- Nghiên cứu TPHH thân rễ bình tinh chét tỉnh Quảng Bình trong dung môi etanol.. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu - Tinh dầu bộ phận thân rễ của cây bình tinh chét Curcuma pier
Trang 1Hiện nay, xu hướng sử dụng cây thuốc chữa bệnh theo y học dân tộc cổ truyền ởViệt Nam đang ngày càng được nhiều tầng lớp nhân dân tin dùng Ðảng, Nhà nước,Chính phủ cũng rất quan tâm Mặc dù vậy, việc sưu tầm những kinh nghiệm dân giantrong sử dụng cây thuốc phục vụ cuộc sống con người chưa được tiến hành có hệthống, nhiều bài thuốc hay, nhiều cây thuốc quý có thể đã bị thất truyền.
Các cây thuộc chi Nghệ (Curcuma) là một trong những vị thuốc được con người
biết đến từ xa xưa Nghệ được tin dùng như một phương thuốc hữu hiệu để trị tụhuyết, máu cam, làm cao dán nhọt, thoa chống vết thương tụ máu, làm mau lành sẹo,trị viêm gan, vàng da, đau dạ dày, ghẻ lở, mụn nhọt… Ngày nay nghệ được sử dụngnhiều trong Tây y dưới các dạng dược phẩm trị sỏi mật, vàng da, táo bón kinh niên, rốiloạn tiêu hóa… Đồng thời nghệ còn được dùng như một thứ gia vị, chất tạo màu đểkhêu gợi vị giác và khích thích sự ngon miệng của người ăn Việc tận dụng nghệ, mộtnguồn nguyên liệu rẻ tiền, phong phú trong nước và áp dụng vào kỹ thuật bào chế Tây
y hiện đại sẽ tạo ra nguồn dược, mỹ phẩm nội địa, vừa kế thừa, phát huy tiềm năng yhọc cổ truyền, góp phần bảo vệ sức khỏe cho người dân
Với điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, thảm thực vật phong phú, nước ta có khoảng
18 loài nghệ, nhiều loài nghệ trong số này đã được nghiên cứu Một số loài tuy có têntrong sách phân loại nhưng hiện nay không tìm thấy, ngược lại một số loài nghệ khácđược tìm thấy nhưng chưa được định danh Trong nhiều năm qua đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về các loài nghệ và ứng dụng của chúng Loài bình tinh chét, hiệntrong nước đã được các tác giả Nguyễn Thị Bích Tuyết, Đặng Thị Thanh Nhàn nghiêncứu Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy mỗi loài, mỗi vùng đất thì thành phần và hàm
lượng các chất trong cây là khác nhau Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu thành phần hóa học của thân rễ cây bình tinh chét (Curcuma pierreana Gagnep.) ở Quảng Bình, Việt Nam” nhằm tìm hiểu về thành phần hóa học của loài cây này góp
phần phân loại thực vật chi Nghệ, trên cơ sở đó đề xuất hướng nghiên cứu và ứng dụngcủa loài này
Trang 22 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu TPHH tinh dầu thân rễ cây bình tinh chét tỉnh Quảng Bình.
- Nghiên cứu TPHH thân rễ bình tinh chét tỉnh Quảng Bình trong dung môi etanol
3 Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan tài liệu: Tìm hiểu các cây trong chi Curcuma và cây bình tinh chét về
đặc điểm thực vật, tình hình nghiên cứu, ứng dụng
- Thu mẫu và xử lý mẫu thực vật cây bình tinh chét ở Lệ Thủy, Quảng Bình
- Thu mẫu và xác định thành phần hóa học tinh dầu bộ phận thân rễ của
- Thu các dịch chiết từ thân rễ
- Xác định TPHH của các dịch chiết thân rễ
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Tinh dầu bộ phận thân rễ của cây bình tinh chét (Curcuma pierreana) lấy ở Lệ
Thủy – Quảng Bình
- Dịch chiết thân rễ cây bình tinh chét (Curcuma pierreana) lấy ở Lệ Thủy – Quảng Bình trong các dung môi etanol và metanol.
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp nghiên cứu các hợp chất tự nhiên, tổng quancác tài liệu về đặc điểm thực vật, TPHH, công dụng của một số cây thuộc chi Nghệ
(Curcuma) của họ Gừng (Zingiberaceae).
- Thực nghiệm:
+ Thu tinh dầu: Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước
+ Thu dịch chiết: Phương pháp ngâm chiết, chiết lỏng – lỏng
+ Xác định thành phần hóa học bằng GC/MS,
6 Bố cục khóa luận
Khoá luận gồm trang, trong đó có bảng và hình
Ngoài phần mở đầu ( 2 trang), kết luận ( trang), tài liệu tham khảo ( trang), vàphụ lục, nội dung của khoá luận được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan tài liệu ( 15 trang)
- Chương 2: Thực nghiệm ( trang)
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận ( trang)
Trang 3TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về họ Gừng (Zingiberaceae)
Họ Gừng (Zingiberaceae) có khoảng 45 chi và hơn 1300 loài, phân bố ở vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới, chủ yếu ở Nam và Đông Nam Châu Á Bao gồm những cây
có thân rễ lớn và chứa nhiều chất dự trữ Lá có những bẹ dài ôm lấy nhau thành thângiả, cuống ngắn và phiến lớn Thân thường có mùi thơm, ở nhiều loài thân khí sinh chỉxuất hiện khi cây ra hoa, mọc lên từ thân rễ, xuyên qua thân giả, ra ngoài mang ở phần
cuối một cụm hoa (chi Alipinia), nhưng có loài cụm hoa nằm ngay trên thân rễ ở sát
mặt đất Hoa không đều, đài hình ống, màu lục, tràng hình ống, phía trên chia ba thùy,thùy giữa lớn hơn hai thùy bên Chỉ có một nhị sinh sản (ở vòng trong) với hai baophấn lớn nứt phía trong Một cánh môi hình bản lớn, màu sặc sỡ, do ba nhị dính vớinhau và biến đổi thành, nằm đối diện với nhị sinh sản Hai nhị còn lại biến thành hainhị lép nhỏ nằm hai bên bao phấn (nhiều khi giảm chỉ còn lại những vảy nhỏ, hoặc mấthẳn) Bầu dưới có ba ô, mỗi ô chứa nhiều noãn Vòi nhụy chui qua khe hở giữa hai baophấn và thò ra ngoài Quả nang đôi khi là quả mọng Hạt có nội nhũ và cả ngoại nhũ
Ở nước ta hiện biết gần 20 chi và khoảng 1000 loài trong đó có nhiều cây có giá trị.[3]
1.2 Sơ lược về chi Nghệ (Curcuma)
Curcuma là một chi trong họ thực vật Zingiberaceae, được Linneus tập hợp các
loài lại và đề xuất từ năm 1753 Chi này có nguồn gốc từ vùng Malayan cổ đại Malayan), phân bố rộng rãi ở những vùng nhiệt đới từ châu Á đến châu Phi vàAustralia, đặc biệt là các vùng ẩm phía Bắc và Đông Bắc châu Á
(Indo-Cây thảo có thân rễ khoẻ, nạc, phân nhánh, thịt thường có màu, các củ rễ treo ởđầu ngọn rễ, đôi khi thân rễ yếu không có củ phình ở đầu Lá hình giải, hình mũi giáo,hay hình trái xoan, mọc đồng thời với hoa hoặc sau hoa Cán hoa mọc lên trên thân câygiữa những tán lá, hoặc mọc từ đất Cụm hoa hình trụ tạo thành bởi các lá bắc xếp sítnhau, thường có màu lục, phớt hồng, vàng hay đỏ ở ngọn tùy từng loài Ở nách của lábắc có hoa mau tàn, màu vàng hay màu hồng, có khi nằm thụt trong lá bắc Cánh môithường rộng và ngắn Quả nang có vỏ mỏng, hạt nhiều và có áo hạt Chúng thườngsinh trưởng và phát triển trong vòng 1 năm, lá phát triển thành tán rộng sum suê Sau
đó lại khô và lụi đi, sống đời sống tiềm sinh, đến năm sau lại mọc lên, sinh trưởng vàphát triển [3, 5]
Từ khi chi này hình thành (1753) cho đến nay, đã có hơn 130 loài được mô tả Tuynhiên, một số loài không được mô tả theo tiếng Latin hoặc không có mẫu chứng minhnên vẫn còn bị nghi ngờ hoặc chưa được xác định rõ ràng Do đó, chỉ khoảng 80 loài
Trang 4trong số đó được chấp nhận thuộc chi này Có khoảng 40 loài ở vùng nhiệt đới châu Á.
Ở nước ta có khoảng 18 loài [1, 4]
1.3 Tình hình nghiên cứu một số loài thuộc chi nghệ (Curcuma)
1.3.1 Curcuma longa (Curcuma domestica hay nghệ vàng) [2]
Thân rễ Curcuma longa đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp dược phẩm,thực phẩm và dệt may Nó được sử dụng rộng rãi như là một loại thuốc cổ truyền ởViệt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Bắc Châu Á với tác dụng kìm hãm các tácnhân gây ung thư, ngăn cản sự phát triển của các tế bào ung thư, điều tiết hoạt độnggan mật, giảm cholesterol, chống oxi hóa, viêm khớp, kháng các loại virus làm khảnăng miễn nhiễm của người, [21, 23]
Từ đầu thế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu đã phân lập được hợp chất curcumin 0,3%
từ thân rễ nghệ vàng, dạng tinh thể màu nâu đỏ, có khả năng kháng nấm, kháng khuẩnrất cao và được xem là một chất có triển vọng lớn trong điều trị viêm gan B, C HIVvới giá rẻ Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng đã phân lập được nhiều chất có hoạt tính
sinh học khác như curcumen, α-tocophenol, β-caroten, [21] Với nhiều tính năng
được sử dụng trong cuộc sống, trong những năm gần đây Curcuma longa vẫn tiếp tục
thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, đặc biệt là trên lĩnh vực dược học
Năm 1983, Yoshinobu Kiso và cộng sự đã chiết 2,0kg dược liệu thô "Ukon" (điều
chế từ thân rễ Curcuma longa) bằng EtOH-H2O (1:1, 3lít 4 lần), mỗi lần ngâm trong
5 ngày, sau khi cô đuổi dung môi thu được 212g cao EtOH Cao EtOH được chiết với
1 lít EtOAC thu được 76g cao tương ứng, lấy 10g tiến hành sắc ký cột trên silicagel(200g) với dung môi rửa giải lần lượt là CHCl3 → CHCl3-MeOH → MeOH Phânđoạn CHCl3 (3,5g) tiếp tục sắc ký cột trên silicagel (100g) với hệ dung môi n-hexan-EtOAc (97:3) thu được curlon (240mg) dạng lỏng, không màu, [α]D - 0,03o (CHCl3; c
2,16) [13].
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11
Trang 5và tiến hành sắc ký cột trên silica gel (20g) thu được (+)ar-turmeron (8mg) dạng lỏng,không màu, [α]D+54,0o (CHCl3; c 0,25), từ đó xác định được cấu hình của C7 là S [13].Năm 2001, Hoi - Scon Lee và các cộng sự đã công bố khả năng chống lại
Nilaparvata lugens (Homoptera - sâu bọ cánh giống: Delphacidae) và Plutella xylostella (Lepidoptera - Loài bướm: Yponomeutidae) của ar-turmernon trong thân rễ khô của Curcuma longa Để phân lập turmeron tác giả đã lấy 2kg thân rễ mua từ một
hiệu thuốc ở Seuol, Hàn quốc xay bột và chiết với MeOH (3lít 2lần) ở nhiệt độphòng trong 2 ngày Cô đuổi dung môi ở 35oC thu được 20g cao, chiết cao này lần lượtqua các dung môi n-hexan, clorofom, và EtOAc (mỗi dung môi 800ml 2lần), cuối
cùng còn lại 800ml cao nước Các dung môi hữu cơ cô đuổi dưới áp suất giảm ở 35oCthu được các cao tương ứng với khối lượng là 12,6g; 3,8g; 0,8g; riêng cao nước làm
khô đông lạnh thu được 2,8g Trong đó, cao n-hexan có hoạt tính tốt nhất đối với N Lugens trưởng thành và ấu trùng P Xylostella Do đó, tác giả tiến hành SKC silica gel
(70 - 230mesh, 500g, 6cm i.d x 67cm) cho 10g cao này với dung môi rửa là CHCl3 MeOH (50:1) Phân đoạn có hoạt tính mạnh nhất (1,6g) tiếp tục được chạy SKC silicagel với hệ dung môi n-hexan-EtOAc (30:1), sau đó tinh chế lại bằng HPLC với hệdung môi n-hexan - EtOAc (200:1), tốc độ dòng 4ml/phút và ở bước sóng 242nm thuđược 86mg chất có hoạt tính trừ sâu và được xác định là ar-turmeron [16]
-Năm 2007, Yongchi Zeng và các cộng sự phân lập được một số sesquiterpen loại
bisalon và hai dẫn xuất của calebin từ Curcuma longa với quy trình thực nghiệm như
sau: Từ thân rễ khô (2,5kg) lấy ở tỉnh Gui Zhou, Trung Quốc đem nghiền thành bột vàchiết siêu âm với EtOH 80% (8lít 3lần) trong 0,5 giờ Cô đuổi dung môi thu được
363g cao Cao EtOH được chạy SKC trên silica gel, rửa giải bằng hệ dung môi CHCl3
- MeOH có nồng độ tăng tuyến tính thu được 17 phân đoạn (A→Q)[23]
+ Phân đoạn C (16,2g) tiến hành SKC silica gel với cyclohexan - EtOAc với nồng
độ tăng tuyến tính thu được 11 phân đoạn (C1→C11) Phân đoạn C4 tiếp tục thực hiệnSKC pha đảo (C-18) thu được 2 phân đoạn C41 (MeOH - H2O, 60:40) và C42 (MeOH -
H2O, 80:40) Phân đoạn C41 tinh chế HPLC (C-8, MeOH - H2O, 63:35, tR:34,6) thuđược 5-hydroxyl-ar-turmeron (79,8mg) Phân đoạn C42 tinh chế bằng HPLC (C-8,
Trang 6SKC hở pha đảo (MeOH - H2O, 60:40), sau đó là HPLC (C-8, MeOH - H2O, 55:45,
tR:81,5) thu được turmerol B (36mg) [23]
+ Tương tự, phân đoạn D (31,5g) tiến hành SKC silica gel với hệ dung môicyclohexan - EtOAc, nồng độ tăng tuyến tính thu được 11 phân đoạn Phân đoạn D4
được tinh chế lần lượt bằng bởi SKC pha đảo (MeOH - H2O, 60:40), HPLC (C-8,MeOH - H2O, 60:40, tR:42,3) thu được (6S)-2-Metyl-6-(4-formylphenyl)-2-hepten-4-
on (4,5mg) chất lỏng dạng sệt, 25
D
với hệ dung môi cyclohexan-EtOH (10:1) thu được 2 phân đoạn D61 và D62 D61 tinhchế bằng HPLC (c-8, MeOH-H2O, 65:45, tR:75,1) thu được (6S)-2-metyl-6-(4-hydroxylphenyl-3-metyl)-2-hepten-4-on (11,8mg) dạng lỏng, sệt 25
D
[α] +51,1 (c 0,9;MeOH) là một sesquiterpen với bộ khung mới D62 tinh chế bởi HPLC (C-8, MeOH-
H2O, 60:40, tR:22,3) thu được (6S)-2-metyl-6-(4-hydroxylphenyl)-2-hepten-4-on(11,1mg), lỏng dạng sệt, 25
D
[α] +76,7o
(c 0,6, MeOH, tR:25,3) thu được bisalon-4-on(153,5g) và tR:39,9 thu được turmerol A (186,7mg) [2] Trong đó, (6S)-2-metyl-6-(4-hydroxylphenyl)-2-hepten-4-on và được (6S)-2-Metyl-6-(4-formylphenyl)-2-hepten-4-
on là 2 sesquiterpen bisalon mới
+ Phân đoạn G (21,6g) được tiến hành SKC trên silica gel với hệ dung môi CHCl3
- MeOH, nồng độ tăng tuyến tính cho 5 phân đoạn (G1→G5) G2 tiếp tục thực hiệnSKC pha đảo (C-18, MeOH - H2O, 40:60, 60:40) thu được 7 phân đoạn (G21→G27)
G23 được tinh chế bằng HPLC (C-8, MeOH-H2O, 38:62, tR:148,2) thu được hỗn hợpdẫn xuất calebin là 4"-(4"'-hydroxylphenyl-3"'-methoxyl)-2"-oxo'-3"-butenyl-3-(4'-hydroxyphenyl) propenoat và 4"-(4"'-hydroxylphenyl)-2"-oxo'-3"-butenyl-3-(4'-hydroxyphenyl)-3'-methoxyl)propenoat (7,9mg), dạng bột vô định hình, màu vàng
sáng [23].
Ngoài nghiên đối với thân rễ, năm 2007, Chunyan Liu và các cộng sự còn tiến
hành nghiên cứu đối với bộ phận rễ Curcuma longa thu ở tỉnh Qinghai, Trung Quốc.
Rễ sau khi lấy về được phơi khô, cắt nhỏ và chiết với EtOH 95% (3 lần) ở nhiệt độphòng trong 24 giờ Cô đuổi dung môi thu được 500g cao, hòa vào H2O và lần lượtchiết với ete dầu hỏa (nhiệt độ sôi 60 - 90oC), EtOAc, BuOH Phân đoạn EtOAc(102g) tiến hành SKC silica gel (kích thước 200-300, CHCl3) thu được curcumin L
[17].
O
1 2
3 4 5
6 7
8 9 10 11 12 13
15
Trang 71.3.2 Curcuma aeruginosa Roxb (Nghệ ten đồng, nghệ xanh) [2]
Curcuma aeruginosa Roxb được sử dụng làm thuốc trị hen suyễn, ho, hoại huyết
và rối loạn tâm thần trong y học dân tộc ở nhiều nước Năm 2007, Trần Thanh Lương
và các cộng sự đã công bố phân lập được một số hợp chất hóa học từ thân rễ loài này
Curcuma aeruginosa trồng ở Tam Đảo, Vĩnh Phú Thân rễ tươi (6,4kg) sau khi lấy
tinh dầu được sấy khô ở nhiệt độ 50 - 60oC còn lại 604g, xay nhỏ và ngâm với EtOHnhiều lần ở nhiệt độ phòng Cao EtOH được chiết lần lượt qua ete dầu, EtOAc thuđược 22,4g và 18,6g cao tương ứng [6]
Lấy 10g cao ete dầu hỏa tiến hành SKC silica gel (100g) với dung môi rửa giải lầnlượt là ete dầu hỏa/CHCl3 tử 100:0 → 90:10 → 0:100 và CHCl3 - EtOAc từ 100:0 →80:20 thu được 10 phân đoạn Tiếp tục tinh chế các phân đoạn SKC với hệ dung môiete dầu hỏa - CHCl3 với tỉ lệ 1:1 đối với phân đoạn 6 thu được zederon; tỉ lệ 25:75 chophân đoạn 7 (682g) thu được hỗn hợp stigmasterol và β-sistosterol và tỉ lệ 20:80 chophân đoạn 8 (99,5g) thu được rutaecarpin [6]
Đối với cao EtOAc (5g) tiến hành SKC silica gel (50g) với hệ dung môi etedầu/EtOAc (10:0 → 90:10 → 0:100) thu được 12 phân đoạn Tinh chế phân đoạn 3(225mg) bằng SKC silica gel với dung môi CHCl3 thu được evodiamin
N
N N
O
N H
N
N
H3C H
(Curcuma aff aeruginosa Roxb.) ở Hà Nội năm 1998 thu được các sesquiterpen và
sesquiterpenoic sau: -elemen (1,3%); isocaryophyllen (0,3%); -elemen (1,3%); curcumen (0,1%); -humulen (0,5%); -guaien + -muurolen (0,2%); (E)--farnensen(0,4%), furanodien (2,7%); virdifloren (0,6%); - chamigren (0,1%); -cadinen(0,1%); -sesquiphellandren (0,3%); humulen epoxit II (0,1%); furanodienon +curzerenon (23,1%); - eudesmol (0,6%); guaiazulen (1,3%); (E,E)-gemacron (5,2%);curdion (15,3%); curcumol (3,2%); curcumenol (2,7%) Bảy cấu tử đã được phân lập
-từ dịch chiết trên là furanodien; (E,E)-gemacron; furanodienon, curdion, curzerenon,
Trang 8Tác giả Trần Trung Tuyến bằng phương pháp GC-MS đã xác định được TPHHcủa dịch chiết thân rễ trong dung môi n-hexan của cây nghệ xanh huyện Hướng Hoá,Quảng Trị gồm: -elemen (2,98%); -elemen (6,09%); E,E- -farsenen (3,00%);germaron (5,21%) và một số cấu tử chưa định danh có hàn lượng tương đối cao [9].
1.3.3 Curcuma zedoaria (Nghệ đen, ngải tím) [2]
Thân rễ Curcuma zedoaria được dùng như là một phương thuốc điều trị dạ dày và
các bệnh về đường ruột Theo các kết quả nghiên cứu, thành phần hóa học chủ yếu làcác sesquiterpenoit
Năm 1985, Yoshinori Shiobara và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu các bộ
phận của Curcuma zedoaria Roscoe Mua từ đảo Yahushima, Nhật Bản Đối với bộ
phận thân rễ khô (16kg), các tác giả đem chiết với CH2Cl2 trong 3 ngày, cô đuổi dungmôi thu được 500g cao Lấy 5g thực hiện sắc ký cột silica gel (100g) với hệ dung môin-hexan - EtOAc có nồng độ tăng tuyến tính từ 99:1 (n-hexan, 400ml) → 98:2 (200ml)
→ 97:3 (750ml) → 95:5 (1500ml) thu mỗi phân đoạn 50ml Phân đoạn 14 cô đuổidung môi và tiến hành SKC Sephdex LH-20 (CHCl3 - MeOH, 1:1) thu được germacron(22mg, mp50 - 51o) Cao của phân đoạn 15-17 thực hiện SKC silica gel với n-hexan -EtOAc (2:1) thu được curzeremon Phân đoạn 19-22 xử lý tương tự thu đượcfuranodienon (127mg, mp89 - 91o) Phân đoạn 23-25 chứa hai spirolacton (124mg)được tinh chế bằng HPLC điều chế cho curcumanol A (23mg) và curcumanol B(14mg) Các phân đoạn 28-32 và 34-40 tiến hành SKC silica gel (n-hexan - CH2Cl2,1:2) thu được dehydrocurdion (502mg)và isocurcumenol (61mg), tương ứng Tương
tự, đối với phân đoạn 44-46 rửa giải bằng CH2Cl2 thu được zederon (180mg); phânđoạn 54-57 thu được curcumenol (104mg) và phân đoạn 61-69 với hệ dung môi
CH2Cl2 - CHCl3 (1:1) thu được curcumenon (136mg) [20]
Đối với chồi non (58g) tác giả cắt nhỏ và chiết với CH2Cl2 trong 3 ngày Cao thuđược (130mg) tiến hành SKC trên silica gel (5g) với CH2Cl2 thu mỗi phân đoạn 20ml.Phân đoạn 8-10, cô đuổi dung môi, sau đó tiến hành CKC Sephadex LH-20 với hệdung môi rửa giải là CHCl3 - MeOH (1:1) thu được (+)-germacron-4,5-epoxit (4,4mg)[20]
Cũng với Curcuma zedoaria lấy ở đảo Yakushima, Nhật Bản, Isao Louo và
Nobusuke chiết thân rễ tươi với MeOH Cao MeOH (214g) hòa tan trong 1lít H2O vàchiết lần lượt với đietyl ete (300ml) và n-BuOH (300ml) Dịch n-BuOH cô đuổi dungmôi và chạy Amberlite XAD-2CC, rửa giải với H2O → H2O - MeOH (1:1) → MeOH
Trang 9Hai phân đoạn sau được gộp lại và cô kiệt dung môi thu được 11g cao, tiến hành SKCsilica gel (CHCl3 - MeOH, 4:1) thu mỗi phân đoạn 50ml Gộp phân đoạn 10-15 và tiếptục SKC với EtOAc (9:1) thu mỗi phân đoạn 30ml Phân đoạn 10-13 kết tinh lại trongCHCl3 thu được zedoarondiol (324mg) [18].
H Makabe và cộng sự chiết thân rễ tươi Curcuma zedoaria (3,6kg, cây trồng ở
Okinawa, Nhật Bản) với MeOH Cao thô thêm nước và chiết lần lượt với benzen,EtOAc thu được hai cao tương ứng với khối lượng 7,8g và 0,6g Phần cao benzen cóhoạt tính chống viêm được chạy SKC silica gel (400g) với hệ dung môi EtOAc - n-hexan nồng độ tăng theo kiểu bậc thang (10%) Phân đoạn 20% EtOAc - n-hexan(1,6g) tiếp tục tinh chế bằng TLC thu được furanodien (8mg), furanodienon (384mg),urfurenon (4mg), curzedon (7mg), germacron (10mg) và một hợp chất dạng dẻo,không màu (8mg), có công thức như sau
O
O
1 2 3
8
9 10
11 12
13 14
15
Xử lý tương tự đối với phân đoạn 30% EtOAc - n-hexan (3,4g) thu đượcdehydrocurion (33mg); phân đoạn 40% (0,88g) thu được zederon (70mg) vàcurcumenon (22mg)
Phân đoạn EtOAc (0,6g) cũng tiến hành SKC silica gel (30g) với hệ dung môi cónồng độ tăng tiến theo kiểu bậc thang 10% EtOAc - n-hexan Phân đoạn 70% (25mg)được tinh chế bằng TLC thu được zedoarinediol (20mg)
Furanodien và furanodienon có hoạt tính chống viêm chứng phù tai trên Đây làphát hiện đầu tiên về những sesquiterpenoit khung germacron có hoạt tính chống viêm[19]
Năm 2003, Hideo Etoh và cộng sự chiết rễ (800g) Curcuma zedoaria trồng ở
Okinawa, Nhật Bản Cao hexan (3,47g) được SKC silica gel với hệ dung môi hexan - EtOAc (9:1) thu được isoprocurmenol (29mg, 0,0033%) Isoprocurcumenol cókhả năng ức chế đối với The blue mussel (0,7mg/ đường kính 4cm) Mạnh gấp 2 lần sovới chuẩn CuSO4 [11]
n-1.3.4 Curcuma aromatica
Năm 1986, Masanori Kuroyanagi và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu thân
rễ Curcuma aromatica trồng ở vườn thuốc trường đại học dược Shizuoka, Nhật Bản.
Tác giả đã chiết thân rễ tươi bằng MeOH ở nhiệt độ phòng, lọc và cô đuổi dung môi
Trang 10thu được cao MeOH Phần bã còn lại chiết với CHCl3 ở nhiệt độ phòng thu được caoCHCl3 Cao MeOH thêm nước và cũng chiết với CHCl3 Gộp hai cao CHCl3 (37g) vàtiến hành SKC silica gel với hệ dung môi benzen - EtOAc (1:1) thu được 5 phân đoạn[14, 15].
Phân đoạn I tiến hành SKC silia gel với hệ dung môi n-hexan - EtOAc nồng độtăng tuyến, sau đó chạy HPLC với hệ dung môi axetonitril - nước và cuối cùng là tinhchế bằng PLC với hệ dung môi n-hexan - EtOAc thu được isoprocurcumenol (150mg),epiprocurcumenol (30mg), neoprocurcumenol (60mg), (4S)-hydroxydehydrocurrdinon(15mg), (4S,5S)-13-axetoxygermacron-4,5-epoxi (25mg) và 13-hydroxygermacron(240mg) [15]
Thực hiện SKC silica gel với hệ dung môi n-hexan - EtOAc có nồng độ tăng tuyếntính, từ phân đoạn II phân lập được germacron (550mg), curdion (720mg) và (4S,5S)-germacron-4,5-epoxit Phân đoạn III phân lập được dehydrocurdion (90mg),neocurdion (150mg) và curcumenon (800mg) [14]
Phân đoạn IV cũng tiến hành SKC với các hệ dung môi có nồng độ tăng tuyến tínhCHCl3 - CH3OH → n-hexan - EtOAc thu được procurcumenol (210mg) vàmetylzedoarondiol (160mg) [14]
Phân đoạn V tiến hành SKC với hệ dung môi CHCl3 - MeOH có nồng độ tăngtuyến tính, sau đó tinh chế bằng PTLC với hệ dung môi benzen - EtOAc - MeOH(2:2:1) thu được zedoarondiol (250mg) và isozedoarondiol (80mg) [14]
Năm 2003, Hideo Etoh và cộng sự chiết rễ (2,1kg) của Curcuma aromatica trồng
ở Okinawa, Nhật Bản với hệ dung môi hexan (3lít x 2), sau đó là EtOAc Cao hexan (11g) tiến hành SKC silica gel với hệ dung môi n-hexan - EtOAc (3:1) thu đượcneocurdion (762mg; 0,036%) Cao EtOAc (2,7g) SKC silica gel với hệ dung môi n-hexan - EtOAc nồng độ tăng tuyến tính, sau đó chạy HPLC thu được 9-oxo-neoprocurrcumenol (8,6g; 0,0004%) [11]
OH H
O O
1 2
3
4 5
6 78 9 10
11 1213 14
15
Neocurdion và 9-oxo-neoprocurcumenol đều có khả năng ức chế đối với The Bluemussel (0,7mg/ đường kính 4cm), mạnh gấp 2 lần so với chuẩn CuSO4 (1,0mg/ đườngkính 4cm) [11]
Trang 11Theo tác giả Lương Sĩ Bỉnh, tinh dầu thân rễ Curcuma aromatica Việt Nam có
màu lục nhạt, có mùi thơm dễ chịu và các hằng số vật lí: nD30= 1,5150; d20=1,0107.Phân tích tinh dầu bằng GC/MS kết quả thu được: 1,8–cineol (1,55%); terpinolen(2,12%); β–elemen (1,52%); humulen (2,56%); curzerenon (38,78%); germa–1(10), 4,7(11)-trien–8–on (11,22%)… [8]
1.3.5 Curcuma xanthorrhiza
Năm 1985, Hideji Itokawa và cộng sự chiết 800g dược liệu thô (Thân rễ khô
curcuma Xanthorrhiza) mua từ Indônesia với CH3OH (2,5 lít x 3 lần) Cao MeOH(113g) thêm nước và chiết lần lượt với các dung môi n-hexan, clorofom, n-butanol(mỗi dung môi chiết 3 lần) Cao n-hexan có hoạt tính chống lại Sacoma 180 ascitestrên chuột được tách phân đoạn bằng SKC silica gel qua các dung môi n-hexan →benzen → benzen - clorofom (1:1) → clorofom → clorofom - MeOH (1:1), trong đóphân đoạn n-hexan và benzen có hoạt tính mạnh nhất
Tiến hành SKC silica gel phân đoạn hexan với dung môi rửa giải cũng là hexan cho 6 phân đoạn Phân đoạn 5 được tinh chế bằng TLC trên silica gel với hệdung môi rửa giải là n-hexan - EtOAc (19:1) tại Rf = 0,66 thu được α-curcumen
n-Phân đoạn benzen cũng tiến hành SKC silica gel vớ n-hexan → benzen thu được
45 phân đoạn Các phân đoạn 2 và 3 tinh chế bằng TLC như trên thu được ar-tumeron
tại Rf = 0,11 từ phân đoạn 3 [12]
Năm 2009 Kazuaki và cộng sự đã phân lập được hợp chất có hoạt tính kháng
khuẩn babesial từ curcuma xanthorrhiza, trồng ở Lampung Inđônêsia Tác giả chiết
125g thân rễ khô với 3 lít EtOH 70% Dịch chiết sau khi cô đuổi dung môi, thêm 1 lítnước và chiết với EtOAc (750ml x 3 lần) thu được 1,94g cao EtOAc Tiến hành SKCtrên silica gel (200g) với dung môi rửa giải lần lượt là CHCl3 (1 lít) → MeOH - CHCl3
(3:97, 1 lít) → MeOH - CHCl3 (1:9, 1 lít) cho ra 5 phân đoạn (A→H) Trong đó, phânđoạn F (647mg) có hoạt tính sinh học mạnh, tiến hành SKC trên silica gel (60g) với hệdung môi n-hexan - EtOAc (2:1) thu được 4 phân đoạn Phân đoạn III (42mg) có hoạttính sinh học được tinh chế bằng HPLC với hệ dung môi H2O - MeOH thu được 3'-demetoxycyclocurcumin (1,4mg, tR: 32,7 phút) [22]
1.4 Tình hình nghiên cứu loài bình tinh chét
* Về đặc điểm thực vật, chúng tôi nhận thấy loài bình tinh chét ở Quảng Bình gần
giống với loài bình tinh chét (Curcuma pierreana Gagnep.) ở Thừa Thiên Huế [10] và loài bình tinh chét (Curcuma cochinchinensis Gagnep.) ở Quảng Trị [7]
Trang 12Bảng 1.1 So sánh đặc điểm thực vật cây bình tinh chét ở Quảng Bình với loài
bình tinh chét (Curcuma pierreana Gagnep.) ở Thừa Thiên Huế và loài bình tinh chét (curcuma cochinchinensis Gagnep.) ở Quảng Trị.
Lá bắc màu xanh tím,chót lá có viền tím hồng,cánh môi màu vàng có vạch
đỏ Phát hoa từ thân rễ
Hình 1.1 Hình ảnh cây bình tinh chét (C pierreana Gagnep.) ở Huế
Trang 13Hình 1.2 Hình ảnh cây bình tinh chét (C cochinchinensis Gagnep.) ở Quảng Trị
* Về hoá học
Loài C Pierreana Gagnep ở Huế đã được tác giả Nguyễn Thị Bích Tuyết nghiên
cứu về TPHH của tinh dầu thân rễ, tinh dầu hoa và lá [10] Kết quả được trình bày cụthể trong bảng 1.2 và bảng 1.3
Bảng 1.2 TPHH tinh dầu lá và hoa loài C Pierreana Gagnep ở Huế [10]
Trang 14* Loài Curcuma cochinchinensis Gagnep ở Quảng Trị đã được tác giả Đặng Thị
Thanh Nhàn nghiên cứu dịch chiết trong metanol [7]
Phân đoạn dịch chiết thân rễ trong n-hexan chứa các cấu tử chính là axit (axitlinoleic, axit palmitic), este (benzyl benzoat) và các monoterpen như 1,8- cineol,terpinen-4-ol Các cấu tử monoterpen như isoborneol và camphor đã tạo nên mùithơm đặc trưng của loài cây này Kết quả cũng cho thấy số lượng cấu tử chưa đượcđịnh danh là rất nhiều và không thấy sự có mặt của một số monoterpen và sesquiterpen
quen thuộc, thường thấy trong các dịch chiết của các loài thuộc chi Curcuma.
Từ phân đoạn clorofom, tác giả đã phân lập được germacron dimetyl-10-(propan-2-yliden)cyclodeca-3,7-dienon)
((3E,7E)-3,7-O
Các phân đoạn dịch chiết n-hexan, clorofom, butanol, metanol vẫn còn nhiều cấu
tử hàm lượng cao và chưa phân lập được
Các dịch chiết n-hexan, clorofom, butanol và germacron đều thể hiện hoạt tính
kháng 2 chủng vi khuẩn Gram (-) là Pseudomonas aeruginosa và Escherichia coli, không có hoạt tính kháng đối với 2 chủng vi khuẩn Gram (+) là Staphylococcus aureus, Streptococcus faecalis và với chủng nấm Candida albicans.
1.5 Tình hình nghiên cứu về hóa học loài bình tinh chét ở Quảng Bình
Hiện nay tác giả Lý Thị Thu Hoài đang có công trình luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu thành phần hóa học cây bình tinh chét ở Quảng Bình, Việt Nam” Ngoài ra chưa
tìm thấy tài liệu nào nghiên cứu về loài bình tinh chét ở Quảng Bình
Trang 16Chương 2.
THỰC NGHIỆM 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Giới (kingdom) : Plantae (thực vật)
Ngành (divison) : Magnoliophyta (thực vật có hoa)
Lớp (class) : Liliopsida (thực vật một lá mầm)
Họ (famili) : Zingibereae (họ gừng)
Chi (genus) : Curcuma L.
Loài (spiecies) : Curcuma pierreana
Cây thảo cao khoảng 20cm Thân rễ nhỏ, đường kính 1 – 1,5cm, màu trắng ngà, cónhiều vảy xếp lợp lên nhau Rễ con nhỏ, đường kính chỉ khoảng 0,5mm, dài khoảng10-15cm, đâm thẳng xuống đất, nối liền giữa thân rễ và củ rễ Cây cao khoảng 20 - 30