Sưu tập, chọn lọc và sử dụng các thí nghiệm hóa học vui, câu hỏi hóa học vui,hiện tượng hóa học trong thiên nhiên, trong cuộc sống và hệ thống bài tập dùngtrong hoạt động ngoại khóa hóa
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các chữ viết tắt 4
Danh mục các bảng, biểu đồ, đồ thị
Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra lần 1 (Bố Trạch) 71
Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra lần l (Việt Trung) 72
Bảng 3.3: Mô tả điểm kiểm tra lần 1 72
Bảng 3.4: Tần số f và tần suất kết quả kiểm tra lần 1 72
Bảng 3.5: % học sinh đạt điểm kiểm tra từ Xi trở xuống (lần 1) 73
Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra lần 2 (Bố Trạch) 74
Bảng 3.7: Kết quả kiểm tra 2 (Việt Trung) 74
Bảng 3.8: Mô tả điểm kiểm tra lần 2 74
Bảng 3.9: Tần số f và tần suất kết quả kiểm tra lần 2 75
Bảng 3.10: % học sinh đạt điểm kiểm tra từ Xi trở xuống (lần 2) 75
Bảng 3.11: Giá trị các tham số đặc trưng 77
Biểu đồ 3.1: Biểu diễn kết quả kiểm tra lần 1 73
Biểu đồ 3.2: Biểu diễn kết quả kiểm tra lần 2 75
Đồ thị 3.1: Đường luỹ tích biểu diễn kết quả kiểm tra lần 1 73
Đồ thị 3.2: Đường luỹ tích biểu diễn kết quả kiểm tra lần 2 76
PHẦN I: MỞ ĐẦU 5
I Lí do chọn đề tài 5
II Mục đích nghiên cứu 6
III Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
IV Nhiệm vụ nghiên cứu 7
V Phương pháp nghiên cứu 7
VI Phạm vi nghiên cứu 7
VII Giả thuyết khoa học 8
VIII Cái mới của đề tài 8
Trang 2PHẦN II: NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HOÁ HỌC CHO HỌC SINH THPT 9
1.1: Cơ sở lí luận 9
1.1.1: Hoạt động nhận thức 9
1.1.2: Hứng thú học tập 13
1.1.3: Hoạt động ngoại khoá 16
1.2: Thực tiễn hoạt động ngoại khoá hoá học ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 20
1.2.1: Mục đích điều tra 20
1.2.2: Kết quả điều tra, phỏng vấn 21
Tóm tắt chương 1 23
CHƯƠNG 2: NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HOÁ HỌC CHO HỌC SINH THPT QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ 24
2.1: Cơ sở khoa học của việc sưu tập, chọn lọc, sử dụng các thí nghiệm hoá học vui, câu hỏi hoá học vui, hiện tượng hoá học trong thiên nhiên và trong cuộc sống dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học ở trường phổ thông 24
2.1.1: Cơ sở khoa học của việc sưu tập, chọn lọc, sử dụng thí nghiệm hoá học vui dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 24
2.1.2: Cơ sở khoa học của việc sưu tập, chọn lọc câu hỏi hoá học vui, hiện tượng hoá học trong thiên nhiên và trong cuộc sống dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 25
2.2: Sưu tập, chọn lọc, sử dụng thí nghiệm hoá học vui dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 26
2.3: Hệ thống câu hỏi hoá học vui, hiện tượng hoá học trong thiên nhiên và trong cuộc sống dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 38
2.3.1: Hiện tượng hoá học trong thiên nhiên 38
2.3.2: Hiện tượng hoá học trong cuộc sống 41
2.4: Hệ thống bài tập dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 52
2.4.1: Bài tập phát triển tư duy logic 52
Trang 32.4.2: Bài tập thực tiễn dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 54
2.4.3: Bài tập dùng cho câu lạc bộ giải toán hoá học 62
2.5: Tổ chức một số hình thức hoạt động ngoại khoá hoá học để nâng cao năng lực nhận thức và hứng thú học tập cho học sinh THPT 68
2.5.1: Tổ chức câu lạc bộ giải toán hoá học 68
2.5.2: Tổ chức ngày hội hoá học 69
2.5.3: Tổ chức tham quan nhà máy chế biến cao su Việt Trung 69
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1: Mục đích thực nghiệm sư phạm 70
3.2: Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 70
3.3: Địa điểm, trường, lớp và phương pháp thực nghiệm sư phạm 70
3.4: Nội dung thực nghiệm sư phạm 71
3.5: Kết quả thực nghiệm sư phạm 71
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .78
I Kết luận 78
II Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTCT : Công thức cấu tạoCTPT : Công thức phân tửđktc : Điều kiện tiêu chuẩnNTK : Nguyên tử khốiPTHH : Phương trình hoá họcTHCS : Trung học cơ sởTHPT : Trung học phổ thông
ĐC : Đối chứng
Trang 5PHẦN I: MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Hòa chung với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, ngành giáo dục
và đào tạo Việt Nam đang tiếp tục đổi mới phương pháp dạy, đổi mới phương pháphọc nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và tiếp tục thực hiện nhiệm vụnâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổquốc, vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh
Hội nghị lần thứ hai của ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII đã đề rabốn giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cho ngành giáo dục và đào tạo, màmột trong bốn giải pháp đó là: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo,khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”
Dự thảo báo cáo chính trị tại đại hội X của Đảng đã nêu: “Một nền giáo dụchiện đại phải dạy cho con người biết học cách học, học cách làm, học cách tổ chứccác tri thức, liên kết các tri thức nhằm nâng cao hiệu quả hành động của mình” Trước những yêu cầu đòi hỏi cấp thiết của giáo dục và đào tạo nước nhà, màtrọng tâm là đổi mới phương pháp dạy, đổi mới phương pháp học nhằm phát huyvai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, nâng cao nhận thức của người học, giúp ngườihọc vừa lĩnh hội được hệ thống tri thức khoa học phổ thông, vừa cập nhật đượcnhững tri thức khoa học mới, hiện đại để khi bước vào đời không bị bỡ ngỡ trước sựphát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật
Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, việc tăng nội dung thực hànhtrong dạy học hóa học không những tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh lĩnh hội hệthống tri thức, rèn luyện kĩ năng thực hành, phát triển tư duy, mà còn giúp học sinhhình thành thế giới quan khoa học đúng đắn Trong hoạt động dạy học nói chung vàhoạt động dạy học hóa học nói riêng, hứng thú học tập là động lực thúc đẩy tính tíchcực, tự giác trong học tập, lòng say mê, ham hiểu biết tri thức khoa học Thực tiễnchứng tỏ rằng thiếu hứng thú học tập làm cho tinh thần mệt mỏi, làm giảm khả năng
tư duy, giảm khả năng lĩnh hội tri thức và đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sựyếu kém trong học tập
Do khối lượng kiến thức của nhân loại là một kho tàng khổng lồ và ngày càngđược bổ sung, trong khi đó thời gian học trên lớp chưa đáp ứng được việc tiếp cận
Trang 6toàn bộ lượng kiến thức này Chủ trương của bộ giáo dục và đào tạo là tăng thờigian học tập trên lớp nhằm giảm tải và đưa thêm một lượng kiến thức mới vàochương trình sách giáo khoa mới so với bộ sách cải cách giáo dục Nhưng còn mộtlượng tri thức khoa học lớn cần hiểu, cần biết mà chưa có điều kiện để đưa vàochương trình Vì vậy, để giải quyết vấn đề này đối với bộ môn hóa học thì việc tổchức hoạt động ngoại khóa hóa học có ý nghĩa thiết thực.
Thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT trên địa bàn tỉnhQuảng Bình đã được chú trọng Nhưng nội dung và hình thức tổ chức chưa phongphú nên phần nào đã ảnh hưởng đến năng lực nhận thức và hứng thú học tập bộmôn hóa học của học sinh Với những lí do trên nên chúng tôi quyết định chọn đề
tài: “NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA”.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Sưu tập, chọn lọc và sử dụng các thí nghiệm hóa học vui, câu hỏi hóa học vui,hiện tượng hóa học trong thiên nhiên, trong cuộc sống và hệ thống bài tập dùngtrong hoạt động ngoại khóa hóa học để củng cố, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩnăng thực hành, thí nghiệm cho học sinh, bước đầu tạo điều kiện cho học sinh làmquen với nghiên cứu khoa học, đồng thời nâng cao năng lực nhận thức và hứng thúhọc tập cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học hóa học
Bên cạnh đó giúp giáo viên bồi dưỡng thêm kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năngthực hành thí nghiệm và phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học đểnâng cao hiệu quả của quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông
III KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học bộ môn hóa học ở trường THPT Đối tượng nghiên cứu:
- Hệ thống lí luận về hoạt động nhận thức và hứng thú học tập của học sinh
- Hệ thống lí luận về hoạt động ngoại khóa hóa học ở trường phổ thông
- Hệ thống thí nghiệm hóa học vui, câu hỏi hóa học vui, hiện tượng hóa họctrong thiên nhiên, trong cuộc sống và hệ thống bài tập hóa học nhằm kích thíchhứng thú học tập bộ môn hóa học, nâng cao năng lực nhận thức và phát triển tư duycho học sinh
Trang 7IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài.
a) Nghiên cứu về quá trình hoạt động nhận thức và hứng thú của học sinhtrong hoạt động học tập
b) Nghiên cứu hệ thống lí luận về hoạt động ngoại khóa hóa học ở trường phổthông
2 Nghiên cứu thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và nghiên cứu các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học ở trường THPT.
3 Sưu tập, chọn lọc và sử dụng các thí nghiệm hóa học vui, câu hỏi hóa học vui, hiện tượng hóa học trong thiên nhiên, trong cuộc sống và hệ thống bài tập dùng trong hoạt động ngoại khóa hóa học ở trường THPT.
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở tiếp cận hệ thống cấu trúc, chúng tôi đã
dùng nhóm các phương pháp nghiên cứu sau:
1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết, phương pháp phân loại và hệthống hoá lí thuyết, phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu
2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Nghiên cứu thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT trênđịa bàn tỉnh Quảng Bình (điều tra, phỏng vấn, phân tích, tổng kết kinh nghiệm )
3 Nhóm phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá và kết luận qui môảnh hưởng của hoạt động ngoại khóa hoá học đối với việc nâng cao năng lực nhậnthức và hứng thú học tập môn hóa học của học sinh THPT
- Sử dụng toán thống kê, sác xuất trong nghiên cứu khoa học giáo dục để xử lí
số liệu thực nghiệm thu được
VI PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Trong khuôn khổ thời gian và điều kiện, chúng tôi sẽ nghiên cứu hệ thống líluận về hoạt động nhận thức, hứng thú học tập của học sinh, nghiên cứu cơ sở líluận của hoạt động ngoại khóa ở trường THPT và nghiên cứu hệ thống thí nghiệm
Trang 8hoá học vui, câu hỏi hóa học vui, hiện tượng hóa học trong thiên nhiên, trong cuộcsống và hệ thống bài tập hóa học trong chương trình THPT.
VII GIẢ THUYẾT KHOA HỌC.
Đối với bộ môn hóa học, nếu người giáo viên thường xuyên tổ chức và khaithác tốt hoạt động ngoại khóa, với nội dung và hình thức tổ chức đa dạng, phongphú thì không những nâng cao được năng lực nhận thức và hứng thú học tập bộmôn, mà còn có tác dụng tích cực trong việc phát triển tư duy, nâng cao kĩ năngthực hành, thí nghiệm, kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, nhằmnâng cao chất lượng dạy học hóa học
VIII CÁI MỚI CỦA ĐỀ TÀI.
- Tăng cường nội dung thực hành trong hoạt động dạy học
- Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa phong phú, tùy thuộcvào mục đích, điều kiện, cơ sở vật chất, thời gian, không gian, mà áp dụng hìnhthức hoạt động ngoại khóa hóa học cho phù hợp, nhằm nâng cao năng lực nhận thức
và hứng thú học tập cho học sinh THPT
- Sưu tập, xây dựng, chọn lọc hệ thống thí nghiệm hóa học vui, câu hỏi hóahọc vui, hiện tượng hóa học trong thiên nhiên, trong cuộc sống và hệ thống bài tậpdùng trong các hoạt động ngoại khóa hóa học khác nhau, nhằm nâng cao năng lựcnhận thức và hứng thú học tập cho học sinh trung học phổ thông
PHẦN II: NỘI DUNG
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1: Cơ sở lí luận.
1.1.1: Hoạt động nhận thức [30], [31].
1.1.1.1: Khái niệm nhận thức.
Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người,
là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể
1.1.1.2: Bản chất của nhận thức.
Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã tạo ra một cuộc cách mạng trong
lí luận nhận thức Bằng sự kế thừa những tinh hoa của lí luận nhận thức trước Mác,dựa vào thực tiễn lịch sử và thành tựu của khoa học kĩ thuật Các Mác, Ph Ăngghen
đã xây dựng nên lí luận nhận thức duy vật biện chứng, lí luận này có những quanđiểm cơ bản sau:
- Nhận thức không phải là cái gì khác, mà là sự phản ánh hiện thực khách quanvào trong bộ óc của con người
- Con người có thể nhận thức thế giới vật chất, có những sự vật, hiện tượng màcon người chưa biết, nhưng trải qua thời gian với sự phát triển của khoa học kĩ thuật
và thực tiễn con người rồi sẽ nhận thức được Không có cái gì là không thể nhậnthức được, mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được, nhưng rồi sẽ nhận thứcđược
- Khẳng định sự phản ánh hiện thực khách quan là một quá trình biện chứng,tích cực, tự giác và sáng tạo Quá trình phản ánh đó xảy ra theo trình tự từ chưa biếtđến biết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâusắc đến bản chất sâu sắc hơn
- Nhận thức không phải là sự phản ánh đơn giản, nhất thời, mà là quá trình biệnchứng, quá trình không ngừng nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn
- Thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mụcđích của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lí
Trang 10Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: “Nhận thức là quá trình phản ánhbiện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc củacon người, trên cơ sở thực tiễn”.
V.I Lênin đã vạch rõ quy luật chung của hoạt động nhận thức là: “Từ trực quansinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là conđường biện chứng của sự nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan”
1.1.1.3: Các hình thức hoạt động nhận thức.
* Nhận thức cảm tính (hay còn gọi trực quan sinh động)
Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, đó là giaiđoạn mà con người sử dụng các giác quan để tác động trực tiếp vào các sự vật, hiệntượng nhằm nắm bắt các sự vật, hiện tượng ấy Nhận thức cảm tính gồm 3 hìnhthức: Cảm giác, tri giác và biểu tượng
- Cảm giác: Là sự phản ánh các thuộc tính riêng lẽ của các sự vật, hiện tượngkhi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người, cảm giác lànguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hoá những năng lượngkích thích từ bên ngoài thành yếu tố của ý thức V.I Lênin viết: “Cảm giác là hìnhảnh chủ quan của thế giới khách quan”
- Tri giác: So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức cao hơn, đầy đủhơn, phong phú hơn về sự vật, hiện tượng của nhận thức cảm tính Nó là hình ảnhtương đối toàn vẹn về sự vật, hiện tượng, khi các sự vật, hiện tượng đang trực tiếptác động vào các giác quan Tri giác nảy sinh dựa trên cơ sở của cảm giác, là sựtổng hợp của nhiều cảm giác
- Biểu tượng: Là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của nhận thứccảm tính, đó là hình ảnh cảm tính và tương đối hoàn chỉnh còn lưu lại trong bộ óccủa con người về sự vật, hiện tượng, khi sự vật, hiện tượng đó không còn trực tiếptác động vào các giác quan
Như vậy, cảm giác, tri giác và biểu tượng là những giai đoạn kế tiếp nhau củahình thức nhận thức cảm tính, chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau Trong nhậnthức cảm tính đã tồn tại cả cái bản chất lẫn không bản chất, cả cái tất yếu và cáingẫu nhiên, cả cái bên trong lẫn bên ngoài về sự vật
* Nhận thức lí tính (tư duy trừu tượng)
Trang 11Nhận thức lí tính là giai đoạn tiếp theo và cao hơn nhận thức cảm tính, là giaiđoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát hoá những thuộc tính, những đặcđiểm bản chất của đối tượng Muốn nhận thức được nội dung, bản chất của sự vật,hiện tượng con người phải nhờ đến tư duy trừu tượng Nhận thức lí tính được thểhiện ở các hình thức sau: Khái niệm, phán đoán và suy lụân.
- Khái niệm: Là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, nó phản ánh nhữngthuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng Sự hình thành khái niệm là kết quả của
sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng.Khái niệm vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan, vừa có mối quan hệ tácđộng qua lại lẫn nhau, vừa thường xuyên vận động và phát triển Con người trongquá trình hoạt động trí tuệ đã xây dựng nên những khái niệm về sự vật, hiện tượngtrong hiện thực khách quan, hiện thực khách quan luôn luôn vận động và phát triểnkhông ngừng, khái niệm phản ánh hiện thực đó nên nó cũng luôn vận động và pháttriển Muốn biết khái niệm có phù hợp với hiện thực hay không phải qua thực tiễnkiểm nghiệm
- Phán đoán: Là hình thức của tư duy nhằm liên kết các khái niệm lại với nhau
để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng.Phán đoán được biểu thị bằng câu và một phán đoán có thể là đơn hay phức
Ví dụ: “Clo là một phi kim” là một phán đoán đơn, nó chỉ đưa ra một khẳngđịnh về thuộc tính của đối tượng
“ Clo là một phi kim mạnh, có thể oxi hoá được nhiều kim loại” là một phánđoán phức, gồm hai phán đoán
- Suy luận: Là hình thức tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút raphán đoán mới
Ví dụ: Từ hai phán đoán: “Mọi kim loại đều dẫn điện”, “Nhôm là kim loại” Liênkết hai phán đoán này lại, ta rút ra được một phán đoán mới là: “Nhôm dẫn điện” Như vậy, nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính là những nấc thang hợp thànhchu trình nhận thức, chúng có những nhiệm vụ và chức năng khác nhau Nếu nhậnthức cảm tính gắn liền với hoạt động thực tiễn, với sự tác động của khách thể cảmtính, là cơ sở cho nhận thức lí tính, thì nhận thức lí tính nhờ có khái quát cao lại cóthể hiểu được bản chất Trong quá trình nhận thức, thực tiễn chiếm một vị trí quan
Trang 12trọng, bởi nó là cơ sở, động lực, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để xácđịnh tính chân thực của tri thức mà con người thu nhận được qua quá trình nhận thức.
1.1.1.4: Vai trò của nhận thức trong hoạt động học tập của học sinh [17].
Hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình học tập là một quá trình vậnđộng không ngừng, từ chổ chưa biết đến biết được, từ chổ biết chưa đầy đủ, chưađúng đắn đến đầy đủ hơn, đúng đắn hơn Sự hoạt động đó phải trải qua nhiều conđường khác nhau
- Con đường trực tiếp: Thông qua sự phản ánh thế giới vật chất mà học sinhtiếp xúc được, thể hiện qua các hoạt động như: Thực nghiệm khoa học, thí nghiệm,thực hành, lao động sản xuất hoặc qua sự quan sát các sự vật, hiện tượng trong thiênnhiên và trong xã hội
- Con đường gián tiếp: Thông qua hoạt động nhận thức để biến kho tàng trithức của nhân loại thành những hiểu biết của bản thân mình Con đường này thểhiện ở chổ học sinh phải học tập các môn khoa học có kế hoạch, có hệ thống dưới
sự hướng dẫn của người giáo viên
Hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động tìm tòi và tiếp thu những kiếnthức trong kho tàng kiến thức của nhân loại, vì vậy, hoạt động nhận thức đóng vaitrò rất quan trọng, ban đầu từ những cảm giác, tri giác, biểu tượng tiếp theo lànhững khái niệm, phán đoán, suy luận học sinh dần dần biết, hiểu và vận dụng kiếnthức thành thạo
Trong hoạt động học tập muốn cho học sinh tiếp cận hệ thống tri thức dễ dàng,sâu sắc và bền vững, người giáo viên phải xây dựng các khái niệm, các thuyết từ sựquan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng, sau đó khái quát hóa giúp học sinh hiểuđược bản chất của kiến thức Các phương pháp dạy học được coi là tích cực nếu nólàm thức dậy ở học sinh sự hứng thú, sự tích cực hoạt động trí tuệ và luôn hướnghọc sinh vào trạng thái hoạt động tìm kiếm tri thức
Tính tích cực của tư duy được đặc trưng bằng sự xuất hiện hứng thú một cáchbền vững đối với vấn đề nghiên cứu
* Các mức độ của tính tích cực trong nhận thức học tập
- Tích cực nhận thức, mô phỏng, bắt chước kinh nghiệm hoạt động của ngườinày được tích lũy chuyển qua kinh nghiệm của người khác
Trang 13Ví dụ: Giáo viên mô tả cách lắp ghép dụng cụ và tiến hành thí nghiệm hóa học,học sinh theo dõi và làm lại các thao tác này.
- Tính tích cực của nhận thức chủ động tìm tòi kiến thức: Học sinh nhận thứcđược yêu cầu, nhiệm vụ và tự mình tìm các con đường để thực hiện nhiệm vụ
Ví dụ: Khi giải các bài tập hóa học
- Tính tích cực chủ động sáng tạo: Là mức độ cao hơn, học sinh tự đặt ranhiệm vụ và xác định con đường mới để thực hiện nhiệm vụ
Ví dụ: Yêu cầu học sinh thực hiện tổng hợp một hợp chất hữu cơ, khi biết chấtban đầu
1.1.2: Hứng thú học tập [5], [13], [31].
1.1.2.1: Một số khái niệm về hứng thú.
V.N Miasixep, V.G Ivanop, A.G Ackhipop: “Hứng thú là thái độ nhận thức
tích cực của cá nhân với những đối tượng trong hiện thực khách quan”
Phạm Minh Hạc - Lê Khanh - Trần Trọng Thủy: “Khi ta coi hứng thú về mộtcái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộcsống của chúng ta Hơn nữa, ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó, do đóhứng thú, lôi cuốn, hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó, tạo ra tâm lí khátkhao, tiếp cận đi sâu vào nó”
Nguyễn Quang Uẩn: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tượngnào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa mang lại khoái cảm cho cá nhântrong quá trình hoạt động”
1.1.2.2: Vai trò của hứng thú.
* Đối với hoạt động nói chung
Trong quá trình hoạt động của con người, cùng với nhu cầu, hứng thú kích thíchhoạt động, làm cho con người say mê hoạt động và đem lại hiệu quả cao trong côngviệc Nhu cầu và hứng thú có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhu cầu là tiền đề, cơ
sở của hứng thú, khi ta có hứng thú về một cái gì đó thì cá nhân sẽ hoạt động tíchcực nhằm chiếm lĩnh được đối tượng để thỏa mãn nhu cầu Công việc nào có hứngthú cao thì sẽ thực hiện dễ dàng, hiệu quả cao Ngược lại công việc không có hứngthú, thực hiện một cách gượng ép thì rất khó hoàn thành và nếu có hoàn thành thìchất lượng giảm nhiều
* Đối với hoạt động nhận thức
Trang 14Hứng thú giúp con người tiến hành hoạt động nhận thức đạt hiệu quả cao,hứng thú tạo ra động cơ của hoạt động nhận thức Hứng thú làm tích cực hóa cácquá trình tâm lí như: Cảm giác, tri giác, tư duy
* Đối với năng lực
Khi công việc phù hợp với hứng thú thì dù khó khăn đến đâu ta cũng quyết tâm
để hoàn thành, từ đó hình thành năng lực Đối với học tập việc hình thành năng lựcphụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó hứng thú của người học đối với bộ môn rấtquan trọng, hứng thú là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lựccủa cá nhân
A.G Covaliop cho rằng: “Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệtcủa chủ thể với đối tượng của hoạt động học tập về sự cuốn hút về tình cảm và ýnghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân”
* Phân loại hứng thú học tập
Hứng thú học tập được chia làm 2 loại:
- Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập (còn gọi là hứng thú bên ngoài):
Là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể với đối tượng của hoạt động học tập, donhững yếu tố bên ngoài, gián tiếp liên quan đến đối tượng của hoạt động này gâynên
- Hứng thú trực tiếp trong hoạt động học tập (còn gọi là hứng thú bên trong,hứng thú nhận thức): Là hứng thú đến với nội dung tri thức, quá trình học tập vàphương pháp tiếp thu, vận dụng những nội dung tri thức đó
* Biểu hiện của hứng thú học tập
Hứng thú học tập được biểu hiện ở 3 mặt sau:
Trang 15- Về mặt nhận thức: Người học nhận thức được vai trò của đối tượng hoạtđộng, trong cuộc sống, trong quá trình lĩnh hội tri thức.
- Về mặt xúc cảm: Ham học, chờ đón kiến thức mới, nhận thức và lí giải cácnguyên nhân tạo ra sự yêu thích ấy của chủ thể
- Về mặt hành động: Là tính tìm kiếm tích cực (biết giả định, biết tìm cáchkhắc phục khó khăn để giải quyết vấn đề) Quá trình tích cực suy nghĩ là hạt nhâncủa hứng thú học tập
* Vai trò của hứng thú học tập
Về phương diện tâm lí học: Hứng thú được xem như là một cơ chế bên trong, sựbiểu hiện của động cơ thúc đẩy quá trình nhận thức của con người Trong đó, hứngthú nhận thức được xem là biểu hiện của động cơ chủ đạo trong hoạt động học tậpcủa người học
Kết quả học tập của người học không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm trí tuệ của cánhân, mà còn phụ thuộc vào động cơ, thái độ và hứng thú học tập của người học.Hứng thú học tập có tác dụng nâng cao tính tích cực, tự giác và làm tăng hiệu quảcủa quá trình nhận thức, hứng thú học tập tạo ra sự say mê nghiên cứu, tìm tòi kiếnthức, nhu cầu cần hiểu biết về một lĩnh vực, một bộ môn khoa học nào đó, giúpngười học có thể vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục đích nhanh nhất
Tóm lại, hứng thú học tập có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động học tập củangười học, chúng là một trong những động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức củangười học nhằm đạt hiệu quả cao Vì vậy, một trong những yêu cầu sư phạm quantrọng của người giáo viên là phải hình thành và phát triển hứng thú học tập bộ môncho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Thái độ học tập của các em học sinh THPT đã có sự lựa chọn, các em chỉ tậptrung học tập tích cực, nhiệt tình và hứng thú đối với những môn học có liên quan
Trang 16đến nghề nghiệp tương lai, ngược lại các em có thái độ thờ ơ, thậm chí coi thườngnhững môn học không liên quan đến nghề nghiệp đã lựa chọn Rất ít những trườnghợp các em có tinh thần, thái độ, hứng thú học tập như nhau đối với các môn học Hứng thú học tập của học sinh THPT phân hóa rõ rệt, gắn liền với việc lựachọn nghề nghiệp sau này Cuối THPT hứng thú học tập của học sinh rất ổn định vàbền vững đối với một số môn học hay một số lĩnh vực tri thức nhất định, điều đó đãkích thích nhu cầu muốn mở rộng và đào sâu kiến thức trong các lĩnh vực đó.
Trong quá trình dạy học cần tạo ra sự thay đổi căn bản trong hoạt động tư duy,nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh, phát triển cho học sinh khả năngnhận thức về tầm quan trọng của tất cả các môn học ở trường phổ thông nhằm pháttriển toàn diện, cân đối nhân cách của con người
1.1.2.5: Phát triển hứng thú học tập môn hóa học cho học sinh THPT [10].
Trong hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học hóa học nói riêng,
hứng thú học tập có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là động lực thúc đẩy học sinh tìmtòi, hiểu biết và vận dụng kiến thức một cách linh động Tài nghệ sư phạm, nhâncách của người giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến sự duy trì và phát triển hứng thúhọc tập cho học sinh Lí thuyết giáo dục học và cả các nghiên cứu về phương phápdạy học chỉ ra rằng, nếu không phát triển hứng thú học tập của học sinh với hóa họcthì năng lực nhận thức của học sinh sẽ giảm đột ngột
* Phương pháp kích thích hứng thú học tập của học sinh
- Nghiên cứu lí thuyết xen kẽ với thực nghiệm
-Tăng cường mối liên hệ giữa lí thuyết với thực tiễn
- Sử dụng có hiệu quả các thí nghiệm, các tư liệu lịch sử hóa học, tính hấp dẫncủa các tình huống và tính chất các nguyên tố, các hợp chất
- Kết hợp dạy học chương trình nội khóa và ngoại khóa, tăng cường mối liên
hệ liên môn học
1.1.3: Hoạt động ngoại khoá [7].
1.1.3.1: Khái niệm hoạt động ngoại khoá.
Hoạt động ngoại khoá được hiểu là những hoạt động học tập, giáo dục học sinh
mà được tổ chức ngoài chương trình học bắt buộc và tự chọn, do giáo viên điềukhiển, có sự hỗ trợ của các đoàn thể và xã hội
Trang 171.1.3.2: Mục đích của hoạt động ngoại khoá.
- Nâng cao năng lực nhận thức và hứng thú học tập bộ môn cho học sinh
- Giáo dục cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, củng cố niềm tinkhoa học cho học sinh
- Củng cố, mở rộng, nâng cao và khắc sâu kiến thức cho học sinh
- Bước đầu cho học sinh tập làm quen với nghiên cứu khoa học, phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo để khi bước vào đời học sinh biết vận dụng vốn kiếnthức của bản thân vào thực tiễn có hiệu quả cao nhất
- Hình thành ở học sinh những đức tính tốt đẹp của người lao động như:Phương pháp làm việc khoa học, có tổ chức, có kỷ luật, cẩn thận
1.1.3.3: Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động ngoại khoá hoá học.
Hoạt động ngoại khoá có nhiệm vụ hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu đào tạo, dựa trên
sự tự nguyện và sáng tạo của học sinh, dưới sự chỉ đạo của giáo viên, có sự hỗ trợcủa nhà trường, cộng đồng và xã hội Vì vậy, nó có những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Phát triển hứng thú học tập hoá học, nâng cao và mở rộng kiến thức hoá học,phát triển kĩ năng thực hành, thí nghiệm và kích thích lòng ham hiểu biết hoá học
- Phát triển tính tích cực, sáng tạo và rèn luyện kĩ năng giải quyết các vấn đềkhoa học, trí thông minh của học sinh
- Chuẩn bị cho học sinh đi vào hoạt động thực tiễn, hướng nghiệp, phát triển vàbồi dưỡng thiên hướng, tài năng về hoá học
- Huy động học sinh tham gia vào các hoạt động công ích có mang nội dunghoá học như: Xây dựng phòng thí nghiệm hoá học cho trường, tổ kĩ thuật ở địaphương, bảo vệ môi trường, vệ sinh, phòng bệnh có dùng đến hoá học
-Tổ chức vui chơi, giải trí một cách văn hoá, có trí tuệ, bổ ích như: Ngày hộihoá học, câu lạc bộ giải toán hoá học, thí nghiệm hoá học vui, thi Olimpic về hóahọc
Như vậy, hoạt động ngoại khoá có tác dụng giáo dục, phát tiển trí dục, nâng caonăng lực nhận thức và hứng thú học tập rất lớn đối với học sinh, góp phần làmphong phú thêm sự hiểu biết và rèn luyện nhiều phẩm chất tốt đẹp cho học sinh
1.1.3.4: Nguyên tắc hoạt động của ngoại khoá hoá học.
Để đảm bảo hiệu quả và chất lượng của hoạt động ngoại khoá, cần tuân thủ một
số nguyên tắc sau:
Trang 18- Bảo đảm tính mục đích và tính kế hoạch: Kế hoạch hoạt động ngoại khoá chotừng năm (từng tuần, từng tháng, từng kì) cần được vạch ra ngay từ khi chuẩn bịbước vào năm học mới, trong bản kế hoạch cần chỉ rõ mục đích, nội dung, hình thức
tổ chức và thời gian thực hiện
- Bảo đảm tính thích hợp và tính hiệu quả: Kế hoạch hoạt động ngoại khoáphải vừa sức, đủ điều kiện về nhân tài, vật lực, tránh phô trương hình thức, lãng phí
mà không có hiệu quả
- Bảo đảm sự thống nhất giữa ngoại khoá với nội khoá: Thực hiện mối quan hệmật thiết giữa nội dung các hoạt động ngoại khoá với chương trình nội khoá
- Bảo đảm thống nhất sự chỉ đạo của giáo viên, với sự tự nguyện, chủ động và
sự quan tâm hứng thú của học sinh Hoạt động ngoại khoá phải có tổ chức, có kĩluật, nhưng phải huy động được tối đa sáng kiến và tính tự giác, tính tích cực củahọc sinh
- Nội dung hoạt động ngoại khoá phải linh hoạt, phong phú, cân đối giữa cácloại hình hoạt động tập thể, nhóm và cá nhân, hình thức tổ chức phải đa dạng, huyđộng được tối đa học sinh tham gia
- Huy động được tối đa sự giúp đỡ của chính quyền địa phương và nhà trường,của cộng đồng xã hội trong và ngoài trường như: Đoàn thanh niên địa phương, cácnhà khoa học, hội cha mẹ học sinh
1.1.3.5: Các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá hoá học.
Hoạt động ngoại khoá hoá học bao gồm các hình thức hoạt động tập thể trường,khối, lớp, các nhóm hoặc từng cá nhân Các hình thức này khác nhau không chỉ về
số lượng học sinh tham gia, mà khác cả về nội dung, phương pháp tiến hành Những hình thức tổ chức và các dạng hoạt động ngoại khoá hoá học được hoàn thiệnthường xuyên, tương ứng với sự phát triển của nhà trường và nhu cầu nhận thức củahọc sinh Sau đây là một số hình thức tổ chức cơ bản:
a) Hoạt động ngoại khoá tập thể: Bao gồm các nhóm những nhà khoa học trẻ,trong nhóm gồm những học sinh tích cực, tự giác, tự nguyện tham gia hoạt độngcủa nhóm và bắt buộc phải hoàn thành các nhiệm vụ được giao
- Các nhóm được đặt các tên gọi khác nhau như: Câu lạc bộ những nhà hoá họctrẻ, nhóm hoá học trường phổ thông Các nhóm có ban tổ chức để chỉ đạo
- Nhiệm vụ của câu lạc bộ hoá học:
Trang 19+ Nói chuyện có tính chất phổ biến khoa học với nội dung liên quan đến hoáhọc, có thể mời chuyên gia, các nhà khoa học trình bày.
+ Tham quan viện bảo tàng, nhà máy, xí nghiệp, phòng truyền thống
+ Chiếu phim về các đề tài hoá học
b) Ngày hội hoá học: Tạo điều kiện củng cố, mở rộng, nâng cao tầm hiểu biếtkiến thức hoá học, phát triển năng lực sáng tạo, nâng cao năng lực nhận thức, pháttriển hứng thú, vui chơi, giải trí khoa học, bổ ích
- Khi lựa chọn chuyên đề ngày hội hoá học giáo viên cần xuất phát từ nhiệm vụgiảng dạy và giáo dục cụ thể, nội dung buổi ngày hội hóa học cần mang tính chấttìm tòi, chứa đựng những bất ngờ, vui nhộn, có thể sử dụng các hình thức như: Đốvui, kịch vui, kể chuyện, thí nghiệm hoá học vui, ảo thuật hoá học
-Tính hiệu quả của ngày hội hoá học không chỉ phụ thuộc vào nội dung, mà cònphụ thuộc vào cả sự tổ chức và phương pháp tiến hành
- Chuyên đề ngày hội hóa học rất phong phú, có thể chọn theo chuyên đề riênghoặc chương riêng của chương trình hoá học phổ thông Mục đích của ngày hội hóahọc nhằm khái quát và đào sâu kiến thức của học sinh đã thu được trong giờ họcchính khoá
- Người chủ trì cần chuẩn bị chu đáo, cẩn thận tiến trình của ngày hội hóa họcnhư: Dự định dàn bài, xác định các chuyên đề, thời gian, các hình thức tổ chức, lựachọn cốt cán, phân công nhiệm vụ, sự phối hợp của các nhóm riêng biệt, diễn tập,trình bày, trang trí, xếp đặt, chuẩn bị trang bị kĩ thuật
c) Tổ ngoại khóa: Nhóm hóa học được tổ chức đối với nhóm học sinh có quantâm đến hóa học Nhiệm vụ cơ bản là đào sâu và mở rộng những hiểu biết hóa học
mà chương trình nội khóa không có điều kiện thực hiện Tùy theo số lượng học sinhtham gia mà có cơ cấu tổ chức hay nhóm hóa học Mỗi nhóm có một học sinh làmnhóm trưởng (phụ trách chung) Giáo viên hóa học làm cố vấn cho các nhóm
- Tùy theo hứng thú của học sinh, điều kiện trường phổ thông mà giáo viên cóthể tổ chức thành các nhóm ngoại khóa như:
+ Nhóm tìm hiểu lịch sử hóa học
+ Nhóm tìm hiểu về khoa học và công nghệ hóa học đầu thế kỷ XXI
+ Nhóm tìm hiểu từng ngành của hoá học: Hóa học đại cương, hóa vô cơ, hóahữu cơ, hóa môi trường, hóa lí
Trang 20+ Nhóm thí nghiệm và phòng thí nghiệm: Làm quen và làm các dụng cụ thínghiệm, giúp đỡ giáo viên trong giờ học thực hành.
+ Nhóm thiết kế hóa học: Nghiên cứu, chế tạo đồ dùng trực quan (bảng vẽminh họa, mô hình )
+ Nhóm giải toán hóa học
- Tổ ngoại khóa hóa học: Có thể tổ chức thành tổ chung toàn trường, tổ khốilớp, nhóm khối lớp để giữ vai trò nồng cốt cho các hoạt động ngoại khóa khác như:Câu lạc bộ giải toán hóa học, ngày hội hóa học Cần tổ chức có cả học sinh giỏi vàhọc sinh có trình độ khác, nhưng có năng khiếu nghiên cứu hóa học Nhà trường và
bộ môn cần chú ý đầu tư vào tổ ngoại khóa, làm cho nó hình thành và hoạt động tốt
để làm nồng cốt cho mọi hoạt động ngoại khóa
d) Thi học sinh giỏi hóa học: Hình thức tổ chức này có nhiều ý nghĩa lớn lao như:
- Khuyến khích việc học tập vững chắc, hiểu biết sâu rộng kiến thức hóa học,rèn luyện trí thông minh, sáng tạo, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo hóa học
- Lựa chọn được những học sinh có năng khiếu tốt về hóa học, từ đó tuyển chọnđược các em có tài năng để bồi dưỡng học sinh giỏi
- Thúc đẩy, khuyến khích, động viên học sinh thi đua với chính mình, say mêhọc tập, giáo viên có nhu cầu dạy giỏi, tìm cách nâng cao chất lượng giảng dạy
- Cung cấp những số liệu cần thiết để đánh giá chất lượng, khả năng tư duy củahọc sinh
Sự tổ chức các hoạt động ngoại khóa (ngoài hoạt động thi học sinh giỏi) nên bốtrí phối hợp tổ chức cùng với các bộ môn khoa học khác như: Vật lí, sinh học, chophong phú và thể hiện được mối liên hệ liên bộ môn
1.2: Thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Trước khi bắt tay vào việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã giành một thời gian
để điều tra, phỏng vấn tìm hiểu thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trườngTHPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Trang 21- Nhận thức của giáo viên và học sinh về hoạt động ngoại khóa hóa học.
- Ý kiến góp ý của giáo viên và học sinh để hoàn thiện hơn hoạt động ngoạikhóa hóa học
Từ kết quả của các nội dung tìm hiểu, chúng tôi có cơ sở thực tiễn cho vấn đềnghiên cứu và định hướng cho việc nghiên cứu đề tài
1.2.2: Kết quả điều tra, phỏng vấn.
Qua điều tra, phỏng vấn về thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học của một sốtrường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, chúng tôi thu được những kết quả sau:
- 80% số trường cứ lặp đi lặp lại các hình thức tổ chức đã quá quen thuộc
- 20% số trường hình thức tổ chức có đổi mới, nhưng chủ yếu vẫn dựa trên cáinền của các hình thức quen thuộc
1.2.2.3: Về nhận thức của học sinh.
Phần lớn (65,4%) học sinh hiểu được mục đích, ý nghĩa của hoạt động ngoạikhóa hóa học như:
- Tạo được sân chơi giải trí khoa học, bổ ích
- Củng cố, khắc sâu và mở rộng thêm kiến thức
- Rèn luyện thêm nhiều kĩ năng cho bản thân
1.2.2.4: Đối với giáo viên.
- Một số giáo viên (30,0%) nhận thức chưa đúng về hoạt động ngoại khóa hóahọc và cho rằng đây là hoạt động ngoài chương trình chính khóa nên không cầnthiết lắm
- 37,8% giáo viên hóa học ít quan tâm, đầu tư cho hoạt động ngoại khóa
1.2.2.5: Đối với ban giám hiệu nhà trường.
- Ban giám hiệu các trường chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động ngoại khóanói chung và hoạt động ngoại khóa hóa học nói riêng và lấy lí do rằng: Nếu trongmột năm học mà môn nào cũng tổ chức hoạt động ngoại khóa thì tốn kém kinh phí,
Trang 22không có nguồn chi, không có nguồn tài chính hỗ trợ Nên trong kế hoạch hoạtđộng của năm học, hoạt động này cũng chỉ đề cập chung chung, không đưa ra chỉtiêu
* Từ các kết quả thu được, chúng tôi có một số nhận xét sau:
- Hầu hết các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã thấy được vai trò
và tầm quan trọng của hoạt động ngoại khóa đối với công tác dạy học và giáo dụchọc sinh, vì thế, ở các trường từ thành phố, đồng bằng, đến nông thôn, miền núi đều
đã có hoạt động ngoại khóa Song hoạt động ngoại khóa ở các trường thuộc thànhphố, thị xã, thị trấn diễn ra có phần đều đặn hơn, nhưng cũng chỉ 1-2 năm mới tổchức được một lần Còn ở các trường thuộc vùng nông thôn, miền núi hoạt độngngoại khóa diễn ra không đều khoảng 3-4 năm thậm chí 5 năm mới tổ chức đượcmột lần
- Hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa chưa phong phú, thường lặp đi, lặplại hình thức quen thuộc Còn các hình thức hoạt động ngoại khóa như: Thi họcsinh giỏi, tham quan các nhà máy, xí nghiệp, chưa được áp dụng Hai năm gầnđây một số trường đã linh động tổ chức theo hình thức giống với một số chươngtrình của đài truyền hình như: Rung chuông vàng, đường lên đỉnh olimpia
- Phần lớn các hoạt động ngoại khóa đều tổ chức đơn môn, chưa liên kết vớicác môn khoa học khác như: Sinh học, vật lí, để tổ chức, nhằm cho học sinh thấyđược mối liên hệ mật thiết giữa các môn khoa học
- Nội dung các buổi ngoại khóa hóa học chưa phong phú, chủ yếu để củng cốnhững kiến thức đã học của học sinh, chưa mở rộng và nâng cao tầm hiểu biết vềhóa học cho học sinh
- Về phía học sinh: Qua điều tra chúng tôi nhận thấy đa số học sinh nhận thứcđược mục đích, ý nghĩa của hoạt động ngoại khóa hóa học
Hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh QuảngBình chưa tương xứng với vai trò và nhiệm vụ của nó do những nguyên nhân sau:
- Một số giáo viên chưa hiểu hết tầm quan trọng của ngoại khóa hóa học
- Một số giáo viên thiếu nhiệt tình, sợ tốn thời gian, công sức cho việc chuẩn bị
và tổ chức hoạt động ngoại khóa
- Năng lực của giáo viên trong việc tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học cònhạn chế
- Chưa nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể và xã hội
Trang 23* Hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường phổ thông không chỉ nâng caonăng lực nhận thức, hứng thú học tập, phát triển tư duy, mở rộng, nâng cao kiếnthức hóa học và rèn luyện kĩ năng thực hành, thí nghiệm cho học sinh, mà còn giáodục thế giới quan duy vật biện chứng, củng cố niềm tin khoa học và hình thànhnhững đức tính tốt đẹp cho học sinh như: Phương pháp làm việc khoa học, cẩn thận,gọn gàng Vì vậy, chúng tôi hi vọng rằng trong những năm tới hoạt động ngoạikhóa hóa học ở các trường THPT trong cả nước nói chung và ở các trường THPTtrên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng phát triển mạnh hơn nữa nhằm góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Tóm tắt chương 1
Trong chương 1 chúng tôi đã tiến hành đọc và nghiên cứu các tài liệu liênquan đến hoạt động nhận thức, hứng thú học tập và hoạt động ngoại khoá Từ đóchúng tôi nhận thấy:
- Nhận thức có vai trò rất quan trọng trong hoạt động học tập của học sinh,hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động tìm tòi và tiếp thu những kiến thứctrong kho tàng kiến thức của nhân loại, ban đầu từ những cảm giác, tri giác, biểutượng tiếp theo là những khái niệm, phán đoán, suy luận học sinh dần dần biết, hiểu
và vận dụng kiến thức thành thạo
- Hứng thú học tập có tác dụng nâng cao tính tích cực, tự giác và làm tăng hiệuquả của quá trình nhận thức, hứng thú học tập tạo sự say mê nghiên cứu, tìm tòikiến thức, nhu cầu mở rộng và nâng cao kiến thức Kết quả học tập không chỉ phụthuộc vào đặc điểm trí tuệ của cá nhân, mà còn phụ thuộc vào động cơ, thái độ vàhứng thú học tập, thiếu hứng thú học tập là một trong những nguyên nhân dẫn đến
sự yếu kém trong học tập
- Nghiên cứu lí luận hoạt động ngoại khoá: Mục đích, nhiệm vụ, nguyên tắc vàcác hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá hoá học để làm cơ sở cho việc tổ chứchoạt động ngoại khoá hoá học ở trường phổ thông, nhằm nâng cao năng lực nhậnthức và hứng thú học tập cho học sinh
Chúng tôi cũng đã tiến hành điều tra, phỏng vấn tìm hiểu thực tiễn hoạt độngngoại khoá hoá học ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Từ kếtquả điều tra chúng tôi có cơ sở thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu và định hướng choviệc nghiên cứu đề tài
Trang 24CHƯƠNG 2 : NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HOÁ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ.
2.1: Cơ sở khoa học của việc sưu tập, chọn lọc, sử dụng các thí nghiệm hoá học vui, câu hỏi hoá học vui, hiện tượng hoá học trong thiên nhiên và trong cuộc sống dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học ở trường phổ thông.
2.1.1: Cơ sở khoa học của việc sưu tập, chọn lọc, sử dụng thí nghiệm hoá học vui dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học [6], [9], [12].
Hoá học là một khoa học thực nghiệm, vì vậy, trong dạy học hoá học khôngchỉ trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản, khoa học và hiện đại làmnền tảng cho việc phát triển năng lực nhận thức và tư duy trừu tượng, mà còn hìnhthành và phát triển kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh thông qua thí nghiệm hoá học
Hệ thống thí nghiệm hoá học ở trường phổ thông giữ vai trò đặc biệt quantrọng đối với quá trình nhận thức, thí nghiệm hoá học giúp học sinh phát triển nănglực nhận thức một cách toàn diện, từ cảm giác, tri giác đến tư duy trừu tượng
Ở trường phổ thông thí nghiệm hoá học được coi là chiếc cầu nối giữa lí thuyết
và thực tiễn, giữa học và hành Thí nghiệm hoá học giúp học sinh làm quen vớinhững tính chất, mối liên hệ và quan hệ có quy luật giữa các đối tượng nghiên cứu,làm cơ sở để nắm vững các quy luật, các khái niệm khoa học và biết cách khai thácchúng Thí nghiệm hoá học còn giúp học sinh làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các sựvật và giải thích được bản chất của các quá trình, các hiện tượng xảy ra trong thiênnhiên, trong sản xuất và đời sống
Thí nghiệm hoá học là cơ sở của việc dạy - học hoá học, thông qua thí nghiệmhoá học học sinh lĩnh hội, củng cố kiến thức và phát triển hứng thú học tập bộ môn.Thí nghiệm hoá học còn có tác dụng phát triển tư duy, giáo dục thế giới quan duyvật biện chứng, củng cố niềm tin khoa học cho học sinh, giúp hình thành và pháttriển ở học sinh những đức tính tốt đẹp của người lao động như: Làm việc khoa học,cẩn thận, ngăn nắp, gọn gàng…
Để hoạt động ngoại khoá hoá học đạt được hiệu quả và chất lượng cao thì cónhiều yếu tố chi phối như: Công tác chuẩn bị, công tác tổ chức, nội dung, đối tượng
Trang 25học sinh tham gia… Nhưng yếu tố đóng vai trò quan trọng là nội dung ngoại khoá,bởi vậy, khi lựa chọn thí nghiệm hoá học vui cần dựa trên những yêu cầu sau:
- Thí nghiệm phải an toàn: Đảm bảo an toàn cho giáo viên và học sinh là yêucầu đặt lên hàng đầu và cơ bản, khi lựa chọn thí nghiệm dùng trong hoạt động ngoạikhoá cần lựa chọn những thí nghiệm không hoặc ít ảnh hưởng đến sức khoẻ
- Kích thích được hứng thú, lòng ham hiểu biết kiến thức hoá học: Thí nghiệmphải chứa đựng những biến đổi hoá học lạ kì (giống ảo thuật)
- Dấu hiệu thí nghiệm rõ ràng, đảm bảo cho những học sinh ngồi xa vẫn quansát được
- Thí nghiệm dễ làm, dụng cụ không quá phức tạp
- Đảm bảo được tính mĩ thuật và tính khoa học
- Thí nghiệm không hoặc ít ảnh hưởng đến môi trường
2.1.2: Cơ sở khoa học của việc sưu tập, chọn lọc câu hỏi hóa học vui, hiện tượng hóa học trong thiên nhiên và trong cuộc sống dùng trong hoạt động ngoại khóa hóa học [26].
Cuộc sống xung quanh chúng ta có vô vàn hiện tượng hoá học khác nhau, có
những hiện tượng hoá hoc tự xảy ra trong thiên nhiên, có những hiện tượng hóa họcđược hình thành trong quá trình sản xuất và có những hiện tượng hoá học đang xảy
ra ngay trong cơ thể của mỗi con người, động vật Vấn đề đặt ra ở đây là cần sưutập, chọn lọc những hiện tượng hoá học nào để đưa vào nội dung hoạt động ngoạikhoá ? Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của hoạt động ngoại khoá mà sưu tập, chọnlọc những câu hỏi hoá học vui, hiện tượng hoá học trong thiên nhiên và trong cuộcsống để đưa vào nội dung hoạt động ngoại khoá cho phù hợp
- Câu hỏi hoá học vui, hiện tượng hoá học vui phải phù hợp với đối tượng họcsinh tham gia hoạt động ngoại khoá, câu hỏi đảm bảo tính vừa sức để học sinh dùngvốn kiến thức đã được trang bị trả lời được nội dung câu hỏi
- Các nội dung câu hỏi, các hiện tượng hoá học phải kích thích được tính tò mò,nhu cầu muốn hiểu biết, muốn tìm hiểu nội dung kiến thức và phát triển tư duy chohọc sinh
- Nội dung câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, không đánh đố học sinh
- Nội dung câu hỏi, các hiện tượng hoá học phong phú, liên quan đến nhiều lĩnhvực trong tự nhiên, cũng như trong đời sống sản xuất, đặc biệt là những hiện tượng
Trang 26hoá học quen thuộc trong cuộc sống, nhưng học sinh chưa giải thích được như: Hiệntượng tạo thành thạch nhũ trong các hang động đá vôi, sau những trận mưa dông
cây cối xanh tốt, hay phèn chua là chất gì mà lại có tác dụng làm trong nước 2.2: Sưu tập, chọn lọc, sử dụng thí nghiệm hóa học vui dùng trong hoạt động ngoại khóa hóa học [6], [15], [25], [29].
Thí nghiệm 1: Không có lửa mà lại có khói.
* Dụng cụ và hóa chất:
Cốc thủy tinh, đĩa thủy tinh, đũa thủy tinh, bông, dung dịch NH3 25% và dungdịch HCl đặc
* Tiến hành thí nghiệm:
Có thể tiến hành thí nghiệm này bằng 2 cách:
a) Dùng hai đũa thủy tinh, ở mỗi đầu đũa có quấn một nhúm bông Nhúng mộtđũa vào dung dịch NH3 đậm đặc và nhúng đũa thứ hai vào dung dịch HCl đậm đặc,đưa hai đũa lại gần nhau (đũa nhúng dung dịch NH3 ở dưới, còn đũa nhúng dungdịch HCl ở trên) Khói trắng sẽ xuất hiện ở hai đầu đũa thủy tinh
b) Dùng bông tẩm dung dịch NH3 đặc, bôi lên đáy và thành cốc thủy tinh, lấynhúm bông khác tẩm dung dịch HCl đặc, bôi lên mặt trong của đĩa thủy tinh, rồi úpđĩa thủy tinh lên cốc thủy tinh Khói trắng sẽ xuất hiện ở trong cốc
* Giải thích hiện tượng:
Khi đưa hai đầu đũa thủy tinh lại gần nhau sẽ có phản ứng giữa NH3 và HCl,tạo ra những hạt nhỏ li ti NH4Cl (giống khói trắng)
ba tẩm dung dịch HCl đặc, miếng thứ tư tẩm dung dịch benzen
- Châm lửa đốt bông tẩm cồn, cồn cháy có lửa mà không có khói
- Gắp bông tẩm dung dịch HCl, bỏ lên bông tẩm dung dịch NH3, có khói màkhông có lửa
Trang 27- Châm lửa đốt bông tẩm benzen, benzen cháy có cả lửa và khói.
* Giải thích hiện tượng:
- Cồn cháy gần như hoàn toàn nên có lửa mà không có khói
lả tả rơi xuống, giống như trận “mưa lửa”
* Giải thích hiện tượng:
Khi có Cr2O3 làm xúc tác, NH3 bị oxi hóa bởi oxi không khí
Trang 28* Giải thích hiện tượng:
Khí NH3 tan rất nhiều trong nước (ở điều kiện thường 1 thể tích nước hòa tanđược khoảng 800 thể tích khí NH3), làm cho áp suất trong bình giảm xuống rất thấp,
áp suất không khí ngoài bình lớn hơn, sẽ đẩy quả trứng chui vào bình cầu
Khi hơ nóng bình cầu (phần có nước) thì khí NH3 được tạo ra nhiều, nóng lên
và nở ra, sẽ đẩy quả trứng chui ra
* Chú ý: có thể thay khí NH 3 bằng khí HCl hoặc khí CO 2 và dung dịch NaOH
Hình 2.1 : Thí nghiệm trứng chui vào lọ
Thí nghiệm 5: Thu khói và tàn thuốc lá.
- Hai cốc thủy tinh rửa sạch, lau khô, và đặt ở một đầu bàn, cách nhau 20 cm,
lá nhôm ngâm vào dung dịch NaOH loãng, lấy ra, rửa lại bằng nước cất và lau khô
- Lấy bông tẩm dung dịch HgCl2 lau thật kỹ lên mặt của lá nhôm, đậy lá nhômlên cốc thủy tinh và cho mặt lau dung dịch HgCl2 vào phía trong
- Châm lửa một điếu thuốc lá và đặt ở đầu bàn phía bên kia
- Lấy bông tẩm dung dịch NH3 đậm đặc, bôi vào mặt trong của cốc thứ hai, lấynhúm bông khác tẩm dung dịch HCl đậm đặc, bôi lên mặt của đĩa thủy tinh Lấy đĩathủy tinh đậy lên cốc thứ hai (úp mặt bôi HCl vào trong)
Trang 29Khói thuốc lá sẽ “chui” vào cốc thứ hai và vài phút sau tàn thuốc lá cũng “chui”qua lá nhôm vào cốc thứ nhất
* Giải thích hiện tượng:
- Ở cốc thu khói: Có phản ứng giữa NH3 và HCl tạo ra những hạt nhỏ li ti
NH4Cl (giống khói thuốc lá)
Al2O3 rắn chắc, vì thế, nhôm không được bảo vệ như trước Ở từng điểm nhỏ nhôm
bị oxi hóa bởi oxi không khí, tạo thành Al2O3 dưới dạng sợi nhỏ giống tàn thuốc lá(hiện tượng nhôm mọc lông tơ)
4Al + 3O2 2Al2O
* Lưu ý: Các muối thủy ngân đều rất độc nên khi dùng không để nó giây vào
cơ thể.
Thí nghiệm 6: Đốt cháy bằng nước.
Thường ai cũng biết nước được dùng để dập tắt lửa, còn dùng nước để đốt cháycác chất chắc là không thể Thế mà ta có thể đốt cháy các chất bằng nước đấy!
3) Cho dầu hỏa vào chén sứ, bí mật bỏ vào dầu hỏa một miếng kim loại natri(hoặc kali) to bằng hạt đậu Sau đó, rót thêm nước trong cốc vào chén sứ Chất lỏngtrong chén sứ bùng cháy
* Giải thích hiện tượng:
Trang 301) Nước phản ứng mạnh với natri và giải phóng khí H2, phản ứng tỏa nhiệtmạnh, làm khí H2 thoát ra tự bốc cháy và natri cũng cháy theo 2Na + 2H2O 2NaOH + H2 ↑
2) Phản ứng của nhôm với iot xảy ra khi có xúc tác là nước, hỗn hợp bốc cháymạnh thành ngọn lửa có màu tím của iot (iot thăng hoa) lẫn màu vàng của AlI3 2Al + 3I2 nước 2AlI3
3) Khi rót nước vào, nước nặng hơn dầu hỏa nên chìm xuống dưới và tác dụngvới natri Phản ứng tỏa nhiệt mạnh làm khí H2 thoát ra tự bốc cháy và natri cũngcháy theo
Thí nghiệm 7: Đốt cháy nước đá.
* Giải thích hiện tượng:
Khi bỏ nước đá vào đất đèn (thành phần chính CaC2), sẽ có phản ứng giảiphóng khí C2H2
Lấy 3 ống nghiệm, lần lượt rót vào 3 ống các dung dịch sau:
Ống 1: Đựng dung dịch NaOH loãng, thêm vào vài giọt phenolphtalein (cómàu hồng)
Ống 2: Đựng dung dịch BaCl2 (không màu)
Ống 3: Đựng ZnO bột lẫn với nước có màu trắng đục như vôi sữa
Lần lượt rót dung dịch H2SO4 vào các ống nghiệm
Trang 31Ống 1: Từ màu hồng chuyển thành không màu.
Ống 2: Từ trong suốt chuyển thành màu trắng như sữa
Ống 3: Từ màu trắng đục như vôi sữa, chuyển thành trong suốt
* Giải thích hiện tượng:
- Ống 1: Đựng dung dịch NaOH loãng, có vài giọt phenolphtalein nên có màuhồng Khi cho dung dịch H2SO4 vào trung hòa hết NaOH, nên dung dịch trở thànhkhông màu
* Giải thích hiện tượng:
Khi hòa tan CoCl2 khan vào axeton có màu xanh, màu của CoCl2 khan Còn khihòa tan CoCl2 khan vào nước sẽ có màu hồng, màu của CoCl2.6H2O
Thí nghiệm 10: Bắn cháy tàu chiến địch.
* Giải thích hiện tượng:
Trang 32Nước thấm qua giấy phản ứng với natri theo PTHH sau.
Làm tương tự với bình đựng khí HCl, thì nước trong chậu thủy tinh thứ haicũng tự phun lên và chuyển từ màu tím sang màu đỏ
* Giải thích hiện tượng:
Khí NH3 tan rất nhiều trong nước (ở điều kiện thường 1 thể tích nước hòa tanđược khoảng 800 thể tích NH3), làm cho áp suất trong bình thủy tinh giảm mạnh,
so với áp suất bên ngoài Để cân bằng áp suất giữa bên trong và bên ngoài bình thủytinh thì nước trong chậu thủy tinh sẽ tự phun lên Khi gặp nước một phần NH3 sẽphản ứng với nước
NH3 + H2O NH4+ + OH
Dung dịch NH3 có tính bazơ, làm phenolphtalein từ không màu chuyển sangmàu hồng
Trang 33Tương tự khí NH3, khí HCl cũng tan rất nhiều trong nước (ở điều kiện thường 1thể tích nước hòa tan được khoảng 500 thể tích khí HCl) Khí HCl tan trong nướctạo thành dung dịch axit HCl, làm quỳ tím chuyển sang màu đỏ
Hình 2.2: Thí nghiệm về tính Hình 2.3: Thí nghiệm về tính tan của amoniac tan của hiđro clorua
Thí nghiêm 12: Biến nước thành rượu màu.
* Giải thích hiện tượng:
Khi lắc làm dung dịch Ca(OH)2 tiếp xúc với phenolphtalein, dung dịch bazơ làmphenolphtalein chuyển sang màu hồng
* Lưu ý: Thí nghiệm này cũng có thể biểu diễn bằng cách dùng đũa khuấy, một đầu đũa nhúng vào dung dịch phenolphtalein trước.
Thí nghiệm 13: Đốt khăn không cháy.
Trang 34* Giải thích hiện tượng:
Axeton (hoặc ete) là những chất bắt lửa mạnh và bay hơi nhanh Với một lượngnhỏ các chất trên, khi cháy nhiệt lượng tỏa ra chỉ đủ để làm bay hơi một phần nước
ở trên khăn tay Vì vậy, khăn không bị cháy
Thí nghiêm 14: Hóa than mà không cần đốt cháy.
* Dụng cụ và hóa chất:
Đĩa thủy tinh, cốc thủy tinh, H2SO4 đậm đặc và đường saccarozơ C12H22O11
* Tiến hành thí nghiệm:
Đổ khoảng 10 gam đường saccarozơ vào một cốc cao và hẹp, đặt lên đĩa thủy
tinh, rót vào cốc khoảng 6 -7 ml dung dịch H2SO4 đậm đặc, rồi trộn nhanh các chấtnày Lát sau khối chất trong cốc bắt đầu hóa đen, phồng ra, dâng lên cao, cuối cùngtrào ra khỏi miệng cốc và đông đặc lại
* Giải thích hiện tượng:
Dung dịch H2SO4 đậm đặc rất háo nước, đường saccarozơ là cacbohiđrat cócông thức phân tử C12H22O11 (viết dưới dạng ngậm nước: C12(H2O)11) Axit H2SO4
đậm đặc phân hủy đường, chiếm nước, giải phóng cacbon
C12H22O11 H2SO 4,đăc 12C + 11H2O
Phản ứng trên tỏa nhiều nhiệt, do nhiệt độ tăng, một phần C giải phóng ra phảnứng với dung dịch H2SO4 đậm đặc, tạo thành khí SO2 và CO2.
C + 2H2SO4 CO2 ↑ + 2SO2 ↑ + 2H2O
Các khí đó làm cho C trở nên xốp và tăng thể tích
* Chú ý: Không để axit H 2 SO 4 giây vào cơ thể, quần áo
Thí nghiệm 15: Thắp đèn không cần lửa.
* Giải thích hiện tượng:
Khi trộn kali pemanganat KMnO4 với dung dịch H2SO4 đậm đặc sẽ có phản ứngtạo thành axit pemanganic HMnO4
Trang 352KMnO4 + H2SO4 K2SO4 + 2HMnO4
Dưới tác dụng của dung dịch H2SO4 đậm đặc, HMnO4 mất nước tạo thànhanhiđrit maganic Mn2O7, chất này là chất lỏng màu nâu, sánh như dầu, dễ bị phânhủy ở nhiệt độ thường, tạo thành MnO2 và O2
* Giải thích hiện tượng:
Các hạt kali pemanganat KMnO4 rơi vào hỗn hợp, tới lớp phân cách giữa axit
H2SO4 và cồn sẽ có phản ứng
2KMnO4 + H2SO4 K2SO4 + 2HMnO4
Dưới tác dụng của dung dịch H2SO4 đậm đặc HMnO4 mất nước tạo thànhanhiđrit maganic Mn2O7, chất này là chất lỏng màu nâu, sánh như dầu, dễ bị phânhủy ở nhiệt độ thường tạo thành MnO2 và O2
Trang 36
* Tiến hành thí nghiệm:
a) Dùng hồ tinh bột, viết lên tờ giấy trắng một hàng chữ, rồi dùng một tờ giấythấm, tẩm dung dịch iot, áp lên tờ giấy vừa viết chữ, sau đó mở tờ giấy thấm ra sẽxuất hiện những nét chữ màu xanh
b) Dùng dung dịch phenolphtalein viết lên tờ giấy trắng một hàng chữ, rồi dùnggiấy thấm tẩm nước vôi trong, áp lên tờ giấy vừa viết chữ, sau đó mở tờ giấy thấm
ra sẽ xuất hiện những nét chữ màu hồng
c) Dùng dung dịch Na2S (hoặc K2S) viết một hàng lên tờ giấy trắng, rồi dùnggiấy thấm tẩm dung dịch Pb(NO3)2,áp lên tờ giấy vừa viết chữ, sau đó mở tờ giấythấm ra sẽ xuất hiện những nét chữ màu đen
d) Dùng đũa thủy tinh, chấm vào dung dịch CoCl2, viết lên giấy pơluya mộthàng chữ (không nhìn thấy nét chữ) Hơ giấy pơluya trên bếp than, hoặc bàn là, sẽxuất hiện những dòng chữ có màu xanh
e) Dùng đũa thủy tinh chấm vào dung dịch H2SO4 loãng, viết lên tờ giấy trắngmột bức thư ngắn, nét chữ sẽ không có màu Hơ bức thư lên bếp than hoặc bàn là,những dòng chữ màu đen của bức thư xuất hiện
* Giải thích hiện tượng:
a) Dung dịch iot làm hồ tinh bột chuyển sang màu xanh
b) Dung dịch bazơ Ca(OH)2 làm phenolphtalein chuyển sang màu hồng
c) Na2S sẽ phản ứng với Pb(NO3)2 tạo thành PbS kết tủa, màu đen
Na2S + Pb(NO3)2 PbS ↓ + 2NaNO3
d) Dung dịch CoCl2.6H2O có màu hồng nên khi ta viết lên giấy pơluya màuhồng sẽ không nhìn thấy nét chữ Hơ giấy pơluya trên bếp than hoặc bàn là, nướcbay hơi, chuyển CoCl2.6H2O, thành CoCl2 khan, có màu xanh
e) Hơ bức thư lên bếp than hoặc bàn là nước ở nét chữ sẽ bay hơi, làm cho dungdịch H2SO4 loãng, thành H2SO4 đậm đặc H2SO4 đậm đặc nó chiếm nước củaxelulozơ là thành phần chính của giấy và giải phóng cacbon, làm xuất hiện nét chữmàu đen
(C6H10O5)n H2SO 4,đăc 6nC + 5nH2O
Thí nghiệm 18: Trứng tự quay.
* Dụng cụ và hóa chất:
Trang 37Chậu thủy tinh, 2 quả trứng, nước, natri hiđrocacbonat NaHCO3 rắn và axitoxalic H2C2O4 rắn.
* Tiến hành thí nghiệm:
Châm thủng 2 lỗ ở 2 đầu quả trứng và hút hết lòng trứng ra Trộn axit oxalic
H2C2O4 và muối natri hiđrocacbonat NaHCO3 theo tỉ lệ 1 : 2 về khối lượng Chohỗn hợp trên vào trong quả trứng đến khoảng 1/3 thể tích quả trứng (nếu cho nhiềuquá trứng sẽ chìm) Lấy sáp gắn kín 2 đầu quả trứng lại, quả thứ nhất châm thủng 1lỗ nhỏ bên sườn quả trứng ở phần chìm dưới nước, quả thứ 2 châm thủng 1 lỗ ở đầuchìm dưới nước Thả 2 quả trứng vào chậu nước, quả thứ nhất nó sẽ quay tít, cònquả thứ 2 nó sẽ nhảy nhấp nhô
* Giải thích hiện tượng:
Nước qua lỗ thủng chảy vào trong quả trứng hòa tan axit oxalic H2C2O4 và natrihiđrocacbonat NaHCO3 Trong dung dịch 2 chất này sẽ phản ứng với nhau
* Giải thích hiện tượng:
Khi đun nóng KMnO4 bị phân hủy giải phóng ra oxi
2KMnO4 K2MnO4 + MnO2 + O2 ↑
Oxi được giải phóng, sẽ đốt cháy các hạt than rất nhỏ, đã được nung nóng Khíoxi thoát ra từ ống nghiệm làm bắn tung tóe các hạt than đang cháy
Thí nghiệm 20: Đun sôi không cần lửa.
* Dụng cụ và hoá chất:
Bình cầu, chậu thuỷ tinh, nút cao su có gắn ống dẫn khí, dung dịch H2SO4 đậmđặc, ete và nước
Trang 38* Tiến hành thí nghiệm:
Rót vào bình cầu khoảng 20 ml ete, đậy nút cao su có gắn ống dẫn khí, rồi đặt
nó vào trong chậu nước Lúc này trong bình không có hiện tượng gì xảy ra
Dùng pipep rót dung dịch H2SO4 đậm đặc vào chậu thuỷ tinh đựng nước, thấyete trong bình sôi lên và có khí thoát ra ở ống dẫn khí, châm lửa đốt, khí trong ốngdẫn khí cháy sáng
* Giải thích hiện tượng thí nghiệm:
Khi hoà tan H2SO4 đậm đặc vào nước, dung dịch toả nhiệt, làm nhiệt độ nướctrong chậu thuỷ tinh tăng lên đến mức làm cho ete trong bình sôi và bay hơi (nhiệt
độ sôi của ete thấp)
2.3: Hệ thống câu hỏi hóa học vui, hiện tượng hóa học trong thiên nhiên và trong cuộc sống dùng trong hoạt động ngoại khóa hóa học.
2.3.1: Hiện tượng hóa học trong thiên nhiên [18], [19], [21], [26].
Câu 1: “Ma trơi” là gì ? Trong cuộc sống thường gặp hiện tượng này ở đâu ? Thời
- Nguyên nhân: Do trong cơ thể người có một lượng photpho, khi chết cơ thể bịphân hủy sinh ra PH3 có lẫn P2H4 Hỗn hợp này tự bốc cháy trong không khí
2PH3 + 4O2 P2O5 + 3H2O
2P2H4 + 7O2 2P2O5 + 4H2O
Câu 2: Bằng kiến thức hóa học hãy giải thích câu ca dao sau:
“ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Nghe tiếng Sấm động, phất cờ mà lên”
- Khi trời mưa dông có Sấm, Sét tạo ra tia lửa điện, là điều kiện để nitơ N2 vàoxi O2 trong không khí phản ứng với nhau
N2 + O2 tia lửa điện 2NO
- NO sinh ra kết hợp với oxi trong không khí, tạo ra NO2
2NO + O2 2NO2
Trang 39- NO2 sinh ra phản ứng với nước mưa trong điều kiện có oxi tạo thành HNO3 4NO2 +2H2O + O2 4HNO3
- HNO3 theo nước mưa rơi xuống (không phải là mưa axit, vì nồng độ H+ bé)phản ứng với các kim loại, ion kim loại có trong đất tạo thành muối nitrat, các muốinitrat là nguồn cung cấp phân đạm cho cây trồng Vì vậy, cây trồng phát triển xanhtốt
Câu 3: Thế nào là “Hiệu ứng nhà kính” ? Nguyên nhân chủ yếu gây nên hiện tượng
“Hiệu ứng nhà kính” ?
- “Hiệu ứng nhà kính” là hiện tượng Trái Đất nóng dần lên bởi khí CO2, NO2,
O3 (chủ yếu khí CO2) có trong khí quyển
- Khí CO2 chỉ hấp thụ một phần những tia hồng ngoại (bức xạ nhiệt) của MặtTrời và cho các tia có bước sóng λ từ 50 000 đến 100 000A chiếu xuống Mặt Đất Những bức xạ nhiệt phát ngược lại từ Mặt Đất có bước sóng λ >140 000A, bịkhí CO2 hấp thụ mạnh và phát trở lại Mặt Đất, làm cho Trái Đất nóng lên Về mặthấp thụ nhiệt, lớp khí CO2 trong khí quyển tương đương với lớp thủy tinh ở các nhàkính dùng để trồng hoa ở xứ lạnh Nên hiện tượng Trái Đất nóng lên bởi khí CO2
còn được gọi là “Hiệu ứng nhà kính”
- Nguyên nhân của sự làm tăng hàm lượng khí CO2 trong khí quyển là do việcchặt phá rừng bừa bãi, sử dụng nhiên liệu trong các nhà máy nhiệt điện, các nhàmáy ở các khu công nghiệp
Câu 4: Tầng ozon O3 ở độ sao nào ? Ozon là chất bảo vệ hay chất gây ô nhiễm ?
- Tầng ozon ở phía trên tầng đối lưu và phần dưới của tầng bình lưu, ở độ caokhoảng 20 - 30 km so với Mặt Đất
- Ở trên cao, tầng ozon đóng vai trò cực kỳ quan trọng, nó có tác dụng như láchắn bảo vệ sự sống trên Trái Đất, ngăn không cho tia cực tím từ Mặt Trời chiếuxuống Mặt Đất Trên tầng cao của khí quyển ozon O3 được hình thành từ oxi O2
UV
3O2 (phóng điện trong cơn dông) 2O3
- Ở dưới thấp (trên Mặt Đất) thì ngược lại ozon là chất gây ô nhiễm Nó cùngvới các hợp chất nitơ oxit gây nên mù quang hóa, bao phủ bầu trời thành phố trongnhững ngày hè không có gió Mù quang hóa gây đau cơ bắp, cuống họng, đó là
Trang 40nguồn gốc của bệnh khó thở, ozon O3 cũng giống như khí cacbonic CO2 là chất gâynên “Hiệu ứng nhà kính”
Nếu nồng độ O3 trong khí quyển tăng lên gấp 2 lần thì nhiệt độ Trái Đất tăngthêm 1oC
Câu 5: Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng tầng ozon bị thủng ?
Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm tầng ozon là do sử dụngcác hợp chất CFC (Cloflocacbon) như: CCl2F2, CClF3, có tên chung là freon Freon là chất sinh hàn, được dùng trong tủ lạnh, máy điều hòa Khi thải CFCvào tầng đối lưu, nó khuếch tán dần sang tầng bình lưu, ở đây dưới tác dụng của tiacực tím, nó bị phân hủy thành gốc tự do Cl.
Hiện nay công ước quốc tế về môi trường đã cấm sản xuất hợp chất CFC,nhưng với khối lượng CFC đã thải vào khí quyển trước đây, hiện có trong khí quyển
nó sẽ tiếp tục phá hủy tầng ozon tới hàng trăm năm sau
Câu 6: Giải thích sự tạo thành thạch nhũ trong các hang động đá vôi ?
Trong các hang động như: Động Hương Tích (Chùa Hương), động Thiên Cung,hang Đầu Gỗ (Vịnh Hạ Long), động Phong Nha (Quảng Bình) và các hang động ởnhiều địa phương khác có nhiều thạch nhũ hình dáng khác nhau, trông lạ mắt và rấtđẹp
Sản phẩm này là kết quả lâu dài của sự chuyển hóa lẫn nhau giữa 2 muối canxihiđrocacbonat Ca(HCO3)2 và canxi cacbonat CaCO3 Thành phần chính của núi đávôi là CaCO3 Khi gặp nước mưa và khí cacbonic CO2 trong không khí, CaCO3
chuyển hóa thành Ca(HCO3)2 tan trong nước, chảy qua khe đá vào trong hang động