1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Rèn kỹ năng làm dạng bài Đọc hiểu môn Ngữ văn trong bài thi tốt nghiệp THPT

47 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Rèn kỹ năng làm dạng bài Đọc hiểu môn Ngữ văn trong bài thi tốt nghiệp THPT
Trường học Trường THPT Chuyên Bắc Giang
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2019
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 84,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rèn kỹ năng đọc hiểu được xem là vấn đề quan trọng trong trong việc thực hiện đổi mớiphương pháp dạy học môn văn ở trường phổ thông nhằm phát huy năng lực tựđọc hiểu và sáng tạo của học

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP

VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Rèn kỹ năng làm dạng bài Đọc hiểu môn Ngữ văn trong bài thi tốt nghiệp THPT

2 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: tháng 9/2019.

3 Các thông tin cần bảo mật (nếu có): không.

4 Mô tả các giải pháp cũ thường làm

4.1 Dạng bài Đọc hiểu trong bài thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ vănkhông được đưa vào tiết học nào trong phân phối chương trình môn Ngữ vănphổ thông chính khóa, thường chỉ dừng lại ở việc chữa, trả bài qua các bài kểmtra định kì, bài thi Hiện nay các chuyên đề hướng dẫn việc rèn luyện kĩ năngnày cho học sinh một cách bài bản cũng chưa nhiều

4.2 Việc ôn luyện, chữa bài cho phần Đọc hiểu còn chưa thực sựđược chú trọng, do quan niệm cho rằng đây là câu gỡ điểm nên thường đơngiản, không cần học cũng có thể trả lời được Nếu có đề cao tầm quan trọngcủa dạng bài thì nhiều giáo viên và học sinh vẫn còn lúng túng trong việc giảiquyết thấu đáo vấn đề kĩ năng Kinh nghiệm thực tế giảng dạy cho thấy, họcsinh không hề dễ dàng trong việc đạt mức điểm cao của các câu hỏi trong phầnĐọc hiểu, dù cho rằng đây là phần “gỡ điểm” và “dễ làm”

5 Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến

5.1 Từ năm học 2014 -2015, đọc hiểu văn bản là một trong hai phần

bắt buộc trong đề thi Tốt nghiệp THPT: Đọc hiểu và Làm văn Rèn kỹ năng

đọc hiểu được xem là vấn đề quan trọng trong trong việc thực hiện đổi mớiphương pháp dạy học môn văn ở trường phổ thông nhằm phát huy năng lực tựđọc hiểu và sáng tạo của học sinh trong việc khám phá giá trị của một văn bản

Tuy nhiên cũng cần nhận thấy rằng, việc lượng hóa kiến thức trong cáccâu hỏi Đọc hiểu trong đề thi Tốt nghiệp THPT hiện nay chỉ phù hợp với cácvăn bản chính luận, khoa học hay báo chí Đối với các văn bản nghệ thuật, làmsao để học sinh không rơi vào cách diễn giải đơn nghĩa, đánh mất mỹ cảm vănchương khi tiếp cận văn bản qua các câu hỏi Đọc hiểu cũng là một vấn đề cầnlưu tâm

Trang 2

5.2 Mặc dù Phần Đọc hiểu chiếm tỉ trọng điểm không lớn trong đề thi(3.0 điểm) nhưng học sinh phải xử lí một văn bản tương đối và tư duy các câuhỏi trong một thời gian ngắn Tại trường THPT Chuyên Bắc Giang, học sinh

đã quen với kiểu bài Đọc hiểu nhưng thực tế giảng dạy cho thấy, nhiều emchưa có phản xạ tốt với các câu hỏi, đặc biệt là các câu hỏi ở mức độ khótương đối như câu hỏi Vận dụng Sáng kiến này theo chúng tôi là thiết thực,trước hết là trong tình hình bài thi môn Văn trong kì thi Tốt nghiệp THPT cócùng một cấu trúc trong những năm gần đây

Xuất phát từ thực tế trên kết hợp với kinh nghiệm giảng dạy của bản

thân, chúng tôi thực hiện sáng kiến: Rèn kỹ năng làm dạng bài Đọc hiểu môn Ngữ văn trong bài thi tốt nghiệp THPT với mong muốn nâng cao hiệu quả

dạy học, chia sẻ một số vấn đề có tính chất định hướng để giúp học sinh làmtốt dạng bài này hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng bài thi môn Văn, nuôidưỡng tình yêu với môn học

6 Mục đích của giải pháp sáng kiến

Sáng kiến: Rèn kỹ năng làm dạng bài Đọc hiểu môn Ngữ văn trong bài thi tốt nghiệp THPT đề ra mục đích nghiên cứu: tìm hiểu các vấn đề xoay

quanh câu hỏi Đọc hiểu từ góc độ lí luận, hướng tới xây dựng khung kĩ nănglàm dạng câu hỏi này cho học sinh, đề xuất một số đề Đọc hiểu phục vụ choviệc ôn luyện

b Nội dung của giải pháp:

Để làm rõ vấn đề lí luận, trong giải pháp 1, chúng tôi cung cấp lí thuyết

về vấn đề Đọc hiểu và dạng bài Đọc hiểu trong đề thi Tốt nghiệp THPT hiệnnay

c Các bước tiến hành thực hiện giải pháp:

c.1 Cung cấp kiến thức về lí thuyết Đọc hiểu:

Trang 3

dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộmáy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe Đọc là tiếpxúc với văn bản về mặt ngôn từ, câu chữ trực tiếp.

Từ cách hiểu trên, có thể thấy: đọc không chỉ là hoạt động biến các kí tựthành âm thanh ngôn ngữ mà là một hoạt động, quá trình nhận thức Thông quaviệc đọc, chủ thể của hoạt động đọc sẽ giải mã các tầng ngôn từ, hình ảnh nghệthuật để tiếp nhận ý nghĩa tư tưởng của văn bản ở nhiều góc độ khác nhau

“Hiểu là nhận ra ý nghĩa, bản chất… của sự vật, hiện tượng, đối tượng

nào đó bằng sự vận dụng trí tuệ” (theo: Từ điển Tiếng Việt) Theo GS Trần Đình Sử: “hiểu thực chất là tự hiểu, nghĩa là làm cho nảy sinh, sinh thành trong ý thức của người học một tri thức mong muốn, nghĩa là làm cho thay đổi tính chất chủ quan của người học”.

Trong quan niệm thông thường, hiểu tiếp xúc văn bản về mặt bên trong, phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và

ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận

dụng vào đời sống, ứng dụng, mô hình hoá được đối tượng Hiểu là phải trả lờiđược các câu hỏi: Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?

Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức văn hoá và bồi dưỡng tâm hồn Khái niệm đọc hiểu (reading literacy)

có nội hàm khoa học phong phú, được hiểu theo nhiều cách khác nhau

Trên thế giới, OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới) đưa

ra định nghĩa sau về Reading literacy: Đọc hiểu là sự hiểu biết, sử dụng, phản hồi trước văn bản viết nhằm đạt được mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng như tham gia hoạt động của một ai đó trong xã hội Quan niệm này của OECD hoàn toàn phù hợp với quan niệm của UNESCO về Literacy: Đó là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in ấn kết hợp với những bối cảnh khác nhau Literacy đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách đầy đủ trong

xã hội rộng lớn.

Ở Việt Nam, thuật ngữ đọc hiểu xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn sáchNgữ văn tích hợp (Ngữ văn 6 - 2002) nhưng đến nay thì vẫn chưa có một địnhnghĩa rõ ràng, một cách hiểu thống nhất về nó Đã có nhiều bài viết trên các tạpchí chuyên ngành, các chuyên luận của các tác giả đầu ngành về vấn đề đọc

Trang 4

hiểu Tuy nhiên, đến nay chưa có một khái niệm chính thức về đọc hiểu Mỗingười đưa ra một cách hiểu riêng, quan niệm riêng về đọc - hiểu.

Theo GS, TS Nguyễn Thanh Hùng: Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản GS, TS Trần Đình Sử cho rằng: Đọc hiểu là đọc với năng lực phản tư, suy ngẫm những điều đọc được Đọc hiểu với hàm nghĩa sâu rộng của khái niệm hiểu là phần quan trọng của hoạt động đọc, thống nhất trong nó cả sự giải thích, phân tích và ứng dụng, làm nền tảng cho sự hình thành tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, thị hiếu thẩm mĩ của người đọc PGS, TS Nguyễn Thị Hạnh, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, khẳng định: Đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình.

Đọc hiểu là quá trình nhận biết, thông hiểu, lĩnh hội và vận dụng các giátrị của kí hiệu ngôn từ kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt của người đọcvào học tập cũng như cuộc sống Nói cách khác, đọc hiểu văn bản là hành độnggiải mã văn bản nhằm tìm kiếm thông tin từ văn bản ; giải thích, cắt nghĩa,phân loại , so sánh, kết nối,… thông tin để tạo ra những hiểu biết chung về vănbản; phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản; vận dụng những hiểu biết vềvăn bản đã học vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, đáp ứng mục đích họctập và cuộc sống

Qua các quan niệm trên, có thể thấy: khái niệm Đọc hiểu của các nhà

nghiên cứu dù xuất phát từ các khuynh hướng khác nhau, cách diễn đạt khácnhau, trung tâm của đối tượng có khác nhau song vẫn gặp nhau ở một số điểmsau:

Thứ nhất, đọc - hiểu là một khái niệm phức Nó là một tiến trình gồm haicông đoạn thuộc hai phạm trù khác nhau: “đọc” thuộc phạm trù thể lý và

“hiểu” thuộc phạm trù tâm lý

Thứ hai, các nhà nghiên cứu đều đồng tình rằng: đọc - hiểu là một hoạtđộng nhận thức Đối tượng của nó là giá trị thẩm mỹ của văn bản Quá trìnhnhận thức này chỉ xảy ra khi có sự tương tác giữa văn bản với người đọc Thứ ba, đọc - hiểu giúp người đọc lĩnh hội tri thức Thông qua đọc, ngườiđọc phải thấy được: nội dung, mục đích, ý ghĩa của văn bản; tư tưởng của tác

Trang 5

giả gửi gắm trong tác phẩm; giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật; hìnhtượng nghệ thuật…

Như vậy, dù có nhiều quan niệm khác nhau song cần phải thống nhất một

quan điểm rằng: Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ một chuỗi hoạt động

tư duy có ý thức của con người với đối tượng và mục tiêu rõ ràng Đồng thời, đọc hiểu cũng là một khái niệm chỉ năng lực đọc ở mức độ cao - mức độ hiểu - của chủ thể hoạt động.

Cần nói thêm rằng, môn Văn không chỉ có đọc văn mà còn có làm văn,tiếng việt và các kiến thức bổ trợ khác nhưng đọc văn là khâu quan trọng nhất.Nhiều nước trên thế giới hiểu môn văn trong nhà trường là môn đọc văn Dạyvăn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc -hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp nhận các giátrị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằngnghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duynhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ Do đóhiểu bản chất môn văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bảnchất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực, pháttriển năng lực là chủ thể của học sinh Điều này càng có ý nghĩa vô cùng to lớntrong thời đại ngày nay, khi sự giao lưu văn hóa quốc tế gia tăng, khi điều kiệntiếp xúc các nguồn văn bản được mở rộng hơn bao giờ hết

Nội dung khái niệm đọc rất rộng, nhưng cấp độ sơ đẳng nhất người đọcphải nắm bắt đúng thông tin trong văn bản thì mới có thể nói tới các khâu tiếptheo như cảm thụ thẩm mỹ, tiếp nhận giáo dục, năng lực tư duy sáng tạo

Nhận thức sâu sắc điều này, trong xu thế đổi mới căn bản, toàn diện nền giáodục hiện nay, nhằm phát huy khả năng chủ động tiếp cận văn bản của học sinh,

từ năm học 2014 - 2015, Bộ GD&ĐT thay đổi hình thức kiểm tra, đánh giá,chính thức đưa câu hỏi Đọc hiểu vào đề thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông.Thực chất, bản chất của vấn đề không hoàn toàn mới Vì hoạt động đọc hiểuvẫn diễn ra thường xuyên trong các giờ đọc văn Các thầy cô vẫn thường chohọc sinh tiếp cận văn bản bằng cách đọc ngữ liệu (văn bản trong sách giáokhoa), sau đó nêu ra hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời từ đó cảm nhận đượcgiá trị, ý nghĩa của văn bản, nghĩa là đang diễn ra hoạt động đọc hiểu Tuynhiên giữa hoạt động đọc hiểu và dạng bài có câu hỏi đọc hiểu có nét tươngđồng và khác biệt Hoạt động đọc hiểu và dạng bài có câu hỏi đọc hiểu có nét

tương đồng ở phương thức tiếp cận văn bản: đều bắt đầu từ đọc rồi đến hiểu.

Trang 6

Còn nét khác biệt là: hoạt động đọc hiểu trong dạy học văn trên lớp là hoạtđộng chiếm lĩnh văn bản của học sinh nhưng thông qua sự gợi mở, dẫn dắt củangười thầy; dạng bài có câu hỏi đọc hiểu (còn được gọi là phần Đọc hiểu)trong đề kiểm tra, đề thi là hoạt động độc lập, sáng tạo của học sinh, nhằmđánh giá năng lực người học.

- Mục tiêu

Mục tiêu của hoạt động đọc hiểu nói chung là tiếp thu, lĩnh hội, hiểu rõ

và vận dụng nội dung đọc được, kết quả của hoạt động đọc vào cuộc sống gópphần phát triển năng lực và hoàn thiện nhân cách con người

Mục tiêu của đọc hiểu trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông là hìnhthành và phát triển năng lực đọc hiểu văn bản, giúp học sinh có năng lực họctập, năng lực tư duy, năng lực tiếp nhận, lĩnh hội và sử dụng thông tin, nănglực ngôn ngữ

- Nội dung

Nội dung đọc hiểu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mục đích đọc hiểu,đặc điểm của văn bản đọc hiểu,… Dựa vào các tiêu chí khác nhau như kiểuloại văn bản, mục đích đọc, cấp độ đọc, trình độ của bạn đọc, đối tượng đọchiểu mà nội dung đọc hiểu có những điểm khác nhau

Hướng thứ hai: Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh hiệu quả của hành động,

coi kĩ năng là khả năng con người tiến hành công việc có kết quả trong nhữngđiều kiện cụ thể, với khoảng thời gian tương ứng

Trang 7

Kĩ năng biểu thị mức độ thực hiện thành thạo, chuẩn xác các hoạt độngdựa trên kiến thức, hành động đã từng được thực hiện nhiều lần và phù hợp với

đối tượng của hành động Ví dụ: kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng nấu ăn,

kĩ năng giải toán, kĩ năng làm văn,…

Nói cách khác, kĩ năng là khả năng vận dụng tốt các kiến thức được học vào

giải quyết các nhiệm vụ mới trong học tập, trong cuộc sống

Kĩ năng học tập có tính chuyên biệt và quan trọng nhất của bộ môn Ngữvăn trong nhà trường phổ thông là kĩ năng đọc hiểu văn bản

Kĩ năng đọc hiểu văn bản là khả năng vận dụng một cách thuần thục hệthống các kiến thức, thao tác vào quá trình chiếm lĩnh văn bản

Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu là một trong những mục tiêu cơ bản của dạy

học Ngữ văn theo tinh thần đổi mới nhằm phát triển năng lực người học

c.2 Cung cấp kiến thức về văn bản và các câu hỏi trong dạng bài Đọc hiểu:

* Các loại văn bản Đọc hiểu:

Ngữ liệu được lựa chọn, sử dụng cho phần Đọc hiểu trong đề kiểm tra,

đề thi môn Ngữ Văn là một đoạn trích hoặc văn bản nằm ngoài sách giáo khoa.Song để phù hợp với trình độ của học sinh, đề thường lựa chọn những văn bản

có đặc điểm sau:

- Độ dài văn bản: khoảng 150 - 300 chữ

- Đề tài của văn bản Đọc hiểu rất đa dạng, phong phú nhưng nội dungthường đề cập đến những vấn đề gần gũi, có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, đạođức, mang tính thời sự cao và thường là những vấn đề đặt ra với thế hệ trẻ

- Kiểu văn bản: có thể là văn bản văn học hoặc văn bản thông tin

+ Văn bản văn học (văn bản nghệ thuật)

(các văn bản đã học hoặc đọc thêm trong chương trình song thường

nghiêng nhiều về việc sử dụng đoạn trích hoặc văn bản không có trong sáchgiáo khoa nhưng cùng thể loại với các văn bản được học trong chương trình)

Ví dụ minh hoạ:

Đọc đoạn trích:

Hãy thức dậy, đất đai!

cho áo em tôi không còn vá vai cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn… xin bắt đầu từ cơm

no, áo ấm rồi thì đi xa hơn - đẹp, và giàu, và sung sướng hơn

Trang 8

Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non châu báu vô biên dưới thềm lục địa rừng đại ngàn bạc vàng là thế phù sa muôn đời như sữa mẹ sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào?

lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?

(Trích “Đánh thức tiềm lực”, Ánh trăng - Cát trắng - Mẹ và em,

Nguyễn Duy, NXB Hội Nhà văn, 2015, tr 289-290)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1 Đoạn trích được viết theo thể thơ nào?

Câu 2 Trong đoạn trích, tác giả đã nhắc đến những yếu tố nào thuộc về tiềmlực tự nhiên của đất nước?

Câu 3 Nêu hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ trong đoạn trích

Câu 4 Theo anh/chị, quan điểm của tác giả trong hai dòng thơ: ta ca hát quá nhiều về tiềm lực/tiềm lực còn ngủ yên có còn phù hợp với thực tiễn ngày nay

không? Vì sao?

(Đề thi THPTQG năm 2018, môn Ngữ Văn)

+ Văn bản thông tin (loại văn bản có nội dung thông tin đề cập, bàn

luận, thuyết minh, tường thuật, miêu tả, đánh giá,… về những vấn đề, nhữnghiện tượng gần gũi với cuộc sống con người và cộng đồng trong xã hội hiệnđại)

Ví dụ minh hoạ:

Đọc đoạn trích:

Không cần ngôn ngữ, mọi sự sống nhỏ nhoi trong tự nhiên đều dạy cho loài người chúng ta biết tầm quan trọng của việc “sống hết mình ở thời khắc này" Chẳng hạn tại vùng Tsunoda thuộc Bắc cực, giữa mùa hè ngắn ngủi, các

Trang 9

loài thực vật đua nhau nảy mầm, nở thật nhiều hoa, kết hạt, chen chúc vươn mình trong khoảng không với mảnh đời thật ngắn ngủi Có lẽ chúng chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với mùa đông dài khắc nghiệt sắp tới và phó thác sinh mạng mình cho tự nhiên Rõ ràng là chúng thực sự sống hết mình cho hiện tại, không ảo tưởng, không phân tâm Ngay cả ở vùng sa mạc khô cắn Sahara, nơi mà mỗi năm chỉ có một hai cơn mưa, nhưng mỗi khi có những giọt nước mưa hiếm hoi trút xuống thì các loài thực vật lại vội vã nảy mầm

và nở hoa Và trong khoảng thời gian từ một đến hai tuần ngắn ngủi, chúng

ra hạt, oằn mình chịu đựng trong cát, trong cái nóng như thiêu như đổt, tiếp tục sống chờ đến trận mưa sau để nòi giống của chủng sẽ lại trỗi dậy Quả thật là muôn loài trong tự nhiên đều sống hết mình, sống nghiêm túc trong từng khoảnh khắc, trong suốt khoảng thời gian sống được hạn định Sống hết mình cho hiện tại sẽ đưa sự sống, dù nhỏ bé, vươn đến ngày mai Vậy thì loài người chủng ta lại càng phải biết trân trọng cuộc sống mỗi ngày để không thua kém cỏ cây muông thú

(Trích Cách sống: từ bình thường trở nên phi thường,

Inamori Kazuo, NXB Lao động, 2020, tr 103-104) Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích Câu 2 Theo đoạn trích, các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc Bắc cực sinhtrưởng như thế nào giữa mùa hè ngắn ngủi?

Câu 3 Chỉ ra những điểm tương đồng về sự sống của các loài thực vật ở vùngTsunoda thuộc Bắc cực và ở vùng sa mạc Sahara trong đoạn trích

Câu 4 Anh/Chị có đồng tình với nhận định của tác giả “Sống hết mình chohiện tại sẽ đưa sự sống, dù nhỏ bé, vươn đến ngày mai"? Vì sao?

(Đề thi Tốt nghiệp THPT năm 2020, môn Ngữ Văn)

* Các loại câu hỏi Đọc hiểu:

Hiện nay, Đọc hiểu môn Ngữ Văn trong nhà trường THPT thườnghướng tới các kỹ năng cụ thể sau:

- Nhận biết đúng, chính xác về văn bản: Thể loại của văn bản; phong

cách ngôn ngữ/phương thức biểu đạt/ thao tác lập luận của văn bản; hiểu đề tài,nhan đề, chủ đề của văn bản

- Thông hiểu, đánh giá đúng văn bản: Cảm nhận được những đặc sắc,

nổi bật của văn bản (từ ngữ, hình ảnh,chi tiết quan trọng, đặc sắc; các biện

Trang 10

pháp tu từ nổi bật, ); đánh giá được nội dung, ý nghĩa của văn bản bằng kiếnthức, kinh nghiệm của mình.

- Vận dụng vấn đề đề cập đến trong văn bản để giải quyết một vấn đề cụ thể: Liên hệ, mở rộng một vấn đề nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến của

mình; vận dụng văn bản để trình bày phương hướng, biện pháp giải quyết mộtvấn đề cụ thể trong cuộc sống

Để phát huy khả năng chủ động tiếp cận văn bản, năng lực tự đọc hiểu

và sáng tạo của học sinh trong việc khám phá giá trị nội dung tư tưởng của vănbản Đọc hiểu cũng như đảm bảo phân hoá trình độ học sinh, các câu hỏi trongphần Đọc hiểu của đề kiểm tra, đề thi bao gồm các câu hỏi từ dễ đến khó, đượcsắp xếp theo bốn mức độ từ thấp đến cao: Nhận biết - Thông hiểu - Vận dụng -Vận dụng cao

Câu hỏi nhận biết:

Nhận biết nghĩa là nhận ra được sự vật, hiện tượng, đối tượng, trả lời

được câu hỏi: là gì?

Mức nhận biết thường xoay quanh các yêu cầu sau:

- Nhận diện một đặc điểm của hình thức văn bản như: thể loại/phươngthức biểu đạt/thao tác lập luận/phép liên kết/ phong cách ngôn ngữ của vănbản… (thường có các cụm từ: Xác định/chỉ ra/Nêu,…)

Ví dụ: Đoạn trích được viết theo thể thơ nào? (Câu 1, Đề thi Trung học phổthông quốc gia 2018)

- Khái quát chủ đề/nêu nội dung chính/vấn đề chủ yếu mà văn bản đềcập

- Tìm những chi tiết thuộc về nội dung văn bản phù hợp với nội dungđịnh hướng trong câu lệnh (thường có các cụm từ cho thấy dấu hiệu nhận biết:Theo tác giả/Theo đoạn trích/Dựa vào đoạn trích )

Ví dụ: Theo đoạn trích, các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc Bắc cực sinhtrưởng như thế nào giữa mùa hè ngắn ngủi? (Câu 2, Đề thi Tốt nghiệp trunghọc phổ thông 2020)

Câu hỏi thông hiểu:

Thông hiểu nghĩa là nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng, đốitượng (thường phải suy luận, không tìm thấy trực tiếp câu trả lời trong văn

bản) Đánh giá mức độ thông hiểu, đề thường yêu cầu trả lời câu hỏi: Thế nào? Hoặc: Tại sao/Vì sao?; Anh/chị hiểu như thế nào về…?

Một số yêu câu thường gặp ở câu hỏi thông hiểu là:

Trang 11

- Nêu cách hiểu về một hoặc một sô câu văn/câu thơ/ hình ảnh/chi tiết, trong văn bản

- Hiểu được nét đặc sắc nghệ thuật theo đặc trưng thể loại(thơ/truyện/kí/, ) hoặc một số nét đặc sắc về nội dung của văn bản

Ví dụ: Anh/ Chị hiểu nội dung các dòng thơ sau như thế nào "Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng/ Bao kiếp vùi trong đáy lạnh mù tăm” ? (Câu 2, Đề thi

Trung học phổ thông Quốc gia 2019)

Câu hỏi vận dụng thấp:

Trong môn Ngữ văn, vận dụng chính là biết thực hành tạo lập văn bảntrong giao tiếp (nói, viết) Vận dụng là biết làm theo để tạo ra sản phẩm củamình Câu hỏi kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng thường yêu cầu tạo ra mộtsản phẩm tương tự Đề có thể nêu ra một trong số các yêu cầu sau:

- Nhận xét/đánh giá/lí giải tư tưởng/quan điểm/tình cảm/thái độ của tácgiả đối với sự vật, hiện tượng, đối tượng được đề cập trong văn bản

- Phân tích giá trị/tác dụng/hiệu quả của việc sử dụng thể loại/biện pháp

tu từ/chi tiết/ hình ảnh,… được sử dụng trong câu/đoạn/ văn bản

Ví dụ: Nêu hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ trong đoạn trích (Câu 3,

Đề thi Trung học phổ thông quốc gia 2018)

Câu hỏi vận dụng cao:

Vận dụng cao là mức độ cao hơn vận dụng thấp, đòi hỏi học sinh phải có

sự sáng tạo; phải kết hợp cả kỹ năng đọc hiểu và viết để rút ra những kết luận,bài học, thông điệp, chia sẻ suy nghĩ, quan điểm Câu hỏi đánh giá mức độ vậndụng cao thường yêu cầu:

- Rút ra bài học/thông điệp/điều ý nghĩa rút ra từ văn bản Lí giải

- Chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ, thái độ và nhất là quan điểm cá nhân trướcmột nhận định/ thông điệp/ vấn đề đặt ra trong văn bản đọc hiểu

- Liên hệ đến vấn đề có liên quan (bài thơ/câu thơ/hình ảnh/nhân vật,…)

- Nêu quan điểm đồng tình/không đồng tình với quan điểm (…) của tácgiả Lí giải

Ví dụ: Anh/Chị có đồng tình với nhận định của tác giả “Sống hết mình chohiện tại sẽ đưa sự sống, dù nhỏ bé, vươn đến ngày mai"? Vì sao?

(Câu 4, Đề thi Tốt nghiệp THPT năm 2020, môn Ngữ Văn)

d Kết quả khi thực hiện giải pháp

Trang 12

7 1.2 Giải pháp 2:

a Tên giải pháp: Hình thành kỹ năng làm dạng bài Đọc hiểu môn Ngữ văn trong bài thi tốt nghiệp THPT

b Nội dung của giải pháp:

Nếu chỉ nắm được kiến thức về dạng bài thì học sinh chưa thể đáp ứngđược các yêu cầu của phần Đọc hiểu Kĩ năng làm dạng bài này sẽ giúp các emchủ động ứng biến với tất cả các dạng câu hỏi có thể xuất hiện trong đề thi

Phần này tập trung định hướng các kĩ năng:

- Tích lũy kiến thức

- Trả lời các câu hỏi theo mức độ, đảm bảo yêu cầu về thời gian, dunglượng và tính thuyết phục

c Các bước tiến hành thực hiện giải pháp

* Hình thành kỹ năng tích lũy kiến thức

- Kiến thức Tiếng việt, Văn bản và Làm văn

Sự phân loại này chủ yếu dựa theo cấu trúc môn học Ngữ văn trongtrường phổ thông nhiều năm nay Câu hỏi Đọc hiểu không giới hạn lượng kiếnthức cần huy động để làm bài, tuy nhiên đó đều là những kiến thức quen thuộc,

có phần đơn giản, đều đã được học trong chương trình Học sinh có thể tự hệthống hóa, sơ đồ hóa kiến thức để phục vụ cho bài làm Ở đây chúng tôi tậptrung hệ thống một số đơn vị kiến thức môn học thường gặp trong phần Đọchiểu:

Kiến thức phần Tiếng việt và Làm văn

+ Các phương thức biểu đạt: Tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết minh, nghịluận, hành chính công vụ

+ Các thao tác lập luận trong văn nghị luận: Phân tích, chứng minh, giảithích, bình luận, so sánh, bác bỏ

+ Các phương thức lập luận/ cách thức trình bày đoạn văn: Diễn dịch,quy nạp, song hành,

Trang 13

+ Các phong cách ngôn ngữ: Sinh hoạt, nghệ thuật, chính luận, khoahọc, báo chí, hành chính.

+ Các vấn đề ngữ pháp: Các biện pháp tu từ và tác dụng; nghĩa của từ,câu; hàm ý; …

m học sinh có hiểu biết xã hội sẽ tốt hơn, đặc biệt là ở loại câu hỏi vận dụng

Kiến thức xã hội có thể được sưu tầm từ nhiều nguồn,nhiều kênh: sách

vở, báo đài, truyền hình,…; được giáo viên gợi ý và định hướng qua các hoạtđộng dạy học và giáo dục; đồng thời phần quan trọng đến từ sự trải nghiệm của

bản thân học sinh (Tham khảo chương II, chuyên đề: Rèn kĩ năng viết đoạn văn Nghị luận xã hội trong bài thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn, Vũ Ánh

Tuyết, 2019)

Kiến thức xã hội rất quan trọng trong việc tạo cảm hứng cho học sinhkhi đọc các ngữ liệu Đọc hiểu, bao gồm cả các văn bản nghệ thuật, từ đó gìngiữ niềm vui, mỹ cảm khi làm bài và đối với môn học Bên cạnh đó, các câuhỏi vận dụng nếu được lồng ghép kiến thức xã hội một cách phù hợp cũng giúpgiải quyết tốt vấn đề đặt ra

* Hình thành kĩ năng trả lời các câu hỏi dạng bài Đọc hiểu

Yêu cầu về thời gian, dung lượng:

- Thông thường, đối với đề thi Tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn có thời gianlàm bài 120 phút, tương ứng với số điểm của phần Đọc hiểu (3.0 điểm) có thể

Trang 14

quy ước thời gian làm phần Đọc hiểu của học sinh trong khoảng 20 - 25 phút làhợp lý.

- Trong thời gian đó, học sinh cần đọc kĩ văn bản, đọc kĩ các câu hỏi và trảlời với dung lượng tùy theo mức độ các câu hỏi (thường có mức độ khó tăngdần, và do đó phổ điểm cũng tăng dần) Đa phần dạng bài này yêu cầu học sinhtrả lời ngắn gọn, hàm súc, chặt chẽ

Kĩ năng trả lời các câu hỏi theo mức độ

Dễ nhận thấy, phần Đọc hiểu trong các đề thi minh họa và đề thi chínhthức do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành những năm gần đây đều bám sát 4mức độ câu hỏi: Nhận biết – Thông hiểu – Vận dụng thấp – Vận dụng cao.Mức phổ điểm lần lượt là: 0,5 điểm – 0,5 điểm – 1.0 điểm – 1.0 điểm; hoặc 0,5điểm – 0,75 điểm – 0,75 điểm – 1.0 điểm (năm 2019)

Tương ứng với mức độ câu hỏi và phổ điểm, chúng tôi đề ra định hướngrèn kĩ năng trả lời các câu hỏi Đọc hiểu cho học sinh, dựa trên các mẫu câu hỏithường gặp trong các đề thi minh họa và chính thức của Bộ Giáo dục từ năm

2017 đến nay như sau:

Mức độ

câu hỏi

Mẫu câu hỏi thường gặp

(Trong các đề minh họa,

chính thức của Bộ GD từ

2017 đến nay)

Kĩ năng trả lời câu hỏi Lỗi sai

thường gặp

Nhận

biết

- Hỏi về cách trình bày đoạn

văn (Đề minh họa 2017)

Yêu cầuchung:

Trả lờingắngọn,trúngvấn đềđượchỏi

Khôngnắm đượccác đơn vịkiến thứcdẫn đếnxác địnhsai đáp án

Thông

hiểu

- Hỏi về 1 chi tiết có sẵn

trong văn bản (Đề năm

2017, 2018, minh họa 2019,

đề năm 2020)

- Hỏi về cách hiểu nội dung

- Đọc kĩ văn bản vàliệt kê đáp án

- Câu hỏi về cách

- Đọcchưa kĩvăn bảndẫn đếnliệt kê sai

Trang 15

câu thơ (Đề chính thức

2019)

hiểu nội dung câu thơnăm 2019 đòi hỏimức độ thông hiểucao hơn ở học sinh

Phần này cho phéphọc sinh phát huy khảnăng cảm thụ vănchương nhưng hạnchế về dung lượng vàthời gian

hoặc thừađáp án

- Trả lờiquá dàidòng khitrình bàycách hiểunội dungcâu thơ

Nếu trong văn bản

đã có lời giải thíchcho ý kiến thì họcsinh cần kết hợp vớiquan điểm của cánhân, không đượcchỉ nêu lại các câutrong ngữ liệu Nếutrong văn bản không

có sẵn câu trả lời thìcần tự đưa ra cáchgiải thích, cách hiểucủa mình

- Đọc kĩ các chi tiết,

so sánh và chỉ rađiểm chung hoặckhác biệt

- Huy động kiến thức

về hiệu quả của

Yêucầu:

Trả lờivớidunglượngvừaphải(7-10 dòng)

Chú ýgiảithích,lập luậnchặtchẽ,logic,khoahọc

- Chỉ chéplại các câuvăn trongvăn bản đểphục vụcho việcgiải thích

- Khôngkhái quátđược vấn

đề hoặcphát hiện

ra điểmkhác biệt

- Không

Trang 16

2019) BPTT và áp dụng cho

câu văn/thơ

nắm đượccác BPTT

và hiệuquả,

không biết

áp dụng

để trả lờidẫn đếnlan man,dài dòng

minh họa 2017); Suy nghĩ

gợi ra từ nội dung của đoạn

trích (Đề chính thức 2019)

- Lời khuyên… có ý nghĩa

gì với anh/chị? (Đề minh

họa 2020)

- Đồng ý/ Khôngđồng ý/ Không hoàntoàn đồng ý…; Phùhợp/ Không phùhợp…; Giải thích: Lígiải từ ngữ, vế câu,quan hệ giữa hai vếcâu

- Trình bày quanđiểm cá nhân

- Đưa ra ý nghĩa củathông điệp:

+ Về nhận thức: Đemđến cho học sinh một

tư duy mới mẻ, sâusắc như thế nào; bàihọc quan trọng đốivới lứa tuổi củaem/cuộc sống củamỗi người nóichung…

+ Về hành động: Từ

đó có định hướng

Yêucầu:

- Chú ýtínhchặt chẽtronglậpluận Cóthể hìnhthànhmộtđoạnvăn nhỏmạchlạc, lớplangkhoảng10dòng

- Đếnđây họcsinh cóthể đưa

ra quanđiểm cá

- Lập luậnthiếu tínhthuyếtphục

dòng, dẫnđến thiếuthời giancho phầnLàm văn

- Khôngđưa đượcquan điểmriêng, chỉphụ thuộcvào vănbản ngữliệu

Trang 17

đúng đắn về thái độ,việc làm của mìnhnhư thế nào.

nhânnhưngcần phùhợp vớidunglượng,thờigian…

Chú ý t ính thuyết phục của câu trả lời Vận dụng

- Thực trạng

Thực tế giảng dạy cho thấy, nhiều học sinh chưa thực sự chú ý đến tínhthuyết phục của các câu trả lời Vận dụng trong bài Đọc hiểu Có nhiều lí docho hiện tượng này: cho rằng phần Đọc hiểu là để “gỡ điểm” cho nên chỉ cầntrả lời có ý đúng là được, hoặc do thói quen tư duy thường ngại suy nghĩ, biệnluận, cố gắng làm xong cho nhanh để chuyển sang phần Làm văn, hoặc dokhông biết cân đối thời gian dẫn đến thiếu sự đầu tư cho các câu Vận dụng…

Hệ quả của việc này là học sinh thiếu kĩ năng trả lời các câu hỏi, dần dầnhình thành quán tính hời hợt trong suy nghĩ khi được yêu cầu “nghĩ”, chấtlượng bài làm giảm sút

Khi học sinh chủ động thiết lập tính thuyết phục của câu trả lời, các em

sẽ có được hứng thú trước các vấn đề; biết cách lồng ghép quan điểm và cáchbiện giải của bản thân vào câu trả lời vốn bị hạn chế bởi khung điểm và dunglượng, bởi câu hỏi được lượng hóa Đây là vấn đề mà chúng tôi rất quan tâmtrong quá trình giảng dạy và ôn luyện về dạng bài Đọc hiểu: học sinh đối diênvới nguy cơ đánh mất mỹ cảm văn chương và thú vui tranh luận; tuy nhiên vớiphạm vi của sáng kiến, chúng tôi chưa thể giải quyết đến tận cùng của vấn đề

mà chỉ gợi ra và định hướng một vài khía cạnh

- Phân tích ví dụ

Có thể lấy một ví dụ như sau:

Đề bài:

Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:

Thực tế cho thấy,người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị Khi bước vào nghề, một nhân viên thiếu các kỹ năng giao tiếp, kỹ

Trang 18

năng bán hàng, làm việc nhóm, quản lý thời gian, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng lập kế hoạch… là một hạn chế khiến họ khó có thể hòa đồng và tồn tại lâu

Hầu hết các nhà quản lý và nhà tuyển dụng đều than phiền nhân viên trẻ thiếu và rất yếu về kỹ năng mềm, đa số không đáp ứng được yêu cầu công việc

dù họ có bằng cấp rất tốt… Họ cho rằng 80% sự thành công của một cá nhân

là nhờ vào kỹ năng mềm chứ không phải kỹ năng cứng (kiến thức chuyên môn) Song thực tế, việc đào tạo kỹ năng mềm trong nhà trường hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ, trong khi đó nhiều sinh viên cũng chưa ý thức được tầm quan

trọng và sự cần thiết của kỹ năng mềm.

Trước nhu cầu phát triển, hội nhập của Việt Nam với thế giới kinh tế tri

thức, với kỷ nguyên internet đã giới hạn địa lý, giới hạn dân tộc ngày càng thu hẹp Trong thời đại làng toàn cầu, công dân toàn cầu, những kĩ năng mềm (kỹ năng sống) như giao tiếp, làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, chấp nhận sự khác biệt, ứng xử đa văn hoá,…càng trở thành hành trang không thể thiếu với bất cứ một người nào, đặc biệt là giới học sinh, sinh viên - nguồn tài nguyên quan trọng nhất để phát triển đất nước.

(Khoá học kỹ năng mềm, nguồn:

Cuocsongdungnghia.com)

Câu 1 (0.5 điểm) Trong đoạn trích, theo tác giả, kĩ năng cứng, kĩ năng mềm

được hiểu là gì ?

Câu 2 (0.5 điểm) Vì sao trong đoạn trích, tác giả cho rằng: giới học sinh, sinh

viên là nguồn tài nguyên quan trọng nhất để phát triển đất nước?

Câu 3 (1.0 điểm) Anh/chị hãy nêu tác dụng của kĩ năng mềm đối với mỗi

người trong cuộc sống?

Câu 4 (1.0 điểm) Anh/chị có đồng ý với ý kiến “việc đào tạo kỹ năng mềm trong nhà trường hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ” không? Vì sao?

(Đề thi tháng 2/2021, trường THPT Chuyên Bắc Giang

dành cho lớp 11 nâng cao)

Bài làm của học sinh, câu 4:

“Tôi đồng ý với ý kiến “việc đào tạo kỹ năng mềm trong nhà trường hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ”, bởi trường học hầu như chỉ dạy chúng ta lí thuyết, chưa có nhiều sự thực hành cũng như các hoạt động kĩ năng sống Vì vậy một

số học sinh, sinh viên chưa ý thức được tầm quan trọng của kĩ năng mềm”.

(Bài làm của học sinh lớp 11 Sử Địa, trường THPT Chuyên Bắc Giang)

Trang 19

Phân tích bài làm:

Tính thiếu thuyết phục của bài làm thể hiện ở chỗ:

++ Các lí lẽ chưa xác đáng: “trường học hầu như chỉ dạy chúng ta lí thuyết, chưa có nhiều sự thực hành cũng như các hoạt động kĩ năng sống”, thể

hiện ở chỗ: ngầm khẳng định lí thuyết không quan trọng bằng các phạm trùkhác, đối lập lí thuyết với thực hành và các hoạt động kĩ năng sống Câu này có

thể sửa thành: “Thực tế cho thấy kĩ năng mềm chưa trở thành một môn học trong các nhà trường ở Việt Nam, đặc biệt đến cấp trung học thì chỉ còn được lồng ghép nhỏ lẻ dưới dạng: dạy học tích hợp, câu lạc bộ, … nhưng cũng chưa được chú trọng.”

++ Thiếu ý: “Vì vậy một số học sinh, sinh viên chưa ý thức được tầm quan trọng của kĩ năng mềm” “và thiếu hụt về kĩ năng mềm Cũng cần thấy

rằng trường học không phải là nơi duy nhất mà học sinh, sinh viên có thể học

về kĩ năng mềm Do vậy trong bối cảnh đó, người học cần trau dồi kĩ năng tựhọc.”

++ Thiếu cái nhìn đa chiều trong lập luận: ngữ liệu cho rằng kỹ năngmềm và kỹ năng sống là 2 khái niệm tương đương, như vậy là thiếu chính xác

Kỹ năng sống có phạm vi rộng hơn kĩ năng mềm Nếu học sinh nhận ra điềunày có thể đảm bảo tính chính xác và tính đa chiều của lập luận

- Biện pháp khắc phục

Một số biện pháp được chúng tôi áp dụng trong quá trình giảng dạy nhằmgiúp học sinh ý thức được và rèn luyện kỹ năng lí giải thuyết phục trong câutrả lời Vận dụng như sau:

+ Khuyến khích học sinh rèn thói quen và tạo dựng hứng thú tư duybằng cách đặt nhiều câu hỏi trong quá trình học, đồng thời hướng dẫn học sinhđặt các câu hỏi để tìm ra bản chất của vấn đề (Phương pháp Socrates) Chúngtôi cũng thường xuyên áp dụng các hoạt động tranh biện, hùng biện trong lớphọc nhằm rèn tư duy phản biện cho học sinh

+ Đề cao vai trò của việc lập dàn ý trong các bài làm văn, chú ý tínhlogic, khoa học, chặt chẽ của các ý, từ đó có thể áp dụng cho các câu hỏi nhỏnhư các câu hỏi Vận dụng trong dạng bài Đọc hiểu Chúng tôi cho học sinh tự

ra đề bài chéo, thực hiện xây dựng dàn ý và trao đổi về dàn ý cho đến khi tìm

ra được dàn ý “lý tưởng” nhất

d Kết quả khi thực hiện giải pháp

Mức độ hứng thú Không hứng thú Có một chút Rất hứng thú

Trang 20

Chưa tiến bộ Có tiến bộ Tiến bộ rõ rệt

Sau khi thực hiện

giải pháp

Bảng số liệu so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp, khảo sát tại lớp 11 Sử Địa trường THPT Chuyên Bắc Giang, tính đến tháng 2, năm học 2020-2021

7.1.3 Giải pháp 3:

a Tên giải pháp: Đề xuất một số đề Đọc hiểu và gợi ý làm bài

b Nội dung của giải pháp: Trong khuôn khổ, phạm vi của sáng kiến, ở phần

này, chúng tôi giới thiệu cho các em học sinh một số đề bài và gợi ý cách làm

để các em tham khảo, luyện tập Nếu không thông qua quá trình tự luyện tập,

tự tư duy thì học sinh không thể nâng cao kĩ năng đối với dạng bài mặc dù đãhiểu dạng đề và cách làm

c Các bước tiến hành thực hiện giải pháp:

Cung cấp, giới thiệu 12 đề bài Đọc hiểu phục vụ cho việc tự luyện tậpcủa học sinh

Giao nhiệm vụ cho học sinh: Đọc và nghiên cứu 12 đề bài trên tinh thầnphản biện đáp án, khuyến khích tự lập dàn ý câu trả lời của riêng mình

Trang 21

Đề số 1.

Đọc đoạn trích và trả lời câu hỏi:

…(1) Ở mọi nơi, hàng triệu sinh viên đang bước ra từ đại học và sẽ đi làm, nhưng không may, một số người không làm công việc theo điều họ đã học và nhiều người không tìm ra việc làm Sau nhiều năm học tập với đầy mong đợi,

đó là kinh nghiệm choáng váng với họ, và rằng tương lai của họ bây giờ bất định, thời gian ở đại học bị phí hoài Có sự không tương xứng giữa điều thị trường yêu cầu và điều nhiều trường đang dạy Tranh cãi về cải tiến hệ thống giáo dục vẫn tiếp tục trong nhiều năm mà không có hành động thực tế nào Sinh viên tiếp tục tốt nghiệp với các bằng cấp không có giá trị trong khi hàng triệu việc làm chưa được lấp kín ở mọi nước Thiếu hành động đúng, nhiều người có thể không có việc làm tử tế suốt cả đời.

(2) Hôm nay, ở bình minh của cách mạng công nghiệp thứ tư, cả học sinh và gia đình họ phải có đủ thông tin về nghề nghiệp nào đang và sẽ có nhu cầu cao, bằng cấp nào, phẩm chất hay kỹ năng nào họ phải chuẩn bị từ bây giờ để đem lại cơ hội việc làm tốt nhất.

Lời khuyên của tôi cho học sinh là không thể chờ đợi thụ động sự giúp đỡ của

bố mẹ hay nhà trường mà chủ động lập kế hoạch cho tương lai của mình dựa trên việc suy nghĩ nghiêm chỉnh về nghề nghiệp dài hạn thay vì chỉ cần thi đỗ các kỳ thi và chuyển sang bước tiếp đến tấm bằng đại học mà không học gì thiết thực, rồi thất vọng tràn trề khi không thể tìm được việc làm Tôi thường nói với học sinh của mình rằng: có việc làm là dễ nhưng giữ nó, liên tục trưởng thành theo nó và tận hưởng điều mình làm trong đời mới là quan trọng.

(3) Tại sao nhiều người vẫn tập trung vào việc có bằng cấp thay vì thu nhận các kỹ năng thị trường việc làm đang cần? Tại sao các trường vẫn cung cấp bằng cho ngành mà người tốt nghiệp của họ sẽ khó kiếm việc? Tại sao gia đình cho con cái vào cuộc hành trình giáo dục mà không có kế hoạch, đích đến rõ ràng? Chừng nào chưa có câu trả lời cho những câu hỏi này, mọi sự sẽ không thay đổi gì mấy.

(Dẫn theo: https://vnexpress.net/vao-dai-hoc-4153465.html)

Trang 22

Câu 1 Dựa vào đoạn trích, anh/chị hãy cho biết sự không tương xứng giữa

điều thị trường yêu cầu và điều nhiều trường đang dạy đã dẫn đến thực trạng nào? (0.5 điểm)

Câu 2 Theo tác giả, để có được cơ hội việc làm tốt nhất, mỗi học sinh cần phải

làm gì? (0.5 điểm)

Câu 3 Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ nổi bật được sử

dụng trong đoạn (3) (1.0 điểm)

Câu 4 Anh/chị có đồng tình với quan điểm: có việc làm là dễ nhưng giữ nó,

liên tục trưởng thành theo nó và tận hưởng điều mình làm trong đời mới là quan trọng không? Vì sao? (1.0 điểm)

Gợi ý làm bài

Câu 1 Sự không tương xứng giữa điều thị trường yêu cầu và điều nhiều

trường đang dạy đã dẫn đến thực trạng:

- .hàng triệu sinh viên đang bước ra từ đại học và sẽ đi làm, nhưng không may, một số người không làm công việc theo điều họ đã học và nhiều người không tìm ra việc làm

- Sinh viên tiếp tục tốt nghiệp với các bằng cấp không có giá trị trong khi hàng triệu việc làm chưa được lấp kín ở mọi nước; nhiều người không có việc làm

- Biện pháp tu từ nổi bật được sử dụng trong đoạn (3) là: câu hỏi tu từ

- Tác dụng: bộc lộ sự trăn trở, băn khoăn, lo ngại của tác giả về một thực trạngphổ biến ở nước ta: nhiều người quá xem trọng bằng cấp, coi nhẹ kỹ năng mà

Trang 23

không nhận ra rằng: Ngày nay, bằng cấp không đảm bảo cho bất kỳ cái gìchừng nào học sinh còn chưa chọn đúng lĩnh vực học tập, chưa trang bị chomình những kỹ năng thị trường việc làm đang cần (còn gọi là kỹ năng nghềnghiệp)

(chú ý: HS có thể chỉ ra biện pháp tu từ nổi bật là: phép điệp (điệp từ, điệp cấu

* HS bày tỏ được quan điểm của bản thân

* HS có nhiều cách lý giải cho quan điểm của mình Có thể:

- Đồng tình với ý kiến

- Không đồng tình với ý kiến

- Vừa đồng tình vừa không đồng tình

………

Đề số 2.

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Hội thảo Thử nghiệm ước mơ nghề nghiệp tổ chức tại trường Phổ

thông liên cấp Olympia (Hà Nội) ngày 3/5 có các diễn giả là GS Ngô Bảo Châu, PGS y khoa Nguyễn Lân Hiếu, TS Nguyễn Thành Nam, KTS Hoàng Thúc Hào Nhiều học sinh, phụ huynh đã đặt câu hỏi làm thế nào để chọn nghề phù hợp với bản thân, xu hướng của xã hội hay việc hướng nghiệp nên bắt đầu khi nào.

Theo GS Ngô Bảo Châu, việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh nên

có sự tham gia của cả gia đình, xã hội Nếu chỉ nhà trường làm công việc này

sẽ không đủ thông tin cho các em lựa chọn trước ngưỡng cửa cuộc đời.

Ngày đăng: 03/09/2023, 09:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp, khảo sát  tại lớp 12 Sinh, trường Chuyên Bắc Giang tính đến tháng 11, năm học  2020-2021 - Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Rèn kỹ năng làm dạng bài Đọc hiểu môn Ngữ văn trong bài thi tốt nghiệp THPT
Bảng s ố liệu so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp, khảo sát tại lớp 12 Sinh, trường Chuyên Bắc Giang tính đến tháng 11, năm học 2020-2021 (Trang 12)
Bảng số liệu so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp, khảo sát tại lớp 11 Sử Địa  trường THPT Chuyên Bắc Giang, tính đến tháng 2, năm học 2020-2021 - Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Rèn kỹ năng làm dạng bài Đọc hiểu môn Ngữ văn trong bài thi tốt nghiệp THPT
Bảng s ố liệu so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp, khảo sát tại lớp 11 Sử Địa trường THPT Chuyên Bắc Giang, tính đến tháng 2, năm học 2020-2021 (Trang 20)
Bảng số liệu cho thấy kết quả thực hiện giải pháp 3, tính đến tháng 2 năm học - Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Rèn kỹ năng làm dạng bài Đọc hiểu môn Ngữ văn trong bài thi tốt nghiệp THPT
Bảng s ố liệu cho thấy kết quả thực hiện giải pháp 3, tính đến tháng 2 năm học (Trang 47)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w