con người, nên cần phải có các qui định thống nhất về qui trình kỹ thuật, an toàn thực phẩm trong sản xuất phù hợp với các yêu cầu quốc tế đối với các sản phẩm thực phẩm chế biến Trong hội nhập kinh tế ngày nay thì chất lượng sản phẩm là yếu tố then chốt hàng đầu để sản phẩm được chấp nhận trên thị trường
Trang 30Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Như vậy, từ những nội dung đã được nghiên cứu và trình bày trong chương 1 của luận văn, có thể rút ra một số kết luận bước đầu dưới đây:
Một là, để đáp ướng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội, ngành công nghiệp sữa tất yếu sẽ phát triển, trở thành một bộ phận cơ hữu trong cơ cấu chung của nền kinh tế thị trường ở nhiều nước và ở Việt Nam
Với chức năng sản xuất, cung ứng sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa, ngành này có vai trò quan trọng không thể phủ nhận Nó là một “ cầu nối ” tạo ra sự liên kết theo xu hứonghueoéng hiện đại giữa ngành chăn nuôi, trồng trọt ( cỏ ) và ngành công nghiệp chế biến chế biến; giữa sản xuất và dịch vụ
Mặt khác, ngành công nghiệp sữa còn giải quyết việc làm cho xã hội, tăng nguồn thu ngân sách và ngoại tệ
Hai là, để có định hướng đảm bảo tính khoa học cho sự phát triển của ngành công nghiệp sữa, ngay từ đầu cần chú trọng những đặc điểm của nó,
về những điều kiện kinh tế, về đặc tính của thị trường; về thiết bị và về xu thế phát triển của áp lực cạnh tranh ở cả thị trường nội địa và thị trường thế giới
Ba là, Trong việc quy hoạch và thuc đẩy ngành công nghiệp sữa phát triển, cần đặc biệt quan tâm đến nhu cầu tiêu dùng cũng như sự tăng trưởng, biến đổi của nhumcs cầu tiêu dùng sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa;
đồng thời phải tính toán kỹkhả năng sản xuất và cung ứng các nguyên liệu đầu vào, khả năng sử dụng vốn và các nguồn lực phát triển thông qua các hình thức liên kết kinh tế đa dạng ở trong nước và các đối tác nước ngoài, mặt
khaccs cũng phải đặc biệt quan tâm đến khả năng thích ứng với thị trường của từng loại sản phẩm
Trang 31CHƯƠNG 2
VÀ THỰC TRẠNG
Chương 2 được coi là trọng tâm của luận văn Trong chương này, tác giả tập trung vào một số nội dung nhằm góp phần làm rõ bước chuyển của ngành công nghiệp sữa Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường; thực trạng của nó hiện nay và các vấn đề đang đặt ra
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA VIỆT NAM
2.1.1 Khái quát về tình hình sản xuất và tiêu dùng sữa ở Việt Nam thời
kỳ trước năm 1986
Ngành công nghiệp chê biến sữa Việt Nam được hình thành từ những năm 60 của thế kỷ 20, nhưng ở giai đoạn đầu quy mô còn rất nhỏ cả về số lượng các cơ sở sản xuất cũng như sản lượng và chủng loại sản phẩm
Ở miền Bắc, trước năm 1986, chỉ có duy nhất một cơ sở chế biến sữa thuộc sở hữu của Nhà nước đó là Công ty sữa Thảo Nguyên (Mộc Châu), hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá, bao cấp và chuyên sản xuất bánh sữa bằng nguyên liệu sữa bò Đây là sản phẩm được thực hiện trên cở sở công nghệ và thiết bị đơn giản, cách xa vùng tiêu thụ
Ở miền Nam, sau khi đất nước được thống nhất vào năm 1976 Công ty Sữa cà phê miền Nam được thành lập, bao gồm 4 nhà máy quốc doanh thuộc
Trang 32Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
ngành chế biến thực phẩm: Nhà máy sữa Thống Nhất, Nhà máy sữa Trường Thọ, Nhà máy sữa Dielac và Nhà máy cà phê Biên Hoà Sản phẩm chế biến chủ yếu là sữa bột, sữa đặc có đường
Đến năm 1982, Công ty sữa cà phê miền Nam được chuyển giao về Bộ Công nghiệp thực phẩm và đổi tên thành Xí nghiệp Liên hiệp Sữa - Cà phê - Bánh kẹo 1 (XNLH), có thêm 2 nhà máy trực thuộc là Nhà máy bánh kẹo Lubico và Nhà máy bột dinh dưỡng Bích Chi (Đồng Tháp)
Nhìn tổng thể, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, cho đến cuối năm 1986, ngành công nghiệp sữa Việt Nam vẫn ở tình trạng rất kém phát triển Tình trạng này biểu hiện ở quy mô sản xuất nhỏ bé; thiết bị và công nghệ cũ kỹ, lạc hậu; nguồn nguyên liệu vừa ít, phân tán, vừa đơn điệu;
chủng loại sản phẩm lại càng đơn điệu Nguyên nhân gốc rễ của tình trạng này là do ngành công nghiệp sữa Việt Nam trong thời trước 1986 bị chi phối bởi cơ chế kinh tế chỉ huy
2.1.2 Những bước ngoặt lớn đánh dấu sự phát triển của ngành công
Trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh diễn ra sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngành công nghiệp sữa Việt Nam đã có những tiến bộ rất rõ nét Sự ra đời của Công ty Vinamilk năm
1992 thực sự là bước ngoặt đầu tiên lớn nhất của ngành công nghiệp sữa Việt nam Với xuất phát điểm là 3 nhà máy sữa: Trường Thọ, Thống Nhất và Dielac, đến nay Vinamilk đã có 8 nhà máy và đang nắm giữ vai trò chính của công nghiệp chế biến sữa Việt Nam (chiếm giữ 60 % đến 70% thị phần nội địa) Đến năm 1994 có thêm Công ty Foremost (nay là Dutch Lady), hoạt động theo phương thức liên doanh giữa Công ty xuất nhập khẩu Sông Bé với Công ty Friensland Vietnam Holding B.V (được cấp giấy phép hoạt động từ
Trang 33tháng 4/1994); và đến tháng 3 năm 1995 Công ty Nestle Việt Nam - doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài về ngành công nghiệp sữa ra đời tại Việt Nam
Tháng 12/2003, Công ty sữa Việt Nam chuyển sang hình thức công ty cổ phần và được đổi tên là công ty cổ phần Sữa Việt Nam
Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) được thành lập trên cơ sở Quyết định số 155/2003QĐ-BCN ngày 01/10/2003 của Bộ Công nghiệp về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước Công ty Sữa Việt Nam thành Công ty cổ phần Sữa Việt Nam
Nếu sự ra đời của Công ty Sữa Việt Nam năm 1992 là bước ngoặt lớn đầu tiên của ngành công nghiệp sữa Việt Nam, thì việc chuyển sang hình thức
cổ phần cổ phần của Vinamilk chính là bước ngoặt lớn thứ hai của ngành công nghiệp sữa Việt Nam
Hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế kinh tế thị trường, sản phẩm của ngành công nghiệp Sữa Việt Nam ngày càng được đa dạng hoá
Nếu ở thời kỳ trước 1986, chỉ có một tỷ lệ không lớn người tiêu dùng được
“phân phối” gần như một loại sản phẩm duy nhất là bánh sữa, thì từ năm 1992 cho đến nay, hàng chục triệu người trên rừng ở cả nông thôn và các đô thị Việt Nam hoàn toàn có thể dễ dàng tìm mua các sản phẩm rất phong phú được chế biến từ sữa Chỉ riêng Công ty Sữa Việt Nam hiện đã có tới trên 200 mặt hàng sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa gồm : sữa đặc, sữa bột cho trẻ
em và ngươi lớn, bột dinh dưỡng, sữa chua, sữa tươi, sữa đậu lành, kem, phomát, nước ép trái cây, bánh quy , đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng nhiều của người dân, phục vụ hiệu quả Chương trình dinh dưỡng học đường, Chương trình chống suy dinh dưỡng Không những thế sản phẩm sữa Việt Nam còn được xuất khẩu sang thị trường nhiều nước trên thế giới: Mỹ, Châu
Á, các nước Trung Đông
Trang 34Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam ngày càng có vị trí quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước, là nhân tố không thể thiếu nhằm phục vụ đời sống, tiêu dùng của nhân dân, nâng cao khả năng dinh dưỡng và thể lực của nhân dân - một yêu cầu đặc biệt cần thiết đối với công cuộc phát triển đất nước ở thời kỳ mới
Xây dựng, phát triển ngành công nghiệp chế biến sữa mạnh, hiện đại, hiệu quả, có tính cạnh tranh cao, sử dụng tối đa tiềm năng nội lực, tạo điều kiện phát triển mạnh đàn bò sữa, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thị trường nội địa, từng bước mở rộng xuất khẩu đó là hướng đi có tính chiến lược của ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam từ nay đến năm 2010 Hướng đi này càng có ý nghĩa hơn khi tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
đã phát triển theo cả bề rộng và chiều sâu và nhất là khi Việt Nam đã chính thức gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) kể từ đầu năm 2007
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN VÀ TIÊU THỤ CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA VIỆT NAM HIỆN NAY
2.2.1 Nguồn nguyên liệu trong nước và sản lượng sữa
Để thích ứng với nhu cầu ngày càng đa dạng và tinh tế của người tiêu dùng và để nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm với những đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường, từ sau năm 1986 đến nay, ngành công nghiệp sữa Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể về nguồn nguyên liệu đầu vào
Hiện nay, nguyên liệu dùng cho công nghiệp chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa ở Việt Nam bao gồm đường, dầu, thực vật, sữa bò, sữa trâu, sữa
dê, sữa cừu, …trong đó sữa bò là loại nguyên liệu chủ yếu nhất
Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, sản lượng sữa bò của Việt Nam luôn tăng dần, do công nghiệp chế biến sữa và tiêu thụ sữa đã từng
Trang 35bước phát triển và đây cũng là yếu tố quyết định thúc đẩy tăng trưởng đàn bò sữa cả nước
Formatted: 2, Left, Line spacing: single
Trang 36Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Bảng 2.1: Sản lượng sữa bò giai đoạn 1997-2002
Đơn vị : tấn
Năm Chỉ tiêu 1997 1998 1999 2000 2001 2002
T/độ tăng trưởng 1997-
2002 (%)
Sản lượng sữa tươi 24.600 27.800 31.200 32.800 42.302 52.172 16,2 Sản lượng sữa thu
mua của Vinamilk 16.700 21.700 27.509 30.000 39.000 50.848 24,9
Tỷ lệ thu mua của Vinamilk 67,89 78,06 88,17 91,46 92,19 97,46 (Nguồn: Tài liệu tham khảo số 20)Nguồn : Báo cáo tổng kết của Bộ Công
nghiệp
Năm 1990 sản lượng sữa tươi đạt: 17.000 tấn; đến năm 2001 đã tăng lên rõ rệt, đạt gần 70.000 tấn trong đó sản lượng sữa thu mua của Vinamilk là 63.168 tấn
Trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2001, sản lượng sữa bò đã tăng lên đáng kể: năm 2001 gấp hơn 4 lần so với năm 1990 Tuy nhiên, lượng sữa nguyên liệu của Việt Nam hiện nay mới chỉ đáp ứng tối đa khoảng dưới 15%
nhu cầu của các nhà máy chế biến sữa
Công ty Sữa Việt Nam và Công ty Duch Lady (liên doanh với Hà Lan )
là 02 đơn vị chính đứng ra thu mua sữa bò tuơi của các hộ chăn nuôi bò sữa;
trong đó Công ty sữa Việt Nam là đơn vị chủ lực, sản lượng thu mua của Công ty tăng lên liên tục và chiếm giữ tỷ lệ ngày càng cao so với sản lượng sữa tươi của cả nước
Thực trạng chăn nuôi bò sữa :
Theo số liệu của Viện Chăn nuôi, số lượng bò sữa ở Việt Nam năm
2001 là 41.241 con; và tính đến tháng 10 năm 2002 là 54.345 con, gấp hơn 6,7 lần so với năm 1986 (7.975 con ) Nếu chỉ so năm 2001 với năm 2002, tốc
Formatted Table
Trang 37độ tăng đàn bò sữa tăng tới 31,29 %/ (trong khi cả giai đoạn 1996-2000, tốc
độ tăng trưởng bình quân của đàn bò sữa đạt 11,7%/năm)
Bảng 2.2.: Diễn biến về số lượng đàn bò sữa giai đoạn 1994 - 2002
bò HF/ chu kỳ (kg) 3.300 3.400 3.800 4.000 4.200 4.500
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 3) Nguồn:
Để thấy rõ hơn thực trạng chăn nuôi bò sữa ở nước ta, cần tìm hiểu thêm về
cơ cấu phân bổ giữa các miền và các vùng lãnh thổ
Bảng 2.3: Tình hình phân bổ đàn bò sữa
Đơn vị
so với 2001(%)
Cả nước 41.241 100,00 54.345 100,00 31,29
Trong đó :
+Miền Bắc 6.170 14,96 11.066 20,36 76,11 +Miền Trung 132 0,32 934 1,72 707,58 +Tây Nguyên 804 1,95 1.224 2,25 52,24 +Miền Nam 34.135 82,77 41.121 75,67 20,77
Ngu ồ n: B ộ N ô ng nghi ệ p v à Ph á t tri ể n n ô ng th ô n
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 5)
Formatted: 2, Left, Line spacing: single Formatted Table
Formatted: 2, Left, Line spacing: single
Trang 38Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Điều đáng chú ý là có tới trên 93% đàn bò sữa được nuôi trong hộ gia đình, quy mô từ 3 đến 10 con Có một số hộ nuôi trên 30 con Các nông trường quốc doanh đã khoán về cho các hộ thông qua hợp đồng kinh tế -kỹ thuật, và chỉ đảm nhận dịch vụ kỹ thuật, thú y và thu mua toàn bộ sản phẩm sữa tươi để chế biến (nông trường Mộc Châu –Sơn La, nông trường Đức Trọng – Lâm Đồng )
Tại Củ Chi ( TP Hồ Chí Minh) và Đức Hoà (Long An) đã hình thành một số hợp tác xã (HTX) dịch vụ chăn nuôi bò sữa Các HTX này có từ 50-
100 hộ xã viên chăn nuôi bò sữa, bình quân mỗi hộ nuôi 10 con HTX hỗ trợ người chăn nuôi về tiêu thụ sản phẩm, bảo lãnh vay vốn, hợp đồng các nơi có đất để trồng cỏ, tổ chức sản xuất thức ăn, làm đầu mối chuyển giao khoa học
kỹ thuật… Đến nay đã có hàng trục HTX chăn nuôi bò sữa ở Long An, TP
Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương
Giống bò sữa chủ yếu là bò lai Holstein Fresian với mức độ lai F1 (50% HF ), F2 (75% HF) và F3 (87,5% HF )
Năng suất sữa hiện nay của giống bò sữa lai đạt bình quân 3.000-3.400 lít/ chu kỳ, cá biệt có con đạt 6.000 lít/ chu kỳ
Theo thống kê, có khoảng 10% đàn bò sữa là bò HF thuần chủng được nuôi chủ yếu ở vùng cao nguyên Mộc Châu (Sơn La ), Lâm Đồng, một số ít được nuôi tại khu vực xí nghiệp bò sữa An Phước (Đồng Nai) Năng suất sữa trung bình đạt 3.600 lít/ chu kỳ đến 4.300 lít/ chu kỳ (Nguồn: “Định hướng phát triển bò sữa đến năm 2010”, Vương Ngọc Long)
Thức ăn cho bò sữa :
- Thức ăn tươi xanh : được cung cấp từ 2 nguồn chính là cỏ trồng và cỏ
tự nhiên Do diện tích trồng trọt ít (ở Việt Nam không có những đồng cỏ, thảo nguyên chăn nuôi như ở các nước châu Âu, Mông Cổ…) nên chỉ có gần 10%
số hộ chăn nuôi trồng cỏ Diện tích trồng cỏ mỗi hộ từ vài trăm đến 1.000 m2
Trang 39Phổ biến là trồng cỏ voi, cỏ xả, năng suất 150-200 tấn/ha; cỏ Ghinê năng suất 80-100 tấn/ha
Do mùa khô kéo dài nên ở TP Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận, các
hộ chăn nuôi bò có trồng cỏ hoặc không trồng cỏ đều không đáp ứng đủ thức
ăn tươi xanh cho đàn bò Các hộ nuôi bò phải mua thêm cỏ tự nhiên là những loại cỏ hoà thảo như cỏ chỉ ta, cỏ mật, cỏ lồng vực cạn, cỏ gấu… để giải quyết nguồn thức ăn thiếu hụt Nếu trồng cỏ, giá thành từ 150-200 đồng /kg, còn mua cỏ tự nhiên với giá thành 200-300 đồng/kg
Hầu hết các hộ chăn nuôi phải cho bò sữa ăn rơm, ngọn mía, bã đậu phụ, khoai, sắn, dây đậu phộng… thay thế một phần thức ăn tươi xanh bị thiếu
- Thức ăn dinh dưỡng được các hộ chăn nuôi bò sữa sử dụng chủ yếu là cám tổng hợp được đóng bao riêng cho bò sữa, giá từ 2.100 đ-2.300 đ/kg( chế biến từ các nhà máy An Phú, Tân Sanh, Thống Nhất, Con cò, …) một số ít hộ dùng cám gạo, gạo và ngô nấu chín
Thức ăn cho các loại bò, theo kết quả điều tra cơ bản của Viện Khoa học nông nghiệp Miền Nam, được phản ánh ở bảng dưới đây:
Bảng 2.4: Các loại thức ăn hàng ngày cho bò sữa ở Việt Nam
Đơn vị: kg
STT
mưa
Mùa khô
Mùa mưa
Mùa khô
Mùa mưa
Mùa khô
Trang 40Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
2.2.2 Nguồn nguyên liệu nhập khẩu
Ngành sữa Việt Nam hiện nay mới chỉ tự túc được khoảng dưới 15%
nguyên liệu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước Số còn lại được nhập từ thị trường nước ngoài (chiếm trên 80% nhu cầu sử dụng) dưới các dạng chính sau: Bột sữa nguyên liệu, sữa bột các loại, sữa đặc có đường, sữa tươi tiệt trùng, phomát, bơ, kem…
Tổng giá trị nhập khẩu các loại sữa qua cảng TP Hồ Chí Minh được thống kê như sau :
Bảng 2.5: Tổng giá trị nhập khẩu các loại sữa
Nguồn: Công ty cổ phần sữa Việt Nam
(Nguồn: Tài liệu tham khảo số 4)
Từ những nội dung đã phản ánh trên đây, có thể nhận định: Nâng dần khả năng tự túc nguyên liệu, thay thế nhập khẩu là hướng phát triển quan trọng
Formatted: 2, Left, Line spacing: single