TỔNG QUAN Y VĂN
1.1.1 Sơ lược bệnh tim bẩm sinh
Tim bẩm sinh là dị tật bẩm sinh ảnh hưởng đến buồng tim, van tim, vách tim và các mạch máu lớn từ giai đoạn thai kỳ Những dị tật thường gặp bao gồm thông liên thất, thông liên nhĩ, còn ống động mạch, hẹp động mạch phổi, tứ chứng Fallot, chuyển vị đại động mạch, kênh nhĩ thất và hẹp eo động mạch chủ.
Thời điểm can thiệp tim bẩm sinh phụ thuộc vào từng loại tật và cơ sở phẫu thuật, nhưng một số tật như tứ chứng Fallot, hẹp eo động mạch chủ, thông liên thất, thông liên nhĩ, kênh nhĩ thất bán phần và còn ống động mạch thường được phẫu thuật ngoài sơ sinh Huyết động và biến chứng của bệnh tim, chẳng hạn như suy tim và suy dinh dưỡng, cũng là yếu tố quan trọng trong quyết định can thiệp Suy dinh dưỡng có thể là chỉ định can thiệp cho nhiều tật tim nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng, trong khi trẻ nhẹ cân không phải là chống chỉ định tuyệt đối cho phẫu thuật Suy tim, biểu hiện qua các triệu chứng như bỏ bú, bú chậm, khó thở và tím tái, là tình trạng tim không đủ khả năng bơm máu, và một trong những biện pháp điều trị là hạn chế tiền tải bằng cách giảm lượng nước đầu vào.
1.1.2 Suy dinh dưỡng trên bệnh nhân tim bẩm sinh.
Suy dinh dưỡng là hậu quả của việc nhập dưỡng chất không đầy đủ trong thời gian dài, thường được phát hiện qua thiếu cân nặng theo tuổi hoặc chiều cao Nguyên nhân gây chậm tăng trưởng ở trẻ tim bẩm sinh có thể chia thành hai nhóm: tại tim và ngoài tim, với các yếu tố ngoài tim như bất thường nhiễm sắc thể, nhiễm trùng bào thai và yếu tố môi trường Trong khi đó, bốn yếu tố chính tại tim gây chậm tăng trưởng bao gồm tật tim, rối loạn chuyển hóa, giảm năng lượng nhập vào và rối loạn chức năng dạ dày-ruột Trẻ tim bẩm sinh thường có nhu cầu năng lượng cao nhưng năng lượng ăn vào thấp do tăng tốc độ chuyển hóa, đặc biệt ở trẻ nhũ nhi và trẻ suy tim Cơ chế tăng tốc độ chuyển hóa liên quan đến sự mất cân bằng giữa năng lượng nhập và nhu cầu năng lượng của cơ thể Thêm vào đó, trẻ tim bẩm sinh thường gặp khó khăn khi bú, dẫn đến không đủ năng lượng Các yếu tố như chán ăn, tác dụng phụ của thuốc và hạn chế dịch cũng góp phần làm giảm năng lượng nhập Cảm giác no sớm và giảm ngon miệng do chậm làm trống dạ dày cũng được ghi nhận ở trẻ tim bẩm sinh.
Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo nhân trắc học
Tình trạng dinh dưỡng phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể và được đánh giá thông qua quá trình thu thập, phân tích thông tin Ở trẻ em, các chỉ số nhân trắc, đặc biệt là cân nặng và chiều cao, thường được sử dụng để đánh giá sức khỏe Cân nặng là chỉ số nhạy cảm, thể hiện tình trạng hiện tại của trẻ và có thể thay đổi nhanh chóng Trong khi đó, chiều cao là chỉ số ổn định hơn, phản ánh quá trình tăng trưởng và có thể cho thấy dấu hiệu suy dinh dưỡng nếu trẻ thiếu dinh dưỡng kéo dài.
Phương pháp đo cân nặng và chiều cao là một quy trình đơn giản, an toàn và không xâm lấn Các thiết bị như cân nằm và thước đo chiều dài nằm có chi phí thấp, dễ dàng hiệu chuẩn và không yêu cầu nhân viên có trình độ cao, đồng thời đảm bảo độ tin cậy của số liệu.
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ cho phép xác định mức độ suy dinh dưỡng và biến đổi tình trạng dinh dưỡng Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là không phát hiện được những thay đổi nhỏ trong thời gian ngắn, không xác định được các thiếu hụt dinh dưỡng cụ thể và không phân biệt được các rối loạn chuyển hóa, di truyền, nội tiết với thiếu hụt dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng.
Phân loại suy dinh dưỡng sự vào chỉ số nhân trắc
Cân nặng theo tuổi (CN/T) là chỉ số quan trọng phản ánh khối lượng cơ thể của trẻ so với độ tuổi Khi CN/T thấp, điều này có thể chỉ ra tình trạng suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ, không phân biệt giữa SDD mãn tính hay cấp tính, và thường được gọi là trẻ nhẹ cân.
Chiều dài theo tuổi (CD/T) là chỉ số quan trọng phản ánh sự tăng trưởng chiều dài của trẻ Một giá trị CD/T thấp thường cho thấy sự chậm phát triển kéo dài, dẫn đến tình trạng thấp còi ở trẻ em.
Cân nặng theo chiều dài (CN/CD) là chỉ số phản ánh mối quan hệ giữa cân nặng và chiều dài cơ thể CN/CD thấp thường là dấu hiệu của tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính hoặc thể gầy còm, thường do những yếu tố cấp tính và nặng gây ra.
Kể từ năm 2006, chuẩn tham khảo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO 2006) đã được khuyến nghị sử dụng và hiện nay là thang phân loại dinh dưỡng được công nhận rộng rãi toàn cầu Việc áp dụng Z score để phân loại tình trạng dinh dưỡng đã trở thành một phương pháp hiệu quả trong việc đánh giá sức khỏe cộng đồng.
Khẩu phần ăn của bệnh nhân tim bẩm sinh từ 6-24 tháng tuổi
1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị trong khẩu phần ăn của trẻ bình thường
Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị là lượng chất dinh dưỡng cần thiết để đáp ứng nhu cầu hàng ngày cho 97,5% cá thể trong quần thể khỏe mạnh Văn bản “Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam năm 2015” cung cấp thông tin chi tiết về nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng theo từng độ tuổi, giới tính, loại hình lao động và tình trạng sinh lý.
Bảng 1 1: Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho trẻ theo tuổi
Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ
Dinh dưỡng cho trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi rất quan trọng vì ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và trí tuệ Ở độ tuổi này, hệ tiêu hóa của trẻ đã phát triển, với một số răng xuất hiện khi trẻ được 1 tuổi, giúp khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng tốt hơn Đây là giai đoạn trẻ bắt đầu ăn bổ sung Sau 12 tháng, mặc dù tốc độ tăng trưởng giảm nhưng vẫn ở mức cao, cùng với sự gia tăng hoạt động thể chất như tập đi và tập nói, dẫn đến nhu cầu năng lượng cao Tổng năng lượng khuyến nghị cho trẻ từ 6 tháng đến dưới 2 tuổi là từ 600 đến 1000 calo.
Protein đóng vai trò thiết yếu trong sự sống, giúp xây dựng và tái tạo tổ chức cơ thể, đồng thời là thành phần chính của kháng thể, hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại bệnh tật Ngoài ra, protein còn là thành phần quan trọng trong các enzym và hormone, ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa Đặc biệt, protein có vai trò quan trọng trong di truyền và phát triển hệ thần kinh, góp phần vào sự phát triển trí tuệ và thể chất Protein cũng cung cấp năng lượng cho cơ thể khi cần thiết Đối với trẻ em từ 6 tháng đến dưới 2 tuổi, lượng protein khuyến nghị là 18-20 g/ngày Nguồn protein phong phú có trong thực phẩm động vật như thịt, cá, trứng, sữa, và hải sản, cũng như thực phẩm thực vật như đậu tương, các loại đậu, đậu phộng, mè và gạo.
Lipid là thành phần thiết yếu trong bữa ăn, cung cấp năng lượng gấp đôi so với protein và carbohydrate, đồng thời là dung môi cho các vitamin A, D, E, K Việc tiêu thụ quá ít chất béo có thể dẫn đến thiếu năng lượng và ảnh hưởng đến chức năng của nhiều cơ quan, đặc biệt là não bộ và hệ thần kinh ở trẻ em Hàm lượng chất béo khuyến nghị cho trẻ từ 6 tháng đến dưới 2 tuổi là 20-44g/ngày Các nguồn thực phẩm giàu lipid bao gồm thịt mỡ, mỡ cá, bơ, sữa, pho mát, kem, lòng đỏ trứng từ động vật, và dầu thực vật, đậu phộng, mè, đậu tương, hạt điều, hạt dẻ, cùi dừa, sôcôla từ thực vật.
Carbohydrate đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng cho cơ thể, chiếm hơn 50% tổng năng lượng sử dụng Chúng không chỉ điều hòa hoạt động cơ thể mà còn cung cấp chất xơ và tham gia vào cấu tạo tế bào và mô Đối với trẻ em từ 6 tháng đến dưới 2 tuổi, lượng carbohydrate được khuyến nghị là từ 85-150g/ngày Thiếu carbohydrate có thể dẫn đến sút cân, mệt mỏi và hạ đường huyết Carbohydrate chủ yếu có trong thực phẩm thực vật như ngũ cốc, trái cây, rau và đường mật, trong khi sữa là nguồn carbohydrate chính từ thực phẩm động vật.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu cắt ngang mô tả. Đối tượng nghiên cứu 2.2.1 Dân số mục tiêu
Bệnh nhân tim bẩm sinh từ 6 đến 24 tháng tuổi cùng với người chăm sóc sẽ được nhập viện để thực hiện phẫu thuật tim tại khoa Tim mạch, Bệnh viện Nhi Đồng 1, Thành phố.
Trẻ em từ 6 đến 24 tháng tuổi mắc bệnh tim bẩm sinh cùng với người chăm sóc sẽ được nhập viện để thực hiện phẫu thuật tim tại khoa Tim mạch, Bệnh viện Nhi Đồng 1, thành phố.
Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng 10/ 2021 đến tháng 9/ 2022.
In a study conducted by Mingjie Zhang in 2020, it was found that the prevalence of mild malnutrition among Chinese children with congenital heart defects is 73.4% The study allowed for a margin of error of 10%, with a significance level set at α = 0.05, corresponding to a Z-score of 1.96.
Trong công thức trên, cỡ mẫu cần thu thập 75 bệnh nhân.
Lấy mẫu thuận tiện từ thứ hai đến thứ bảy, nghiên cứu chọn bệnh nhân từ 6-24 tháng tuổi nhập viện khoa Tim mạch để phẫu thuật Cân đo trẻ và phỏng vấn người chăm sóc được thực hiện trong khoảng thời gian 24-48 giờ sau khi nhập khoa.
2.2.5 Tiêu chí đưa vào và loại ra
Tiêu chí đưa vào: Đối với mục tiêu khảo sát tỉ lệ suy dinh dưỡng
Trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi có thể được chẩn đoán tim bẩm sinh một cách chính xác thông qua siêu âm tim Doppler màu, được thực hiện bởi bác sĩ chuyên khoa Tim mạch, theo thông tin từ hồ sơ bệnh án.
Nhập khoa Tim mạch để thực hiện phẫu thuật tim nhằm khảo sát khẩu phần ăn của trẻ, trong đó người chăm sóc trẻ cũng đóng vai trò là người cho trẻ ăn hàng ngày.
Tiêu chí loại ra trong khảo sát tỉ lệ suy dinh dưỡng bao gồm các trường hợp đa dị tật, bệnh lý di truyền hoặc bất thường đường tiêu hóa như bệnh Hirschprung, teo ruột non, ruột xoay bất toàn, viêm ruột hoại tử và hở thành bụng Đối với khảo sát khẩu phần ăn, người chăm sóc trẻ cần phải biết nói tiếng Việt để đảm bảo thông tin chính xác.
2.2.6 Kiểm soát sai lệch chọn lựa
- Định nghĩa rõ ràng đối tượng đưa vào nghiên cứu.
- Chọn mẫu theo đúng tiêu chuẩn đưa vào và loại ra.
Xử lý dữ kiện 2.3.1 Liệt kê và định nghĩa biến số
Biến số phụ thuộc: biến số về tình trạng dinh dưỡng
Cân nặng là một biến số liên tục, được đo bằng kilôgam (kg), phản ánh trọng lượng cơ thể của đối tượng tại thời điểm nghiên cứu.
Chiều dài là một biến số liên tục, được đo bằng centimet (cm), thể hiện khoảng cách từ gót chân đến đỉnh đầu của đối tượng tại thời điểm nghiên cứu.
Suy dinh dưỡng nhẹ cân là một biến số danh định, được xác định thông qua chỉ số cân nặng theo tuổi (WAZ) Theo thang đo Z-score của quần thể tham chiếu WHO 2006, tình trạng dinh dưỡng cho trẻ từ 0-5 tuổi được phân loại thành ba giá trị, trong đó trẻ được coi là bình thường khi WAZ đạt mức tiêu chuẩn.
≥ -2SD, suy dinh dưỡng thể nhẹ cân trung bình khi -3SD ≤WAZ