Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các
Trang 1NGUYỄN ĐÌNH LAI
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC LẬP QUI HOẠCH, KẾ HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH BẮC KẠN GIAI ĐOẠN 2005-2010,
LIÊN HỆ THỰC TẾ TẠI HUYỆN NA RÌ
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số : 60.62.16
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Hải
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 2Tôi xin cam đoan rằng đề tài luận văn tốt nghiệp: “Đánh giá công tác
lập qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2005-2010 Liên hệ thực tế tại huyện Na Rì.”đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được bảo vệ ở một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Đình Lai
Trang 3Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Thạc sĩ khoa
học quản lý đất đai, với đề tài “Đánh giá công tác lập qui hoạch, kế hoạch
sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2005-2010 Liên hệ thực tế tại huyện
Na Rì.” tôi luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ quý báu của Nhà trường, tập thể các Thầy, Cô giáo, Lãnh đạo Huyện Ủy, Ủy ban nhân dân huyện; Lãnh đạo cơ quan chuyên môn chủ quản cấp trên; bạn bè đồng chí, đồng nghiệp Nhân dịp hoàn thành luận văn này tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới:
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Sau Đại học, khoa Tài nguyên và Môi trường cùng tập thể các thầy cô giáo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn: TS Hoàng Hải
Nhân dịp này tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới gia đình, đồng nghiệp cơ quan đã giúp đỡ, gánh vác công việc, nhiệm vụ chuyên môn, động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong Hội đồng chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất
Thái Nguyên, ngày tháng 9 năm 2011
TÁC GIẢ
Nguyễn Đình Lai
Trang 4hoạch sử dụng tỉnh Bắc kạn giai đoạn 2005 - 2010 52 Bảng 4.2 Kết quả thực hiện phương án qui hoạch sử dụng đất giai đoạn
2005-2010 của tỉnh Bắc Kạn 54 Bảng 4.3 Đối tượng được giao đất 58 Bảng 4.4.Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2005 của huyện
Na Rì 61 Bảng 4.5: Diện tích cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2005 huyện
Na Rì 62 Bảng 4.6: Diện tích, cơ cấu sử dụng đất chưa sử dụng năm 2005 63 Bảng 4.7: Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất
đến năm 2010 của huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 64 Bảng 4.8: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp theo
phương án qui hoạch sử dụng đất đến năm 2010 65 Bảng 4.9: Kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp 67
Trang 51.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu 3
1.2.2 Yêu cầu 3
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Bản chất của quy hoạch sử dụng đất 4
2.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai 6
2.3 Các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai 9
2.3.1 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất 9
2.3.2 Các loại hình kế hoạch sử dụng đất 11
2.4 Nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất đai 12
2.5 Quy hoạch sử dụng đất đai ở một số nước trên thế giới 14
2.6 Quy hoạch đất đai ở Việt Nam 20
2.7 Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn 30
2.7.1 Việc bố trí và tổ chức cán bộ làm công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 30
2.7.2 Công tác thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 30
2.7.3 Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 31
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 34
3.2 Nội dung nghiên cứu 34
3.3 Phương pháp nghiên cứu 34
3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu 34
3.3.2 Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp các số liệu điều tra có xử dụng phần mềm Excell 34
3.3.3 Phương pháp minh họa bằng bản đồ 35
3.3.4 Phương pháp chuyên gia 35
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Na Rì 36
Trang 64.2.2 Thực trạng phát triển các khu vực kinh tế 43
4.2.3 Thực trạng phát triển dân số, lao động và việc làm 45
4.2.4 Thực trạng phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn 46
4.2.5 Thực trạng phát triển kết cầu hạ tầng xã hội 47
4.2.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội gây áp lực đối với đất đai 49
4.2.7 Những vấn đề kinh tế - xã hội gây áp lực đối với đất đai 50
4.3 Thực trạng đất đai của tỉnh Bắc Kạn 51
4.3.1 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn năm 2010 51
4.3.3 Kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2005 - 2010 53
4.4 Tình hình quản lý và sử dụng đất huyện Na Rì 57
4.4.1 Tình hình quản lý đất đai 57
4.4.2 Hiện trạng sử dụng đất tr ên địa bàn huyện Na Rì 60
4.4.3 Kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 64
4.5 Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện phương án qui hoạch sử dụng đất huyện Na Rì giai đoạn 2005 - 2010 70
4.5.1 Thuận lợi 70
4.5.2 Những khó khăn 70
4.6 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất huyện Na Rì 72
4.6.1 Các giải pháp trước mắt 72
4.6.2 Các giải pháp lâu dài 73
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
5.1 Kết luận 76
5.2 Kiến nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 7PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, phát triển các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng.v.v Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992, Chương II điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản
lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”
Thực hiện Luật Đất đai, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong những năm qua đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2010 được triển khai ở
4 cấp: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 – 2010) cấp quốc gia đã được Quốc hội thông qua; đối với địa phương, tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hầu hết các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã đã hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 Nhìn chung, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp đã dần đi vào nề nếp và trở thành công cụ quan trọng của công tác quản lý nhà nước đối với đất đai, đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất Nhận thức về vị trí, vai trò của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và ý thức chấp hành quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất của các cấp chính quyền đã được nâng lên Thông qua việc lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã bước đầu kiểm soát
Trang 8được việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, cơ bản đáp ứng được nhu cầu về đất đai cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tỉnh Bắc Kạn đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qui hoạch tại Quyết định số 1424/QĐ-TTg ngày 06 tháng 11 năm 2001 và đưa vào triển khai thực hiện Việc quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của tỉnh đã góp phần tích cực vào việc hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ 2005 -
2010, làm căn cứ cho Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất, là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàng năm của tỉnh Bắc Kạn
Trong những năm qua, UBND tỉnh Bắc Kạn đã chỉ đạo các ngành, các cấp căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất của tỉnh được duyệt, tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất cho từng ngành, từng huyện, thị xã và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2005 - 2010) trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đồng thời tổ chức triển khai thực hiện những nội dung cơ bản trong phương án quy hoạch sử dụng đất đã đề ra, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế
khi chưa đến kỳ qui hoạch đất đai
Từ thực trạng sử dụng đất của tỉnh trong 5 năm qua và sự điều chỉnh phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến
Trang 9năm 2010 như trên, đòi hỏi cần phải đánh giá công tác lập quy hoạch sử dụng đất phù hợp với yêu cầu sử dụng đất của các ngành trong tình hình mới Xuất
phát từ thực tiễn đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá công tác lập qui
hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2005-2010 Liên hệ thực
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài đi sâu phân tích, đánh giá việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn và huyện Na Rì giai đoạn 2005 - 2010 Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh Bắc Kạn và huyện Na Rì
Trang 10PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Bản chất của quy hoạch sử dụng đất
“Đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính ), tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch - đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định
Về mặt bản chất: đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức sử dụng đất như “tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế Trong đó:
- Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai
- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều
tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu
- Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng
đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật
Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các
biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức, sử dụng và quản
lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân
bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng đất cụ thể), nhằm nâng cao hiệu
Trang 11quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường"
Tính đầy đủ: Mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích
nhất định
Tính hợp lý: Đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích phù hợp với
yêu cầu và mục đích sử dụng
Tính khoa học: Áp dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và các biện pháp
tiên tiến trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Tính hiệu quả: Đáp ứng đồng bộ các lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường
Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường
Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình; Xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; Làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá - xã hội
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích sử dụng đất tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế -
Trang 12xã hội và các hậu quả khó lường về những tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương
2.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai
Quy hoạch sử dụng đất đai thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai được thể hiện cụ thể như sau:
(1) Tính lịch sử - xã hội:
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch
sử dụng đất đai Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong quy hoạch sử dụng đất đai, luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai, cũng như quan hệ giữa người với người Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất Vì vậy,nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội
Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp lý Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử dụng và quyền lợi của toàn xã hội; Góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; Nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích khác nhau
Trang 13(2) Tính tổng hợp:
Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất đai biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; Quy hoạch sử dụng đất đai đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế, xã hội như: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông - công nghiệp
và môi trường sinh thái
Với đặc điểm đó quy hoạch lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu
sử dụng đất; Điều hoà các nhu cầu về đất đai của các ngành, lĩnh vực; Xác định và điều phối phương hướng, phương thức sử dụng đất phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định
(3) Tính dài hạn:
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh
tế - xã hội quan trọng như: Sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ,từ đó xác định quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm và ngắn hạn
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh
tế - xã hội Cơ cấu phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài (cùng với sự phát triển dài hạn kinh tế - xã hội) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn (xác định phương hướng, chính sách và biện pháp sử dụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất đai thường từ 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn
(4) Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến
Trang 14trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể, không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi) Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành
- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng;
- Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành;
- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng;
- Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất
Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá quy hoạch sẽ càng ổn định
(5) Tính chính sách:
Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; đất đai và môi trường sinh thái
(6) Tính khả biến:
Dưới tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất đai sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học
kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất đai không còn phù hợp Việc chỉnh sửa, bổ
Trang 15sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là điều cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất đai luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc: "Quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện " với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao
2.3 Các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
2.3.1 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như sau: Nhiệm vụ đặt ra đối với quy hoạch; số lượng và thành phần đối tượng
nằm trong quy hoạch; Phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành
chính) cũng như nội dung và phương pháp quy hoạch Thông thường hệ thống
quy hoạch sử dụng đất được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau (như loại
hình, dạng, hình thức quy hoạch ) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử
dụng đất đai (như điều chỉnh quan hệ đất đai hay tổ chức sử dụng đất như tư
liệu sản xuất) từ tổng thể đến thiết kế chi tiết
Đối với Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003 (Điều 25) quy định: quy
hoạch sử dụng đất được tiến hành theo lãnh thổ hành chính.[8]
(1) Quy hoạch sử dụng đất cả nước (gồm cả quy hoạch sử dụng đất các
vùng kinh tế tự nhiên);
(2) Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;
(3) Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;
(4) Quy hoạch sử dụng đất cấp xã (không thuộc khu vực quy hoạch phát
triển đô thị).[5]
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích
tự nhiên của lãnh thổ Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực
Trang 16hiện theo nguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính bao
gồm: Đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả) cho
hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân: Cụ thể hoá một bước quy hoạch sử dụng đất của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; Làm căn cứ, cơ sở để các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất của địa phương mình và để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm làm căn
cứ để giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai
Khác với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 không quy định
cụ thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, khu
dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng) Quy hoạch sử dụng đất của các
ngành này đều nằm trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính
Đối với quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh được quy định riêng tại điều 30 ( Luật Đất đai 2003).[8]
Tuy nhiên, có thể hiểu mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành Trước tiên, Nhà nước căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin tư liệu về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể
sử dụng các loại đất Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai để xây dựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nội dung sử dụng đất của ngành Như vậy, quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành Nói khác đi, quy hoạch ngành là một bộ phận cấu thành trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ
Trang 17Trong nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất theo ngành bao gồm quy hoạch sử dụng đất các vùng sản xuất chuyên môn hoá và quy hoạch sử dụng đất các xí nghiệp Quy hoạch sử dụng đất cho các vùng chuyên môn hoá - sản xuất hàng hoá có thể nằm gọn trong cấp vị lãnh thổ hoặc không trọn vẹn ở một đơn vị hành chính Do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, ngoài sản phẩm chuyên môn hóa phải kết hợp phát triển tổng hợp để sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai Quy hoạch sử dụng đất của xí nghiệp là hệ thống biện pháp về
tổ chức, kinh tế và kỹ thuật nhằm bố trí, sắp xếp, sử dụng các loại đất như tư liệu sản xuất một cách hợp lý để tạo ra nhiều nông sản hàng hoá, đem lại nguồn thu nhập lớn Nội dung quy hoạch đất đai của xí nghiệp rất đa dạng và phong phú, bao gồm: Quy hoạch ranh giới địa lý; Quy hoạch khu trung tâm; Quy hoạch đất trồng trọt; Quy hoạch thuỷ lợi; Quy hoạch giao thông; Quy hoạch rừng phòng hộ Quy hoạch sử dụng đất của xí nghiệp có thể tiến hành trong các vùng sản xuất chuyên môn hóa hoặc có thể độc lập ở ngoài vùng
2.3.2 Các loại hình kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất được phân kỳ thực hiện theo kế hoạch 5 năm
Kế hoạch sử dụng đất cũng được lập theo cấp lãnh thổ hành chính nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Bao quát được toàn bộ đất đai phục vụ cho nền kinh tế quốc dân ;
- Phát triển có kế hoạch tất cả các ngành kinh tế trên địa bàn nhất định;
- Thiết lập được cơ cấu sử dụng đất hợp lý trên địa bàn cả nước, trong các ngành và trên từng địa bàn lãnh thổ;
- Đạt hiệu quả đồng bộ cả ba lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường;
Kế hoạch sử dụng đất theo ngành và cả nước phải đảm bảo thực hiện được các mục tiêu vĩ mô (bao quát chung cho toàn xã hội và cả nước) như:
An ninh lương thực, bảo vệ môi trường, công bằng xã hội Còn kế hoạch theo lãnh thổ hành chính phải cụ thể hoá các mục tiêu vĩ mô, cùng với việc xử lý
Trang 18các mục tiêu cụ thể của địa phương và các vấn đề cụ thể của từng chủ sử dụng đất khác nhau trên địa bàn
Kế hoạch sử dụng đất phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dựa trên mục đích chung vì lợi ích lâu dài phát triển kinh tế - xã hội nhằm thoả mãn nhu cầu của nhân dân về tinh thần và vật chất Tuy nhiên, cần lưu ý điểm khác biệt: Kế hoạch sử dụng đất chú trọng phát triển hình thức không gian; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chú trọng phát triển hình thức thời gian, nhưng nội dung lại được triển khai với hình thức không gian nhất định
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là tiền đề của kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất là sự tiếp tục của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nhằm
bố trí không gian thống nhất đối với các hạng mục liên quan đến đất đai (xây dựng, khai hoang, chuyển mục đích sử dụng đất ) trong thời kỳ kế hoạch
Thời hạn lập kế hoạch sử dụng đất thường thống nhất với thời hạn lập
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, các cấp lãnh thổ hành
chính và được thực hiện trong thời gian 5 năm
2.4 Nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất đai
Đối với mỗi quốc gia, cũng như từng vùng trong một nước (khác nhau về không gian), nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất ở các giai đoạn lịch
sử khác nhau (về thời gian) là rất khác nhau
Trong giai đoạn hiện nay, nội dung của quy hoạch sử dụng đất bao gồm: (1) Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai (đặc biệt là đất chưa sử dụng);
(2) Đề xuất phương hướng, mục tiêu, trọng điểm và các nhiệm vụ cơ bản về sử dụng đất trong kỳ quy hoạch (dựa trên cơ sở dự báo biến động sử dụng đất đai, nhu cầu đất của các ngành kinh tế quốc dân, khả năng đáp ứng
về số lượng và chất lượng đất đai);
Trang 19(3) Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh (điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, phân phối hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, xử lý, điều hoà nhu cầu sử dụng đất giữa các ngành, đưa ra các chỉ tiêu khống chế - chỉ tiêu khung để quản lý vĩ mô đối với từng loại
sử dụng đất - 3 nhóm đất chính theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 [8] (4) Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án; (5) Xác định các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo
vệ môi trường;
(6) Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất là: Phân phối hợp lý đất đai cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; Hình thành hệ thống cơ cấu sử dụng đất phù hợp với cơ cấu kinh tế; Khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng đất đúng mục đích; Hình thành, phân bố hợp lý các tổ hợp không gian
sử dụng đất nhằm đạt hiệu quả tổng hoà giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp Ngoài lợi ích chung của cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích cục bộ của mình Vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất, khi xây dựng và triển khai quy hoạch sử dụng đất phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước
Hệ thống quản lý hành chính của nước ta được phân chia thành 4 cấp: toàn quốc (bao gồm cả cấp vùng), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp, quy hoạch sử dụng đất có nội dung và
ý nghĩa khác nhau Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch
sử dụng đất của cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể hóa quy hoạch của cấp trên và là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô
Trang 202.5 Quy hoạch sử dụng đất đai ở một số nước trên thế giới
Công tác quy hoạch luôn chiếm vị trí quan trọng trong quản lý đất đai cũng như quá trình sản xuất Tuỳ thuộc vào điều kiện của mình mà mỗi nước
có phương pháp quy hoạch sử dụng đất đặc thù khác nhau và quá trình thực hiện cũng khác nhau Trên thế giới, công tác quy hoạch sử dụng đất đã được tiến hành từ nhiều năm trước đây nên hệ thống quy hoạch của họ tương đối hoàn chỉnh, tạo đà thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
* Nhật Bản trong những năm gần đây, tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị tăng đã đặt ra nhu cầu sử dụng đất ngày một lớn cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, sự cạnh tranh về mục đích sử dụng đất diễn ra không chỉ ở trong khu vực đô thị mà còn ở hầu hết trên lãnh thổ đất nước “Trong những thập
kỷ vừa qua cơ cấu sử dụng đất đã có sự thay đổi, bình quân mỗi năm chuyển đổi khoảng 30.000 ha đất sản xuất nông nghiệp sang các mục đích khác
Giá trị sinh thái, thẩm mỹ của môi trường thường xuyên được nhấn mạnh trong quy hoạch Sự phát triển kinh tế đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ việc
sử dụng đất và các xu hướng của xã hội, giải quyết có hiệu quả mối liên kết trung ương và địa phương trong quản lý môi trường”
* Tiến sĩ Azizi Bin Haji Muda cho rằng “cơ sở của sự phát triển nông thôn là cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của dân cư nông thôn Quá trình phát triển kinh tế (hiện đại hoá nền kinh tế thông qua phát triển công nghiệp)
ở Malaysia là nguyên nhân của những thay đổi sử dụng đất; Kết quả là nhiều đất nông thôn màu mỡ được chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp đặc biệt dành cho các ngành công nghiệp sản xuất, nhà ở và các hoạt động thương mại khác”
* Quá trình phát triển xã hội Đài Loan trước đây cũng giống với hiện trạng phát triển giai đoạn hiện nay của Việt Nam, tức là xã hội nông nghiệp là chính Những năm 40 trở lại đây, nền kinh tế Đài Loan có tăng trưởng với tốc
Trang 21độ nhanh, giới công thương đã trở thành ngành nghề chủ lực của Đài Loan, cũng là sức mạnh căn bản của đất nước Hơn nữa, nông nghiệp cùng với sự phát triển của kỹ thuật đã phát triển theo hướng thâm canh, chuyên sâu
Nhân khẩu nông nghiệp và diện tích sử dụng đất trong nông nghiệp Đài Loan giảm theo hàng năm, nhưng cùng với việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chính sách thâm canh hóa, chuyên sâu hóa, giá trị sản lượng về tổng sản phẩm quốc nội trong nông nghiệp vẫn tăng ổn định Nhưng sự phát triển của nghề chế tạo tuy chỉ với nhu cầu sử dụng đất không lớn nhưng phát huy hiệu quả sử dụng đất lớn nhất; giá trị sản xuất trên đơn vị nhân khẩu và tổng sản phẩm quốc nội trong nghề chế tạo đều có cống hiến to lớn hơn so với nông nghiệp
“Từ kinh nghiệm phát triển Đài Loan có thể thấy sự phát triển nông nghiệp Đài Loan tuy vẫn chiếm vị trí số một, nhưng cống hiến đối với phát triển kinh tế vẫn dựa vào sự phát triển của nghề chế tạo Đài Loan đã lấy nghề chế tạo làm chủ lực, vì nó có thể sử dụng diện tích đất đai ít nhất, nhưng phát huy hiệu quả kinh tế lớn nhất Đối với phát triển nông nghiệp đã tích cực đưa vào kỹ thuật sản xuất tiên tiến, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, giảm bớt diện tích và nhu cầu nhân lực của nông nghiệp, chuyển một bộ phận nhân lực và đất nông nghiệp đưa vào sản xuất trong nghề chế tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đồng thời tạo cơ hội việc làm, tiến tới nâng cao giá trị và thu nhập quốc dân trong nước”
Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới cho thấy quá trình công nghiệp hoá nếu không sớm có quy hoạch toàn diện về đất đai, nếu không biết khai thác sử dụng hợp lý thì diện tích đất nông nghiệp bị giảm tại các vùng đồng bằng đất tốt làm mất an ninh lương thực
“Quá trình phát triển công nghiệp của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Ấn Độ và Trung Quốc trong vòng 10 năm gần đây đã lấy mất hơn 15 triệu ha đất nông nghiệp
Trang 22Ở Indonesia mỗi năm có 50 ngàn ha đất trồng lúa "biến" mất để nhường chỗ cho xây dựng nhà ở và các khu công nghiệp Bên cạnh việc giảm diện tích đất canh tác, độ phì nhiêu của đất cũng suy giảm do ô nhiễm chất thải từ công nghiệp hoặc do chế độ canh tác thiếu khoa học gây ra Chẳng hạn ở Mỹ, do những nguyên nhân này gây ra đã làm cho gần 20 triệu
ha đất không còn sử dụng được…”
Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển và đang phát triển, quy hoạch sử dụng đất đai mang tính đặc thù riêng, mỗi một loại hình quy hoạch ở các nước đều có những quy định về nội dung, phương pháp tiến hành phân ra các cấp, kiểu quy hoạch, song 2 loại hình quy hoạch này dù ở đâu trên thế giới thì cũng có những mối quan hệ nhất định Trên cơ sở quy hoạch không gian người ta tiến hành phân vùng sử dụng đất sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết cho từng khu vực Quy hoạch chi tiết phát triển từng vùng thông thường được đấu thầu cho các cơ quan phát triển bất động sản tư nhân Tuy nhiên, mỗi phương án quy hoạch chi tiết đều phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về xây dựng và môi trường; các phương án quy hoạch chi tiết phải được công bố công khai và trưng cầu ý kiến của cộng đồng dân cư nơi có quy hoạch ít nhất là ba tháng trước khi phê duyệt và triển khai
Ở Liên bang Australia (Úc) hầu hết các Tiểu bang đều có cơ quan quy hoạch riêng (Planning Commision) trực thuộc Chính phủ Tiểu bang, người đứng đầu cơ quan quy hoạch là thành viên Chính phủ có quyền hạn tương đương các Bộ trưởng khác (hàm Bộ trưởng) Quy hoạch tổng thể không gian
và phân vùng sử dụng đất do ngân sách Nhà nước Tiểu bang cấp, quy hoạch chi tiết do các công ty trúng thầu tự bỏ sau đó tính vào giá các khu đất hoặc các toà nhà bán đấu giá sau này Ở Úc khi tiến hành quy hoạch điều đầu tiên người ta chú trọng là phân bổ sử dụng đất làm sao cho sử dụng có hiệu quả nhất điều kiện tự nhiên sẵn có bảo đảm phát triển bền vững và có môi trường
Trang 23tốt Thông thường các khu có hồ, rừng cây được giữ tối đa trong quá trình quy hoạch Các khu nhà ở thường được bố trí ven các dòng sông, bờ biển, gần hồ Các khu sản xuất bố trí xa khu dân cư, xa nguồn nước Trong các khu dân cư chú trọng bố trí đầy đủ các khu dịch vụ thương mại, trường học Thông thường khu trường học và trung tâm thương mại được bố trí ở vị trí gần trung tâm nhất để thuận lợi cho mọi công dân trong khu Tuy nhiên, bệnh viện thông thường được bố trí ở phía ngoài khu dân cư, thuận lợi về giao thông nhưng xa các đường cao tốc hoặc nhà ga để tránh tiếng ồn và để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh Tất cả các khu đô thị mới hiện nay khi thiết kế thường gắn với sử dụng tiết kiệm năng lượng, đèn chiếu sáng dùng đèn tiết kiệm, các nhà ở sử dụng tối đa pin năng lượng mặt trời, nước thải sinh hoạt được xử lý và theo đường ống riêng dành cho tưới cây và rửa xe để tiết kiệm nước
Malaysia và Indonesia có quy định quy hoạch tương đối giống nhau và giống Liên bang Úc Tuy nhiên, Malaysia đang có định hướng và đã tiến hành với Chính phủ Trung ương tách khu hành chính (Thủ đô hành chính) ra khỏi khu đô thị cũ, khu dân cư và khu thương mại Đây là phương án quy hoạch khá mới, một cách tiếp cận và tư duy hoàn toàn đổi mới Với phương án này Malaysia vừa bảo toàn được các khu phố cổ để duy trì du lịch, vừa có điều kiện hiện đại hóa các cơ quan công quyền, thực hiện Chính phủ điện tử (E-Government) vừa tránh được ùn tắc giao thông trong khu đô thị Một vấn đề đang đặt ra đối với Malaysia là Chính phủ cần có hỗ trợ để xây dựng các khu dân cư dành cho công chức tại các khu hành chính mới này Với quy hoạch các “Thủ đô hành chính” tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và các tổ chức khi thực hiện các thủ tục hành chính và thuận lợi cho các cơ quan kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của các cơ quan công quyền
Trang 24Các bước đi của Indonesia có nét giống Việt Nam; vẫn chủ yếu dựa trên việc cải tạo và tu bổ các đô thị cũ, tính chắp vá trong quy hoạch vẫn còn tồn tại và khá phổ biến
Kinh nghiệm của Trung Quốc và Đài Loan là bài học đáng nghiên cứu: Những khu dân cư, khu công nghiệp, khu đô thị mới quy hoạch rất hiện đại và
có tầm nhìn phát triển bền vững cho một tương lai xa Tuy nhiên, để quy hoạch được như Trung Quốc và Đài Loan đòi hỏi phải có tiềm lực kinh tế lớn;
ở các nước này quy hoạch đô thị vẫn do cơ quan xây dựng đảm nhiệm, việc quy hoạch sử dụng đất đai chủ yếu tập trung vào phân vùng các khu chức năng do cơ quan quản lý đất đai đảm nhiệm
Các nước thuộc Liên Xô (cũ) có bước đi tương tự nhau; trước hết là lập
sơ đồ tổng thể phát triển lực lượng sản xuất sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết các ngành, trên cơ sở nhu cầu sử dụng đất của các ngành để tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai Tuy nhiên, việc phân bổ các khu chức năng để bảo đảm phát triển bền vững và bảo vệ môi trường luôn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu Một nguyên tắc cơ bản của các nước này là bảo vệ nghiêm ngặt đất sản xuất, đặc biệt là đất canh tác Tại các nước này quy hoạch tổng thể phát triển lực lượng sản xuất do ủy Ban kế hoạch Nhà nước (tương đương Bộ
Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam) đảm trách; quy hoạch đô thị do ngành xây dựng, quy hoạch sử dụng đất đai do cơ quan quản lý đất đai thực thi
Ở Pháp, quy hoạch sử dụng đất đai được xây dựng theo hình thức mô hình hoá nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong việc sử dụng tài nguyên, môi trường và lao động, áp dụng bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc và sản xuất hợp lý, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Ở Mỹ, Đức, nội dung quy hoạch sử dụng đất đã gắn liền với môi trường, xây dựng một hệ thống quy hoạch tổng thể đảm bảo cảnh quan môi trường và sử dụng đất hiệu quả, bền vững Vì thế, quy hoạch sử dụng đất tại
Trang 25những nước này có tính khả thi cao Những nguyên tắc về sử dụng đất được thông qua ở thành phố NewYork từ 1916 đến những năm 1930, hầu hết các bang của nước Mỹ đều tuân theo nguyên tắc trên
Đến những năm 1930, các bang này gặp phải một số vấn đề về môi trường và sự bảo tồn các di tích lịch sử nên đòi hỏi phải có những nguyên tắc
có tầm nhìn xa hơn Từ những đòi hỏi trên, Luật Đất đai mới của Mỹ ra đời
và hình thành hệ thống quy hoạch sử dụng đất
Ở Đức, điển hình là thành phố Berlin, hệ thống quy hoạch sử dụng đất
đã được xây dựng từ rất sớm Chỉ vài năm sau khi có sự thống nhất toàn lãnh thổ của đất nước, năm 1994, hệ thống quy hoạch sử dụng đất được xây dựng với bản đồ tỷ lệ 1:50.000 Sau đó, việc điều chỉnh và cập nhật những biến động đất đai cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế, xã hội và mục tiêu của Chính phủ được tiến hành thường xuyên Do đó, hệ thống quy hoạch sử dụng đất của thành phố Berlin nói riêng và của Đức nói chung có hiệu quả cao, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm và bền vững, tạo đà cho sự phát triển của nền kinh tế
Tại Thụy Điển và các nước Đông Âu khác phân vùng sử dụng đất được lồng ghép ngay trong khi tiến hành quy hoạch tổng thể không gian Việc mọi quan tâm chủ yếu tập trung vào quy hoạch chi tiết phát triển đô thị và vấn đề bảo vệ môi trường sống luôn được đặt lên hàng đầu
Nói tóm lại bước đi, cách làm và tổ chức bộ máy tiến hành của các nước có khác nhau nhưng tất cả đều có nguyên tắc chung là sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, bảo vệ được tài nguyên rừng hiện có, duy trì và bảo vệ các khu phố cổ, bảo đảm phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sống cho hiện tại và thế hệ mai sau
Nhìn chung, hệ thống Luật Đất đai ở những nước phát triển tương đối hoàn thiện nên công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng đất được triển
Trang 26khai tốt, sử dụng đất đảm bảo hiệu quả 3 mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường Bên cạnh đó, những nước kém phát triển, do thiếu kinh phí, thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn nên hệ thống Luật Đất đai không đồng bộ, hệ thống quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả không cao, ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước
2.6 Quy hoạch đất đai ở Việt Nam
Việt Nam là nước có dân số đông, diện tích đất hạn hẹp (thuộc diện nước
"đất chật người đông”), vì vậy công tác quy hoạch sử dụng đất sao cho có hiệu quả, hợp lý, ổn định, bền vững luôn là một đòi hỏi tất yếu Quá trình thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất ở nước ta có thể phân theo các giai đoạn như sau:
* Giai đoạn từ 1930 đến trước năm 1960
Ở giai đoạn 1930 - 1945, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành lẻ tẻ
ở một số đô thị, các khu mỏ khai thác tài nguyên khoáng sản, một số vùng đồn điền như cao su, cà phê… theo yêu cầu về nội dung và phương pháp của người Pháp Từ năm 1946 đến 1954 là thời kỳ toàn quốc kháng chiến kiến quốc, thực hiện triệt để khẩu hiệu “người cày có ruộng” (Hội nghị Trung ương lần thứ 5 tháng 11 năm 1953) Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh ruộng đất; sau đó Quốc hội thông qua Luật Cải cách ruộng đất ngày 04 tháng 12 năm 1953 Mục đích cải cách ruộng đất là tiêu diệt chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến Phương châm cải cách ruộng đất là đấu tranh một cách có kế hoạch, làm từng bước, có trật tự, có lãnh đạo chặt chẽ “Những ruộng đất tịch thu, trưng thu, trưng mua chia hẳn cho nông dân, nông dân có quyền sở hữu ruộng đất đó, theo nguyên tắc xã làm đơn vị, trên cơ sở nguyên canh, theo số lượng, chất lượng, vị trí gần hay xa của ruộng đất, dùng cách điều chỉnh nhiều bù ít, tốt bù xấu, gần bù xa mà chia; cần chiếu
cố những nông dân trước đã cày trên những ruộng đất ấy Làm đầy đủ những
Trang 27nội dung như vậy thì thực chất là đã tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai, nhất
là trong lĩnh vực nông nghiệp
Ở Miền Nam có những đề án thiết lập quy hoạch sử dụng đất đai về xây dựng các đồn điền, các khu công nghiệp nhỏ lẻ, các khu vực dân cư đô thị và nông thôn, các khu vực bến xe, bến cảng phục vụ mục đích quân sự Một ví dụ về Quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ giáo dân khá tiêu biểu là đồ án Quy hoạch sử dụng
đất đai khu vực xung quanh Toà Thánh Tây Ninh tiến hành năm 1952
Từ sau khi hoà bình lập lại, ở Miền Bắc thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh, tập trung vào việc hoàn thành cải cách ruộng đất tiếp đến là cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh; trong đó khâu chính là cải tạo và phát triển nông nghiệp Trên toàn Miền Bắc về căn bản đã giải quyết xong vấn đề người cày có ruộng và hình thành quan hệ sản xuất mới ở nông thôn và chuẩn bị kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài Đây
là thời kỳ quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát, tự túc, khôi phục và
kế thừa truyền thống cây trồng, vật nuôi, phong tục tập quán sinh hoạt cộng đồng với nhiều biểu hiện tính tập thể của chế độ xã hội chủ nghĩa
* Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975
Đến cuối năm 1960 khi chuẩn bị xây dựng và công bố kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) cả nước đang bước vào thời kỳ hừng hực khí thế xây dựng đất nước mà trước hết là phải đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, sử dụng tốt quỹ đất đai Chính vì vậy mà công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, đã được đặt ra ngay từ những năm 1960 này Do đó có thể nói “Quy hoạch sử dụng đất đai cũng đồng thời được đặt ra” Các Bộ, ngành chủ quản, các tỉnh, huyện đã có những điều chỉnh về sử dụng đất cho các mục đích giao thông, thuỷ lợi, xây dựng kho tàng, trại chăn nuôi, bến bãi, nhà xưởng… mang tính chất bố trí sắp xếp lại việc sử dụng đất cũng chỉ mới
Trang 28được đề cập như một phần nội dung lồng ghép vào các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, các phương án sản xuất hay công trình xây dựng cụ thể nào đó cho những mục đích đơn lẻ”
Trong bối cảnh cả nước có chiến tranh cho tới khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, quy hoạch sử dụng đất đai chưa có điều kiện tiến hành theo một nội dung, phương pháp, trình tự thống nhất trong phạm vi một cấp vị lãnh thổ nào đó Mặc dù vậy với tư cách là một phần nội dung của các phương án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai đã tạo ra những cơ sở có tính khoa học cho việc tính toán các phương án sản xuất có lợi nhất Nó là một yêu cầu không thể thiếu được đối với các nhà quản lý sản xuất nông nghiệp ngay cả ở cấp vị một Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này
* Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi có Luật Đất đai 1993
Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra
cơ bản trên phạm vi cả nước “Vào cuối năm 1978 lần đầu tiên đã xây dựng được các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sản của cả nước, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thành phố thuộc Trung ương trình Chính phủ xem xét phê duyệt” Trong các tài liệu này đều đã đề cập đến quy hoạch sử dụng đất đai, coi đó như những căn cứ khoa học quan trọng để luận chứng các phương án phát triển ngành Cùng với lĩnh vực nông nghiệp, các khu cụm công nghiệp, các khu đô thị, các khu đầu mối giao thông… cũng được nghiên cứu xem xét để cải tạo và xây mới Thực
tế lúc bấy giờ cho thấy các thông tin, số liệu, tư liệu đo đạc bản đồ phục vụ cho quản lý đất đai nói chung và cho quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng là vừa thiếu, vừa tản mạn lại vừa khập khiễng, làm cho độ tin cậy về quy mô diện tích, vị trí cũng như tính chất đất đai tính toán trong các phương án này không được bảo đảm Rất nhiều phương án tính toán diện tích cây trồng chủ
Trang 29lực như cao su, cà phê, chè, dứa, lạc, đay, đậu đỗ… Trong cùng một địa bàn
cụ thể có sự chồng chéo, thiếu tính khả thi Đây cũng là một trong những yếu
tố thúc đẩy việc Chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (Nghị quyết số 548/NQ/QH ngày 24/5/1979 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội
về thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất; Nghị định số 404/CP ngày 09/11/1979 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Quản lý ruộng đất)
Trước áp lực về lương thực và hàng tiêu dùng, trong giai đoạn này Trung ương Đảng và Chính phủ đã có những Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định quan trọng nhằm “làm cho sản xuất bung ra” ví dụ như Quyết định tận dụng đất nông nghiệp (9/1979); xoá bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ (10/1979); thông báo về “khoán” sản xuất nông nghiệp sau Hội nghị nông nghiệp ở Đồ Sơn - Hải Phòng (1980) Đặc biệt là Chỉ thị số 100/TW ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp Thời kỳ này xuất hiện cụm từ “Quy hoạch Hợp tác xã” mà thực chất công tác này tập trung vào quy hoạch đồng ruộng với nội dung chủ yếu của nó là quy hoạch sử dụng đất đai
Bước vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ V (1982)
đã quyết định: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị tích cực cho kế hoạch 5 năm sau (1986 - 1990)” Trong chương trình lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời kỳ 1986 - 2000 này có 5 vấn đề bao gồm 32 đề tài cấp Nhà nước, trong đó có vấn đề về tài nguyên thiên nhiên đều đặc biệt chú trọng đến vấn đề quy hoạch sử dụng đất đai; coi đất đai vừa là nguồn lực sản xuất trực tiếp quan trọng như là vốn, lao động và vừa là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá
Trang 30Hơn nữa, cũng trong thời kỳ này, Chính phủ ra Nghị quyết số 50 về xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện được ví như 500 “pháo đài” làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước hết sức sôi động
Như vậy, đây là giai đoạn có tính bước ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai
mà thực chất là quy hoạch sử dụng đất đai Điều này được phản ánh ở chỗ nội dung chủ yếu của Tổng sơ đồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hoá và các vùng sản xuất trọng điểm của lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng và đô thị Tiếp theo đó là thời kỳ Luật Đất đai 1987 ra đời, đánh dấu một bước mới nữa về quy hoạch sử dụng đất đai vì nó được quy định rõ ở Điều 9 và Điều 11 tức là quy hoạch sử dụng đất đai có tính pháp lý Tuy nhiên, đây lại là thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới, cả nước vừa trải qua một thời kỳ triển khai rầm rộ công tác quy hoạch nói chung và quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng nhưng thực tế nền kinh tế đất nước ta đang đứng trước những khó khăn lớn Những thay đổi lớn ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu cùng với nhiều vấn đề trước mắt thường nhật phải giải quyết làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai lại rơi vào trầm lắng
Thực tế đòi hỏi phải đổi mới nội dung, phương pháp cho phù hợp với yêu cầu của quá trình chuyển dần sang nền kinh tế cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tổng cục Quản lý Ruộng đất lần đầu tiên ra Thông tư số 106/QHKH/RĐ ngày 15/4/1991 hướng dẫn về quy hoạch phân bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã với những nội dung như sau:
- Xác định ranh giới về quản lý, sử dụng đất;
- Điều chỉnh một số trường hợp về quản lý và sử dụng đất;
- Phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt;
- Một số nội dung khác về chu chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất
Trang 31sản xuất, chuẩn bị cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng các văn bản chính sách đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai
Với những thay đổi lớn về vai trò của Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, việc quản lý sử dụng đất ở khu vực nông thôn nổi lên hết sức quan trọng Căn cứ theo Thông tư hướng dẫn có những tỉnh ở đồng bằng đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đai cho hàng trăm xã (tới một nửa số xã trong toàn tỉnh) Tuy nhiên, do chưa có quy hoạch từ trên xuống cũng như các tài liệu hướng dẫn về quy trình, định mức, phương pháp, nội dung thống nhất nên các quy hoạch này bộc lộ nhiều hạn chế Đại đa số đều chỉ mới chú trọng tới việc giãn dân là chủ yếu Vấn đề này có mặt được nhưng có nhiều mặt không được vì phải cấp đất làm nhà ở với số lượng lớn mà chủ yếu lấn vào đất ruộng, với những định mức sử dụng đất rất khác nhau, tạo nên nhiều bất cập phải tiếp tục giải quyết sau này nhất là ở các khu vực ven đô thị”
* Giai đoạn từ Luật đất đai 1993 đến Luật Đất đai 2003
Giai đoạn này nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ sang Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp đã và đang gây áp lực ngày càng lớn đối với đất đai Tháng 7 năm
1993 Luật Đất đai được công bố Trong các Luật này, những điều khoản về
quy hoạch sử dụng đất đai đã được cụ thể hóa hơn so với Luật Đất đai 1988, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập quy hoạch sử dụng đất Cơ sở pháp lý về công tác lập quy hoạch sử dụng đất của giai đoạn này được thể hiện cụ thể ở các mặt sau”
- Sự cần thiết phải lập quy hoạch sử dụng đất: Trong Luật đất đai 1993
quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”
(Điều 1), xác định một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là
Trang 32“Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất” (Điều 13), căn cứ để quyết
định giao đất, cho thuê đất: “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt” (Điều 19); “Đẩy mạnh công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp trong cả nước…” (Nghị quyết số 01/1997/QH9
Quốc hội khóa 9, kỳ họp thứ 11 thông qua kế hoạch sử dụng đất đai cả nước
trong thời hạn 5 năm từ 1996 đến 2000) [7]
- Trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo các cấp lãnh thổ hành chính, theo ngành cũng như trách nhiệm của ngành Địa chính về công
tác này (Điều 16 - Luật Đất đai 1993)
- Nội dung tổng quát của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 17 -
Luật Đất đai 1993)
- Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 18 - Luật
Đất đai 1993)
Cùng với các văn bản có tính pháp lý ở mức độ cao (Hiến pháp và
Luật Đất đai), còn có các văn bản dưới luật và các văn bản ngành, cũng
như các văn bản của từng địa phương (dưới các hình thức Nghị định, Chỉ
thị, Quyết định, Công văn…) trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vai trò, ý
nghĩa, căn cứ, nội dung và hướng dẫn phương pháp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
* Thời kỳ sau Luật Đất đai năm 2003 đến nay
Đây là thời kỳ mà công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở nước ta được triển khai thực hiện và điều chỉnh theo các quy định của pháp luật đất đai hiện hành, cụ thể như sau:
Điều 18 Chương II Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” [6]
- Căn cứ quy định của Hiến pháp, pháp luật đất đai đã không ngừng
Trang 33hoàn thiện các quy định về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm khai thác sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên
đất đai Luật Đất đai 2003 đã có một mục riêng (mục 2) tại Chương 2, gồm 10 điều (từ Điều 21 đến Điều 30) về cơ sở pháp lý liên quan đến quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi
hành Luật Đất đai đã dành riêng Chương III gồm 18 điều (từ Điều 12 đến
Điều 29) để cụ thể hóa những vấn đề cơ sở pháp lý liên quan đến quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất [4]
- Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dành riêng một Mục 1 gồm 8 Điều quy định rõ nội dung quy hoạch sử dụng đất theo từng loại quy hoạch sử dụng đất của 4 cấp (Quốc gia, tỉnh, huyện, xã) và quy định cụ thể nội dung quy hoạch sử dụng đất của từng cấp đảm bảo phù hợp với yêu cầu quản lý và khả năng tổ chức thực hiện của cấp đó
- Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các văn bản hướng dẫn về
công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, gồm: Thông tư số
30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30/6/2005 ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quyết định số 10/2005/QĐ-BTNMT ngày 24/10/2005 về việc ban hành định mức kinh tế, kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 2 tháng 11 năm 2009 về quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất.
Như vậy, các quy định của pháp luật hiện hành đã tạo ra hành lang pháp
lý tương đối hoàn chỉnh cho việc triển khai công tác quy hoạch, kế hoạch sử
Trang 34dụng đất Tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật đất đai đến thời điểm này cho thấy những vấn đề liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cho quy định khá đầy đủ, cụ thể và rõ ràng theo các nội dung:
+ Loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; + Việc triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Vào thời điểm này (theo kết quả báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường đến hết năm 2008), tình hình triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước như sau:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước:
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của cả nước đã được Quốc hội khóa XI, Kỳ họp thứ 5 thông qua theo Nghị quyết số 29/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) của cả nước đã được Quốc hội khóa XI, Kỳ họp thứ 9 thông qua theo Nghị quyết số 57/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh:
Đến nay đã có 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (bao gồm cả tỉnh Hà Tây cũ) xây dựng xong phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2006 - 2010) và đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các Bộ, ngành liên quan thẩm định; trong đó có 62 tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt; riêng thành phố Hà Nội đang trình Chính phủ xét duyệt; tỉnh Hà Giang đang hoàn chỉnh tài liệu theo ý kiến thẩm định của các Bộ, ngành để trình Hội đồng nhân dân thông qua trước khi
Trang 35trình Chính phủ xét duyệt;
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện:
Cả nước có 531/681 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện) hoàn thành việc lập quy hoạch đến năm 2010 (chiếm 77,97%); 98 huyện đang triển khai (chiếm 14,4%); còn lại 52 huyện chưa triển khai (chiếm 7,64%), phần lớn là các đô thị (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh)
Cả nước có 20 tỉnh đã hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp huyện, tỉnh; ngoài ra còn có 17 tỉnh hoàn thành việc lập quy hoạch sử dụng đất, nhưng chưa lập xong kế hoạch sử dụng đất của các huyện Một số tỉnh đã triển khai nhưng kết quả đạt được còn thấp như Phú Thọ, Hà Nội, Gia Lai, Bình Định, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và thành phố Cần Thơ
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã:
Cả nước có 7.576/11.074 xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (đạt 68,41%); 1.507 xã đang triển khai (đạt 13,61%); còn lại 1.991 xã chưa triển khai (chiếm 17,98%)
Cả nước có 7 tỉnh, thành phố cơ bản hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 3 cấp xã, huyện, tỉnh; ngoài ra còn có 13 tỉnh đã hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 2 cấp xã, huyện và 12 tỉnh khác hoàn thành việc lập quy hoạch sử dụng đất nhưng chưa lập xong kế hoạch sử dụng đất cấp xã
Có 16 tỉnh đã triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã nhưng kết quả đạt được còn thấp (dưới 50% số xã) gồm: Lai Châu, Yên Bái, Cao Bằng, Hà Nội, Hà Nam, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng
Trang 36“Như vậy cho thấy rừ hệ thống cụng tỏc quy hoạch sử dụng đất đai ở nước ta được triển khai đồng loạt theo 4 cấp trong phạm vi cả nước - Đõy là một cố gắng lớn và cũng là một bước tiến vượt so với một số nước khu vực ASEAN và một số nước khỏc ở Chõu Á”
2.7 Cụng tỏc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn
2.7.1 Việc bố trớ và tổ chức cỏn bộ làm cụng tỏc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Do điều kiện đặc thự là một tỉnh miền nỳi mới tỏi thành lập, cỏc điều kiện tự nhiờn, kinh tế xó hội cũn nhiều khú khăn thiếu thốn Đội ngũ cỏn bộ núi chung và cỏn bộ chuyờn mụn về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở cỏc cấp cũn thiếu và yếu về năng lực, đặc biệt ở cấp huyện và cấp xó cho nờn việc quản lý quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất cũn nhiều hạn chế, nhiều khi do
dự bỏo chưa chớnh xỏc về nhu cầu quỹ đất cho cỏc mục đớch sử dụng, nhất là đất cho phỏt triển cơ sở hạ tầng, phỏt triển cụng nghiệp, dẫn đến tỡnh trạng vừa dự bỏo thiếu, vừa thừa quỹ đất và thường phải điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Việc xõy dựng chuẩn quy hoạch chưa thực sự khoa học và chưa cú định mức sử dụng đất đối với một số chỉ tiờu đất chớnh để làm căn cứ xõy dựng quy hoạch Cụng tỏc quy hoạch sử dụng đất thiờn về sắp xếp cỏc loại đất theo mục tiờu quản lý hành chớnh, chưa tớnh toỏn đầy đủ về hiệu quả kinh tế, xó hội, mụi trường nhằm đảm bảo phỏt triển bền vững trong sử dụng đất, do vậy chưa phỏt huy cao tiềm năng đất đai
2.7.2 Cụng tỏc thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung rất quan trọng trong cụng tỏc quản lý nhà nước về đất đai, đõy là căn cứ pháp lý đầy đủ về luận cứ khoa học và thực tiễn để tiến hành giao đất, thu hồi đất và cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Với chức năng nhiệm vụ được giao là quản lý nhà nước về tài nguyờn
Trang 37và mụi trường trờn địa bàn, trong đú cú chức năng thẩm định quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất Trong những năm qua ngành tài nguyờn đó cú nhiều
cố gắng để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đầu tư nghiờn cứu, phối hợp với cỏc ngành liờn quan cũng như tiếp thu ý kiến đúng gúp của nhõn
dõn để giải quyết bài toỏn quy hoạch đặt ra, đỏp ứng cỏc yờu cầu sử dụng
đất chung của tỉnh
2.7.3 Cụng tỏc kiểm tra, giỏm sỏt thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Cụng tỏc kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đó được UBND tỉnh quan tõm chỉ đạo cỏc ngành thực hiện Việc kiểm tra, giỏm sỏt nhằm phỏt hiện ra những yếu kộm trong quản lý sử dụng đất để cú cỏc giải phỏp khắc phục kịp thời Do vậy trong thời gian qua trờn địa bàn tỉnh đó hạn chế được những hiện tượng vi phạm về quản lý Tỡnh trạng sử dụng đất vi phạm quy hoạch, kế hoạch, sử dụng đất đai sai mục đớch cơ bản được giải quyết Tuy nhiờn việc tổ chức thực hiện, kiểm tra, giỏm sỏt của Hội đồng nhõn dõn cỏc cấp đối với việc lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở một số địa phương vẫn chưa được coi trọng và thực hiện thường xuyờn Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 tỉnh Bắc Kạn ở 3 cấp tỉnh, huyện và xó cơ bản đã đáp ứng đ-ợc những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tính đến nay, hầu hết các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đều đạt
từ 70% đến 90% kế hoạch, một số chỉ tiờu vượt kế hoạch như đất chuyờn trồng lỳa nước đạt 107,35 % kế hoạch, đất khoanh nuụi, phục hồi rừng sản xuất đạt 250,05 % kế hoạch, đất khoanh nuụi, phục hồi rừng đặc dụng đạt 384,82 % kế hoạch, Chỉ tiêu tiết kiệm sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt là chớnh sỏch hạn chế thu hồi đất trồng lúa nhằm đảm bảo an ninh l-ơng thực của tỉnh đó được thực hiện theo đỳng quy định
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đ-ợc xây dựng mang tính chất
định h-ớng, song vấn đề để thực hiện đ-ợc theo kế hoạch sử dụng đất lại phụ
Trang 38thuộc vào nguồn vốn để thực hiện các dự án và nhu cầu của chủ đầu t-, do đó
kế hoạch sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai tuy định rõ từng năm nh-ng th-ờng là thực hiện chậm so với thời gian quy định
Việc công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tuy đã đ-ợc thực hiện theo quy định, song mới chỉ dừng lại ở việc treo bản đồ quy hoạch sử dụng đất tại trụ sở các xã và phòng Tài nguyên và Môi tr-ờng dẫn đến việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ch-a đ-ợc chặt chẽ, quản lý theo quy hoạch gặp nhiều khó khăn Mặt khác theo quy định của Luật đất đai thì mới chỉ quy
định công bố bản đồ quy hoạch sử dụng đất, ch-a lập bản đồ kế hoạch sử dụng đất chi tiết dẫn đến việc giám sát, kiểm tra thực hiện quy hoạch sử dụng
đất ch-a đ-ợc chặt chẽ
Sự phối hợp giữa cỏc Sở, Ban ngành trong cụng tỏc lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất những năm gần đõy tương đối tốt, tuy nhiờn cũn nhiều hạn chế và chưa đỏp ứng được yờu cầu đặt ra Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch giữa cỏc ngành nhiều khi chưa thực sự thống nhất, tỡnh trạng tự phỏt, cục bộ thực hiện quy hoạch, kế hoạch của cỏc ngành, cỏc cấp vẫn cũn Nhiều địa phương cũn lỳng tỳng trong việc gắn kết giữa quy hoạch
sử dụng đất với quy hoạch phỏt triển cỏc ngành, quy hoạch xõy dựng đụ thị và khu dõn cư nụng thụn
Thiếu cỏc giải phỏp cú tớnh khả thi để thực hiện quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất, nhất là việc khụng cõn đối đủ nguồn vốn cho xõy dựng hạ tầng
và sự bất cập trong cụng tỏc bồi thường, hỗ trợ tỏi định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Cỏc điều kiện về vật chất cho cụng tỏc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa bảo đảm, hầu hết cỏc địa phương chưa bố trớ thoả đỏng kinh phớ để hoàn thành việc đo đạc lập bản đồ địa chớnh, lập hồ sơ địa chớnh để tạo điều kiện triển khai nhanh và cú chất lượng cụng tỏc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 39Như vậy đất đai là một khoảng không gian có giới hạn giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như đời sống sinh hoạt của con người Các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện theo các mặt của sản xuất, môi trường, sự sống, cân bằng sinh thái, tàng trữ cung cấp nguồn nước, dự trữ (tài nguyên trong lòng đất); không gian, bảo tồn, bảo tàng v.v
Luật Đất đai năm 2003 cũng đã khẳng định về đất đai: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá; là tư liệu sản xuất đặc biệt; là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống; là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh v.v
Thực vậy trong các điều kiện vật chất cần thiết khác, đất đai giữ vị trí hết sức quan trọng, là điều kiện đầu tiên, cơ sở thiên nhiên cho mọi quá trình sản xuất, là nơi con người tìm ra công cụ, nguyên liệu lao động và nơi sinh tồn của xã hội loài người
Đất đai là điều kiện chung đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người Nếu thiếu khoảnh đất, vị trí, diện tích nhất định thì không một ngành nào có thể hoạt động được hay nói cách khác không có đất sẽ không có hoạt động sản xuất cũng như không
có sự tồn tại của xã hội loài người
Trang 40PHẦN III
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu tại Phòng TNMT huyện Na Rì, Ban quản lý các dự
án huyện, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn, UBND tỉnh Bắc Kạn và nghiên cứu thực địa tại một số dự án thu hồi đất trên địa bàn huyện Na Rì
- Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 12 năm 2010 đến 15 tháng 10 năm 2011
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh Bắc K¹n và huyện Na Rì;
- Phân tích đánh giá tình hình sử dụng các loại đất trên địa bàn Bắc K¹n và huyện Na Rì;
- Đánh giá công tác lập qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh Bắc Kạn và liên
hệ thực tế tại huyện Na Rì về những kết quả đạt được, tìm ra nguyên nhân tồn tại trong việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất đai của Bắc K¹n và huyện Na Rì
- Đề xuất các biện pháp, giải pháp thực hiện qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho các kỳ qui hoạch tiếp theo
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu
Điều tra, thu thập các số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các số liệu khác có liên quan kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Kạn và huyện Na Rì giai đoạn 2005 - 2010
3.3.2 Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp các số liệu điều tra có xử dụng phần mềm Excell
Trên cơ sở các số liệu điều tra về quá trình thực hiện quy hoạch theo kế