1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021

132 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Hùng Vương năm 2021
Tác giả Điền Ngọc Trang
Người hướng dẫn TS. Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Y VĂN (13)
    • 1.1. Một số khái niệm về trầm cảm, lo âu, stress (13)
    • 1.2. Dịch tễ học trầm cảm, lo âu, stress (14)
    • 1.3. Hậu quả của trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế (15)
    • 1.4. Tổng quan về các phương pháp đánh giá trầm cảm, lo âu, stress (17)
    • 1.5. Các yếu tố nguy cơ của trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế (20)
    • 1.6. Nghiên cứu về trầm cảm, lo âu, stress được thực hiện trong 10 năm gần đây (2012-2020) (24)
    • 1.7. Khái quát về địa điểm nghiên cứu (35)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (36)
    • 2.1. Thiết kế nghiên cứu (36)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (36)
    • 2.3. Thời gian, địa điểm nghiên cứu (36)
    • 2.4. Cỡ mẫu của nghiên cứu (36)
    • 2.5. Kỹ thuật chọn mẫu (37)
    • 2.6. Tiêu chí chọn mẫu (37)
    • 2.7. Thu thập số liệu (37)
    • 2.8. Định nghĩa biến số (39)
    • 2.9. Xử lý và phân tích dữ liệu (48)
    • 2.10. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (49)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ (50)
    • 3.2. Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress (52)
    • 3.3. Mối liên quan giữa trầm cảm với đặc điểm dân số, xã hội; đặc điểm công việc; sự thay đổi do COVID-19 và các nguồn lực hỗ trợ tinh thần (53)
    • 3.4. Mối liên quan giữa lo âu với các đặc diểm dân số xã hội; đặc điểm công việc; sự thay đổi do COVID-19 và các nguồn lực hỗ trợ tinh thần (60)
    • 3.5. Mối liên quan giữa stress với đặc điểm dân số xã hội; đặc điểm công việc; sự (68)
    • 3.6. Các yếu tố liên quan độc lập đến trầm cảm, lo âu, stress (75)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (78)
    • 4.1. Đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu (78)
    • 4.2. Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên (82)
    • 4.3. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress (85)
    • 4.4. Những đóng góp của đề tài (102)
  • KẾT LUẬN (105)

Nội dung

TỔNG QUAN Y VĂN

Một số khái niệm về trầm cảm, lo âu, stress

1.1.1 Khái niệm về trầm cảm

Trầm cảm, theo Tổ chức Y tế thế giới, là một rối loạn tâm thần phổ biến, biểu hiện qua sự buồn rầu, mất hứng thú, cảm giác tội lỗi, khó ngủ, mệt mỏi, và khó tập trung, kéo dài ít nhất 2 tuần Rối loạn này có thể kéo dài hoặc tái phát, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng làm việc và đối phó với cuộc sống hàng ngày Trầm cảm nặng có thể dẫn đến nguy cơ tự sát, trong khi trầm cảm nhẹ có thể điều trị không cần thuốc, còn những trường hợp vừa và nặng cần can thiệp bằng thuốc và phương pháp điều trị thích hợp.

1.1.2 Khái niệm về lo âu

Rối loạn lo âu, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), là tình trạng lo lắng quá mức và không thực tế về công việc hay sự kiện hàng ngày Lo âu là tín hiệu cảnh báo về các mối đe dọa từ bên trong hoặc bên ngoài, giúp con người tìm ra giải pháp để tồn tại và phát triển Tuy nhiên, khi lo âu trở nên dai dẳng, lan tỏa và không liên quan đến sự kiện cụ thể nào, nó sẽ trở thành bệnh lý Tình trạng này gây cản trở cho công việc, học tập và sinh hoạt, ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ cá nhân, được gọi là rối loạn lo âu.

Stress là một khái niệm đa dạng với nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào quan điểm của từng tác giả W.B Cannon là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này vào năm 1914 trong nghiên cứu y sinh học H.Selye nhấn mạnh vai trò của cảm xúc trong mối liên hệ giữa con người và môi trường, cho rằng stress có thể dẫn đến các bệnh tâm thể như loét dạ dày tá tràng Richard Lazarus định nghĩa stress là trạng thái cảm xúc mà cá nhân trải nghiệm khi cảm thấy các yêu cầu từ bên ngoài và bên trong vượt quá khả năng đối phó của họ Trong nghiên cứu này, định nghĩa của Lazarus được áp dụng vì nó phù hợp với điều kiện và công cụ đo lường được sử dụng.

Dịch tễ học trầm cảm, lo âu, stress

Theo khảo sát trực tuyến của Hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ, tỷ lệ stress nghề nghiệp đạt 36% Cùng lúc, cơ quan an toàn và sức khỏe của Anh Quốc ghi nhận 488,000 trường hợp stress, trầm cảm và lo âu liên quan đến nghề nghiệp trong giai đoạn 2015-2016, tương đương với 1,510 người trên 100,000 lao động Trầm cảm được xác định là nguyên nhân hàng đầu gây ra khuyết tật, được đo bằng số năm sống khỏe mạnh bị mất do tàn tật (YLDs), đứng thứ nhất trong danh sách này.

2010 về gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới 24 Chỉ số YDLs của trầm cảm năm

Năm 2010, tỷ lệ tự tử chiếm 8,2% với 16 triệu DALYs, trong khi gần 4 triệu DALYs liên quan đến bệnh tim thiếu máu cục bộ Chi phí cho trầm cảm tại Mỹ ước tính khoảng 53 tỷ đô la mỗi năm, bao gồm điều trị tâm lý, chi phí chăm sóc người thân, và mất năng suất lao động Từ năm 1990 đến 2013, số người mắc trầm cảm và lo âu tăng gần 50%, từ 416 triệu lên 615 triệu Đến năm 2017, toàn cầu có 13% dân số mắc rối loạn tâm thần, tương đương 970 triệu người, với tỷ lệ trầm cảm là 3,5% và lo âu là 3,8% Phụ nữ có xu hướng mắc rối loạn sức khỏe tâm thần cao hơn nam giới.

Lo âu là một rối loạn tâm thần phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 3,6% dân số, tương đương với 24,6 triệu người vào năm 2015 Theo Tổ chức Y tế Thế giới và Ngân hàng Thế giới, mỗi năm, kinh tế toàn cầu thiệt hại khoảng 1.000 tỷ USD do trầm cảm và lo âu Tại Mỹ, chi phí cho các vấn đề liên quan đến trầm cảm ước tính lên tới 53 tỷ đô la mỗi năm.

Chi phí liên quan đến lo âu ước tính lên tới 42 tỷ, bao gồm chi phí cho điều trị tâm lý, các phương pháp điều trị không liên quan đến tâm lý, chi phí chăm sóc từ người thân, cũng như thiệt hại do giảm năng suất lao động và tỷ lệ tử vong.

Theo ước tính, các bệnh tâm thần kinh và stress chiếm khoảng 32,4% số năm

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2018 có khoảng 800 trường hợp tự tử hàng năm liên quan đến trầm cảm Đến năm 2020, gánh nặng trầm cảm đã tăng lên 5,7% trong tổng gánh nặng bệnh tật, trở thành nguyên nhân thứ hai sau bệnh tim thiếu máu cục bộ về số năm sống mất đi (DALYs) ở cả nam và nữ.

Trong đại dịch COVID-19, tỷ lệ stress ở nhân viên y tế đã dao động từ 2,2% đến 41,2%, tùy thuộc vào loại hình bệnh viện và mức độ tiếp xúc với bệnh nhân nhiễm bệnh Một nghiên cứu tại Đài Loan cho thấy 5% nhân viên y tế có biểu hiện stress, 20% cảm thấy bị kỳ thị và 9% mất việc trong dịch SARS Hơn nữa, nghiên cứu về tác động tâm lý lâu dài sau dịch SARS chỉ ra rằng 23% nhân viên y tế bị trầm cảm từ mức độ trung bình đến nặng trong vòng 3 năm sau đó Đại dịch COVID-19 đã gây ra nhiều vấn đề tâm lý cho nhân viên y tế, bao gồm trầm cảm, lo âu, sợ hãi, rối loạn sau sang chấn, cảm giác bị kỳ thị, sợ tiếp xúc, rối loạn giấc ngủ và cảm thấy vô dụng.

Hậu quả của trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế

Theo khảo sát của Viện sức khỏe và an toàn nghề nghiệp quốc gia Hoa Kỳ (NIOSH) năm 2007, 40% người lao động bị stress phải nhập viện, với nguy cơ cao mắc các bệnh tâm thần, tim mạch và ung thư Đặc biệt, nhân viên y tế chịu ảnh hưởng nặng nề từ stress, dẫn đến rối loạn cảm xúc, giấc ngủ, trầm cảm và lo âu, làm giảm hiệu suất làm việc và an toàn trong chăm sóc bệnh nhân Nghiên cứu cho thấy nhân viên y tế có tỷ lệ lạm dụng thuốc và tự tử cao hơn so với các ngành khác, gây ra kiệt sức và sai sót nghiêm trọng trong công việc Điều dưỡng, đặc biệt tại khu vực cấp cứu hồi sức, thường gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sự hài lòng của bệnh nhân.

Tác giả Talevi đã chỉ ra rằng đại dịch COVID-19 đã gây ra tình trạng lo âu, trầm cảm và sang chấn tâm lý ở nhiều người, đặc biệt là nhân viên y tế tuyến đầu và bệnh nhân nhiễm COVID-19 Điều dưỡng là nhóm có nguy cơ cao bị lo âu hơn bác sĩ do tiếp xúc thường xuyên với bệnh nhân, sống xa gia đình trong thời gian dài và gánh nặng công việc gia tăng Tỷ lệ hộ sinh gặp phải tình trạng kiệt sức ở các quốc gia như Thụy Sĩ, Na Uy, Anh và Úc dao động từ 20% đến 59% Nghiên cứu của Hildingsson và cộng sự cho thấy tỷ lệ kiệt sức ở hộ sinh Thụy Sĩ liên quan đến việc thiếu định hướng nghề nghiệp trong lĩnh vực sản khoa cho nhân viên y tế.

Nghiên cứu tổng quan hệ thống trên 93 nghiên cứu từ tháng 1 đến tháng 9 năm

2020 cho thấy có khoảng 1/3 điều dưỡng bị rối loạn tâm thần trong đại dịch COVID-

Tỷ lệ stress, trầm cảm và lo âu trong nhân viên y tế ghi nhận lần lượt là 43%, 35% và 37% Các nghiên cứu tại Châu Á cho thấy tỷ lệ lo âu và trầm cảm ở nhân viên y tế lần lượt là 23,2% và 22,8% Tại Nepal, 37,5% nhân viên y tế bị trầm cảm và 41,9% có biểu hiện lo âu trong thời kỳ đại dịch COVID-19 Ở Bangladesh, 41,7% điều dưỡng gặp stress, 50,5% bị trầm cảm và 51,8% cảm thấy lo âu.

Tổng quan về các phương pháp đánh giá trầm cảm, lo âu, stress

Bảng 1.1 Bảng tổng quan về các phương pháp đánh giá trầm cảm, lo âu, stress

STT Thang đo Tác giả; cỡ mẫu; đối tượng nghiên cứu Áp dụng tại Mô tả thang đo

Thang đo đánh giá sức khỏe tổng quát

Lâm Minh Quang 3 ; n52 điều dưỡng

Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh

Thang đo 12 câu hỏi, được phát triển bởi David Goldberg và Paul William vào những năm 1970, nhằm mục đích định lượng nguy cơ phát triển các rối loạn tâm thần.

Công cụ này tập trung vào hai lĩnh vực chính: thứ nhất, khả năng thực hiện các chức năng bình thường của con người bị hạn chế; thứ hai, việc xuất hiện cảm giác buồn phiền được sử dụng để đánh giá mức độ hạnh phúc của cá nhân.

- Thang đo có hệ số Cronbach alpha từ 0,82 dến 0,86, công cụ đuợc xem là đáng tin cậy và đã đuợc dịch ra 38 ngôn ngữ.

Thang đo đánh giá stress ở điều dưỡng

Trần Thị Phương Hà 45 ; n(1 điều dưỡng

Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên

- Thang đo ENSS là bản sửa đổi mở rộng và cập nhật của thang đo căng thẳng điều dưỡng cổ điển (NSS) được phát triển bởi Gray-Toft & Anderson (1981).

- Bộ công cụ được Nguyễn Ngọc Hà, Trường Đại học Y dược Thái Nguyên dịch ra tiếng Việt và kiểm định nội dung với Cronbach alpha là 0,94.

Bảng thang đo bao gồm 54 mục trải dài trên 8 lĩnh vực quan trọng, trong đó có 7 câu liên quan đến việc đối mặt với cái chết của người bệnh, 5 câu về mâu thuẫn với bác sĩ, 3 câu đề cập đến sự chuẩn bị cảm xúc chưa đầy đủ, và các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp điều dưỡng.

Trong môi trường làm việc, việc giao tiếp hiệu quả với cấp trên là rất quan trọng để giải quyết các vấn đề phát sinh Khối lượng công việc cần được phân chia hợp lý để đảm bảo hiệu suất và tránh tình trạng quá tải Sự không chắc chắn về hướng điều trị cho người bệnh có thể gây ra lo âu cho cả nhân viên y tế và bệnh nhân Đối với người bệnh và gia đình, việc cung cấp thông tin rõ ràng và kịp thời là cần thiết để họ cảm thấy an tâm trong quá trình điều trị Tất cả những yếu tố này đều ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế mà bệnh nhân nhận được.

STT Thang đo Tác giả; cỡ mẫu; đối tượng nghiên cứu Áp dụng tại Mô tả thang đo

Thang đo đánh giá lo âu GAD-7

- Thang đo đánh giá lo âu của Spitzer và cộng sự, được nhóm nghiên cứu của bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng dịch, hiệu đính, chuẩn hóa.

- Thang đo GAD -7 dựa trên các tiêu chí chẩn đoán được mô tả trong DSM-5; bao gồm 7 câu hỏi và được tính toán bằng cách gán điểm số từ

0, 1, 2, và 3: yêu cầu người khảo sát trả lời về mức độ thường xuyên gặp phải vấn đề trong hai tuần vừa qua.

Thang đo đánh giá stress PSS-10

Ai Cập Thang đo tự đánh giá về căng thẳng cảm xúc được đánh giá tính giá trị và độ tin cậy cao, với Cronbach alpha là 0,85.

Thang đo đánh giá trầm cảm PHQ-9

Ai Cập Thang đo đánh giá trầm cảm PHQ-9 do bác sĩ Spitzer, Williams và

Kroenke phát triển công cụ để đánh giá và theo dõi hiệu quả điều trị trầm cảm Điểm số PHQ-9 cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu lên tới 88% trong việc phát hiện bệnh trầm cảm nặng.

STT Thang đo Tác giả; cỡ mẫu; đối tượng nghiên cứu Áp dụng tại Mô tả thang đo

Creey D.K 37 ; n37 nhân viên y tế, Hebatalla Mohamed

Saifur Rahman Chowdhury 38 , nT7 điều dưỡng, Nguyễn Bạch Ngọc 16 n47 điều dưỡng;

Nguyễn Mạnh Tuân 5 , ne0 nhân viên y tế Úc, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Việt Nam

Vào năm 1995, Lovibond S.H và Lovibond P.F tại Đại học New South Wales, Australia đã phát triển thang đo DASS-42 để đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu và stress Năm 1997, phiên bản rút gọn DASS-21 được ra mắt, với DASS-42 phù hợp cho ứng dụng lâm sàng và DASS-21 thích hợp cho nghiên cứu khoa học.

- Các nghiên cứu cần thiết đã đuợc tiến hành và khẳng định có sự nhất quán giữa thang đo DASS-42 và DASS-21.

Năm 2013, Trần Thạch Đức đã đánh giá giá trị và độ tin cậy của thang đo DASS-21, với chỉ số Cronbach alpha dao động từ 0,70 đến 0,88 cho các tiểu mục và toàn bộ thang đo Thang đo này có độ nhạy 79,1% và độ chuyên 77%, với điểm cắt trên 33 điểm.

Thang đo DASS 21, được khuyến nghị bởi Viện Sức khỏe tâm thần quốc gia Việt Nam, là công cụ sàng lọc hiệu quả cho các vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến Công cụ này phù hợp với bối cảnh văn hóa Việt Nam và có thể được áp dụng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, can thiệp cộng đồng, cũng như trong môi trường lâm sàng.

Chúng tôi đã chọn thang đo DASS-21 để khảo sát tình trạng trầm cảm, lo âu và stress ở nhân viên y tế, vì đây là thang đo phổ biến tại Việt Nam và có khả năng đánh giá đồng thời cả ba vấn đề sức khỏe tinh thần.

Thang đo DASS đã được Viện Sức khỏe Tâm thần quốc gia Việt Nam biên dịch và thử nghiệm trên nhiều đối tượng nghề nghiệp khác nhau Độ tin cậy của thang đo này được kiểm tra với các ước tính dao động từ 0,82 đến 0,97 trong các mẫu thực nghiệm và lâm sàng Tác giả Lovibond đã thực hiện đo lường trên mẫu phi lâm sàng lớn với chỉ số Cronbach alpha cho thang đo trầm cảm đạt 0,91 Các giá trị này cũng tương tự khi thu thập từ các quần thể lâm sàng Nghiên cứu của John R Crawford và cộng sự cho thấy rằng các yếu tố nhân khẩu học như độ tuổi và giới tính chỉ ảnh hưởng không đáng kể đến điểm số DASS.

Nội dung trong DASS-21 không hoàn toàn mang tính chất chẩn đoán giống như các triệu chứng được quy định trong Hướng dẫn phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 (ICD).

10) mà mục đích nhằm đưa ra một thực trạng trong quần thể nghiên cứu giúp cho nhà quản lý có những chính sách để cải thiện, nâng cao hiệu suất nguồn nhân lực; đồng thời khuyến cáo những đối tuợng nghiên cứu nếu gặp phải những vấn đề được liệt kê trong DASS-21 một cách thuờng xuyên và ở mức độ nặng thì nên tìm sự giúp đỡ từ các chuyên gia tâm lý 50

Các yếu tố nguy cơ của trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế

1.5.1 Đặc điểm dân số, xã hội Độ tuổi, giới tính: Độ tuổi và giới tính có liên quan đến tình trạng stress ở nhân viên y tế Nghiên cứu của tác giả Khalid S.Al-Gelban năm 2009 cho thấy nữ giới có nguy cơ bị stress cao hơn nam giới 51 Tương tự như vậy, nghiên cứu của tác giả Asad Zandi năm 2011 cũng cho thấy nữ giới có tỷ lệ stress cao hơn nam giới và có mối liên quan giữa stress với tuổi của nhân viên y tế 52

Nghiên cứu của Lâm Minh Quang chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa độ tuổi và điều dưỡng ở những người trên 30 tuổi (KTC 95% 1,14-6,89) Đồng thời, nghiên cứu của Lưu Thị Liên cho thấy độ tuổi có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng lo âu của nhân viên y tế tại huyện Sóc Sơn (p=0,04) Cụ thể, nhân viên y tế dưới 30 tuổi có nguy cơ bị lo âu cao hơn gấp 1,66 lần so với những người trên 30 tuổi.

Kinh tế chính trong gia đình; sức khỏe bản thân, biến cố gia đình:

Nhân viên y tế đóng vai trò quan trọng trong gia đình, nhưng họ có nguy cơ căng thẳng cao gấp đôi so với những người khác Nghiên cứu tại Đà Nẵng cho thấy trầm cảm ở nhân viên điều dưỡng và hộ sinh liên quan đến sức khỏe cá nhân và các sự kiện gia đình Ngoài ra, có mối liên hệ giữa lo âu, thói quen thể dục, biến cố cá nhân, tình trạng sức khỏe và việc chăm sóc con nhỏ.

Nghiên cứu của Paul và Teris cho thấy điều dưỡng tại các bệnh viện tuyến cuối có thâm niên dưới 10 năm gặp phải mức độ stress cao hơn 55, tương tự như kết quả của Caputi, người cho biết điều dưỡng có nhiều kinh nghiệm ít bị stress hơn so với nhân viên mới vào nghề 56 Một nghiên cứu tại Canada cũng chỉ ra rằng trong đại dịch SARS trước đây, những nhân viên y tế thiếu kinh nghiệm lâm sàng thường xuyên rơi vào tình trạng kiệt sức nghề nghiệp 57.

Nghiên cứu của Lưu Thị Liên năm 2019 chỉ ra rằng nhân viên y tế có biên chế tại bệnh viện có nguy cơ lo âu thấp hơn 0,59 lần so với nhân viên hợp đồng (p=0,03) Đồng thời, thời gian công tác trong ngành y cũng ảnh hưởng đến mức độ lo âu của nhân viên y tế.

5 năm có nguy cơ bị trầm cảm gấp 2,44 lần những nhân viên làm từ 5 năm trở lên 50

Số lần trực trong tháng:

Nghiên cứu của Trịnh Xuân Quang năm 2018 tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang cho thấy rằng những người làm việc trực từ 5 ngày trở lên mỗi tháng trải qua mức độ căng thẳng cao gấp 2,85 lần so với những người trực dưới 5 ngày Điều này chỉ ra rằng áp lực trong công việc có thể gia tăng đáng kể đối với những nhân viên thường xuyên làm ca dài.

Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Tuân (2018) chỉ ra rằng điều dưỡng trải qua cảm giác công việc đơn điệu và quá tải, dẫn đến tỷ lệ stress cao hơn Cụ thể, nhân viên cảm thấy áp lực hoàn thành công việc cao gấp 3,39 lần (KTC 95% 1,97-5,83) so với người không cảm thấy áp lực (p

Ngày đăng: 01/09/2023, 22:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. World Health Organization. The World Health Report 2002-Reducing Risks, Promoting Healthy Life. Geneva, Switzerland: World Health Organization 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World Health Report 2002-Reducing Risks, Promoting Healthy Life
Tác giả: World Health Organization
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2002
13. Sim Size Kiat, Lau Bik Liang, et al. Psychological symptoms among healthcare workers handling COVID-19 patients. Med J Malaysia. 2021;79(2) 14. Jianbo Lai, Simeng Ma, Ying Wang. Factors Associated With Mental Health Outcomes Among Health Care Workers Exposed to Coronavirus Disease 2019.JAMA Netw Open 3 (3) e203976-e2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Med J Malaysia". 2021;79(2) 14. Jianbo Lai, Simeng Ma, Ying Wang. Factors Associated With Mental Health Outcomes Among Health Care Workers Exposed to Coronavirus Disease 2019
17. World Health Organization. Mental disorders. http://www.who.int/topics/mental_disorders/en/, 3/27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mental disorders
Tác giả: World Health Organization
Năm: N/A
18. Nguyễn Viết Thêm, Võ Tăng Lâm. Lo âu, trầm cảm trong thực hành tâm thần học. Nội san tâm thần học. 2001:31-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lo âu, trầm cảm trong thực hành tâm thần học
Tác giả: Nguyễn Viết Thêm, Võ Tăng Lâm
Nhà XB: Nội san tâm thần học
Năm: 2001
19. Bùi Ðức Trình. Giáo trình tâm thần học. Truờng đại học Y Duợc Thái Nguyên, Thái Nguyên; 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm thần học
Tác giả: Bùi Ðức Trình
Nhà XB: Truờng đại học Y Duợc Thái Nguyên
Năm: 2008
20. Nguyễn Huỳnh Ngọc. Tâm lý y học, y đức. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội. 2010;2:67-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý y học, y đức
Tác giả: Nguyễn Huỳnh Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
23. World Health Organization. The global burden of disease : 2004 update. 2008:pp.130-160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The global burden of disease : 2004 update
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2008
25. Ronald C Kessler, Paul E Greenberg. The economic burden of anxiety and stress disorders 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The economic burden of anxiety and stress disorders
Tác giả: Ronald C Kessler, Paul E Greenberg
Năm: 2002
26. World Health Organization. Depression and Other Common Mental Disorders, Global Health Estimates. 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression and Other Common Mental Disorders, Global Health Estimates
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2017
29. World Health Organization. Depression. Accessed accessed on 26 November 2018, http://www.who.int/en/news- room/fact-sheets/detail/depression Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2018
9. World Health Organization. WHO Director-General's Opening Remarks at the Media Briefing on COVID-19-11 March 2020. Accessed accessed on August 11, 2020, https://www.who.int/director-general/speeches/detail/who-director-general-s-opening-remarks-at-the-media-briefing-on-covid-19—11-march-2020 Link
11. Bai Y, Lin CC, Lin CY, P C, et al. Survey of stress reactions among health care workers involved with the SARS outbreak. Psychiatr Serv. 2004;55(9):1055- 1057. doi:10.1176/appi.ps.55.9.1055 Link
12. Lee AM, Wong JG, McAlonan GM. Stress and psychological distress among SARS survivors 1 year after the outbreak. Can J Psychiatry.2007;52(4)doi:10.1177/070674370705200405 Link
27. World Health Organization. Investing in treatment for depression and anxiety leads to fourfold return. Accessed accessed on 02 Dec 2018.,https://www.who.int/news/item/13-04-2016-investing-in-treatment-for-depression-and-anxiety-leads-to-fourfold-return Link
31. Nhan Nguyen, Duong Dinh Le, Robert Colebunders, et al. Stress and associated factors among frontline healthcare workers in the COVID-19 epicenter of Da Nang city, Vietnam. 2020;doi:10.21203/rs.3.rs-536701/v1 Link
83. Anderson RA, Ammarell N, Bailey DE. The power of relationship for high- quality long-term care. J Nurs Care Qual. 20 103-106. doi:10.1097/00001786- 200504000-00003 Link
87. Nguyễn Thị Phương Lan, và cộng sự. Các yếu tố căng thẳng tâm lý,mối quan tâm và hỗtrợ sức khỏe tâm thần cho nhân viên chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam trong thời gian bùng phát dịch bệnh Coronavirus 2019 (Covid 19). Public Health.doi:10.3389/fpubh.2021.628341 Link
91. Kawachi I, Berkman LF. Social ties and mental health. J Urban Health. 2001;78(3):458–467. doi:10.1093/jurban/78.3.458 Link
100. AlAteeq DA, Aljhani S, Althiyabi I, et al. Mental health among healthcare providers during coronavirus disease (COVID- 19) outbreak in Saudi Arabia. J Infect Public Health. J Infect Public Health. 2020;13:1432–1437.doi:10.1016/j.jiph.2020.08.013 Link
101. Ahn MH, Shin Y, Hye KJ, et al. High Work-related Stress and Anxiety Response to COVID-19 among Healthcare Workers in South Korea: SAVE study.JMIR Public Health Surveill. 2021 Oct 22;7(10):e25489doi:10.2196/25489 102. Chatterjee SS, Chakrabarty M, Banerjee D, et al. Stress, Sleep and Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Bảng tóm tắt các nghiên cứu trên thế giới về chủ đề nghiên cứu - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 1.2. Bảng tóm tắt các nghiên cứu trên thế giới về chủ đề nghiên cứu (Trang 24)
Bảng 1.3. Bảng tóm tắt các nghiên cứu tại Việt Nam về chủ đề nghiên cứu - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 1.3. Bảng tóm tắt các nghiên cứu tại Việt Nam về chủ đề nghiên cứu (Trang 28)
Bảng 2.1. Bảng phân loại các mức độ trầm cảm, lo âu, stress - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 2.1. Bảng phân loại các mức độ trầm cảm, lo âu, stress (Trang 38)
Bảng 3.1. Đặc điểm của người tham gia nghiên cứu (n=1186) - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 3.1. Đặc điểm của người tham gia nghiên cứu (n=1186) (Trang 50)
Bảng 3.2. Đặc điểm liên quan đến công việc của nhân viên (n=1186) - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 3.2. Đặc điểm liên quan đến công việc của nhân viên (n=1186) (Trang 51)
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của COVID-19 lên nhân viên y tế (n=1186) - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của COVID-19 lên nhân viên y tế (n=1186) (Trang 52)
Bảng 3.7. Mối liên quan giữa trầm cảm với đặc điểm công việc (n=1186) - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 3.7. Mối liên quan giữa trầm cảm với đặc điểm công việc (n=1186) (Trang 54)
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa trầm cảm với nguồn hỗ trợ tinh thần (n=1186) - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa trầm cảm với nguồn hỗ trợ tinh thần (n=1186) (Trang 57)
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa lo âu và đặc điểm dân số, xã hội (n=1186) - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa lo âu và đặc điểm dân số, xã hội (n=1186) (Trang 60)
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa lo âu và đặc điểm công việc (n=1186) - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa lo âu và đặc điểm công việc (n=1186) (Trang 61)
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa lo âu và các nguồn hỗ trợ tinh thần (n=1186) - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa lo âu và các nguồn hỗ trợ tinh thần (n=1186) (Trang 66)
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa stress và đặc điểm dân số, xã hội (n=1186) - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa stress và đặc điểm dân số, xã hội (n=1186) (Trang 68)
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa stress với đặc điểm công việc (n=1186) - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa stress với đặc điểm công việc (n=1186) (Trang 70)
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa stress với sự thay đổi do đại dịch (n=1186) - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa stress với sự thay đổi do đại dịch (n=1186) (Trang 72)
Bảng 3.20. Các yếu tố liên quan đến stress - Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện hùng vương năm 2021
Bảng 3.20. Các yếu tố liên quan đến stress (Trang 77)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w