1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế khu vực đông nam á

81 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chi Tiêu Chính Phủ Lĩnh Vực Giáo Dục Ảnh Hưởng Đến Tăng Trưởng Kinh Tế Khu Vực Đông Nam Á
Tác giả Châu Thùy Trinh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Kim Quyến
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (9)
    • 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI (9)
    • 1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN (12)
  • CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ CHI TIÊU CHÍNH PHỦ LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ TĂNG TRƯỞNG (14)
    • 2.1 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (14)
      • 2.1.1 Khái niệm (14)
      • 2.1.2 Phương pháp đo lường tăng trưởng (14)
      • 2.1.3 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế (15)
      • 2.2.2 Cơ cấu chi tiêu của chính phủ (20)
      • 2.2.3 Chi tiêu của chính phủ trong lĩnh vực giáo dục (21)
      • 2.3.4 Vai trò của chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực giáo dục đối với tăng trưởng (22)
    • 2.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (23)
      • 2.3.1 Hai trường phái của chi tiêu chính phủ (23)
      • 2.3.2 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế (24)
      • 2.3.3 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục và tăng trưởng kinh tế (26)
    • 2.4 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN (28)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 3.1 MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM (33)
    • 3.2 CỠ MẪU NGHIÊN CỨU (37)
    • 3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KIỂM ĐỊNH THỰC HIỆN (39)
      • 3.3.1 Ưu điểm dữ liệu bảng (39)
      • 3.3.2 Kiểm định tính dừng (39)
      • 3.3.3 Kiểm định đồng liên kết (40)
      • 3.3.4 Kiểm soát các khuyết tật vi phạm các giả thuyết của mô hình (41)
      • 3.3.5 Thảo luận lý do phương pháp ước lượng hồi quy (42)
  • CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (44)
    • 4.1 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU (44)
    • 4.2 KIỂM ĐỊNH SỰ TƯƠNG QUAN CÁC BIẾN (45)
      • 4.2.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính (45)
      • 4.2.2 Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình (46)
    • 4.3 KIỂM ĐỊNH TÍNH DỪNG DỮ LIỆU BẢNG (46)
    • 4.4 KIỂM ĐỊNH ĐỒNG LIÊN KẾT TRÊN DỮ LIỆU BẢNG (47)
    • 4.5 MÔ HÌNH NGẮN HẠN (51)
    • 4.6 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (52)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (56)
    • 5.1 KẾT LUẬN (56)
    • 5.2 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI (57)
    • 5.3 ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO (57)

Nội dung

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, giáo dục đã trở thành yếu tố quyết định quan trọng cho tăng trưởng kinh tế tại các nước phát triển và đang phát triển Các nhà kinh tế học như Adam Smith, Romer, Lucas và Solow đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong việc phát triển lý thuyết và mô hình tăng trưởng kinh tế Mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Robert Solow (1957) và mô hình Romer (1990) là những cách tiếp cận lý thuyết chính liên kết giữa giáo dục và hiệu quả kinh tế Bên cạnh lý thuyết, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng đã tập trung vào mối quan hệ giữa giáo dục và phát triển kinh tế.

Giáo dục được xem là một khoản đầu tư dài hạn, ảnh hưởng đến sản lượng cao trong tương lai của một quốc gia (Ismail, 1998) Các nhà kinh tế cho rằng ngành giáo dục tiên tiến là yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế và xã hội Do đó, các quốc gia phát triển và đang phát triển đều chú trọng vào việc nâng cao hệ thống giáo dục Đông Nam Á cũng không ngoại lệ khi cam kết phát triển giáo dục để trở thành quốc gia đẳng cấp thế giới (Ibrahmim và Awang, 2008) Sự cam kết của chính phủ trong lĩnh vực giáo dục thể hiện rõ qua ngân sách hàng năm và các hội nghị, hội thảo liên quan đến giáo dục luôn thu hút sự quan tâm của xã hội.

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong phát triển quốc gia và tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu của Sheehan (1971) chỉ ra rằng giáo dục mang lại nhiều lợi ích trực tiếp, bao gồm tăng năng suất, thu nhập của người lao động, và tỷ lệ biết chữ Hơn nữa, giáo dục còn giúp cải thiện phân bổ thu nhập và điều chỉnh lực lượng lao động theo nhu cầu công việc, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế.

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, ảnh hưởng đến GDP quốc gia ở cấp vĩ mô Nghiên cứu cho thấy lý thuyết tăng trưởng nội sinh và lý thuyết nguồn nhân lực chỉ ra rằng giáo dục có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế cả ở cấp vi mô và vĩ mô Sự hiệu quả của giáo dục chủ yếu liên quan đến việc tạo ra lao động lành nghề và phát triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo và nâng cao kỹ năng.

Các quốc gia Đông Nam Á, thông qua hiệp hội ASEAN, tạo thành một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội mạnh mẽ Nghiên cứu về ảnh hưởng của chi tiêu công trong lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng kinh tế cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng cho các nhà chính sách Đặc biệt, việc nghiên cứu tại khu vực Đông Nam Á, bao gồm cả Việt Nam, giúp đảm bảo số lượng quan sát đủ để đưa ra kết luận chính xác, vì khu vực này có nhiều điểm tương đồng trong phát triển với Việt Nam hơn so với các khu vực khác.

Bài viết nghiên cứu tầm quan trọng của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế, tập trung vào mối quan hệ lý thuyết và thực nghiệm giữa chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực giáo dục và sự phát triển kinh tế tại khu vực Đông Nam Á Tác giả mong muốn làm rõ ảnh hưởng của đầu tư giáo dục đến sự tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh khu vực này.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng kinh tế ở khu vực Đông Nam Á Nghiên cứu sẽ làm rõ các câu hỏi liên quan đến mối quan hệ giữa đầu tư giáo dục và sự phát triển kinh tế trong khu vực này.

- Tồn tại hay không tồn tại tác động chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Nam Á?

Tác động của chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Nam Á có thể được phân tích theo hai chiều hướng Nếu chi tiêu này được đầu tư hiệu quả, nó sẽ thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ giáo dục và kỹ năng lao động, từ đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế bền vững Ngược lại, nếu chi tiêu không được quản lý tốt hoặc không phù hợp với nhu cầu thực tế, nó có thể dẫn đến lãng phí nguồn lực và không mang lại hiệu quả kinh tế như mong đợi Do đó, việc đánh giá tác động của chi tiêu chính phủ trong giáo dục là rất quan trọng để xác định mối quan hệ giữa hai yếu tố này.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của bài nghiên cứu này là tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ cho giáo dục

Về thực nghiệm, đối tượng của bài này là các quốc gia Đông Nam Á gồm 9 quốc gia trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2016 Chi tiết ở chương 3.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với mô hình phân tích hồi quy dữ liệu bảng Nội dung bao gồm tổng hợp các nghiên cứu trước để xây dựng mô hình nghiên cứu, thu thập dữ liệu và thực hiện kiểm định giả thuyết định lượng, đồng thời lựa chọn ước lượng mô hình hồi quy phù hợp.

Để đảm bảo độ tin cậy của kết quả, bài viết nhấn mạnh việc kiểm định tính dừng và đồng liên kết nhằm tránh hiện tượng hồi quy giả mạo Đồng thời, phương pháp ước lượng mô hình dài hạn FMOLS và mô hình ngắn hạn GMM được áp dụng để điều chỉnh nhiễu sai số, qua đó lựa chọn mô hình phân tích phù hợp.

Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng các công cụ Stata 13 và Eviews 8 vì chúng cung cấp đầy đủ các phương pháp phân tích cần thiết để thực hiện nghiên cứu một cách hiệu quả.

Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như thực tiễn

Mặc dù có một số nghiên cứu tương tự trên thế giới, nhưng tại khu vực Đông Nam Á, nghiên cứu về ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng kinh tế vẫn còn hạn chế Bài viết này đề xuất một mô hình nghiên cứu và cung cấp bằng chứng thực nghiệm liên quan đến vấn đề này trong khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tham khảo quan trọng cho các nhà quản trị vĩ mô và chính sách trong việc phân bổ nguồn lực chính phủ cho chi tiêu thường xuyên Nghiên cứu làm rõ mức ý nghĩa và tác động của chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế, từ đó bổ sung vào các thảo luận và thực nghiệm liên quan đến tăng trưởng kinh tế khu vực, góp phần vào sự phát triển ổn định của nền kinh tế.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Nội dung của đề tài nghiên cứu bao gồm các chương sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Các nghiên cứu trước đây về lý thuyết và thực nghiệm

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, cách thu thập dữ liệu, mô tả mô hình nghiên cứu, đưa ra các giả thuyết nghiên cứu

Chương 4: Chương này trình bày kết quả, các kiểm định cần thiết, phân tích định lượng và giải thích kết quả

Chương 5: Đưa ra kết luận , kiến nghị và hướng đề xuất nghiên cứu

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ CHI TIÊU CHÍNH PHỦ LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ TĂNG TRƯỞNG

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học, thường được định nghĩa và đo lường trong nhiều tài liệu Nó chủ yếu được hiểu là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm hoặc mức tăng bình quân đầu người Hơn nữa, tăng trưởng kinh tế phản ánh sự gia tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.

2.1.2 Phương pháp đo lường tăng trưởng Để đo lưởng tăng trưởng kinh tế, người ta có một số cách tính như sau:

Phương pháp tính GDP theo thu nhập bao gồm tổng hợp tất cả các khoản thu nhập mà các công ty chi trả cho các hộ gia đình, như tiền lãi, lợi nhuận, tiền lương và tiền thuê.

Phương pháp tính GDP theo giá trị gia tăng dựa trên tổng giá trị gia tăng của tất cả các lĩnh vực trong một khoảng thời gian nhất định của nền kinh tế.

Phương pháp tính GDP theo chi tiêu: Cách tính này bao gồm cộng tổng các khoản chi tiêu:

Y = GDP = NX + C + I + G Trong đó: Chi tiêu đầu tư (I), Chi tiêu của chính phủ (G), Xuất khẩu ròng (NX), Chi tiêu tiêu dùng (C)

2.1.3 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế đã phát triển qua nhiều giai đoạn trong lịch sử kinh tế học, bắt đầu từ lý thuyết của Ricardo vào năm 1817 Tiếp theo là các mô hình quan trọng như mô hình của Lewis (1954), mô hình Harrord-Doman (1947) và mô hình Solow (1956) Những lý thuyết và mô hình này đánh dấu những bước tiến quan trọng trong việc xây dựng nền tảng cho lý thuyết tăng trưởng kinh tế bền vững.

David Ricardo (1772 - 1823) là nhà kinh tế học người Anh, người đã đặt nền móng cho lý thuyết tăng trưởng kinh tế Ông đã phát triển lý thuyết giá trị lợi thế so sánh, quy luật năng suất biên giảm dần và địa tô, nhấn mạnh rằng đất là tài nguyên khan hiếm và có giới hạn tuyệt đối Giới hạn sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng nông nghiệp, trong khi khu vực công nghiệp cũng chịu tác động từ nông nghiệp, dẫn đến chi phí sản xuất tăng cao Sự gia tăng chi phí nguyên liệu đầu vào làm tăng giá hàng hóa và gây ra lạm phát, ảnh hưởng đến tiền lương của công nhân Khi lương tăng, chi phí sản xuất công nghiệp cũng tăng theo, dẫn đến sản lượng công nghiệp giảm Như vậy, theo Ricardo, giới hạn về đất ảnh hưởng sâu sắc đến sản lượng của cả nông nghiệp và công nghiệp.

Nông nghiệp và công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đại diện cho tổng sản lượng quốc gia, do đó, việc giới hạn đất đai (tài nguyên) có tác động đáng kể đến sự tăng trưởng kinh tế.

William Arthur Lewis (1915 - 1991) là một nhà kinh tế học người Anh, nổi tiếng với giải Nobel kinh tế năm 1979 nhờ những đóng góp của ông cho mô hình hai khu vực trong lý thuyết phát triển kinh tế và cung lao động Ông nhấn mạnh rằng lao động là yếu tố then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Để minh chứng cho quan điểm này, Lewis đã xây dựng đường TPA (Tổng sản lượng nông nghiệp) cho khu vực nông nghiệp, thể hiện mối quan hệ tích cực giữa số lượng lao động và tổng sản lượng theo quy luật giá trị sản lượng biên giảm dần Cụ thể, nếu khu vực nông nghiệp ở trạng thái cân bằng với số lượng lao động L0 và tổng sản lượng Y0, khi số lượng lao động tăng từ L0 lên L1 (với L1 > L0), tổng sản lượng cũng sẽ tăng từ Y0 lên Y1 (với Y1 > Y0), chứng minh rằng lao động có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp.

Trong ngành công nghiệp, khi vốn (K1) được xác định, điểm cân bằng tương ứng với lượng lao động (L1) là rất quan trọng Sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp dẫn đến việc cung lao động gia tăng, làm giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận cho các nhà sản xuất Lợi nhuận này sau đó được tái đầu tư, từ đó nâng cao vốn lên K2 và tương ứng với nguồn lao động L2 Điều này cho thấy rõ ràng tác động tích cực của lao động đối với sự phát triển của khu vực công nghiệp.

Lao động đóng vai trò quan trọng trong cả nông nghiệp và công nghiệp, như lập luận của Lewis đã chỉ ra Sự thay đổi trong lực lượng lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng kinh tế.

Evsey David Domar (1914 - 1977) và Henry Roy Forbes Harrod (1900 - 1978) là hai nhà kinh tế học nổi bật, có những đóng góp quan trọng cho lý thuyết về vốn và tăng trưởng kinh tế Cả hai học giả này đã thực hiện nghiên cứu độc lập về tăng trưởng kinh tế, dẫn đến việc mô hình tăng trưởng kinh tế được gọi là mô hình Harrod-Domar.

Theo lý thuyết Harrod-Domar, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào vốn (Incremental Capital) và tiết kiệm (Savings) Họ lập luận rằng sự thay đổi trong vốn (K) sẽ dẫn đến sự thay đổi trong sản lượng quốc gia (Y), tức là ∆K sẽ tác động đến ∆Y Để thể hiện mối quan hệ này, Harrod-Domar đã phát triển chỉ số ICOR (incremental capital-output rate), hay còn gọi là hệ số tăng vốn - đầu ra, được tính theo một công thức cụ thể.

ICOR thể hiện số lượng vốn cần thiết để tăng thêm 1 đơn vị tổng sản lượng Để hiểu rõ hơn về tác động của vốn, chúng ta cần xem xét mối quan hệ giữa ICOR và sự gia tăng sản lượng.

(1) sẽ được viết lại thành:

Trên thực tế, các hoạt động làm vốn tăng thêm chủ yếu đến từ hoạt động đầu tư (l) Vì Vậy (2) có thể được viết dưới dạng:

Từ đây ta thấy được mối quan hệ giữa đầu tư và thay đổi tổng sản lượng

Trong một nền kinh tế đóng mà không có ngoại thương, mối quan hệ giữa tiết kiệm và tăng trưởng được thể hiện qua công thức I=S Mô hình Harrod-Domar chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào vốn tăng thêm hoặc đầu tư mới hàng năm sau khi trừ đi khấu hao Do đó, nhiều quốc gia đã tích cực thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng.

Robert Merton Solow, nhà kinh tế nổi tiếng người Mỹ và là người đoạt giải Nobel kinh tế năm 1987, đã đóng góp quan trọng vào mô hình tăng trưởng kinh tế Ông lập luận rằng vốn chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng trong ngắn hạn, trong khi yếu tố công nghệ mới là nhân tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế bền vững Solow, với tư tưởng theo chủ nghĩa Keynes mới, đã xây dựng mô hình cho thấy khi tăng vốn đầu tư, sản lượng trên lao động sẽ tăng nhưng mức tăng này giảm dần theo thời gian Khi vốn đạt đến một mức nhất định, sản lượng gần như không thay đổi, cho thấy vốn không còn tác dụng trong dài hạn Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng nếu các quốc gia chú trọng phát triển công nghệ, sản lượng sẽ tăng lên với mức vốn trên lao động cố định, khẳng định rằng công nghệ mới là yếu tố chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lâu dài.

2.2 CHI TIÊU CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC

2.2.1 Chi tiêu của chính phủ

Chi tiêu của chính phủ, theo nghĩa rộng, bao gồm tổng hợp tất cả các khoản chi của chính quyền trung ương, địa phương, doanh nghiệp nhà nước và toàn dân để trang trải cho các hoạt động của chính phủ Trong khi đó, theo nghĩa hẹp, chi tiêu chính phủ chỉ tập trung vào các khoản chi của nhà nước nhằm thực hiện chức năng cung cấp hàng hóa công, phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng Khái niệm này thường được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về tài chính và chính sách công (Dương Thị Bình Minh, 2005).

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

2.3.1 Hai trường phái của chi tiêu chính phủ Đã từ rất lâu mối quan hệ giữa chi tiêu của chính phủ đối với mức độ phát triển và tăng trưởng kinh tế đã nhận được sự chú ý rất lớn trong giới học thuật Cụ thể, phân tích mối quan hệ lâu dài giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế đã cho những kết luận khác nhau Nhìn chung, lý thuyết khác nhau về mối quan hệ này có thể được tạm chia thành hai nhóm chính Trường phái Keynes và trường phái Wagner Quan điểm của Wagner (1883) về tăng trưởng kinh tế là do quá trình công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế tác động tới sự gia tăng tỷ lệ chi tiêu công Ngược lại, quan điểm của Keynes giả định rằng chi tiêu của Chính phủ là một công cụ của nhà nước trong việc thực hiện chính sách tài khóa và công cụ này ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Adolph Wagner đã chỉ ra mối liên hệ tích cực giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế trong Luật lệ Wagner (1883) Quan điểm này nhấn mạnh rằng sự gia tăng vai trò của chính phủ là kết quả của sự phát triển kinh tế, do nhu cầu quản lý và bảo vệ ngày càng cao để duy trì sức mạnh kinh tế Có ba lý do chính cho quan điểm này: đầu tiên, khi nền kinh tế phát triển, khu vực công đảm nhận các chức năng hành chính và bảo vệ trước đây thuộc về khu vực tư nhân; thứ hai, sự phát triển kinh tế dẫn đến nhu cầu tăng cao về hàng hóa xã hội, văn hóa và dịch vụ; và thứ ba, sự can thiệp của chính phủ trở nên cần thiết để điều chỉnh và hỗ trợ nền kinh tế đang phát triển.

Chính phủ lớn hơn là cần thiết để kiểm soát độc quyền tự nhiên và duy trì chức năng của thị trường (Bird, 1971) Nhiều nghiên cứu, bao gồm Gandhi (1971), Cvupta (1967) và Dritsakis cùng Adnmopoulos (2004), đã xác nhận lý thuyết này Quan điểm của Keynes cho rằng tăng trưởng kinh tế là kết quả của việc tăng cường chi tiêu khu vực công Trong bối cảnh này, chi tiêu của chính phủ được xem như một biến ngoại sinh độc lập, có thể được sử dụng như một công cụ chính sách hiệu quả để tác động đến tăng trưởng kinh tế, điều này cũng được xác nhận bởi Ansari và các cộng sự.

2.3.2 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế

Mối quan hệ giữa chi tiêu của chính phủ và tăng trưởng kinh tế đã được nhiều học giả tranh luận Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh quốc phòng và cung cấp hàng hóa, dịch vụ công nhằm giảm thiểu rủi ro tội phạm và bảo vệ lãnh thổ Chi tiêu công chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như quốc phòng, giao thông, giáo dục, y tế và điện lực Abdullah (2000) cho rằng việc tăng chi tiêu công vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong khi đầu tư vào y tế và giáo dục sẽ nâng cao hiệu suất lao động, dẫn đến gia tăng sản lượng quốc gia Ngoài ra, chi tiêu cho cơ sở hạ tầng như đường sá và điện lực sẽ giảm chi phí sản xuất và tăng đầu ra, ý kiến này cũng được nhiều học giả như Aschaucr (1989), EíLĩterly và Rebelo (1993), Haque và Kim ủng hộ.

Lý thuyết về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế vẫn còn nhiều tranh cãi, với nhiều quan điểm trái ngược về vai trò của chi tiêu công Tranh luận chủ yếu xoay quanh gánh nặng tài chính mà Chính phủ đặt lên công chúng và nền kinh tế, dựa trên hai khía cạnh chính: (i) ngân sách lớn dẫn đến gánh nặng tài chính lớn hơn cho nền kinh tế; và (ii) khu vực tư có khả năng sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn Chính phủ, dẫn đến sự đánh đổi giữa hai khu vực (Sử Đình Thành, 2012).

Mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế, như được đề xuất bởi các nhà nghiên cứu như Barro (1990), Cashin (1995), Bajo-Rubio (2000) và Milboume et al (2003), cho rằng có sự tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế ở những quốc gia có quy mô chính phủ nhỏ hơn một ngưỡng nhất định Ngược lại, ở những quốc gia có quy mô chính phủ lớn hơn ngưỡng đó, tác động sẽ trở nên tiêu cực (Raul Alberto Chamorro-Narvaez, 2012).

Các quan điểm ủng hộ Chính phủ lớn hơn cho rằng, trong nền kinh tế, Chính phủ thực hiện các chương trình cung cấp hàng hóa công có giá trị, từ đó tác động đến tổng sản lượng thông qua sự tương tác với khu vực tư nhân Việc phát triển cơ sở hạ tầng, loại bỏ hoặc điều tiết các ngoại tác sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế và cải thiện sự phân bố nguồn lực Ngoài ra, các khoản thanh toán chuyển giao cũng giúp duy trì sự hài hòa xã hội và gia tăng hiệu suất lao động Nghiên cứu của các học giả như Abdullah (2000), Al-Yousif Y (2000), Ranjan KD (2008), và Cooray A (2009) đã chỉ ra rằng sự mở rộng chi tiêu của Chính phủ có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế.

Các quan điểm ủng hộ chính phủ nhỏ hơn cho rằng chính phủ lớn dẫn đến việc phân phối nguồn lực chủ yếu qua lực lượng chính trị, gây ra hai hiệu ứng tiêu cực đối với tăng trưởng Thứ nhất, việc mở rộng khu vực công để thực hiện các chính sách tăng trưởng làm gia tăng thâm hụt ngân sách, dẫn đến việc chính phủ phải tăng thuế hoặc vay nợ, điều này gây tổn thất cho xã hội và làm tăng lãi suất, chèn lấn đầu tư khu vực tư nhân Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng chi tiêu công lớn gây ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Thứ hai, tiến trình chính trị kém linh hoạt hơn so với thị trường, làm xói mòn tăng trưởng khi chuyển giao nguồn lực từ khu vực hiệu quả sang khu vực Chính phủ kém hiệu quả Thiếu thông tin và lợi ích riêng của các nhà chính trị dẫn đến quyết định phân bổ sai nguồn lực, cản trở tăng trưởng kinh tế Kiskanen (1971) cho rằng công chức trong khu vực công có xu hướng tối đa hóa ngân sách để phục vụ lợi ích cá nhân, làm cho hàng hóa cung cấp không đáp ứng nhu cầu xã hội trong khi bộ máy khu vực công ngày càng phình to.

Có thể khẳng định rằng có mối liên hệ giữa chi tiêu của chính phủ và tăng trưởng kinh tế, đồng thời quy mô chi tiêu công cũng tác động đến sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, để xác định mối quan hệ này là tích cực hay tiêu cực, cần thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm để phân tích.

2.3.3 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục và tăng trưởng kinh tế

Sự phát triển của các nghiên cứu về học thuyết tăng trưởng đã bắt đầu với việc nhấn mạnh vai trò quan trọng của nguồn vốn qua các lý thuyết như lý thuyết số nhân đầu tư, lý thuyết gia tốc đầu tư và lý thuyết đầu tư trong mô hình Harrod – Domar Tiếp theo, học thuyết tân cổ điển Solow (1956) đã mở rộng quan điểm này bằng cách nhấn mạnh sự kết hợp giữa nguồn vốn, công nghệ và lao động trong phương trình tăng trưởng, đồng thời khẳng định rằng tiến bộ kỹ thuật là yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế Mô hình Solow đã tạo ra nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này.

Các mô hình Romer (1986) và Lucas (1988) đã giới thiệu những tiếp cận mới về tỷ lệ tăng trưởng cung lao động, tỷ lệ tiết kiệm và nhịp độ thay đổi công nghệ cố định ngoại sinh, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của trình độ kỹ năng lao động trong phát triển kinh tế.

Các mô hình này nhấn mạnh tầm quan trọng của tiết kiệm, đầu tư vào y tế và giáo dục, sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất, và phát triển công nghệ mới Theo Bose và cộng sự (2007), giáo dục, chăm sóc y tế, môi trường, công nghệ và khoa học là những yếu tố cốt lõi cho sự thịnh vượng kinh tế trong tương lai Điều này cho thấy rằng các học thuyết về tăng trưởng đã công nhận vai trò quan trọng của trình độ kỹ năng lao động và công nghệ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Các khung lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ với giáo dục như Mankiw và cộng sự (1992), Barro và Sala-i-Martin (1995), Romer (1990), Barro

(1991, 2002), Barro và Lee (2013), Krueger và Lindahl (2001), Benhabib và Spiegel

(1994) Các thảo luận này tổng kết đều cho thấy mối quan hệ tích cực giữa giáo dục ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế

Mô hình tăng trưởng nội sinh của Mankiw và cộng sự (1992) thể hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giáo dục, được trình bày dưới dạng hàm Hàm này tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục trong phát triển kinh tế.

GDP : tổng sản phẩm quốc nội

K : vốn đầu tư nền kinh tế

Chi tiêu của chính phủ cho giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các nhà kinh tế học đã phát triển nhiều lý thuyết và mô hình cho thấy giáo dục không chỉ nâng cao tiềm năng thu nhập của cá nhân mà còn tạo ra hiệu ứng "gợn sóng" tích cực cho toàn bộ nền kinh tế thông qua các ngoại tác có lợi.

Michaelowa (2000) chỉ ra rằng giáo dục có tác động tích cực ở cả góc độ vĩ mô và vi mô Ở cấp độ vi mô, giáo dục nâng cao trình độ thành tựu, sức khỏe và tinh thần của mỗi cá nhân, đồng thời giảm tỷ lệ sinh quá cao, từ đó góp phần tăng năng suất kinh tế Tham gia lực lượng lao động cũng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách tích cực.

CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

Trong các nghiên cứu thực nghiệm, mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ cho giáo dục và tăng trưởng kinh tế đã thu hút sự chú ý lớn từ các nhà kinh tế học và các chuyên gia về kinh tế công Nhiều nghiên cứu gần đây đã áp dụng hàm Cobb Douglas để phân tích tác động của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế, sử dụng các phương pháp đa dạng nhằm kiểm tra mối liên hệ này.

2004, Aziz và cộng sự, 2008, Loening 2002, Odit và cộng sự, 2010)

Lin (2004) phân tích sự phát triển kinh tế của Đài Loan từ năm 1965 đến năm

2000 cho thấy giáo dục đại học đã đóng vai trò tác động quan trọng và thuận lợi cho sự tăng trưởng của nền kinh tế ở Đài Loan

Nghiên cứu của Aziz et al (2008) đã áp dụng mô hình Cobb Douglas để phân tích tác động của giáo dục đại học đối với phát triển kinh tế ở Pakistan trong giai đoạn 1972-2008, cho thấy rằng thành quả từ giáo dục đại học có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển kinh tế của đất nước này.

Nghiên cứu của Loening (2002) chỉ ra rằng lực lượng lao động có trình độ cao sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế Odit et al (2010) cũng nhấn mạnh rằng nguồn nhân lực là yếu tố chính thúc đẩy sự gia tăng thu nhập Hơn nữa, lực lượng lao động có khả năng nâng cao năng suất, góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Tổng thể các nghiên cứu thực nghiệm như Asteriou và Agiomirgianakis (2001), Changzheng và Jin (2009), và Musila và Belassi (2004) đã sử dụng thử nghiệm đồng liên kết Johansen

Asteriou và Agiomirgianakis (2001) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lực lượng lao động và tăng trưởng kinh tế tại Hy Lạp, phát hiện ra rằng giáo dục có mối liên hệ chặt chẽ với GDP đầu người.

Changzheng và Jin (2009) đã áp dụng phương pháp phân tích tương tự cho giai đoạn từ năm 1978 đến năm 2004 tại Trung Quốc, cho thấy mối quan hệ tích cực giữa chi tiêu của chính phủ cho giáo dục và sự phát triển kinh tế.

Nghiên cứu của Musila và Belassi (2004) về Uganda giữa những năm 1965 và

Năm 1999 đã chỉ ra rằng chi tiêu giáo dục của chính phủ cho mỗi người lao động có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển kinh tế Sử dụng mô hình điều chỉnh sai số ECM, tác giả đã phát hiện rằng chi tiêu cho giáo dục đóng vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế tại các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Uganda.

Nghiên cứu của O'Neill (1995) cho thấy sự hội tụ trong trình độ học vấn đã làm giảm sự phân tán thu nhập, mặc dù thu nhập toàn cầu vẫn còn khác biệt Ông chỉ ra rằng sự gia tăng lợi ích từ giáo dục chủ yếu tập trung vào các nước phát triển, dẫn đến chi phí giáo dục cao hơn so với các nước kém phát triển.

Nghiên cứu của Sylwester (2000) chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế Kết quả cho thấy việc đầu tư nhiều hơn vào giáo dục có thể là một giải pháp hiệu quả để giảm thiểu bất bình đẳng thu nhập.

Barro (2001) đã phân tích dữ liệu từ khoảng 100 quốc gia trong giai đoạn 1965 đến 1995 và nhận thấy rằng tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ tích cực với số năm học của nam giới trưởng thành ở cấp trung học trở lên Tuy nhiên, tăng trưởng không ảnh hưởng đáng kể đến việc đạt được trình độ học vấn của nữ giới ở cấp trung học cơ sở, cao hơn và tiểu học.

Chandra (2010) đã tổng hợp các nghiên cứu cho thấy chi tiêu chính phủ cho giáo dục đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và tính gắn kết xã hội Mặc dù lợi ích từ đầu tư công trong giáo dục không luôn rõ ràng ngay lập tức, nhưng chúng có ảnh hưởng lớn trong dài hạn Một ví dụ điển hình là sự bùng nổ phần mềm ở Ấn Độ, phản ánh sự đầu tư vào Viện Công nghệ Ấn Độ (IIT), cho thấy hiệu quả của chi tiêu chính phủ trong giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế Hơn nữa, việc nâng cao trình độ giáo dục không chỉ cải thiện chất lượng lực lượng lao động mà còn tác động tích cực đến sức khoẻ, vệ sinh an toàn thực phẩm và dinh dưỡng, đồng thời giúp công dân có học thức tham gia hiệu quả hơn vào xã hội.

Chi tiêu giáo dục không chỉ tác động trực tiếp đến hệ thống kinh tế mà còn tạo ra những tác động bên ngoài tích cực, bao gồm việc nâng cao trình độ học vấn và thành tích học tập của trẻ em Điều này dẫn đến sức khỏe tốt hơn, tỷ lệ tử vong trẻ em thấp hơn, cải thiện sức khỏe cá nhân, và giảm số trẻ sinh ra Ngoài ra, chi tiêu giáo dục còn thúc đẩy thu nhập tăng cao và sự tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động, góp phần vào sự gia tăng dân số thấp hơn và sức khỏe cộng đồng, từ đó ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế (Michaelowa, 2000).

Nghiên cứu của Blankenau và cộng sự (2005) chỉ ra rằng mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ cho giáo dục và tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào mức chi tiêu, cơ cấu thuế và công nghệ sản xuất Trong khi nghiên cứu tài liệu rộng rãi về lĩnh vực này vượt quá phạm vi bài báo, tác giả tập trung vào các nghiên cứu hiện đại nhất liên quan đến mối quan hệ giữa chi tiêu giáo dục và tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu trước đây chủ yếu nhấn mạnh mối liên hệ giữa chi tiêu công cho giáo dục và tăng trưởng kinh tế, cho rằng tăng trưởng kinh tế là nội sinh liên quan đến sự tích tụ vốn con người.

Đầu tư vào giáo dục mang lại lợi ích to lớn cho xã hội, ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển kinh tế cả ở cấp độ vi mô lẫn vĩ mô Nghiên cứu của Dahlin (2005) chỉ ra rằng giáo dục không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trực tiếp mà còn gián tiếp thông qua việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Để xác định mối quan hệ giữa chi tiêu giáo dục và tăng trưởng kinh tế, nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng thử nghiệm Granger Causality tuyến tính, nhằm đánh giá khả năng tiên đoán của các mô hình chuỗi thời gian (Alexakis và Siriopoulos, 1999) Tất cả các nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả đều dựa trên các thử nghiệm Causality tuyến tính truyền thống kết hợp với các mô hình hiệu chỉnh sai số ECM.

Nghiên cứu của Shaari (2014) về mối liên hệ giữa mức độ giáo dục và tăng trưởng kinh tế ở Malaysia trong giai đoạn 1982-2011 cho thấy không có bằng chứng nào cho thấy giáo dục có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ cho giáo dục và tăng trưởng kinh tế Học thuyết tăng trưởng của Romer (1986) và Lucas (1988) nhấn mạnh vai trò của kỹ năng lao động và công nghệ trong việc ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, điều này được khẳng định lại bởi Bose và cộng sự (2007) trong nghiên cứu tiếp theo.

Nghiên cứu này dựa trên các khung lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ với giáo dục, được phát triển bởi Mankiw và cộng sự (1992), Barro và Sala-i-Martin (1995), cùng với Romer.

Nhiều nghiên cứu, bao gồm các tác giả như Barro (1990, 1991, 2002), Barro và Lee (2013), Krueger và Lindahl (2001), cùng với Benhabib và Spiegel (1994), đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa chi tiêu giáo dục của chính phủ và tăng trưởng kinh tế Trong số đó, mô hình tăng trưởng nội sinh của Mankiw và cộng sự (1992) đã tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng thành một hàm rõ ràng.

GDP : Tổng sản phẩm quốc nội

K : Vốn đầu tư nền kinh tế

ED : Chi tiêu chính phủ cho giáo dục

Mô hình lý thuyết sử dụng biến logarit tự nhiên để chuyển đổi sang dạng tốc độ tăng trưởng, tương tự như cách tiếp cận của Ozatac (2018) trong việc nghiên cứu tác động của chi tiêu chính phủ cho giáo dục đến tăng trưởng kinh tế Hàm hồi quy thực nghiệm được thiết lập sau khi áp dụng logarit tự nhiên.

GDP : Tổng sản phẩm quốc nội được đo lường bằng GDP thực

K : Vốn đầu tư nền kinh tế hình thành

L : Số lượng lao động của nền kinh tế

ED : Chi tiêu chính phủ cho giáo dục uit : Sai số mô hình hồi quy i : quốc gia t : thời gian năm

Để kiểm soát các yếu tố tránh hiện tượng thiếu biến, nghiên cứu Wei (2008) đã bổ sung biến kiểm soát là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, bên cạnh các yếu tố như vốn đầu tư nền kinh tế, lao động, chi tiêu chính phủ cho giáo dục và độ mở thương mại Hàm hồi quy dài hạn được thiết lập dựa trên những biến này.

Trade : Độ mở thương mại gồm tổng xuất khẩu và nhập khẩu trên GDP FDI : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Phân tích các biến trong mô hình:

Vốn đầu tư nền kinh tế hình thành (K):

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng vốn đầu tư đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, từ các lý thuyết như số nhân đầu tư, gia tốc đầu tư, cho đến mô hình Harrod-Domar và lý thuyết Solow (1956) Các nghiên cứu gần đây, chẳng hạn như của Jwan và James (2014) cùng với Kongphet và Masaru (2012), cũng khẳng định tầm quan trọng này trong việc thúc đẩy sự phát triển.

Số lao động của nền kinh tế (L):

Trong mô hình tân cổ điển, lao động là yếu tố chính ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, được nhấn mạnh qua các nghiên cứu về hàm sản xuất Cobb-Douglass và mô hình Solow (1956) Ngoài ra, trong mô hình tăng trưởng nội sinh, lao động cũng thể hiện vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục (ED):

Chi tiêu chính phủ cho giáo dục, được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với GDP, bao gồm cả nguồn tài trợ quốc tế và chi tiêu từ chính quyền địa phương, khu vực và trung ương Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chi tiêu cao trong lĩnh vực giáo dục có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Độ mở thương mại, đo bằng tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sự hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ gia tăng nguồn vốn đầu tư mà còn tích lũy vốn và nâng cao nguồn lực con người, với nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa độ mở thương mại và tăng trưởng kinh tế.

Nghiên cứu chỉ ra rằng các giá kỳ vọng về độ mở thương mại có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Các học thuyết tăng trưởng trong mô hình nội sinh cho thấy xuất nhập khẩu ảnh hưởng đồng thời đến sự phát triển kinh tế Barro và Sala-I-Martin (2004), cùng với Grossman và Helpman (1991), nhấn mạnh rằng sự linh hoạt trong chế độ thương mại có thể nâng cao khả năng tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc gia tăng xuất khẩu dịch vụ và hàng hóa.

Nghiên cứu của Jwan và James (2014) cùng với Kandenge (2010) đã chỉ ra vai trò quan trọng của xuất khẩu trong tăng trưởng kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là dòng vốn đầu tư từ một quốc gia vào nền kinh tế khác, bao gồm vốn cổ phần, tái đầu tư thu nhập và các nguồn vốn khác FDI liên quan đến việc một nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể đến quản lý doanh nghiệp tại quốc gia tiếp nhận Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế đã được nghiên cứu rộng rãi, với những kết quả cho thấy cả ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực Balasubramanyam và cộng sự (1996) đã phân tích rằng FDI đóng vai trò cốt lõi trong xuất khẩu, với dữ liệu thu thập từ 46 quốc gia để chứng minh cho kết quả này.

Nghiên cứu của Karikari (1992) tại Ghana cho thấy FDI không thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong khi Sử Đình Thành và Minh Tiến (2014) lại khẳng định rằng FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh thành Việt Nam trong giai đoạn 1997-2012, cho thấy sự không đồng nhất trong các bằng chứng về FDI.

Dựa vào các thảo luận trên, tác giả tổng hợp bảng kỳ vọng dấu như sau:

Bảng 3.1: Cách tính toán biến và dấu kỳ vọng

Ký hiệu Tên biến Mô tả dữ liệu Kỳ vọng dấu

GDP Tổng sản phẩm quốc nội thực

Tổng sản phẩm quốc nội thực GDP năm gốc 2010 (USD)

ED Chi tiêu chính phủ cho lĩnh vực giáo dục

Chi tiêu chỉnh phủ cho khu vực giáo dục (% chi tiêu chính phủ)

Nguồn vốn hình thành nền kinh tế (% GDP)

L Lao động Tổng lao động nền kinh tế (đơn vị người)

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng (% GDP)

TRADE Độ mở thương mại

Xuất khẩu cộng Nhập Khẩu (%

Tất cả các biến đều được sử dụng logarit tự nhiên nhằm làm phẳng mẫu dữ liệu nghiên cứu, dựa trên hàm hồi quy dài hạn Ozatac (2018).

CỠ MẪU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tiến hành ước lượng hồi quy dữ liệu bảng Dữ liệu nghiên cứu gồm

9 các quốc gia Đông Nam Á có dữ liệu đầy đủ Bao gồm:

Số thứ tự Quốc gia

Myanmar không được coi là một quốc gia nghiên cứu, mặc dù nằm trong khu vực Đông Nam Á, do thiếu dữ liệu về chi tiêu chính phủ cho giáo dục trong giai đoạn này, theo thông tin từ World Bank.

Khoảng thời gian nghiên cứu là từ 2000-2016, đây là khoảng thời gian các quốc gia trong cỡ mẫu có dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được tác giả tổng hợp từ bộ dữ liệu Chỉ tiêu phát triển thế giới (World development indicators).

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KIỂM ĐỊNH THỰC HIỆN

Trước khi tiến hành kiểm định dữ liệu mô hình, tác giả thực hiện đánh giá sơ bộ thông qua thống kê mô tả các biến nghiên cứu, bao gồm các thông số như giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, độ lệch chuẩn và giá trị trung bình.

Xem xét đánh giá số lượng quan sát và các quan sát khác biệt trong cỡ mẫu nghiên cứu

3.3.1 Ưu điểm dữ liệu bảng

Dựa trên tổng hợp Baltagi (2008) về ưu điểm dữ liệu bảng Dữ liệu bảng gồm hai thành phần không gian và thời gian

Không gian có thể được hiểu là quốc gia, công ty, cá nhân, ngân hàng và các chủ thể khác, và yếu tố này có thể thay đổi theo thời gian, tạo ra một bộ dữ liệu đa dạng.

Luận văn này nghiên cứu tại các quốc gia Đông Nam Á trong thời gian 2000-

2016 cũng trên dữ liệu bảng

Dữ liệu bảng cung cấp nhiều quan sát hơn, giúp giảm thiểu đa cộng tuyến và tăng bậc tự do trong ước lượng, từ đó nâng cao độ tin cậy của kiểm định Hơn nữa, các phương pháp ước lượng dữ liệu bảng có khả năng loại bỏ những yếu tố không quan sát được giữa các quốc gia, chẳng hạn như ngôn ngữ, khoáng sản và văn hóa, điều mà các mô hình chuỗi thời gian không thể thực hiện hiệu quả.

Trong phân tích chuỗi thời gian, chỉ những chuỗi thời gian có tính chất dừng mới mang lại kết quả ước lượng đáng tin cậy, giúp tránh hiện tượng hồi quy giả mạo.

Trước khi chọn phương pháp phân tích, điều quan trọng là phải kiểm tra xem chuỗi dữ liệu quan sát có ổn định hay không.

Biến có tính dừng (stationarity) là loại biến mà giá trị thống kê của nó không thay đổi theo thời gian, trong khi đó, biến không có tính dừng là biến có giá trị thống kê thay đổi theo thời gian.

Có nhiều phương pháp kiểm định tính dừng khác nhau, trong đó phương pháp IPS (2003) là phù hợp cho dữ liệu bảng khi cỡ mẫu N và T tương đối bằng nhau.

3.3.3 Kiểm định đồng liên kết

Tính không dừng của dữ liệu chuỗi thời gian là yếu tố quan trọng để tiến hành kiểm định đồng liên kết Bài nghiên cứu này áp dụng phương pháp kiểm định đồng liên kết do Pedroni phát triển, một trong những phương pháp phổ biến trong phân tích dữ liệu bảng.

Mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát thông tin dài hạn, đặc biệt là trong phương trình cân bằng hiệu chỉnh sai số (ECM).

Giả thuyết H0 cho rằng không có hiện tượng đồng liên kết, trong khi giả thuyết H1 khẳng định sự tồn tại của hiện tượng này Để quyết định bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết H0, cần so sánh giá trị thống kê với giá trị tới hạn (Critical Value) tại mức ý nghĩa đã được xác định.

Nếu mô hình có đồng liên kết, việc phân tích dài hạn có thể thực hiện thông qua phương trình ước lượng với dữ liệu gốc, trong khi phân tích ngắn hạn sử dụng phương pháp ước lượng ECM trên sai phân bậc 1 của dữ liệu.

Sau khi chọn được mô hình phù hợp, tác giả tiến hành kiểm định các giả thuyết định lượng để xác định phương pháp ước lượng tin cậy.

3.3.4 Kiểm soát các khuyết tật vi phạm các giả thuyết của mô hình

Nhằm đảm bảo mô hình ước lượng tin cậy, tác giả lần lượt kiểm định các giả thiết định lượng

3.3.4.1 Ki ể m soát ph ươ ng sai c ủ a ph ầ n d ư không đồ ng đề u

Phương sai phần dư không đồng đều nghĩa là phương sai của các phần dư ở các quan sát khác nhau thì sẽ khác nhau, không là hằng số

Kết quả sẽ dẫn đến ước lượng mất tính hiệu quả Ảnh hưởng độ tin cậy ước lượng và các kiểm định sử dụng trong bài nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện hồi quy, việc áp dụng phương pháp ước lượng GMM và FMOLS là cần thiết để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi, như đã được Arelano và Bond (1995) cùng Pedroni (2001) chỉ ra.

3.3.4.2 Ki ể m soát s ự t ự t ươ ng quan sai s ố

Trong dữ liệu chuỗi thời gian, nếu sai số giữa các năm có sự ảnh hưởng lẫn nhau theo thứ tự thời gian, sẽ xảy ra hiện tượng tự tương quan phần dư.

Tương tự như phương sai thay đổi, kết quả sẽ dẫn đến ước lượng không hiệu quả, ảnh hưởng đến độ tin cậy của các ước lượng và các kiểm định được sử dụng trong nghiên cứu.

PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 01/09/2023, 22:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Cách tính toán biến và dấu kỳ vọng - Luận văn thạc sĩ chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế khu vực đông nam á
Bảng 3.1 Cách tính toán biến và dấu kỳ vọng (Trang 37)
Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai - Luận văn thạc sĩ chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế khu vực đông nam á
Bảng 4.3 Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w