1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ sự khác biệt văn hóa và những xung đột trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại việt nam , luận văn thạc sĩ

75 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự khác biệt văn hóa và những xung đột trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả Đào Trọng Thanh Trúc
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Văn Thiện
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 510,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Bản chất của văn hóa (10)
    • 1.1.1 Khái niệm về văn hóa (10)
      • 1.1.1.1 Tớnh heọ thoỏng (11)
      • 1.1.1.2 Tính giá trị (12)
      • 1.1.1.3 Tính nhaân sinh (12)
      • 1.1.1.4 Tính lịch sử (12)
    • 1.1.2 Cấu trúc của hệ thống văn hóa (13)
    • 1.1.3 Loại hình văn hóa và những đặc trưng của nó (14)
      • 1.1.3.1 Loại hình văn hóa gốc nông nghiệp (16)
      • 1.1.3.2 Loại hình văn hóa gốc du mục (17)
  • 1.2. Quan hệ lao động và cơ sở vận hành quan hệ lao động (19)
    • 1.2.2 Các chủ thể trong quan hệ lao động (20)
      • 1.2.3.1 Môi trường bên ngoài (23)
      • 1.2.3.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp (24)
  • Chương 2: Thực trạng về quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện nay (0)
    • 2.1. Vai trò của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh teỏ Vieọt Nam hieọn nay.............................................................................. 19 2.2. Đặc điểm và những nét khác biệt về văn hóa của một số quốc gia đang (28)
      • 2.2.1.3 Hàn Quốc (34)
      • 2.2.2 Cộng hòa Singapore (35)
      • 2.2.3 Nước Mỹ (35)
      • 2.2.4 Các nước Tây Âu (36)
    • 2.3. Bản sắc văn hóa Việt và những ảnh hưởng của nó đến các hoạt động û 2.5. động 2.5.2 nước 2.6. sản xuất và đời sống của người Việt Nam (37)
      • 2.3.1 Đặc điểm nền tảng của văn hóa Việt Nam (37)
      • 2.3.2 Sự giao lưu văn hoá trong khu vực (0)
    • 2.4. Sự khác biệt về văn hóa trong quan hệ lao động và những mâu thuẫn ơ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay (42)
      • 2.4.1 Khác biệt về ngôn ngữ, cách thức giao tiếp (0)
      • 2.4.2 Khác biệt về nhận thức và cách thức ứng xử (0)
      • 2.4.3 Khác biệt về ý thức kỷ luật và tác phong công nghiệp (0)
      • 2.5.1 Mâu thuẫn trong quan hệ lao động (49)
        • 2.5.1.1 Mâu thuẫn cá nhân và mâu thuẫn tập thể (50)
        • 2.5.1.2 Mâu thuẫn công khai và tiềm ẩn (50)
      • 2.6.1 Mức độ nhận thức về pháp luật lao động và hiểu biết về văn hóa của người sử dụng lao động (53)
    • 3.1. Nâng cao hiểu biết về pháp luật cho người sử dụng lao động nước ngoài (59)
    • 3.2. Tăng cường kiểm tra giám sát thường xuyên hoạt động của doanh nghiệp bằng nhiều hình thức (59)
    • 3.3. Nghiêm khắc trong các biện pháp kiểm tra và xử phạt (60)
    • 3.4. Tạo điều kiện phổ biến tuyên truyền pháp luật lao động cho người lao động (61)
    • 3.5. Kiện toàn đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở (61)
    • 3.6. Tạo điều kiện nâng cao trình độ học vấn cho người lao động (62)
    • 3.7. Tăng cường đối thoại giữa người lao động và người sử dụng lao động 53 3.8. Aùp dụng các chính sách động viên người lao động (62)
    • 3.9. Tăng cường sự giao lưu giữa doanh nghiệp với nhà nước (0)
    • 3.10. Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho bộ phận nhân sự trong doanh nghieọp (64)

Nội dung

Bản chất của văn hóa

Khái niệm về văn hóa

Thuật ngữ "văn hóa" có nguồn gốc từ tiếng La tinh, với từ "Cultura" mang ý nghĩa trồng trọt, nuôi dưỡng và luyện tập Ở châu Âu, châu Mỹ và châu Đại Dương, các ngôn ngữ như Anh, Pháp và Đức vẫn giữ lại một số nghĩa ban đầu của từ này Nếu xem văn hóa là tất cả những gì con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác với tự nhiên và xã hội, thì mọi khía cạnh liên quan đến con người đều chứa đựng yếu tố văn hóa.

Văn hóa, mặc dù đã đồng hành cùng sự phát triển của nhân loại, nhưng chỉ đến thế kỷ 19, môn văn hóa học mới được hình thành với nhiều quan điểm và cách tiếp cận đa dạng Hiện nay, ở phương Tây, đã có hơn 400 định nghĩa về văn hóa từ các nhà nghiên cứu uy tín.

E.B Taylor, trong công trình "Văn hóa nguyên thủy" xuất bản năm 1871 tại London, được xem là nhà nhân học đầu tiên định nghĩa văn hóa như một đối tượng nghiên cứu khoa học Ông mô tả văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục, và các năng lực, thói quen mà con người đạt được trong xã hội Định nghĩa văn hóa của UNESCO cũng nhấn mạnh rằng văn hóa bao gồm tất cả những yếu tố làm cho một dân tộc khác biệt với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động.

Trong tiếng Việt, văn hóa có thể hiểu theo hai nghĩa: một là chỉ học thức và lối sống văn minh, hai là biểu thị trình độ văn minh của một giai đoạn cụ thể.

Văn hóa có thể được tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm việc phân chia thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, hoặc nhìn nhận qua bốn thành tố chính: văn hóa sản xuất, văn hóa xã hội, văn hóa tư tưởng, và văn hóa nghệ thuật Tuy nhiên, nhìn chung, văn hóa có bốn đặc trưng cơ bản.

Văn hóa là một thực thể hệ thống, kết nối mọi hiện tượng và sự kiện trong xã hội, thực hiện chức năng tổ chức xã hội Nó không chỉ tăng cường độ ổn định cho xã hội mà còn cung cấp các phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội Chính vì thế, văn hóa được coi là nền tảng của xã hội, được thể hiện qua khái niệm "nền văn hóa".

Văn hóa, theo nghĩa đen, là quá trình "trở thành đẹp, thành có giá trị," và là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người Các giá trị văn hóa được chia thành giá trị vật chất phục vụ nhu cầu vật chất và giá trị tinh thần phục vụ nhu cầu tinh thần Ngoài ra, văn hóa còn có các giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ Văn hóa thực hiện chức năng phát triển xã hội thông qua việc xem xét các giá trị, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp, với ngôn ngữ là hình thức biểu đạt Hơn nữa, văn hóa cũng điều chỉnh xã hội, giúp duy trì trạng thái cân bằng động và thích ứng với biến đổi môi trường, định hướng các chuẩn mực và tạo động lực cho sự phát triển.

Tính nhân sinh giúp phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội do con người sáng tạo với các giá trị tự nhiên Văn hóa là sự biến đổi của tự nhiên thông qua bàn tay con người, tạo nên sợi dây kết nối giữa con người với nhau Chính nội dung văn hóa thực hiện vai trò liên kết này.

Tính lịch sử giúp phân biệt văn hóa như một sản phẩm của quá trình tích lũy qua nhiều thế hệ, trong khi văn minh là sản phẩm cuối cùng phản ánh trình độ phát triển của từng giai đoạn Nó tạo điều kiện cho việc phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì thông qua truyền thống văn hóa, vốn là những giá trị ổn định, được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng qua không gian và thời gian, hình thành nên các khuôn mẫu xã hội và được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp và dư luận.

Văn hóa được hiểu là một hệ thống hữu cơ bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần, được con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, đồng thời thể hiện sự tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên.

Hình 1.1: Tóm tắt khái niệm “văn hóa“ [2]

Cấu trúc của hệ thống văn hóa

Văn hóa có thể được hiểu như một hệ thống bao gồm bốn thành phần cơ bản, dựa trên định nghĩa khái niệm văn hóa với cách tiếp cận hệ thống.

HT phi giá trị HTGT thiên tạo

HTGT NT Không có tính lịch sử HTGT NT có tính lịch sử = VĂN HOÁ

• Nhận thức về vũ trụ

• Nhận thức về con người

Văn hóa tổ chức cộng đồng:

• Văn hóa tổ chức đời sống tập thể (tổ chức nông thôn, quốc gia, ủoõ thũ )

Văn hóa tổ chức và đời sống cá nhân có mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống văn hóa đã nêu, thể hiện sự đồng nhất trong các yếu tố văn hóa Tất cả bốn yếu tố của hệ thống văn hóa đều được quy định bởi một nguồn gốc chung, phản ánh sự khác biệt trong các loại hình văn hóa Cấu trúc của hệ thống văn hóa được thể hiện rõ trong hình 1.2, giúp người đọc hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa các loại hình văn hóa.

Loại hình văn hóa và những đặc trưng của nó

Văn hóa là sản phẩm của con người, chịu ảnh hưởng từ các yếu tố vật chất và tinh thần Sự khác biệt văn hóa xuất phát từ điều kiện tự nhiên và xã hội Trong quá trình phát triển lịch sử, hai khu vực chính là phương Tây và phương Đông đã hình thành những nền văn minh khác nhau Các nền văn minh vĩ đại, như nền văn minh cổ đại, đều có nguồn gốc từ phương Đông, nơi có nhiều ảnh hưởng đến tín ngưỡng, phong tục, giao tiếp và nghệ thuật của con người.

Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên

Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội phản ánh cấu trúc hệ thống của các nền văn hóa Sự đa dạng trong loại hình văn hóa mang đến những đặc điểm riêng biệt và cá tính cho từng cộng đồng, thể hiện cách mà con người tương tác và ứng xử trong môi trường xã hội của họ.

Cultural regions are divided into two major areas: phương Tây, encompassing the northwest region of Europe up to the Ural Mountains, and phương Đông, which includes Southeast Asia and Africa Các nền văn hóa trong những khu vực này có sự đa dạng và phong phú, phản ánh lịch sử và truyền thống riêng biệt của từng dân tộc.

Nền văn hóa phương Tây, bắt nguồn từ Hi Lạp và La Mã, có nguồn gốc từ phương Đông, được hình thành từ những thành tựu của các nền văn hóa Ai Cập và Lưỡng Hà Các nền văn minh này phát triển ở những khu vực có địa hình và khí hậu thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.

Môi trường ẩm ướt và nhiệt đới đã tạo ra nền văn minh phong phú ở phương Đông, trong khi phương Tây phát triển nông nghiệp, công nghiệp và đô thị Các nền văn hóa lớn như Ấn Độ, Lưỡng Hà và Ai Cập đều hình thành xung quanh các lưu vực sông lớn Từ "văn hóa" trong tiếng La tinh có nguồn gốc từ "cultus", nghĩa là "trồng trọt" Cư dân phương Đông sinh sống chủ yếu ở các lưu vực sông, trong khi khu vực tây bắc với khí hậu khô cằn chỉ thích hợp cho đồng cỏ Sự khác biệt về địa hình đã dẫn đến hai nghề chính: trồng trọt và chăn nuôi Dù các dân tộc phương Tây đã chuyển sang thương mại, ảnh hưởng của nền văn minh du mục vẫn để lại dấu ấn sâu sắc trong đời sống văn hóa của họ.

Khi xem xét một cách tổng quát, chúng ta nhận thấy rằng đời sống là yếu tố cơ bản định hình kinh tế, và ngược lại, kinh tế lại ảnh hưởng đến văn hóa Kết quả là sự hình thành rõ ràng hai loại hình văn hóa khác nhau.

Hình 1.2 : Cấu trúc của hệ thống văn hóa [2]

1.1.3.1 Loại hình văn hóa gốc nông nghiệp

Trong nghề trồng trọt, người nông dân phải sống định cư để chờ cây lớn lên và thu hoạch, từ đó hình thành ý thức tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên Nghề nông, đặc biệt là nông nghiệp lúa nước, phụ thuộc vào nhiều hiện tượng tự nhiên, dẫn đến tư duy tổng hợp và biện chứng Người nông dân không chỉ quan tâm đến các yếu tố riêng lẻ mà còn đến mối quan hệ giữa chúng Về mặt cộng đồng, họ sống theo nguyên tắc trọng tình, dẫn đến thái độ coi trọng đức, văn hóa và phụ nữ Lối sống này thúc đẩy sự bình đẳng và dân chủ trong cư xử, tạo nên nền dân chủ làng mạc trước cả nền quân chủ phong kiến và dân chủ tư sản phương Tây Cuối cùng, tâm lý coi trọng cộng đồng và tập thể là yếu tố quyết định trong mọi hành động của người nông dân.

Trong ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt quyết định thái độ hòa nhập, cho phép tiếp nhận ý kiến một cách mềm dẻo và hiếu hòa trong các tình huống giao tiếp.

Việt Nam do ở góc tận cùng phía đông nam nên thuộc loại văn hóa gốc noõng nghieọp ủieồn hỡnh

1.1.3.2 Loại hình văn hóa gốc du mục:

Trong ứng xử với tự nhiên, nghề chăn nuôi yêu cầu người dân phải cho gia súc đi tìm cỏ và sống du cư, dẫn đến việc ít phụ thuộc vào thiên nhiên và hình thành sự coi thường đối với nó Điều này đã tạo ra tham vọng chinh phục tự nhiên, mà phương Tây đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực này Họ thiên về tư duy phân tích khách quan, lí tính và thực nghiệm, kết quả là sự phát triển của khoa học phương Tây và lối sống thực dụng, chú trọng vào vật chất.

Trong tổ chức cộng đồng, việc coi thường sức mạnh dẫn đến sự ưu tiên cho trọng tài, trọng võ và nam giới, đồng thời đề cao vai trò cá nhân, tạo ra lối sống ganh đua khốc liệt Điều này cũng khiến người phương Tây hình thành thói quen sống theo pháp luật từ sớm.

Trong ứng xử với môi trường xã hội thì độc đoán trong tiếp nhận, cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó

Sự khác biệt giữa văn hóa gốc nông nghiệp và văn hóa du mục thể hiện rõ nét qua mục tiêu sống của mỗi loại hình Văn hóa gốc nông nghiệp tập trung vào việc xây dựng một cuộc sống ổn định và lâu dài, với tính chất trọng tĩnh Ngược lại, văn hóa du mục chú trọng vào việc tổ chức di chuyển một cách nhanh chóng và thuận lợi, mang tính chất trọng động.

VH TRỌNG TĨNH VH TRỌNG ĐỘNG

(Goỏc noõng nghieọp) (Goỏc du muùc)

Sự khác biệt này có thể nhận thấy rõ ràng ở bảng sau : Địa hình Đồng bằng (ẩm, thấp) Đồng cỏ (khô, cao) Nghề chính Trồng trọt Chăn nuôi

Cách sống định cư và du cư với thiên nhiên thể hiện sự tham vọng trong việc chế ngự thiên nhiên, nhưng cần phải cân nhắc giữa yếu tố chủ quan và cảm tính với sự khách quan, lý tính Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trọng cá nhân và tránh việc chiếm đoạt hay độc tôn tài nguyên thiên nhiên.

Tôn trọng , sống hòa hợp Coi thườn

Thiên về tổng hợp và biện chứng (trọng quan và kinh nghiệm

Thiên về phân tích và siêu hình (trọng yếu tố); thực nghiệm Nguyeõn taộc toồ chức CĐ

Trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ

Trọng sức mạnh, trọng tài, trọng võ, trọng nam Cách thức tổ chức CĐ

Linh hoạt và dân chủ trong tập thể

Nguyên tắc và quân Dung hợp và dân chủ

Tổ chức cộng đồng cần linh hoạt và hòa nhã trong việc tiếp nhận, đồng thời cũng phải cứng rắn và kiên định khi ứng xử với môi trường xã hội.

TIEÂU C Đặc trửng goác Ứn trường tự nhiên g xử với môi

Lối nhận thức tư duy

Bảng 1.1 : So sánh các đặc trưng của hai loại hình văn hóa [2]

Các nền văn hóa hiện đại, dù thuộc giai đoạn văn minh nào như nông nghiệp, công nghiệp hay hậu công nghiệp, đều không thể thoát khỏi hai loại hình văn hóa cơ bản: văn hóa gốc nông nghiệp và văn hóa gốc du mục Văn hóa phương Tây thường đại diện cho loại hình gốc du mục (trọng động), trong khi văn hóa phương Đông thường liên quan đến loại hình gốc nông nghiệp (trọng tĩnh) Sự khác biệt giữa các nền văn hóa này cũng phản ánh lợi ích khác nhau trong quá trình lao động, đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ tư liệu sản xuất và người lao động.

Trong thực tế, không tồn tại một nền văn hóa hoàn toàn tách biệt hay nông nghiệp hoàn toàn do sự phát triển liên tục và giao thoa lẫn nhau Chúng ta đã có cái nhìn tổng quát về văn hóa và ảnh hưởng của nó đến các hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần cũng như tính cách của cá nhân Tác động của văn hóa trong quan hệ lao động sẽ được phân tích trong các phần tiếp theo Tiếp theo, chúng tôi sẽ đề cập đến các vấn đề lý luận liên quan đến quan hệ lao động.

Quan hệ lao động và cơ sở vận hành quan hệ lao động

Các chủ thể trong quan hệ lao động

Trong quan hệ lao động có ba chủ thể tương tác với nhau trong việc hình thành quan hệ lao động :

• Người lao động và công đoàn

• Người sử dụng lao động

Người lao động và công đoàn

Người lao động tham gia vào thỏa thuận làm việc, nhận tiền công và được cung cấp các phương tiện cần thiết Công đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động trong quan hệ lao động, có cơ cấu chính thức và mục tiêu rõ ràng Công đoàn hoạt động nhằm cải thiện xã hội và tăng cường sự kết nối giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Nhà nước nhận thấy cần thiết phải can thiệp ban đầu để ổn định xã hội thông qua việc quy định mức lương tối thiểu và thời gian làm việc tối đa trong ngày, tuần Qua đó, mối quan hệ lao động dần được hình thành, với hai chức năng chủ yếu của Nhà nước trong việc quản lý và điều tiết.

Công đoàn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của người lao động, đồng thời giáo dục họ về ý thức nghề nghiệp và kỷ luật Ngoài ra, công đoàn còn khuyến khích người lao động tham gia vào quản lý doanh nghiệp và quản lý nhà nước Vì vậy, công đoàn có thể được xem như biểu tượng của sự đoàn kết và gắn bó giữa con người trong quá trình làm việc.

Người sử dụng lao động:

Khái niệm người sử dụng lao động đã được mở rộng, không chỉ giới hạn ở những người sở hữu vốn hay chủ hợp đồng, mà còn bao gồm những người có quyền tuyển dụng và sa thải lao động Điều này phản ánh sự phát triển của xã hội hiện đại, khi mà tất cả những người làm công tác quản lý, từ tổng giám đốc đến các cấp quản lý khác, đều được xem là người sử dụng lao động Trong bối cảnh này, mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động đã có sự thay đổi, từ việc chỉ diễn ra giữa giới chủ và giới thợ, giờ đây đã trở nên đa dạng và phức tạp hơn.

Để đảm bảo quan hệ lao động vận hành hiệu quả, Nhà nước cần thiết lập khuôn khổ pháp lý rõ ràng, bao gồm các điều luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên Hệ thống luật pháp này cũng phải đưa ra các quy định chi tiết về thủ tục và trình tự giải quyết tranh chấp, xung đột trong quan hệ lao động.

• Tham gia giải quyết tranh chấp dưới các hình thức thanh tra, hòa giải và xét xử

Hình 1.3 : Các chủ thể trong quan hệ lao động [1]

Mô hình trên cho thấy mối quan hệ tương tác giữa người lao động và người sử dụng lao động, trong đó cả hai bên thương lượng để đạt được sự hài hòa và tuân thủ pháp luật Trong quá trình thực hiện quy định của Nhà nước, họ có thể phát hiện những điểm bất hợp lý và phản hồi để Nhà nước xem xét điều chỉnh kịp thời Qua đó, quan hệ lao động trở thành một hệ thống gắn bó chặt chẽ giữa các chủ thể.

Thương lượng ký kết hợp đồng cá nhân, tập thể Người lao động Người sử dụng

Nhà nước Quy định, hướng dẫn, kiểm soát thoân

Phản hồi g tin th Phản hồi oâng tin

Quy ủũnh, hướng dẫn, ki ồ ự

Môi trường bên trong doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc giữ chân người lao động và duy trì hiệu suất làm việc Tuy nhiên, môi trường này cũng ảnh hưởng trở lại đến hoạt động của doanh nghiệp, tạo ra những tác động nhất định từ các yếu tố bên trong.

Quá trình thương lượng giữa công đoàn và doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các chuẩn mực về tiền lương, thời gian và điều kiện làm việc Khía cạnh pháp lý của quan hệ lao động trong doanh nghiệp được thể hiện qua hợp đồng lao động cá nhân và thỏa ước lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu, nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động Khi doanh nghiệp ổn định và phát triển, điều này sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ.

1.2.3 Cơ sở vận hành quan hệ lao động

Các chủ thể trong quan hệ lao động đóng vai trò quyết định trong việc giải quyết các vấn đề n Tuy nhiên, hành vi của họ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài và bên trong doanh nghiệp.

Môi trường pháp lý là hệ thống quy định hành chính, đóng vai trò quan trọng trong việc pháp lý hóa các quy trình và thủ tục trong hoạt động hàng ngày cũng như trong lĩnh vực lao động tập thể.

Môi trường sinh thái, bao gồm khí hậu và thời tiết, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các ngành như vận tải đường biển, hàng không và xây dựng Tính chất mùa vụ trong những ngành này quyết định các chủ đề thương lượng giữa giới chủ và công đoàn, bao gồm lương, thưởng và trợ cấp.

Môi trường kinh tế ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất và khả năng chi trả của doanh nghiệp thông qua các thị trường sản phẩm, dịch vụ, lao động và tiền tệ Khi thị trường sản phẩm không thuận lợi, sản lượng sản xuất sẽ giảm, làm hạn chế khả năng trả lương và thưởng Cung cầu trên thị trường lao động cũng quyết định khả năng tìm kiếm và tiếp nhận nhân lực Thêm vào đó, thị trường tiền tệ tác động đến doanh nghiệp và người lao động thông qua chính sách thuế và tiền tệ, từ đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng gián tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra trong quan hệ lao động.

Môi trường xã hội của mỗi quốc gia bao gồm các tác động qua lại giữa cá nhân và nhà quản lý, đặc biệt là những người cấp cao, với sự ảnh hưởng của văn hóa tổ chức và các giá trị tín ngưỡng Những giá trị này định hình chuẩn mực hành vi của cá nhân và nhóm, tạo sự gắn bó trong quốc gia Trong doanh nghiệp, sự khác biệt về tín ngưỡng và giá trị giữa các nhân viên có thể dẫn đến mâu thuẫn và xung đột Để phân tích ảnh hưởng của văn hóa đến quan hệ lao động, chúng tôi sẽ tập trung vào ảnh hưởng của môi trường xã hội trong phần sau.

1.2.3.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp:

Các yếu tố nội tại của doanh nghiệp như trình độ kỹ thuật, công nghệ, đặc điểm lực lượng lao động, nhận thức của chủ doanh nghiệp, vai trò của tổ chức công đoàn và văn hóa tổ chức sẽ được phân tích chi tiết ở các phần tiếp theo Chúng tôi sẽ tập trung vào các khía cạnh này để làm rõ ảnh hưởng của chúng đến hoạt động của doanh nghiệp.

Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, sự thành công của tổ chức phụ thuộc vào khả năng tạo ra sự khác biệt Khi gia nhập tổ chức, mỗi cá nhân mang theo những giá trị, niềm tin và thói quen riêng, những yếu tố này kết hợp với cấu trúc chính thức của tổ chức để thiết lập và củng cố các chuẩn mực hành động Điều này góp phần hình thành phong cách quản trị hiệu quả và xây dựng mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa các thành viên, từ đó giúp doanh nghiệp phát triển bền vững và định hình hướng đi của tổ chức.

Thực trạng về quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện nay

Vai trò của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh teỏ Vieọt Nam hieọn nay 19 2.2 Đặc điểm và những nét khác biệt về văn hóa của một số quốc gia đang

Sau gần 20 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài từ năm 1988, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu Giai đoạn thăm dò từ 1988 đến 1990 đã mở đường cho sự tăng trưởng mạnh mẽ của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam, đặc biệt từ năm 1991 đến 1997, thời kỳ này được coi là "hoàng kim" của FDI tại nước ta.

Trong giai đoạn 1991-1995, tổng vốn đăng ký mới và tăng vốn đạt 18,377 tỷ USD, trong khi hai năm 1996-1997 ghi nhận 15,246 tỷ USD Mặc dù từ 1998-2003, FDI giảm mạnh do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng vẫn có những tín hiệu tích cực.

Việt Nam đã trở thành một điểm đến hấp dẫn cho đầu tư nước ngoài, với hai tư mới phát hiện ra nhiều thị trường tiềm năng Năm 2004, Việt Nam xếp thứ 50 thế giới về vốn FDI thực tế, vượt qua nhiều nước Đông Nam Á Đến năm 2005, Việt Nam đã thu hút hơn 5.800 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký vượt 50 tỷ USD và vốn thực hiện gần 28 tỷ USD Sự phát triển của các doanh nghiệp này đã mang lại những đóng góp cụ thể cho nền kinh tế.

1988 321.8 Noõng, Laõm nghieọp 2,764.6 1) Singapore 7,522.9 1) Tp HCM 11,753.0

989 525.5 Thủy sản 427.0 2) Đài Loan 5,843.0 2) Hà Nội 8,041.7

990 735.0 Công nghiệp 25,503.9 3) Hàn Quốc 4,448.9 3) Đồng Nai 5,728.8

1/ Chia theo năm ột số đối tác trên 1 tỷ USD 4/ Những địa bàn trên 500 triệu USD

1991 1,275.0 Xây dựng (*) 4,654.6 4) Nhật Bản 4,254.5 4) Bà Rịa Vũng Tàu 3,502.5

1992 2,027.0 Khách sạn, Du lịch 4,144.4 5) Quần đảo Vigin 5) Bình Dương 3159.2

1993 2,589.0 GTVT, bưu điện 3,577.4 thuộc Anh 3598.4 6) Hải Phòng 1762

3,746.0 Tài chính, ngân hàng 6,848.0 Văn hoá, Y tế,

8,979.0 giáo dục 1,090.1 8) Hà Lan 1889.3 9) Lâm Đồng 892.6

4,894.2 Các ngành 9) Anh 1791.2 10) Đà Nẵng 883

4,138.0 dịch vụ khác (**) 5,123.9 10) Hoa Kỳ 1776 11) Hải Dương 625.1

1999 1,568.0 Ghi chuự: khoõng keồ voỏn taờng 11) Lieõn bang Nga 1754.7 12) Vúnh Phuực 521.3

2000 2,018.0 thêm, các dự án của 12) Thái Lan 1301.3 13) Hà Tây 505.8

2002 1,621.0 (*) Bao gồm cả xây dựng khu 14) Australia 1106

Vào năm 2003, tổng vốn chế xuất đạt 1.950,0 triệu USD với 14 đối tác Đến năm 2004, ước tính tổng vốn xây dựng tăng lên 2.222,0 triệu USD, trong đó tổng vốn đầu tư là 41.754,6 triệu USD, chiếm 39.801,4 triệu USD.

Cộng 48,049.5 văn phòng và căn hộ 87.3% tổng số vốn đăng ký 83.2% tổng số cả nước.

Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đăng kí 2/ Chia theo ngành 3/ M

Bảng 2.1 Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đăng ký – Thời báo kinh teỏ Vieọt Nam, soỏ taõn nieõn 2005.[4]

Góp phần quan trọng trong việc gia tăng GDP, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước:

Khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) đóng góp hơn 17% vào tổng vốn đầu tư xã hội và hơn 15% GDP, với 43% giá trị sản xuất công nghiệp và 54% giá trị xuất khẩu Doanh nghiệp FDI hiện chiếm khoảng 40% sản lượng công nghiệp, 80% sản lượng ôtô, máy giặt, tủ lạnh, điều hòa, máy tính, 60% sản lượng thép cán, 76% trong ngành sản xuất dụng cụ y tế chính xác, 49% sản lượng ngành da giày và 30% sản lượng xi măng Tốc độ tăng trưởng sản lượng công nghiệp FDI hàng năm đạt khoảng 20%, gấp 1,3 lần tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp nói chung Hơn 100 tập đoàn xuyên quốc gia đã đầu tư tại Việt Nam, góp phần quan trọng trong việc mở rộng thị trường và thực hiện chuyển giao công nghệ.

Khu vực FDI đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, với các chỉ số lần lượt là 6.41, 6.3, 7.39, 9.07, 10.03, 12.24 và 13.28 Sự phát triển này không chỉ nâng cao khả năng xuất khẩu mà còn gia tăng sử dụng lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế địa phương phát triển Qua đó, khu vực FDI đóng góp quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Bảng 2.2: Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế thời kỳ 1994-2000

Nguoàn: Toồng cuùc thoỏng keõ (2002]

Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động:

Tỷ trọng lao động trong khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) đang gia tăng, đặc biệt trong các ngành như dệt may, da giày và chế biến thủy sản Năm 2003, khu vực FDI đã thu hút gần 700.000 lao động, chiếm 14,83% tổng số lao động, và hiện tại đã thu hút trực tiếp hơn 800.000 lao động có chuyên môn cùng hàng triệu lao động gián tiếp.

Bảng 2.3: Số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp phân theo thành phần kinh tế thời kỳ 2001-2003 (thời điểm 1/1 hàng năm)

Naờm Toồng soỏ DNNN DN NQD DNẹTNN

Nguoàn: Toồng cuùc thoỏng keõ (2004), Đổi mới và nâng cao chất lượng lao động:

Ngoài việc bổ sung nguồn vốn cũng như chuyển giao các công nghệ mới, FDI còn tác động gián tiếp đến việc chuyển dịch lao động, góp phần đổi

, naâng cao hả năng tiếp cận thị trường quốc tế và kỹ năng quản lý của lao động Việt

Khu vực FDI đã đóng góp tích cực vào việc tạo ra việc làm và thúc đẩy sự phát triển kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, từ năm 1995, nhiều vấn đề trong quan hệ lao động đã xuất hiện, yêu cầu người lao động nâng cao chất lượng làm việc trong các ngành nghề khác nhau Nhiều lao động Việt Nam đã đáp ứng tốt các yêu cầu của doanh nghiệp, trở thành lực lượng nòng cốt và được giao những trách nhiệm quan trọng, dần thay thế các chuyên gia nước ngoài Đặc biệt, một số doanh nghiệp đánh giá rằng chất lượng lao động tại Tp Hồ Chí Minh thậm chí còn vượt trội hơn so với một số quốc gia trong khu vực.

Tóm lại sự p tớ p dieãn voán

Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong mọi hoạt động của con người, bao gồm kinh tế và đời sống xã hội Tình trạng đình công và bãi công, đặc biệt là ở các doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài, đang gia tăng, với 212 vụ đình công xảy ra từ năm 1995-2000, trong đó 177 vụ thuộc về doanh nghiệp FDI và ngoài quốc doanh Các tranh chấp này chủ yếu diễn ra ở miền Nam, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, và đã gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động kinh tế xã hội Do đó, cần có sự quan tâm từ các cơ quan chức năng cũng như các doanh nghiệp để giải quyết vấn đề này.

2.2 Đặc điểm và những nét khác biệt về văn hóa của một số quốc gia đang đầu tư lớn tại Việt Nam: n, chúng ta có thể nha tạo nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác trong hành vi ứng xử, cách văn hóa của một số quốc gia có quan hệ giao thương với Việt Nam

Khi nghiên cứu Đông Bắc Á, điều rõ ràng là văn hóa khu vực này khác biệt hoàn toàn so với văn hóa phương Tây, bao gồm cả Châu Âu và Bắc Mỹ Mặc dù người Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc có thể được coi là tương đồng trong mắt người phương Tây, đặc biệt về cách ứng xử, nhưng thực tế lại cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nền văn hóa này.

Mặc dù đối mặt với nhiều thách thức về tài nguyên thiên nhiên, người Nhật Bản đã thể hiện lòng tự hào dân tộc, ý chí kiên cường và sức sáng tạo vô hạn để biến đất nước thành một siêu cường kinh tế Văn hóa Nhật Bản nổi bật với những đặc trưng độc đáo.

Biết nắm bắt thời cơ và cơ hội mới, sẵn sàng nghiên cứu và học hỏi để theo kịp xu hướng, đồng thời vẫn giữ vững bản sắc riêng.

Tinh thần làm việc tập thể là yếu tố nổi bật và đặc trưng của người Nhật, khó tìm thấy ở các quốc gia phương Đông khác Thành công hay thất bại được nhìn nhận là trách nhiệm chung của cả nhóm, với sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong tập thể.

• trong nhóm Trong công việc người Nhật thường gạt cái “tôi” ra để đề cao hung, tìm sự hài hòa của m

Người Nhật có bản tính không thích đối đầu, đặc biệt là trong các mối quan hệ cá nhân Họ coi trọng việc duy trì sự nhất trí, thể diện và uy tín, xem đây là những yếu tố cốt lõi trong giao tiếp và ứng xử xã hội.

• Trong giao tiếp, họ có thói quen ăn nói nhỏ nhẹ, thái độ chững chạc vì đó là biểu thị sự khôn ngoan, kinh nghiệm và tuổi tác

• ởc tớnh như: Luụn làm theo mục tiờu đó ủũnh

Bản sắc văn hóa Việt và những ảnh hưởng của nó đến các hoạt động û 2.5 động 2.5.2 nước 2.6 sản xuất và đời sống của người Việt Nam

s xuất và đời sống của người Việt Nam

Văn hóa Việt Nam, hình thành qua bối cảnh địa lý, khí hậu và lịch sử xã hội đặc trưng, mang trong mình những nét bản sắc độc đáo không thể nhầm lẫn Dù trải qua nhiều biến động, văn hóa này vẫn phát triển qua quá trình giao lưu với các nền văn hóa khác, đặc biệt là văn hóa Trung Hoa và văn hóa phương Tây, tạo thành ba lớp văn hóa chính: lớp văn hóa bản địa, lớp văn hóa Nam Á - Đông Nam Á và lớp văn hóa ngoại lai.

2.3.1 Đặc điểm nền tảng của văn hóa Việt Nam

Lớp bản địa Nam Á - Đông Nam Á đã hình thành những đặc điểm văn hóa nền tảng cho văn hóa Việt Nam, tạo ra sự tương đồng với các dân tộc Đông Nam Á và sự khác biệt với văn hóa Hán Những đặc điểm này góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam.

• Về đời sống vật chất có nghề nông trồng lúa

Nghề nông lúa nước ở Việt Nam tạo ra tính thời vụ cao, dẫn đến sự liên kết chặt chẽ trong tổ chức xã hội và hình thành các làng xã khép kín với tính tự trị Cấu trúc này không chỉ thúc đẩy tính dân chủ mà còn tạo ra tính tôn ti, đồng thời cũng nảy sinh những vấn đề như bè phái địa phương và thói ích kỷ Trong môi trường kinh doanh, người Việt thường coi trọng tình cảm hơn lý trí, thể hiện qua việc hình thành các gia tộc và phường hội gắn bó Tuy nhiên, sự tự trị này cũng dẫn đến những tiêu cực như nạn hàng giả, thói nói thách và cách làm ăn thiếu minh bạch.

(một biểu hiện của tính cộng đồng) để chèn ép khách hàng

Cuộc sống nông nghiệp giúp con người nhận thức rõ hơn về mối quan hệ với thiên nhiên, từ đó phát triển tư duy biện chứng Triết lý âm dương trở thành sản phẩm tiêu biểu, thể hiện qua lối sống quân bình và luôn hướng tới sự hài hòa.

Sự hài hòa quân bình trong xã hội Việt Nam không phải là tuyệt đối, với thiên hướng âm tính mạnh mẽ hơn dương, thể hiện qua sự ưa chuộng ổn định và tế nhị trong giao tiếp Trong quan hệ đối ngoại, người Việt Nam thường thể hiện sự mềm dẻo, hiếu hòa, chú trọng đến văn hóa hơn là sức mạnh Lối sống nông nghiệp buộc con người phải thích nghi với nhiều yếu tố, dẫn đến tư duy tổng hợp và lối sống cộng đồng gắn bó chặt chẽ Sự kết hợp giữa ứng xử tổng hợp và linh hoạt tạo nên tinh thần dung hợp, giúp người Việt Nam phát huy khả năng sáng tạo trong việc lắp ghép và cải tạo các giá trị văn hóa Tuy nhiên, mặt trái của sự linh hoạt này là bệnh tùy tiện, thể hiện qua việc dễ thay đổi ý kiến và thiếu nghiêm khắc trong việc thực thi pháp luật.

2.3.2 Sự giao lưu văn hóa trong khu vực

Vị trí ngã tư đường của Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu văn hóa, đặc biệt là với văn hóa Hán Cuộc giao lưu này diễn ra theo hai chiều: trước thời Tần – Hán, văn hóa từ Đông Nam Á cổ đại đã ảnh hưởng đến vùng Hoa Bắc, trong khi từ thời Tần - Hán trở đi, ảnh hưởng lại chuyển hướng từ Bắc xuống Nam Việt Nam đã tiếp nhận nhiều ảnh hưởng quan trọng, bao gồm ngôn ngữ và văn tự Hán (chữ Nho), từ vựng chính trị - xã hội (từ Hán Việt), cách tổ chức chính quyền trung ương, luật pháp, cũng như tư tưởng Bát quái và Kinh Dịch cùng các ứng dụng của nó.

Văn hóa phương Tây đã tác động mạnh mẽ đến ý thức cá nhân và quá trình đô thị hóa ở Việt Nam, trong khi văn minh Trung Hoa suy thoái Điều này đã tạo cơ hội cho bản sắc văn hóa Việt Nam phát triển Mặc dù Việt Nam ngày càng hội nhập với thế giới, một số yếu tố văn hóa Trung Hoa vẫn là phần không thể thiếu trong truyền thống Việt Nam, như lớp từ Hán - Việt và các nét của Nho giáo, Đạo giáo Để hiểu rõ hơn về sự khác biệt giữa văn hóa Việt Nam và các nền văn hóa khác, chúng ta có thể so sánh theo ba nhóm: Việt Nam, các nước Âu Mỹ và một số nước NICS như Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore.

Bảng 2.4 Những nét khác biệt về văn hóa cơ bản giữa Việt Nam và một số nước khác

Tiêu chí Các nước Âu Mỹ Việt Nam Các nước Nics

Loại hình văn hóa Du mục Nông nghiệp Nông nghiệp

Xã hội hiện nay Công nghiệp Nông nghiệp Công nghiệp

Cách thức tổ chức cộng đồng Tính cá nhân Tính cộng đồng Tính cộng đồng

TƯ DUY tư duy tố chứng, chủ quan Phân tích, tổng hợp

Lối nhận thức, Phân tích, trọng yếu Tổng hợp, biện

Lối sống hiện đại ngày nay thường mang tính ganh đua và cạnh tranh quyết liệt, nhưng cũng cần linh hoạt và trọng tình Trong khi đó, dân chủ và sự chú trọng vào tập thể ngày càng trở nên quan trọng Các chuẩn đánh giá hiện nay không chỉ coi trọng địa vị xã hội mà còn nhấn mạnh vai trò của tập thể Cách hành động cũng đang chuyển mình từ cá nhân sang tập thể, thể hiện sự cần thiết phải hợp tác và đoàn kết trong xã hội.

Cách thức quản Coi trọng quan Coi tro lớ Bỡnh ủaỳng heọ ùng toõn ti trật tự

Nguyeân taéc, chính xác, có tổ chức

Linh hoạt, thiếu tổ chức

Nguyeân taéc, chính xác, có tổ chức

Bảng 2.4 cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa văn hóa Việt Nam và các nước Âu Mỹ, nguyên nhân chính là do loại hình văn hóa quy định Mặc dù Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore đều thuộc cùng một loại hình văn hóa, nhưng quá trình công nghiệp hóa đã tạo ra những khác biệt đáng kể Điều này có thể dẫn đến nhiều hiểu lầm và mâu thuẫn trong quan hệ lao động giữa các bên liên quan trong quá trình làm việc.

Sự khác biệt về văn hóa trong quan hệ lao động và những mâu thuẫn ơ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay

Các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong nhiều lĩnh vực như nông lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và du lịch, đặc biệt chú trọng vào ngành công nghiệp nhẹ như dệt may và giày dép Sự khác biệt trong văn hóa làm việc giữa các nhà quản lý nước ngoài, thường thiên về lý trí và nguyên tắc, và người lao động Việt Nam, với phong cách làm việc tình cảm và thân thiện, dễ dẫn đến mâu thuẫn Những khác biệt này thể hiện rõ qua nhiều khía cạnh trong quá trình hợp tác.

2.4.1 hác biệt về ngôn ngữ, cách thức giao t

Ngôn là sự thể h át của va ì nó la

Hiện nay, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như may mặc, da giày và chế biến thực phẩm, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lực lượng lao động địa phương.

Nét nổi bật của quy tắc lao động trong khu vực này là sự khác biệt, tạo ra một môi trường làm việc khá căng thẳng Với phương cách kinh doanh hiện đại, các doanh nghiệp nước ngoài thường có thói quen ứng xử thiên về lợi ích, thói quen tự tiện và thiếu nguyên tắc Trong khi đó, họ đều muốn duy trì văn hóa phong tục tập quán, nhưng lại gặp khó khăn trong việc thực hiện những điểm tiêu cực sau.

Ngôn ngữ là công cụ quan trọng để truyền đạt thông tin và ý tưởng, tuy nhiên, sự khác biệt về ngôn ngữ có thể dẫn đến hiểu nhầm và mâu thuẫn Người Việt Nam có đặc điểm vừa thích giao tiếp vừa rụt rè, điều này xuất phát từ truyền thống nông nghiệp và sự phụ thuộc lẫn nhau trong cộng đồng Việc giữ gìn mối quan hệ tốt với mọi thành viên trong xã hội được coi trọng, nhưng sự rụt rè lại khiến họ ngại ngùng trong giao tiếp, tạo nên một nghịch lý thú vị trong tính cách giao tiếp của người Việt.

Hai tính cách trái ngược của người Việt Nam, bao gồm sự thích giao tiếp trong cộng đồng quen thuộc và sự rụt rè trước người lạ, phản ánh hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam: tính cộng đồng và tính tự trị Trong môi trường quen thuộc, người Việt thường tỏ ra cởi mở và thân thiện, nhưng khi gặp gỡ những người lạ, họ lại trở nên ngại ngùng Điều này đặc biệt rõ ràng trong bối cảnh làm việc tại các doanh nghiệp nước ngoài, nơi nhiều công nhân cảm thấy lo lắng khi tiếp xúc với chủ doanh nghiệp vì không hiểu rõ ngôn ngữ và cảm giác xa lạ Do đó, vai trò của người phiên dịch trở nên rất quan trọng, tuy nhiên, không phải lúc nào họ cũng thực hiện đúng nhiệm vụ của mình.

300 công nhân của công ty TNHH Thiên Vinh, 100% vốn nước ngoài, đã đình công do bức xúc với người phiên dịch trong phân xưởng Họ cho rằng người phiên dịch này đã dịch sai ý và có hành vi lăng mạ công nhân.

Công ty TNHH Manuline, 100% vốn Hàn Quốc tại Long Khánh, đã sa thải nhiều công nhân và có dấu hiệu vi phạm pháp luật Khi các cơ quan chức năng yêu cầu làm việc, công ty từ chối với lý do thiếu người phiên dịch.

Người Việt Nam thường ưa sự tế nhị và hòa thuận trong giao tiếp, với nụ cười là một phần quan trọng trong thói quen này Điều này khiến cho các doanh nhân nước ngoài cảm thấy khó hiểu khi người Việt cười nhận lỗi hoặc im lặng khi được hỏi “có hiểu không” Sự khác biệt văn hóa có thể dẫn đến hiểu lầm, và nếu một bên thông thạo ngôn ngữ của bên kia, họ có thể giải thích cho nhau để hòa giải bất đồng Ngược lại, sự khác biệt về ngôn ngữ có thể làm tăng căng thẳng khi cả hai bên đều lớn tiếng nhưng không hiểu nhau.

Người Việt Nam thường có thói quen giao tiếp một cách tế nhị và tránh đi thẳng vào vấn đề, khác với phong cách trực tiếp của người phương Tây Lối giao tiếp này phản ánh cách sống trọng tình cảm và sự cẩn trọng trong cách diễn đạt.

2.4.2 biệt về nhận thức và cách thức ứng xử :

N ứ nắm vữn dửụng ch sống quâ oàn cảnh

Loại tư duy trọng các mối quan hệ ở người Việt tạo thói quen đắn đo và cân nhắc trong giao tiếp Sự thận trọng này dẫn đến nhược điểm thiếu tính quyết đoán, trong khi người phương Tây thường đi thẳng vào vấn đề cần nói.

Người Việt Nam mang trong mình lối tư duy âm dương, thể hiện qua quy luật "trong âm có dương, trong dương có âm", tạo nên triết lý sống hài hòa Họ có khả năng thích nghi cao, luôn kiên cường trước khó khăn và cố gắng không làm mất lòng người khác Tính cộng đồng được nhấn mạnh, với sự đồng nhất trong cảnh ngộ, khiến người Việt luôn sẵn sàng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau như anh chị em trong gia đình Tuy nhiên, sự đồng nhất này cũng dẫn đến việc ý thức về con người cá nhân bị hạn chế Tùy thuộc vào hoàn cảnh, tính cộng đồng hoặc tính tự trị sẽ được phát huy, đặc biệt khi đối mặt với những khó khăn lớn, tinh thần đoàn kết và tính tập thể sẽ nổi bật hơn bao giờ hết.

Khi công ty liên doanh Sun Kuan tại Thành phố Hồ Chí Minh thay đổi chính sách lao động theo hướng bất lợi, hơn 300 công nhân đã đình công ngay khi Tập đoàn Puman cử đại diện đến Hành động này nhằm phản đối và chứng minh rằng sản phẩm của công ty không đạt tiêu chuẩn chất lượng.

Khi nguy cơ giảm đi, thói tư hữu và tinh thần bè phái địa phương có thể tái xuất hiện, điều này khác biệt với ý thức cá nhân từ nhỏ Một ví dụ điển hình là các công nhân tại hai công ty SamYang.

Việt Nam và Carrymax đã tổ chức đình công nhằm yêu cầu phân chia công bằng khoản tiền nghỉ dưỡng sức, vốn chỉ được cấp cho một số lao động có sức khỏe bị suy giảm.

Người Việt thường giải quyết xung đột theo cách hòa cả làng, thể hiện tư tưởng cầu an và cả nể, trong khi phương Tây chú trọng đến nguyên tắc và luật pháp Tính cộng đồng cao trong văn hóa Việt Nam dẫn đến tình trạng dựa dẫm và ỷ lại vào tập thể, cùng với thói cào bằng và đố kị, khiến mọi người không muốn ai vượt trội hơn mình Những thói xấu này phản ánh đặc điểm tư duy nông nghiệp, nơi cái tốt riêng rẽ trở thành xấu nếu là xấu tập thể thì lại được chấp nhận Trong khi đó, người lao động Việt Nam có cái nhìn khác về người chủ phương Tây: người châu Âu lịch sự nhưng lạnh lùng, trong khi người Mỹ thì thoải mái nhưng thực dụng và sòng phẳng.

Nâng cao hiểu biết về pháp luật cho người sử dụng lao động nước ngoài

Hiện nay, khi cấp giấy phép đầu tư cho doanh nghiệp FDI, Bộ và các sở kế hoạch đầu tư đã cung cấp bảng hướng dẫn cụ thể về chính sách lao động Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn gặp khó khăn trong việc tìm hiểu hệ thống pháp luật lao động của Việt Nam do thiếu các bản dịch sang các ngôn ngữ phổ biến như Anh, Hoa, Nhật, Hàn Quốc Để giải quyết vấn đề này, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về quan hệ lao động, đồng thời giảm thiểu văn bản dưới luật, tập hợp và thống nhất để đưa vào bộ luật lao động, nhằm phổ biến rộng rãi cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Tăng cường kiểm tra giám sát thường xuyên hoạt động của doanh nghiệp bằng nhiều hình thức

Thành phố Hồ Chí Minh vừa tổng kết đợt thí điểm thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp, đặc biệt là trong các khu công nghiệp, nơi thường phát sinh tranh chấp lao động Trước đây, việc kiểm tra thường được thực hiện qua phối hợp liên ngành giữa các cơ quan như lao động, y tế, phòng cháy chữa cháy và công đoàn, nhằm kiểm tra đột xuất và xử lý vi phạm Hiện nay, thành phố đã áp dụng phương pháp thanh tra bằng phiếu, cho thấy hiệu quả cao, tiết kiệm chi phí quản lý nhà nước và giảm thiểu phiền hà cho doanh nghiệp Mô hình này cần được xem xét và áp dụng rộng rãi trên toàn quốc, với sự phối hợp chặt chẽ giữa thanh tra lao động, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan.

Nghiêm khắc trong các biện pháp kiểm tra và xử phạt

Cần có biện pháp nghiêm khắc và kiên quyết trong xử lý vi phạm pháp luật lao động, với sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan quản lý Mặc dù Nghị định 113/CP đã quy định xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm, nhưng thực tế, công ty giày da Huê Phong đã liên tục xảy ra đình công và bị đoàn kiểm tra liên ngành kiến nghị xử phạt trên 130 triệu đồng, đồng thời buộc truy nộp hơn 5,2 tỷ đồng bảo hiểm xã hội và khắc phục nhiều sai phạm khác Đây là tín hiệu tích cực trong việc thực thi pháp luật và là điển hình cần được phát huy.

Tạo điều kiện phổ biến tuyên truyền pháp luật lao động cho người lao động

Hiểu biết về luật lao động giúp người lao động nắm rõ quyền lợi và tránh vi phạm pháp luật Tuy nhiên, việc cập nhật các văn bản pháp luật mới là thách thức lớn do sự thay đổi liên tục Trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc phổ biến luật lao động không thể thực hiện như ở doanh nghiệp nhà nước, mà cần sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí và truyền hình Công đoàn cũng cần phải chú ý đến tình hình thực tế và không thể lờ đi khi người lao động có ý định đình công Tài liệu phổ biến về luật lao động nên được thiết kế ngắn gọn và thiết thực để dễ tiếp cận.

Kiện toàn đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở

Tính đến nay, cả nước đã ghi nhận hơn 900 cuộc đình công, nhưng tất cả đều vi phạm luật do không có sự lãnh đạo của công đoàn Để trở thành cầu nối hiệu quả giữa người lao động và chủ doanh nghiệp, công đoàn cần phát triển đội ngũ cán bộ giỏi, có kỹ năng giao tiếp và thương lượng, được đào tạo theo mô hình của các tổ chức công đoàn tiên tiến trên thế giới Đồng thời, cần xem xét tạo điều kiện độc lập cho cán bộ công đoàn trong doanh nghiệp, vì hiện nay thu nhập của họ còn hạn chế.

Cán bộ công đoàn cơ sở thường chỉ kiêm nhiệm và nhận lương từ doanh nghiệp, dẫn đến việc họ ngại bảo vệ quyền lợi cho người lao động vì sợ bị kỷ luật Các kênh thông tin theo luật không được thực hiện nghiêm túc, khiến công nhân cảm thấy tiếng nói của công đoàn quá yếu ớt Do đó, họ đã tự phát biểu tình để bày tỏ nguyện vọng của mình.

Tạo điều kiện nâng cao trình độ học vấn cho người lao động

Công đoàn cần hợp tác với các doanh nghiệp để tạo điều kiện cho công nhân có động lực học tập nâng cao trình độ văn hóa và chuyên môn, cũng như cập nhật kiến thức mới Đồng thời, việc bổ sung các khóa đào tạo về tác phong công nghiệp và kỹ năng giao tiếp là rất cần thiết Sự hiểu biết về luật lao động, cùng với tác phong công nghiệp và kỷ luật, sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động và duy trì mối quan hệ lao động ổn định.

Tăng cường đối thoại giữa người lao động và người sử dụng lao động 53 3.8 Aùp dụng các chính sách động viên người lao động

Xây dựng mô hình văn hóa tổ chức trong doanh nghiệp là cần thiết để công bố rộng rãi, giúp người lao động hiểu rõ tình hình hoạt động của công ty Khi nắm bắt được thông tin, nhân viên sẽ thông cảm hơn với những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải và có khả năng điều chỉnh hành vi cho phù hợp Việc tăng cường đối thoại giữa người sử dụng lao động và người lao động không chỉ giúp họ hiểu và tôn trọng những đặc điểm văn hóa khác nhau mà còn tạo điều kiện cho sự linh hoạt trong công việc khi cần thiết.

3.8 Aùp dụng các chính sách động viên người lao động

Người lao động luôn khao khát tìm kiếm sự ổn định lâu dài trong công việc, do đó, các doanh nghiệp cần chú trọng xây dựng chính sách khuyến khích để phát huy tối đa năng lực của nhân viên, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững cho tổ chức.

3.9 Tăng cường sự giao lưu giữa doanh nghiệp nước ngoài với nhà nước (phòng thương mại )

Việc giao lưu thường xuyên với phòng thương mại giúp các chủ doanh nghiệp và chính phủ có thể giải quyết những khó khăn trong hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp nước ngoài sẽ nhận được hỗ trợ về thông tin kinh tế, luật pháp và văn hóa Việt Nam Ngược lại, Việt Nam cần chủ động giới thiệu văn hóa của mình để giảm thiểu thắc mắc và hiểu lầm từ nhà đầu tư, đồng thời hỗ trợ họ trong quá trình đầu tư.

• Xây dựng hệ thống quản lý có lưu ý đến các phong tục, tập quán và những nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam

Tuyển dụng những nhân viên có sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và phong tục là rất quan trọng Đồng thời, công ty cần khuyến khích các chuyên viên nước ngoài và nhân viên quản lý học thêm tiếng Việt, tạo điều kiện thuận lợi cho những lao động có khả năng học ngoại ngữ.

Cùng với sự hỗ trợ của công đoàn, việc tổ chức các buổi giới thiệu và trao đổi về phong tục, tập quán và văn hóa giữa hai bên giúp lắng nghe những khó khăn của người lao động và chia sẻ các vấn đề mà công ty đang đối mặt Điều này thể hiện văn hóa giao tiếp thẳng thắn, có lợi cho quan hệ lao động Việc hình thành tổ chức đa dạng cho người sử dụng lao động, như phòng thương mại, sẽ tạo ra sự bình đẳng trong tổ chức giữa người lao động và người sử dụng lao động, từ đó tăng cường quan hệ hợp tác hài hòa trong doanh nghiệp.

3.10 Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho bộ phận nhân sự trong doanh nghieọp

Phòng nhân sự đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách, quy chế và thủ tục liên quan đến nhân sự trong doanh nghiệp Để giải quyết hiệu quả các vấn đề về quan hệ lao động, cán bộ nhân sự cần có kiến thức về pháp luật, tâm lý và kinh tế, cùng với kinh nghiệm xử lý mâu thuẫn Họ thường xuyên tiếp xúc với công nhân, vì vậy việc phối hợp giữa cán bộ nhân sự, chủ doanh nghiệp và cán bộ công đoàn là rất cần thiết để bảo đảm quyền lợi cho người lao động, tạo ra lợi ích chung cho cả doanh nghiệp và nhân viên.

Quan hệ lao động được hình thành từ lợi ích đối kháng giữa người sử dụng lao động và người lao động, ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của cả hai bên Để giải quyết nhanh chóng các mâu thuẫn và tranh chấp hiện có, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ba chủ thể trong quan hệ lao động Quá trình này đòi hỏi thời gian và sự tham gia tích cực từ các bên liên quan cũng như các yếu tố nội bộ và ngoại vi của doanh nghiệp.

Những giải pháp này không chỉ hữu ích cho Tp Hồ Chí Minh mà còn là những kiến nghị chung nhằm hoàn thiện quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều này giúp giảm thiểu xung đột do sự khác biệt văn hóa, thường dẫn đến những tranh chấp căng thẳng Quan hệ lao động dựa trên sự hài hòa lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ tạo ra cách giải quyết êm thấm và hài hòa cho mọi vấn đề liên quan đến cả hai bên.

Để giải quyết xung đột trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp, cần có cái nhìn công bằng từ cả hai phía Người lao động không phải lúc nào cũng đúng, do đó việc lắng nghe và thấu hiểu quan điểm của cả hai bên là rất quan trọng để tìm ra giải pháp hợp lý.

Để nâng cao hiểu biết về pháp luật cho người sử dụng lao động và người lao động, cần triển khai các giải pháp như tăng cường đối thoại giữa hai bên và kiện toàn đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở Đây là những giải pháp quan trọng và được ưu tiên thực hiện trong thời gian tới.

Quan hệ lao động từ xưa đến nay luôn là mối quan tâm hàng đầu của cả người sử dụng lao động và người lao động Tại Việt Nam, vấn đề này đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, đặc biệt trong bối cảnh đất nước chuẩn bị gia nhập WTO và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.

Quan hệ lao động là một tập hợp các mối quan hệ phức tạp, chịu ảnh hưởng lớn từ văn hóa Nghiên cứu về tác động của văn hóa đến quan hệ lao động cho thấy sự khác biệt văn hóa không chỉ gây ra xung đột mà còn có thể hạn chế các tranh chấp giữa người sử dụng lao động và người lao động Điều này giúp làm lành mạnh hóa quan hệ lao động, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay Luận văn sẽ tập trung phân tích các khía cạnh này để làm rõ vấn đề.

• Xem xét lại mối quan hệ giữa văn hóa quốc gia, văn hóa tổ chức và ảnh hưởng của văn hóa đến tính cách cá nhân của con người

• Làm rõ mối quan hệ giữa người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước trong quan hệ lao động

• Phaân tíc g ứm phỏt sinh cỏc mõu thuẫn trong quan hệ lao động

• Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện quan hệ lao động, nâng cao hiệu quả hội nhập văn hóa trong doanh nghiệp

Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả nhận thấy một số hạn chế trong nghiên cứu, đặc biệt là những vấn đề đang tồn tại tại Việt Nam.

Nghiên cứu này có phạm vi hạn chế, chỉ tập trung vào thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, do đó khả năng tổng quát hóa vấn đề còn thấp.

Luận văn tập trung vào một số đặc trưng văn hóa của các quốc gia có vốn đầu tư lớn tại đây, mà chưa đề cập đến những quốc gia khác.

Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho bộ phận nhân sự trong doanh nghieọp

Phòng nhân sự đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chính sách và kiểm tra thực hiện các quy chế, thủ tục nhân sự Họ cần có kiến thức về pháp luật, tâm lý và kinh tế để giải quyết hiệu quả các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động Với việc thường xuyên tiếp xúc với công nhân, cán bộ nhân sự có thể phối hợp chặt chẽ với chủ doanh nghiệp và cán bộ công đoàn để bảo vệ quyền lợi của người lao động, từ đó tạo ra lợi ích cho cả doanh nghiệp và nhân viên.

Quan hệ lao động bắt nguồn từ lợi ích đối kháng giữa người sử dụng lao động và người lao động, ảnh hưởng đến thái độ của cả hai bên trong việc giải quyết mâu thuẫn và tranh chấp hiện tại Để đạt được hiệu quả cao nhất, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa ba chủ thể trong quan hệ lao động Quá trình này là lâu dài và phụ thuộc vào các bên liên quan cũng như các yếu tố nội tại và ngoại tại của doanh nghiệp.

Những giải pháp này không chỉ mang lại lợi ích cho Tp Hồ Chí Minh mà còn là kiến nghị chung nhằm hoàn thiện quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều này giúp giảm thiểu xung đột do sự khác biệt văn hóa, vốn thường dẫn đến tranh chấp căng thẳng Quan hệ lao động hài hòa giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ tạo ra giải pháp êm thấm, hài hòa cho mọi vấn đề liên quan đến cả hai bên.

Xung đột trong quan hệ lao động trong doanh nghiệp cần được nhìn nhận một cách công bằng từ cả hai phía, bởi vì người lao động không phải lúc nào cũng đúng Việc hiểu rõ quan điểm của cả người lao động và người sử dụng lao động sẽ giúp giải quyết vấn đề hiệu quả hơn.

Các giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật cho người sử dụng lao động và người lao động bao gồm tăng cường đối thoại giữa hai bên và kiện toàn đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở Những biện pháp này cần được ưu tiên thực hiện để đảm bảo môi trường làm việc công bằng và hiệu quả.

Quan hệ lao động là mối quan tâm hàng đầu của cả người sử dụng lao động và người lao động từ xưa đến nay Tại Việt Nam, vấn đề này đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, đặc biệt trong bối cảnh chúng ta chuẩn bị gia nhập WTO và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.

Quan hệ lao động là một tập hợp các mối quan hệ phức tạp, trong đó văn hóa đóng vai trò quan trọng Nghiên cứu tác động của văn hóa đến quan hệ lao động giúp hiểu rõ hơn về các xung đột và cách hạn chế chúng Sự khác biệt văn hóa không chỉ gây ra xung đột mà còn có thể góp phần làm giảm thiểu tranh chấp lao động, từ đó cải thiện mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động Luận văn này sẽ tập trung vào việc phân tích các yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến quan hệ lao động, nhằm làm rõ những khía cạnh này trong bối cảnh hiện tại.

• Xem xét lại mối quan hệ giữa văn hóa quốc gia, văn hóa tổ chức và ảnh hưởng của văn hóa đến tính cách cá nhân của con người

• Làm rõ mối quan hệ giữa người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước trong quan hệ lao động

• Phaân tíc g ứm phỏt sinh cỏc mõu thuẫn trong quan hệ lao động

• Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện quan hệ lao động, nâng cao hiệu quả hội nhập văn hóa trong doanh nghiệp

Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả nhận thấy một số hạn chế trong nghiên cứu, đặc biệt là những vấn đề đang tồn tại tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu của bài viết chỉ giới hạn ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, do đó khả năng tổng quát hóa vấn đề còn hạn chế.

Luận văn này tập trung vào một số đặc trưng văn hóa của các quốc gia đang đầu tư lớn tại đây, mà chưa đề cập đến các quốc gia khác.

Việc tham khảo ý kiến thường chỉ giới hạn trong một nhóm nhỏ nhân viên hoặc dựa trên tài liệu nghiên cứu, điều này có thể dẫn đến việc các giải pháp đưa ra chưa thực sự tối ưu cho việc cải thiện quan hệ lao động.

Hy vọng vấn đề này sẽ được nghiên cứu một cách nghiêm túc và thấu đáo hơn trong thời gian tới

1 ũ Việt Hằng (2004), Một số vấn đề về quan hệ lao động doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ơ

Các trang Web tham khảo:

Trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam, nghiên cứu này tập trung khảo sát tình hình ở thành phố Hồ Chí Minh Luận án tiến sĩ kinh tế tại trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã phân tích những biến đổi quan trọng trong nền kinh tế địa phương, từ đó đưa ra những nhận định và khuyến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững.

2 rần Ngọc Thêm (1999) – Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục

3 Đoàn Thị Hồng Vân (2004) – Đàm phán trong kinh doanh quốc tế, Nxb Thoáng keâ

4 Tổng cục thống kê (2005),Tổng vốn đầu tư trực tie đăng ký từ 1988 đến hết 2003, Thời báo kinh tế Việt Nam, số tân niên đặc biệt, tr 61

Công nhân tại các nhà máy sản xuất giày Nike có mức thu nhập bình quân 800 ngàn đồng/người/tháng, với điều kiện làm việc và sản phẩm được cải thiện rõ rệt Rất ít xảy ra tranh chấp lao động nhờ vào sự hợp tác của Liên hiệp toàn cầu và các dự án cải thiện môi trường làm việc, sức khỏe và an toàn lao động Nike cũng tích cực hỗ trợ phụ nữ nghèo vay vốn, tổ chức học bổ túc văn hóa và xây nhà tình thương Đặc biệt, Nike đã thành lập phòng quan hệ lao động để giám sát và đánh giá việc thực hiện chính sách, đảm bảo các nhà máy tuân thủ pháp luật và cải thiện điều kiện làm việc Tất cả 6 nhà máy sản xuất giày Nike đã thành lập công đoàn với tỷ lệ 99%-100% công đoàn viên, trong đó hai nhà máy Te Wang Vina và Chang Shin đã thành lập tổ chức riêng.

Nike Việt Nam, được thành lập vào năm 1995, hiện đang có 35 nhà máy sản xuất hàng hóa và 6 nhà máy giày đối tác Công ty chú trọng chăm lo cho người lao động, thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với phúc lợi và điều kiện làm việc của nhân viên.

Công ty Pouchen, chuyên sản xuất giày Nike tại xã Hóa An, Tp Biên Hòa, Đồng Nai, đã duy trì mối quan hệ lao động ổn định trong những năm gần đây Thành công này xuất phát từ sự tương tác hiệu quả giữa hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam và Nike Cụ thể, Công ty Nike Việt Nam cùng Tổng Liên đoàn Lao động đã phối hợp chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

Ngày đăng: 04/09/2023, 00:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Tóm tắt  khái niệm “văn hóa“ [2] - Luận văn thạc sĩ sự khác biệt văn hóa và những xung đột trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại việt nam , luận văn thạc sĩ
Hình 1.1 Tóm tắt khái niệm “văn hóa“ [2] (Trang 13)
Hình 1.3 : Các chủ thể trong quan hệ lao động [1] - Luận văn thạc sĩ sự khác biệt văn hóa và những xung đột trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại việt nam , luận văn thạc sĩ
Hình 1.3 Các chủ thể trong quan hệ lao động [1] (Trang 22)
Bảng 2.1  Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đăng ký  – Thời báo - Luận văn thạc sĩ sự khác biệt văn hóa và những xung đột trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại việt nam , luận văn thạc sĩ
Bảng 2.1 Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đăng ký – Thời báo (Trang 29)
Bảng 2.2: Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế thời kỳ 1994-2000 - Luận văn thạc sĩ sự khác biệt văn hóa và những xung đột trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại việt nam , luận văn thạc sĩ
Bảng 2.2 Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế thời kỳ 1994-2000 (Trang 30)
Bảng 2.3: Số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp phân theo - Luận văn thạc sĩ sự khác biệt văn hóa và những xung đột trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại việt nam , luận văn thạc sĩ
Bảng 2.3 Số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp phân theo (Trang 31)
Bảng 2.4. Những nét khác biệt về văn hóa cơ bản giữa Việt Nam và một - Luận văn thạc sĩ sự khác biệt văn hóa và những xung đột trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại việt nam , luận văn thạc sĩ
Bảng 2.4. Những nét khác biệt về văn hóa cơ bản giữa Việt Nam và một (Trang 41)
Bảng 2.5: Số vụ đình công ở Việt Nam qua các năm - Luận văn thạc sĩ sự khác biệt văn hóa và những xung đột trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại việt nam , luận văn thạc sĩ
Bảng 2.5 Số vụ đình công ở Việt Nam qua các năm (Trang 52)
Bảng 2.6: Mức độ hiểu biết về pháp luật lao động của NSDLĐ - Luận văn thạc sĩ sự khác biệt văn hóa và những xung đột trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại việt nam , luận văn thạc sĩ
Bảng 2.6 Mức độ hiểu biết về pháp luật lao động của NSDLĐ (Trang 54)
Bảng 2.7: Mức độ hiểu biết về pháp luật lao động của NLĐ - Luận văn thạc sĩ sự khác biệt văn hóa và những xung đột trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại việt nam , luận văn thạc sĩ
Bảng 2.7 Mức độ hiểu biết về pháp luật lao động của NLĐ (Trang 55)
2  Hình thức phổ biến  100  100  100 - Luận văn thạc sĩ sự khác biệt văn hóa và những xung đột trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại việt nam , luận văn thạc sĩ
2 Hình thức phổ biến 100 100 100 (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w