Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp được sử dụng nhiều nhất trong toàn bộ luận án nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ qua việc tra cứu, phân tích các tài liệu, các công trình nghiên cứu về văn h
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Đình Mạnh
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 5
Chương 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
LUẬN VÀ KHUYẾN HỌC Ở XỨ THANH 11
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11
1.2 Cơ sở lý luận 16
1.2.1 Một số khái niệm công cụ 16
1.2.1.1 Khuyến học 16
1.2.1.2 Dòng họ 17
1.2.1.3 Văn hóa dòng họ 19
1.2.1.4 Dòng họ khoa bảng 22
1.2.2 Khuyến học qua văn hóa dòng họ 23
1.3 Khuyến học ở xứ Thanh 26
1.3.1 Xứ Thanh - môi trường tự nhiên và xã hội cho việc học 26
1.3.2 Động cơ của tinh thần hiếu học 31
1.3.3 Khuyến học qua hương ước 36
1.3.4 Tác động của yếu tố tâm linh 41
1.3.5 Ảnh hưởng của giáo dục Nho giáo 45
Tiểu kết chương 1 51
Chương 2 : KHUYẾN HỌC DÒNG HỌ Ở XỨ THANH 52
2.1 Khuyến học dòng họ trong truyền thống xứ Thanh 52
2.1.1 Dòng họ là chỗ dựa tinh thần 53
2.1.2 Dòng họ hỗ trợ vật chất 56
2.1.3 Vinh danh người học 60
2.1.4 Kế thừa “gien” khoa bảng 66
2.1.5 Yếu tố tâm linh dòng họ 71
2.1.6 Ràng buộc của dòng họ 76
2.1.7 Trách nhiệm của người đỗ đạt 79
Trang 32.2 Khuyến học trong một số dòng họ tiêu biểu xứ Thanh 81
2.2.1 Khuyến học của dòng họ Lê 82
2.2.2 Khuyến học của dòng họ Nguyễn 88
2.2.3 Khuyến học của dòng họ Đỗ 94
Tiểu kết chương 2 99
Chương 3 : KHUYẾN HỌC DÒNG HỌ Ở XỨ THANH HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 100
3.1 Thực trạng khuyến học dòng họ ở xứ Thanh hiện nay 100
3.1.1 Sự nối tiếp truyền thống hiếu học 100
3.1.2 Tinh thần hiếu học dòng họ là hành trang lập nghiệp 104
3.1.3 Sự “đứt đoạn” truyền thống của một số dòng họ khoa bảng 110
3.1.4 Bước khởi đầu của một số dòng họ “chưa khoa bảng” 115
3.2 Vai trò của khuyến học dòng họ trong bối cảnh hiện nay 119
3.2.1 Giá trị tích cực của khuyến học dòng họ 119
3.2.2 Một số hạn chế của khuyến học dòng họ hiện nay 125
3.3 Một số giải pháp phát huy giá trị khuyến học qua văn hóa dòng họ 131
3.3.1 Tiếp thu truyền thống và đa dạng hóa khuyến học dòng họ 132
3.3.2 Tôn vinh những tấm gương tiêu biểu trong học tập của dòng họ.134 3.3.3 Tăng cường trách nhiệm của cộng đồng trong khuyến học dòng họ 136
3.3.4 Kết nối mạng lưới xã hội cho hoạt động khuyến học dòng họ 138
Tiểu kết chương 3 141
KẾT LUẬN 142
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia có truyền thống trọng việc học hành Việc chăm lo đến giáo dục là mối quan tâm thường xuyên của mọi người, mọi nhà, là một biện pháp quan trọng góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, vì lợi ích của Tổ quốc và lợi ích của chính bản thân mỗi người Trong nhiều năm qua, khuyến học được đề cao như một biện pháp hiệu quả để hướng tới việc xây dựng một xã hội học tập cho mọi người Hiện tại, các địa phương trên cả nước đều thành lập tổ chức Hội khuyến học cấp tỉnh, thành phố và cả ở các xã, phường, thị trấn, cho đến tận thôn bản Các hoạt động như: Tạo Quỹ khuyến học, tặng học bổng, xây dựng các công trình giáo dục … được tổ chức khá rầm rộ và bước đầu đạt hiệu quả xã hội tốt
Tuy nhiên, khía cạnh gốc rễ của khuyến học bắt đầu ngay từ trong cái nôi nuôi dưỡng, hun đúc nên phẩm chất trí tuệ, nhân cách con người từ thủa nhỏ, đó chính là gia đình và dòng họ Mối liên hệ huyết thống của người Việt (cá nhân – gia đình – dòng họ và xã hội) là mối liên hệ bền chặt, ổn định Việc học tập không chỉ
là ước vọng của cá nhân người học mà còn là khát khao, sở nguyện của cả gia đình, dòng họ Tinh thần hiếu học nảy sinh từ các cá nhân, gia đình rồi lan tỏa trong dòng
họ và truyền thống hiếu học đã được nhân lên bằng chính sự nỗ lực của các cá nhân trong dòng họ ấy Tinh thần khuyến học cũng được nuôi dưỡng trên cơ sở mạch nguồn này Vì vậy, khuyến học dòng họ phải được nhìn nhận như một ứng xử văn hóa của từng dòng họ trong sự tồn tại và phát triển của cộng đồng Họ tộc kế thế đăng khoa là vinh dự, là niềm tự hào để con cháu noi theo, nhưng mặt khác, đó cũng chính là tấm gương, là sự khích lệ các sĩ tử của các họ tộc khác cùng phấn đấu vươn lên Truyền thống cha dạy con, ông dạy cháu, anh em bảo nhau là truyền thống tốt đẹp, là nét văn hoá đặc sắc, là mạch ngầm văn hoá dân gian về tinh thần
hiếu học của các làng quê Việt Nam mà đến nay vẫn còn vẹn nguyên giá trị
Thanh Hóa là một vùng đất có truyền thống lâu đời nằm ở cực Bắc Trung
Bộ Đây là một vùng đất được nhà nước phong kiến (thời vua Lê Thánh Tông) gọi
là Thanh Hoa xứ như cách gọi về xứ Đông, xứ Đoài, xứ Nghệ Người dân Thanh
Hóa xưa nay vẫn quen gọi quê mình là “xứ Thanh” hàm chứa niềm tự hào về một
Trang 6miền quê với nhiều giá trị truyền thống của một tiểu vùng văn hóa Do đó, luận án chọn tên gọi dân gian “xứ Thanh” cho việc nghiên cứu khuyến học dòng họ như một nét văn hóa ở vùng đất giàu truyền thống này
Do những đặc thù riêng của vùng đất với những điều kiện tự nhiên và xã hội khác biệt nên khuyến học xứ Thanh cũng có những nét vừa chung, vừa riêng so với khuyến học của nhiều địa phương trong cả nước Xứ Thanh là vùng đất sản xuất nông nghiệp, thiên tai, lũ lụt, hạn hán quanh năm nhưng người xứ Thanh từ xưa đến nay vẫn tự hào về truyền thống hiếu học, chuộng học, quý học Từ xa xưa, người xứ Thanh đã quan tâm và luôn có những đầu tư thích đáng cho việc học, thông qua hoạt động khuyến học Ở một vùng quê có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đời sống khá đói nghèo, người dân xứ Thanh không cam chịu, đã vươn lên tự cải thiện cuộc sống của mình, khẳng định vị thế của bản thân, gia đình và dòng họ mình bằng chính sự học Học tập là nét đẹp văn hoá nhưng cũng là một phương kế mưu sinh của một vùng quê hiếu học Khuyến học dòng họ chính là gia tăng kết nối của từng
cá nhân trong dòng họ và giữa các dòng họ trong cộng đồng Sự kết nối này đã vượt qua phạm vi làng xóm, vùng miền mà trở thành sự thu hút mọi nguồn lực cho việc học và tạo nên sự cố kết dòng họ cũng bởi vì chính việc học đó
Từ trước đến nay đã có một số sách viết về các dòng họ xứ Thanh, trong đó
có đề cập đến tinh thần hiếu học, nhưng chưa có tác giả nào, công trình nào nghiên cứu tập trung về khuyến học như một nét văn hoá dòng họ một cách độc lập và có
hệ thống Do vậy, việc nghiên cứu khuyến học qua văn hoá dòng họ ở một số dòng
họ xứ Thanh sẽ làm rõ những vấn đề xã hội mang ý nghĩa văn hoá, góp phần lý giải nguyên nhân thành công của việc khuyến học của người Thanh Hóa xưa và nay
Trang 7Luận án đặt ra câu hỏi nghiên cứu chính là: Văn hóa dòng họ đã tạo dựng
truyền thống khuyến học như thế nào và khuyến học đã góp phần định hình văn hóa dòng họ như thế nào?
Với những mục tiêu cụ thể như sau:
- Khái quát được những đặc điểm cơ bản của việc khuyến học qua văn hóa dòng họ ở xứ Thanh
- Chỉ ra những giá trị của văn hóa khuyến học dòng họ ở xứ Thanh trong truyền thống và hiện nay
- Đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục phát huy giá trị văn hóa khuyến học dòng họ trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là đi sâu vào tìm hiểu truyền
thống khuyến học dòng họ ở xứ Thanh qua một số dòng họ khoa bảng tiêu biểu Luận án chọn 3 dòng họ khoa bảng tiêu biểu có số lượng người đỗ đạt cao thời kỳ phong kiến ở xứ Thanh là: Dòng họ Lê, dòng họ Nguyễn và dòng họ Đỗ, trong đó 2 dòng họ Lê và Nguyễn hiện nay vẫn tiếp tục phát huy được truyền thống khoa bảng của mình, còn dòng họ Đỗ đã bị “đứt đoạn” truyền thống Đồng thời, thông qua việc
so sánh khuyến học dòng họ xứ Thanh với khuyến học của một số dòng họ tiêu biểu của 3 địa phương giàu truyền thống khoa bảng là: Thăng Long – Hà Nội, Nghệ An
và Hải Dương, luận án sẽ chỉ ra những nét đặc trưng trong khuyến học dòng họ của mỗi địa phương, đặc biệt là sự trội vượt trong văn hóa khuyến học dòng họ xứ Thanh
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Cùng sinh sống trên đất Thanh Hóa hiện nay có 7
dân tộc chính gồm: Kinh, Mường, Thái, Dao, Tày, H’mông, Khơ Mú nhưng truyền thống khoa bảng được ghi nhận trong thời phong kiến đều thuộc về các dòng họ người Kinh Vì vậy, đối tượng chính của luận án là các dòng họ khoa bảng người Kinh ở xứ Thanh
Tuy nhiên, để có cái nhìn tổng thể về khuyến học ở xứ Thanh, ở chương 3 luận án cũng sẽ đề cập đến việc khuyến học của một số dòng họ dân tộc thiểu số tiêu biểu trong giai đoạn hiện nay Ngoài các cá nhân và dòng họ khoa bảng đã vinh
Trang 8hiển ở xứ Thanh, luận án có đề cập đến một số cá nhân, dòng họ là người Kinh xứ Thanh đã thành danh ở địa phương khác, cũng như một số dòng họ khoa bảng ở một
số vùng đất học khác nhằm so sánh và đúc rút những luận cứ khoa học của mình
4 Phương pháp nghiên cứu
Bốn phương pháp nghiên cứu chính được luận án sử dụng là: Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, phương pháp so sánh tổng hợp, phương pháp điều tra điền
dã, phỏng vấn sâu và phương pháp hồi cố tư liệu lịch sử
4.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp được sử dụng nhiều nhất trong
toàn bộ luận án nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ qua việc tra cứu, phân tích các tài liệu, các công trình nghiên cứu về văn hóa dòng họ, khuyến học dòng họ, làng xã và văn hóa làng khu vực châu thổ sông Hồng, lưu vực sông Mã … của các nhà nghiên cứu trước đó để có cái nhìn tổng thể, khoa học hơn về thực trạng nghiên cứu vấn đề, cũng như quan điểm của các nhà khoa học nhằm tìm tiếng nói chung về vấn đề khuyến học qua văn hóa dòng họ Việt Nam nói chung và xứ Thanh nói riêng
Tuy nhiên, những dữ liệu cụ thể về truyền thống khoa bảng xưa của các dòng họ được xuất bản chính thống rất ít, mà hầu hết chỉ được ghi lại qua hương ước, gia phả (đa số cũ nát và ít dịch ra chữ Quốc ngữ) hoặc qua lời kể của các nhân vật cung cấp tư liệu (ông trưởng họ, người giữ nhà thờ họ, cán bộ khuyến học xã, thôn …) nên tư liệu phục vụ nghiên cứu vẫn còn hạn chế
4.2 Phương pháp so sánh, tổng hợp là phương pháp được sử dụng nhiều
trong luận án nhằm phân tích các số liệu, các hiện tượng để tìm ra mẫu số chung cho truyền thống khuyến học của các dòng họ xứ Thanh Phân tích những số liệu ngẫu nhiên về các nhà khoa bảng, về số lượng người đỗ đạt của từng dòng họ (ít nhất trong 3 dòng họ chọn mẫu), từng vùng đất … bước đầu gợi mở hướng nghiên cứu về truyền thống khuyến học dòng họ, những yếu tố tạo nên sự khác biệt của dòng họ này so với dòng họ khác hay của cả xứ Thanh nói chung so với các vùng đất khác
Luận án đặt truyền thống khuyến học của một số dòng họ xứ Thanh trong mối tương quan với các dòng họ tiêu biểu ở các địa phương khác như Thăng Long –
Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, để có sự đối chiếu, so sánh nhằm tìm ra nét tương
Trang 9đồng và sự khác biệt giữa chúng Việc so sánh, xử lý các số liệu liên quan đến truyền thống khoa cử, tần xuất đỗ đạt và quan hệ huyết thống của các vị đại khoa trong các dòng họ khoa bảng để có cái nhìn toàn cục hơn về truyền thống khoa bảng dòng họ, như một sự gợi ý về các biện pháp khuyến học dòng họ và thái độ ứng xử đối với việc khuyến học như một nét văn hóa của dòng họ đó
4.3 Phương pháp điều tra điền dã, kết hợp sử dụng nghiên cứu sâu về văn
hoá dân gian, tiếp cận, phỏng vấn sâu các ông trưởng họ, ông thủ từ nhà thờ họ, cán
bộ khuyến học các cấp ở các làng và các dòng họ khoa bảng nổi tiếng xứ Thanh, họ Lương làng Hội Triều, họ Vũ làng Mộ Trạch, Hải Dương …vv, quan sát thực địa, tham gia các hoạt động tế lễ nhân ngày giỗ tổ, hội làng, ghi âm, ghi hình các nhân vật, sự kiện tại Mộ Trạch, Nguyệt Viên, Hoằng Lộc, Gia Miêu, Cổ Định, Quảng Lưu, … để tìm hiểu những nhân tố của từng gia đình, dòng họ đã làm nên truyền thống tốt đẹp đó
Phương pháp hồi cố tư liệu và điều tra điền dã được sử dụng nhiều ở chương
2 và chương 3 của luận án, trong đó, chú trọng nghiên cứu truyền thống khoa cử, khuyến học của xứ Thanh và của 3 dòng họ xứ Thanh (dòng họ Lê, họ Nguyễn và
họ Đỗ)
4.4 Phương pháp hồi cố tư liệu lịch sử được sử dụng tập trung ở chương 1
và chương 2 của luận án để có cái nhìn biện chứng, tìm ra được nét chung liên quan đến truyền thống khuyến học ở các địa phương, dòng họ xứ Thanh xưa trong bối cảnh giáo dục Nho học Việt Nam thời kỳ cực thịnh Từ đó, đánh giá khách quan và khoa học về truyền thống khuyến học được biểu hiện như một nét đẹp văn hoá cần phát huy
Hồi cố các tư liệu lịch sử về một vùng đất “địa linh nhân kiệt’ xứ Thanh với những điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội đặc biệt, quy định nên tố chất con người của một vùng đất ở vị trí trung gian giữa miền Bắc và miền Trung này Từ đó, để thấy được người xứ Thanh xưa đã quan niệm và đầu tư cho việc học như thế nào? Việc khuyến học (dù chưa được gọi tên như hiện nay) đã đi vào đời sống và trở thành nét văn hóa dòng họ như thế nào? đã có tác dụng thúc đẩy (và làm thay đổi) đời sống của người dân xứ Thanh ra sao?
Trang 105 Đóng góp của luận án
5.1 Luận án góp phần bổ sung và làm phong phú thêm nguồn tư liệu nghiên
cứu về khuyến học Việt Nam, khuyến học xứ Thanh và khuyến học như một nét văn hoá truyền thống của một số dòng họ ở xứ Thanh, qua đó giúp các nhà nghiên cứu có cơ sở để tiếp tục tìm hiểu về văn hóa khuyến học Việt Nam
5.2 Thông qua nghiên cứu về khuyến học của một số dòng họ xứ Thanh xưa
và nay, có đối sánh với một số dòng họ tiêu biểu ở một số địa phương khác để giải
mã nguyên nhân thành công trong việc khuyến khích học tập của các dòng họ
5.3 Tiếp thu kết quả nghiên cứu của những người đi trước, kết hợp với việc
khảo sát thực địa tại địa phương, luận án nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về khuyến học của một số dòng họ tiêu biểu của xứ Thanh Từ đó, nêu bật nét đặc trưng và giá trị của khuyến học ở đây, góp phần làm rõ nguyên nhân nào khiến dòng họ trở thành nền tảng, là cơ sở nuôi dưỡng tinh thần hiếu học và tại sao khuyến học lại trở thành một nét văn hóa dòng họ
5.4 Luận án đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa dòng họ
về khuyến học ở xứ Thanh trong việc nâng cao dân trí, cung ứng nguồn nhân lực, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho quê hương và đất nước; là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách có những chủ trương thích hợp nhằm tạo cơ cấu nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập hiện nay
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ KHUYẾN HỌC Ở XỨ THANH
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu về giáo dục và dòng họ Việt Nam xưa và nay đã được nhiều học giả quan tâm và đã có nhiều công trình công bố rất có giá trị Tìm hiểu về dòng
họ Việt Nam cũng đã có một số công trình đáng chú ý như những nghiên cứu về vua Lê, chúa Trịnh, dòng họ Nguyễn, họ Trần, họ Vũ – Võ, Huỳnh – Hoàng, Đỗ - Đậu … Các công trình đã nêu được lịch sử hình thành và phát triển của dòng họ Việt Nam, sự hình thành, những nét đặc trưng và quá trình phát triển, thịnh suy của các dòng họ, thành tích đỗ đạt xưa của các dòng họ, nhưng nghiên cứu về khuyến học qua văn hóa dòng họ chưa được quan tâm hoặc có đề cập đến thì chỉ giới thiệu xen kẽ trong các nội dung khác Có thể nêu một số công trình nghiên cứu có liên quan nhiều đến khuyến học ở xứ Thanh sưu tập được theo trình tự thời gian xuất bản như sau:
- Cuốn sách cổ nhất có đề cập đến việc học hành ở xứ Thanh là cuốn Thanh Hóa quan phong do Vương Duy Trinh – Tổng đốc Thanh Hóa, hàm Hiệp biện Đại
học sĩ viết năm thứ 15 niên hiệu Thành Thái (năm Quý Mão 1903), Tủ sách cổ văn,
Ủy ban dịch thuật Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên xuất bản năm 1973 theo bản phiên diễn của Nguyễn Duy Tiếu [150], đã đề cập đến những lời khuyên răn học tập của các vùng thuộc tỉnh Thanh Hóa xưa nhưng cũng chỉ dừng lại ở những câu ca, những lời hát chúc dạng “lời ăn tiếng nói” của các địa phương Cũng có xuất hiện lẻ
tẻ một vài đoạn viết về đất nước, con người, về phong tục tập quán của các phủ, huyện và châu của tỉnh Thanh Hóa xưa chứ chưa nêu được bản chất của việc học và khuyến khích học tập của người đất này
- Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919 do Ngô Đức Thọ, Nguyễn
Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi biên soạn, Nxb Văn học Hà Nội xuất bản năm 1993 [133] là một công trình nghiên cứu rất có giá trị trong việc tra cứu lịch sử giáo dục thời phong kiến Việt Nam, đặc biệt là phần trích ngang của các nhà khoa bảng
Trang 12người xứ Thanh Tuy nhiên, công trình chưa đề cập đến việc khuyến học của các dòng họ Việt Nam nói chung và khuyến học của các dòng họ khoa bảng xứ Thanh nói riêng
- Cuốn sách Danh sĩ Thanh Hóa và việc học thời xưa do Trần Văn Thịnh
(chủ biên) - Trịnh Mạnh – Lê Bá Chức – Nguyễn Thế Long, Phan Văn Các hiệu đính, được Nxb Thanh Hóa – Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thanh Hóa xuất bản năm
1995 [132] có nhiều tư liệu quý, đã nêu gần như đầy đủ những yêu cầu, các nét cơ bản, những câu chuyện hay của việc học thời xưa ở Thanh Hóa nhưng cũng chưa có những nghiên cứu, đúc rút về khuyến học, đặc biệt là khuyến học của các dòng họ khoa bảng xứ Thanh
- Trong sách Hoằng Lộc đất hiếu học do Bùi Khắc Việt và Nguyễn Đức
Nhuệ viết cùng với sự cộng tác của Nguyễn Cứ, Nguyễn Huy Chếch, Lê Duy Phởng, Nguyễn Đức Phổ, Nguyễn Huy Tản do Nxb Thanh Hoá xuất bản năm 1996 [158], các tác giả chủ yếu viết về lịch sử hình thành và phát triển của làng Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, truyền thống cách mạng và khoa cử của địa phương mà chưa phân tích kỹ nguồn gốc của truyền thống đó Đặc biệt, chưa đề cập đến việc khuyến học ở nơi đây
- Kỷ yếu hội thảo Văn hóa các dòng họ ở Nghệ An với sự nghiệp thực hiện chiến lược con người Việt Nam đầu thế kỷ XXI do Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An,
Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, Ủy ban dân số và Kế hoạch hóa gia đình Nghệ An, Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian tổ chức tại Nghệ An, Nxb Nghệ An xuất bản năm 1997 [63] là nguồn tư liệu phong phú tập hợp nhiều bài tham luận của các nhà nghiên cứu đầu ngành về Văn hóa dân gian, Hán Nôm, Nhân học … có giá trị tham khảo về lý luận văn hóa, dòng họ và văn hóa dòng họ nhưng cũng không thấy đề cập đến việc khuyến học và khuyến học qua văn hóa dòng họ ở Nghệ An
- Việc khuyến học thời kỳ phong kiến đã xuất hiện trong hương ước của các
làng xã xứ Thanh xưa, cuốn Hương ước Thanh Hoá do Võ Quang Trọng và Vũ
Ngọc Khánh biên soạn, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 2000 [153] đã tập hợp được 40 bản hương ước xưa ở Thanh Hoá Trong các hương ước này, có khá nhiều bản nói đến những điều khoản khuyến khích học tập thông qua quyền lợi của người
đỗ đạt, chế độ trợ cấp cho người học, các biện pháp chế tài đối với những hành vi vi
Trang 13phạm về học tập … Sách đã cung cấp những tư liệu quý giá về khuyến học ở xứ Thanh, nhưng rất tiếc, trong các bản hương ước mà tác giả sưu tầm được chưa có bản nào nói về khuyến học của các dòng họ
- Báo cáo khoa học Hương ước và giá trị văn hoá (qua các văn bản hương ước Hà Tây cổ truyền) của Kiều Thu Hoạch, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc
tế Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam [66] cho biết: Đối với việc
học hành thi cử của con em trong làng xã, nhiều bản hương ước cổ truyền Hà Tây (nay là Hà Nội) đã tỏ rõ sự coi trọng và khuyến khích đặc biệt Báo cáo khoa học của tác giả Kiều Thu Hoạch, mặc dù rất thú vị, nhưng mới chỉ hạn chế ở việc khuyến khích học tập ở xứ Đoài xưa và cũng chưa cho biết việc khuyến học ở các dòng họ qua hương ước như thế nào
- Sách Địa chí Thanh Hóa do Tỉnh ủy – Hội đồng Nhân dân - Ủy ban Nhân
dân tỉnh Thanh Hóa biên soạn, Nxb Văn hóa Thông tin – Hà Nội xuất bản năm
2000 [130], sách Địa chí văn hóa Hoằng Hóa do Ninh Viết Giao chủ biên, Nxb
Khoa học Xã hội – Hà Nội, xuất bản năm 2000 [42] và một số cuốn địa chí văn hóa của các huyện, thị Thanh Hóa khác cũng có nói về truyền thống giáo dục, kết quả
đỗ đạt, những ưu tiên cho việc học … của từng địa phương nhưng chưa có phân tích, chưa chỉ ra được giá trị của khuyến học dòng họ
- Cuốn Khoa bảng Nghệ An 1075 - 1919 của tác giả Đào Tam Tỉnh do Sở
Văn hóa Thông tin Nghệ An xuất bản năm 2000 [147] là cuốn sách viết tương đối đầy đủ về các nhà khoa bảng xứ Nghệ Sách đã dành hẳn 1 chương nói về dòng họ khoa bảng xứ Nghệ rất chi tiết, có giá trị khảo cứu tư liệu, nhưng chưa đề cập đến khuyến học của các dòng họ này
- Các tác phẩm: Tuyển tập Quốc văn giáo khoa thư do Nha học - chính Đông – Pháp xuất bản 1941, Nxb Trẻ tái bản năm 2001 [102], Khoa cử và Giáo dục Việt Nam của Nguyễn Quang Thắng, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh tái bản lần thứ
IV, có bổ sung [124], Giáo dục và thi cử Việt Nam (trước cách mạng tháng Tám 1945) của Phan Ngọc Liên, Nxb Từ điển Bách khoa 2006 [87], Một số yếu tố văn hóa và giáo dục ảnh hưởng đến sự phát triển làng – xã từ hướng tiếp cận Toàn thể luận Kinh – Trọng của 2 tác giả: Nguyễn Lâm Tuấn Anh – Nguyễn Thị Minh
Phương, Nxb Thế giới, Hà Nội 2006 [7] v.v đã nêu một cách hệ thống về nguồn
Trang 14gốc khoa cử Việt Nam, nội dung, chương trình giảng dạy, cách thức tổ chức các kỳ thi xưa … rất có giá trị tra cứu về nền giáo dục Nho học xưa nhưng việc nghiên cứu
về chế độ khuyến khích học tập của các dòng họ khoa bảng lại chưa được các tác giả đề cập
- Công trình nghiên cứu thuộc chương trình nghiên cứu gia phả Việt Nam
mang tên Vũ tộc thế hệ sự tích Mộ Trạch – Hải Dương do Vũ Thế Khôi dịch và chú
thích, Nguyễn Văn Nguyên hiệu đính, Viện Việt Nam học và phát triển – Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2004 [80] là một công trình nghiên cứu đồ sộ về họ
Vũ – dòng họ khoa bảng hàng đầu Việt Nam Những giá trị nghiên cứu về gia phả,
về các chi, các đời, sự phát tích và thành tích khoa bảng của dòng họ Vũ là rất lớn, nhưng rất tiếc, công trình chưa chỉ ra được giá trị khuyến học của dòng họ Vũ – Võ Việt Nam
- Tài liệu viết nhiều nhất về các dòng họ khuyến học Thanh Hoá là các cuốn tài liệu do Hội Khuyến học Thanh Hoá xuất bản nhân Đại hội lần thứ nhất Đó là
các cuốn: Những tấm gương gia đình hiếu học xứ Thanh” (2004 – 2007) và Những tấm gương gia đình hiếu học xứ Thanh ngày nay (xuất bản tháng 9/2004), nhưng cả
2 cuốn tài liệu nêu trên chỉ mới liệt kê ra được những tấm gương điển hình trong phong trào khuyến học theo cách ký sự, kể chuyện chứ chưa đặt vấn đề nghiên cứu
cứ để tìm đến nghiên cứu các dòng họ làm tốt công tác khuyến học xưa và nay, cũng như một số dòng họ đã bị “đứt đoạn” truyền thống quý báu này
- Nhân dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội và 56 năm giải phóng Thủ đô (1954 – 2010), một loạt công trình nghiên cứu về Thăng Long – Hà Nội đã
Trang 15được xuất bản, có nhiều cuốn sách rất có giá trị cho việc tìm hiểu truyền thống khoa
bảng của Hà Nội xưa Đó là cuốn: Các làng khoa bảng Thăng Long - Hà Nội của Bùi Xuân Đính – Nguyễn Viết Chức [39], Giáo dục và khoa cử nho học Thăng Long Hà Nội của Bùi Xuân Đính [40] Đây là các công trình nghiên cứu công phu
về giáo dục, thi cử Nho học và các nhà khoa bảng Thăng Long - Hà Nội xưa, đã cung cấp được một số tư liệu về một số dòng họ gốc xứ Thanh đã vinh hiển ở Thăng Long – Hà Nội, nhưng chưa đề cập đến việc khuyến học dòng họ, cũng như chưa chỉ ra được khuyến học là một nét văn hóa của các dòng họ khoa bảng
- Trong các bản gia phả, văn bia dòng họ, trên các trang báo giấy, báo hình
và đặc biệt trên nhiều trang mạng Internet đã xuất hiện một số tư liệu, bài viết, nghiên cứu của một số tác giả đã đề cập đến truyền thống học hành thi cử và đỗ đạt của một số dòng họ, địa phương nhưng hầu hết chỉ dừng lại ở mức độ phát hiện và đưa tin, tuyên truyền về sự kiện chứ chưa đưa ra được những nhận xét mang ý nghĩa khoa học về việc học và văn hóa khuyến học dòng họ ở các làng quê này
- Các công trình nghiên cứu gần đây nhất liên quan đến việc khuyến học và
văn hóa dòng họ có thể kể đến là: Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học Văn hóa dòng họ Nguyễn Ngọc làng Phương Trạch của Nguyễn Thế Phương vào năm 2010 (Viện
Nghiên cứu văn hóa – Viện Khoa học xã hội Việt Nam) [113], Luận văn Thạc sĩ
Văn hóa học Truyền thống hiếu học làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội của Nguyễn Thị Thanh Nga vào năm 2011(Viện Khoa học xã hội – Học viện Khoa học xã hội Việt Nam) [95] và Luận án Tiến sĩ Văn hóa học Di sản văn hóa dòng họ và vấn đề nghiên cứu danh nhân văn hóa, phát triển nhân tài hiện nay (qua khảo sát một số dòng họ tiêu biểu ở Hà Tĩnh) của Võ Hồng Hải vào năm 2012
(Viện Văn hóa – Nghệ thuật Việt Nam) [57] đều nêu lên tầm quan trọng của khuyến học, giá trị của văn hóa dòng họ, đặc biệt vấn đề danh nhân văn hóa, dòng họ văn hóa được xem như một di sản văn hóa dân tộc nhưng rất tiếc, chưa có sự xâu chuỗi các giá trị của truyền thống hiếu học, khuyến học dòng họ cũng như chưa chỉ ra giá trị, những đặc điểm nổi bật của việc khuyến học qua văn hóa dòng họ
Như vậy, cho đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện về khuyến học cũng như khuyến học qua văn hoá dòng họ ở xứ Thanh nói riêng và Việt Nam nói chung Việc nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về khuyến học qua
Trang 16văn hoá dòng họ ở xứ Thanh, cũng như lý giải bước đầu về giá trị văn hóa khuyến học, nguyên nhân thành công và “đứt đoạn” truyền thống khoa cử của một số dòng
họ khoa bảng ở xứ Thanh của luận án sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc nhìn nhận khuyến học dòng họ như một hiện tượng văn hóa, chỉ ra những thay đổi về giá trị dòng họ trong cộng đồng khi các dòng họ thành công trong khoa cử
1.2 Cơ sở lý luận
Để góp phần lý giải những vấn đề đặt ra trong luận án, trong phần này chúng tôi trình bày một số khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu như: Khuyến học, dòng họ, văn hóa dòng họ, dòng họ khoa bảng Đồng thời chúng tôi cũng sẽ thảo luận về mối quan hệ của khuyến học với văn hóa dòng họ Phần phân tích các khái niệm này đóng vai trò như một phần chính cơ sở lý luận của luận án
1.2.1 Một số khái niệm công cụ
xứ Thanh như một giá trị văn hóa dân gian, đồng thời quan tâm nhiều đến việc ứng dụng các giá trị của khuyến học qua văn hóa dòng họ vào cuộc sống trong giai đoạn hiện nay nên xin được hiểu khuyến học theo diễn đạt của Hội Khuyến học Việt Nam [70- tr.100]:
“…Khuyến học là sự khuyên bảo, hướng dẫn, khích lệ, giúp đỡ của các tổ chức và cá nhân để người ta hứng thú nghe theo, làm theo, cùng nhau thúc đẩy học tập và vận động các nguồn lực để tạo cơ hội và điều kiện cho mọi người được học và tự học: Học thường xuyên, học suốt đời; học chữ, học nghề, học làm người, học để biết, để làm việc, để làm người, để chung sống và phát triển ở cộng đồng, góp phần xây dựng cả nước trở thành một
xã hội học tập…”
Như vậy, theo định nghĩa khuyến học ở đây, "khuyến học" là nói đến hành
Trang 17động thúc đẩy học tập Nội hàm của thuật ngữ này nhấn mạnh đến tính tích cực, có
giá trị của các hành động nhằm làm cho các chủ thể của việc khuyến học (ở đây là người học) trở nên tốt hơn Khuyến học qua văn hóa dòng họ ở xứ Thanh sẽ được hiểu từ góc độ khuyến khích, nâng đỡ và cổ vũ của dòng họ đối với người học ở nhiều khía cạnh … Ví dụ: Khuyến khích bằng vật chất, nâng đỡ tinh thần, bằng các yếu tố tâm linh, hương ước, cho đến việc ràng buộc, các “chế tài” của dòng họ, làng
xã đối với việc học và trách nhiệm của người đỗ đạt đối với dòng họ mình Trong bối cảnh nghiên cứu này, luận án sẽ chỉ tập trung vào khuyến học dòng họ theo nghĩa khoa bảng (thành tích học tập, đỗ đạt) chứ không đề cập đến các lĩnh vực về học làm người hay học nghề vv
1.2.1.2 Dòng họ
Dòng họ Việt Nam là một hiện tượng lịch sử đặc thù, một thực thể sống
động mang tính tự nhiên – huyết thống, vừa mang yếu tố xã hội, vừa mang giá trị văn hóa Dòng họ là một gia đình lớn gồm nhiều gia đình hạt nhân cùng huyết thống Yếu tố quan trọng nhất của dòng họ chính là huyết thống và nghĩa tình, là trách nhiệm của các thành viên trong cộng đồng đó Nhiệm vụ thông thường của dòng họ là cố kết, dựa vào nhau để tạo lập cho các thế hệ kế tiếp nhau một cuộc sống đầy đủ cả về vật chất, tinh thần và duy trì nòi giống Nói đến dòng họ, người ta hay liên tưởng đến một sơ đồ hình cây mà gốc là tổ tiên, các chi, họ, các thành viên như những nhánh, cành, đâm chồi nảy lộc từ gốc mà ra Nói đến dòng họ là nói huyết thống thiêng liêng, là nói đến nguồn cội với sự ngưỡng vọng, thành kính của mỗi người con trong họ tộc
“…Con người có tổ, có tông Như cây có cội, như sông có nguồn…”
Cho đến ngày nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước định nghĩa về dòng họ người Việt Léopol Cadière thì quan niệm người Việt cho dù bất
cứ hoàn cảnh nào cũng thuộc về một họ, tức gia đình theo nghĩa rộng, tổ chức vững chắc, liên kết chặt chẽ bằng huyết thống, bằng những quyền lợi vật chất, bằng những niềm tin tôn giáo, bằng những mối dây luân lý của cộng đồng [16] Cũng nhận định về dòng họ, Phan Đại Doãn cho rằng có cả liên kết chiều dọc và bề ngang, trong đó chiều dọc theo huyết thống mang ý nghĩa quyết định: Theo nghĩa
Trang 18rộng thì dòng họ, ngoài mối liên hệ ngang lại có mối liên hệ dọc đứng đến 9 đời: Cao – Tằng – Tổ - Phụ - Thân – Tử - Tôn – Tằng – Huyền [30]
Như vậy, về chung nhất, gia đình và dòng họ (chúng tôi hiểu theo nghĩa truyền thống) là một thiết chế xã hội đặc biệt gắn bó với nhau bởi huyết thống do được khởi thủy từ một ông tổ nhất định Trong mối quan hệ đồng huyết này, các cá nhân (bao gồm cả người sống và người đã chết) đều mang danh tộc về phía bố nên
người Việt thường coi trọng bên nội hơn (“Trăm cái phúc nhà vợ không bằng một cái nợ nhà chồng”) Như vậy, trong thiết chế làng xã Việt Nam, dòng họ là một tổ
chức cơ sở gồm nhiều gia đình, gắn kết với nhau bằng huyết thống, nghĩa tình, là một môi trường văn hoá mang tính đặc thù Nhiều gia đình cùng dòng máu, cùng tổ tiên quy hợp với nhau thành dòng họ Gia phong - truyền thống dòng họ đã trở thành hạt nhân văn hoá góp phần tạo nên truyền thống văn hoá làng xã, địa phương
và dân tộc Ngô Đức Thịnh nhận xét:
“ Dòng họ là một thực thể xã hội mang tính phổ quát của loài người
Nó hình thành trên cơ sở quan hệ huyết thống của một quần thể người nhất định thể hiện qua ý niệm về dòng dõi từ một ông tổ chung Do vậy, dòng họ
là một thực thể vừa mang tính sinh học, vừa mang tính xã hội Nó xuất hiện
từ rất sớm trong xã hội loài người, trở thành một nguyên lý cố kết giữa các con người sớm nhất, rồi biến đổi qua các thời đại và tồn tại cho đến ngày nay ” [63 – tr.46]
Như vậy, dòng họ Việt Nam là một cộng đồng huyết thống có tính liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong một gia đình hay giữa các gia đình thành viên trong một dòng họ đó Đây là một quan niệm mang tính chất tiền đề lý luận mà chúng tôi sử dụng cho nghiên cứu về dòng họ và văn hóa dòng họ trong luận án
này
Theo các nhà nghiên cứu, mô hình phát triển văn hoá Việt Nam: Nhà - Làng
- Nước làm cho gia đình, dòng họ tiếp thu, lưu giữ văn hoá chung của đất nước, nhưng ngược lại, chính nó lại bảo vệ và làm phong phú thêm cho nước Sau nhiều biến động dân cư, phần lớn các làng, cộng đồng dân cư các cấp đều có nhiều họ lớn,
họ gốc Gia tộc, dòng họ gắn chặt với làng, nước, hòa vào nhau và tạo thành quan
hệ làng xã, cộng đồng Rộng hơn, quan hệ huyết thống dòng họ còn mở rộng ra cả
Trang 19tộc người và cả quốc gia Như vậy, huyết thống - gia tộc và dòng họ đồng nghĩa với
ý niệm nguồn cội, tổ tiên, đất nước trên phạm vi rộng hẹp khác nhau từ gia đình, dòng họ đến quốc gia, dân tộc
1.2.1.3 Văn hóa dòng họ
Thuật ngữ “văn hóa dòng họ” hàm ý nhấn mạnh khía cạnh ứng xử giữa các
cá nhân trong dòng họ, tạo nên nét văn hóa riêng biệt của từng dòng họ, mang tính đặc thù cho một cộng đồng người cùng chung huyết thống Mỗi một dòng họ đã tạo nên và lưu truyền những nét đẹp văn hóa riêng của họ tộc mình Văn hóa của các dòng họ lại góp phần cấu thành bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Có các gia đình cùng chung huyết thống, tổ tiên sẽ hình thành nên dòng họ với tôn ti, trật tự riêng của nó để thành nề nếp, gia phong, tạo nên nét đặc trưng cho một cộng đồng người Trong cộng đồng đó vẫn đảm bảo những cái riêng tư cho sự phát triển của từng cá nhân, từng gia đình trong dòng họ và ngược lại từng cá nhân, gia đình lại đóng góp cho sự phát triển văn hóa của cả dòng họ Người dân khu vực Bắc Trung Bộ nói:
“Đi làng giữ họ, đi họ giữ anh em”, theo chúng tôi thì “đi” ở đây không những là
việc vận động, di chuyển mà mang ý nghĩa cao hơn là sự giao lưu, thể hiện mối quan tâm, gắn bó, mối bang giao giữa các họ trong làng để giữ vị thế, tiếng nói của dòng họ mình và “đi họ” cũng mang ngầm ý như vậy trong quan hệ họ tộc Nét văn hoá của dòng họ xuất phát từ chính cái chung của cả dân tộc và bản sắc văn hóa Việt Nam nhưng cũng hàm chứa những nét riêng có của từng dòng họ
Ninh Viết Giao cho rằng văn hóa của một dòng họ không chỉ là vấn đề học hành, thi cử, đỗ đạt, khoa bảng, khảo cứu học thuật, văn chương … mà còn là vấn
đề ứng xử đạo đức, sinh hoạt, ngôn từ, lao động… và văn hóa trước hết là sản phẩm của cá nhân, đặc biệt là cá nhân lỗi lạc… [63 - tr.142] Thống nhất với nhận định của ông, theo chúng tôi, dòng họ không chỉ mang yếu tố cấu thành do quan hệ huyết thống mà mở rộng ra mang một ý nghĩa văn hóa hết sức to lớn đó là tổ quốc, dân tộc, đại gia đình Việt Nam với các biểu tượng “đồng bào”, “con Rồng, cháu Tiên”, cha Lạc Long, mẹ Âu Cơ đưa 50 người con lên rừng, 50 người con xuống biển …
Như vậy, ở đây, dòng họ không còn là một thực thể xã hội mà đã mang ý nghĩa của một môi trường văn hóa đặc thù Yếu tố đặc thù này chỉ có thể được xem xét một cách tường minh khi đặt nó trong bối cảnh tương quan rộng hơn như: Văn
Trang 20hóa dòng họ trong làng, văn hóa làng trong vùng văn hóa hoặc vùng địa giới hành
chính, văn hóa quốc gia trong khu vực và thế giới Theo Ngô Đức Thịnh “… Dòng
họ, văn hóa dòng họ còn đồng nghĩa với sự đa dạng văn hóa, bản sắc văn hóa, một nhân tố động lực thức đẩy sự phát triển văn hóa và xã hội Việt Nam…” [63- tr.47] Còn theo Nguyễn Đình Chú thì “…Chính nó (văn hóa dòng họ) cũng là một thực thể văn hóa…” [63- tr.113] Thích Minh Nghiêm nhận xét “… Văn hóa dòng họ -
họ tộc là sức mạnh thiêng liêng sâu thẳm trong tâm khảm của mỗi thế hệ Đó không chỉ đơn thuần là đặc điểm di truyền của gien sinh học, tạo nên những thế hệ mới kế thừa tổ tông mà còn mang hàm nghĩa sinh thành …” [96- tr.77] Trong các kỷ yếu
Hội thảo khoa học về văn hóa dòng họ và dòng họ như: Hội thảo “Văn hóa các dòng họ ở Nghệ An” tổ chức năm 1997 [63], Hội thảo “Thanh Hóa thời Lê” tổ chức năm 1997 [10], Hội thảo “Văn hóa dòng họ ở Thái Bình” tổ chức năm 1999 [119], Hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn thế kỷ XVI – XIX” tổ chức tại Thanh Hóa năm 2008 và một số hội thảo khoa học khác thì các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đều thống nhất: Văn hoá dòng họ Việt Nam vừa là nét văn hóa riêng biệt của từng dòng họ, vừa mang tính đặc thù cho một cộng đồng người cùng chung huyết thống, cùng tổ tiên Văn hóa dòng họ là một dạng thức văn hóa có
tổ chức, là văn hóa của một cộng đồng Văn hóa dòng họ là một tiểu hệ thống văn hóa chứa đựng toàn bộ những giá trị vật chất, tinh thần và tâm linh do các dòng họ sản sinh ra trong quá trình tồn tại và phát triển
Đó là cách đánh giá chung nhất, đầy đủ và toàn diện về văn hóa dòng họ với
tư cách là một thiết chế văn hóa trong sự phát triển của văn hóa cộng đồng nhưng chưa bao hàm ý nghĩa sâu về văn hóa ứng xử dòng họ đối với một vấn đề mà cả dòng họ quan tâm Thống nhất với đánh giá đó, trong công trình này, chúng tôi nhấn mạnh khía cạnh ứng xử của các cá nhân trong cộng đồng, tạo nên nét riêng biệt của từng dòng họ, đó chính là sự kết nối bền vững, liên tục giữa các cá nhân trong cả cộng đồng đó Đồng thời, trong quá trình tồn tại và phát triển, dòng họ đã sản sinh ra các giá trị văn hóa, tạo nên sự đa dạng bản sắc văn hóa, dòng họ là một nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển văn hóa và xã hội Việt Nam Cũng vì làng
xã là cộng đồng do các dòng họ cư trú mà thành nên theo chúng tôi, chính gia phong, truyền thống dòng họ đã trở thành một nhân tố, một hạt nhân văn hóa tạo
Trang 21nên văn hóa làng, truyền thống văn hóa địa phương và rộng ra cả dân tộc Trong công trình này, chúng tôi nghiên cứu văn hóa dòng họ bao hàm các thành tố theo gợi ý của Nguyễn Đình Chú: Truyền thống của dòng họ trong đó nhấn mạnh truyền thống giáo dục (giáo dục đạo đức và giáo dục văn hóa); truyền thống tín ngưỡng (truyền thống thờ phụng, tri ân, tri đức tổ tiên); truyền thống đoàn kết (huyết thống nâng đỡ nhau) [63- tr.114] Và chúng tôi cũng nhấn mạnh khía cạnh ứng xử văn hóa giữa cá nhân với gia đình, dòng họ và ngược lại, tính tôn ti trật tự trong dòng họ, sự ràng buộc, hỗ trợ của dòng họ, sự chia sẻ những giá trị chung như: Vinh quang, sự
“truyền gien” khoa bảng, trách nhiệm đối với dòng họ… đã làm nên truyền thống học vấn, đỗ đạt của chính họ
Văn hóa dòng họ không nên hiểu là đồng nhất với dòng họ văn hóa Nếu văn
hóa dòng họ là sự ứng xử của các cá nhân trong dòng họ đó (theo cách nhấn mạnh của luận án) đối với các vấn đề xã hội, đặc biệt liên quan đến đời sống văn hóa cộng đồng thì dòng họ văn hóa hay một dòng họ được tôn vinh là một “dòng họ văn hóa” phải thỏa mãn một số tiêu chí đánh giá do cộng đồng (hoặc do nhà nước) quy định Theo tài liệu của Cục Văn hóa cơ sở - Bộ VHTT&DL thì một dòng họ đạt danh hiệu “Dòng họ văn hóa” phải đạt các tiêu chí sau:
- Đoàn kết họ tộc gắn với đoàn kết dân tộc
- Thực hiện gia phong, gia đạo, gia lễ, gia quy gắn liền với việc tạo phúc đức, xây dựng lòng hiếu thảo cho con cái
- Thực hiện quan - hôn - tang - tế chu đáo, nghiêm trang; dựng gia phả, xây
từ đường và chăm lo mồ mả tổ tiên nghiêm túc
- Khuyến học, khuyến nghiệp, khuyến tài sôi nổi
- Ân cần lo việc nghĩa
- Thượng tôn pháp luật mẫu mực
- Đoàn kết họ tộc - đoàn kết dân tộc
Còn theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, để trở thành một gia tộc mẫu về văn hóa (gần với dòng họ văn hóa ở Việt Nam) thì gia tộc đó không chỉ biểu hiện nhiều hay ít nhân vật lỗi lạc mà còn đòi hỏi tính chỉnh thể của văn hóa gia tộc gồm:
Trang 22Trú tại địa phương một thời gian dài; có một số lượng dân cư lớn; có nhiều nhân tài
ưu tú; có nhiều sĩ hoạn (nhiều quan tước); được coi trọng về đạo đức … hay một danh gia vọng tộc về văn hóa ở Trung Quốc thì phải: Coi trọng giáo dục; thành công trong sự nghiệp khoa cử, có lượng sách vở lớn được tàng trữ; chú trọng thu thập và chỉnh lý các tư liệu văn hiến của gia tộc; xuất hiện đông đảo nhân tài; hình thành trung tâm văn hóa của khu vực; giao lưu rộng rãi với xã hội; đóng góp vào sự phát triển của văn hóa địa phương [57 - tr.40] Trong luận án này chúng tôi áp dụng cách đánh giá của Bộ VHTT&DL về dòng họ văn hóa, chú trọng phân tích phần về các yếu tố liên quan đến khuyến học dòng họ và có tham khảo cách phân định của các nhà nghiên cứu Trung Quốc về gia tộc mẫu văn hóa hay một danh gia vọng tộc văn hóa
1.2.1.4 Dòng họ khoa bảng
Là mỹ từ liên quan đến các danh hiệu, học vị của nhà nước phong kiến trước đây mà dân gian gắn cho những cộng đồng dân cư có nhiều thành tích đỗ đạt trong học tập Nói đến khoa bảng, trước hết phải là việc học tập và đỗ đạt qua các kỳ thi Hội và thi Đình từ thời phong kiến Những người đỗ đại khoa (có học vị từ Tiến sỹ trở lên) mới được xem là căn cứ để xét danh hiệu khoa bảng cho một làng hay một
dòng họ
Dòng họ khoa bảng là một cộng đồng dân cư có quan hệ huyết thống, có nhiều người theo đuổi việc học hành và đỗ đạt cao qua các kỳ thi Nho học của nhà nước phong kiến “Dòng họ khoa bảng” tạo nên “Làng khoa bảng” (vì các dòng họ đều phải sống trong một làng nào đó, tuy nhiên, cá biệt có làng chỉ có một họ), tạo nên truyền thống hiếu học, khoa bảng của làng quê Việt Nam qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau trong lịch sử dân tộc
Theo cách phân định hiện nay, danh hiệu “Dòng họ khoa bảng” căn cứ vào
số lượng Tiến sỹ của các dòng họ Theo cách phân định của các tác giả trong cuốn
Các làng khoa bảng Thăng Long – Hà Nội [39] thì các dòng họ khi có 4 Tiến sỹ trở lên mới được gọi là dòng họ khoa bảng Còn các tác giả sách Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời xưa [132] thì có dòng họ nhiều người đỗ đạt như họ Lê có 57 người
nhưng cũng có dòng họ dù chỉ đỗ 1, 2 người như họ Đoàn, họ An [Phụ lục 3 tr
177] đều được người xưa gọi là dòng họ khoa bảng Các phân định của sách Khoa
Trang 23bảng Nghệ An [147] cũng giống cách phân định của Thanh Hóa Vì luận án này là
công trình nghiên cứu về khuyến học qua văn hóa dòng họ ở xứ Thanh xưa nên
chúng tôi chọn cách phân định của các tác giả cuốn Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời xưa để gọi tên các “Dòng họ khoa bảng” xứ Thanh
1.2.2 Khuyến học qua văn hóa dòng họ
Tìm hiểu khuyến học qua văn hóa dòng họ là đặt việc khảo sát các hình thức thúc đẩy học tập qua bối cảnh của văn hóa từng dòng họ cụ thể Ở đây có mối quan
hệ tương hỗ hai chiều giữa “khuyến học” và “văn hóa dòng họ” Việc khuyến học,
mà kết quả mong đợi của nó là sự thành công trong sự nghiệp của một cá nhân, sẽ góp phần bồi đắp nên diện mạo văn hóa của một dòng họ Ngược lại, những tác nhân làm nên sắc thái văn hóa của một dòng họ cũng sẽ góp phần thúc đẩy, tạo động lực cho nhu cầu về giáo dục và tinh thần khuyến học của dòng họ đó
Nhìn từ một góc độ khác, việc khuyến học cũng có thể tạo ra những mâu thuẫn, xung đột Một người học hành thành đạt là làm vẻ vang cho gia đình, dòng
họ mình Vẻ vang dòng họ là vẻ vang của cả làng xóm, cả tổng, cả huyện Niềm vẻ vang, kiêu hãnh này gắn liền với tên của dòng họ trong các sinh hoạt làng xã Vì vậy, đã xuất hiện sự ganh đua giữa các chi, nhánh trong cùng dòng họ và giữa các dòng họ với nhau Các dòng họ hơn nhau không chỉ là số lượng xuất đinh mà hơn nhau ở trình độ học vấn, số lượng người đỗ đạt, ra làm quan Những động thái vinh danh của nhà nước phong kiến, của chính quyền địa phương và bà con lối xóm đối với người đỗ đạt đã làm vẻ vang gia đình, dòng họ của họ và cũng tạo nên sự ganh đua, sức ép đối với các dòng họ khác
Một luận điểm khác mà luận án nhấn mạnh, đó là mối quan hệ giữa khuyến học và động cơ về địa vị xã hội và kinh tế Các dòng họ Việt Nam xưa đã thấu hiểu giá trị của việc học và cảm nhận sâu sắc những kết quả mà việc học đưa lại trong việc cải thiện vị thế và đời sống của gia đình, dòng họ mình Nhà nước phong kiến Việt Nam rất coi trọng việc khuyến khích học tập, khoa cử để tuyển chọn nhân tài
và chính sách khuyến khích học tập của triều đình ấy đã được vận dụng khéo léo trong mối liên kết huyết thống của gia đình, dòng họ để đề cao ý thức học tập cho
người học Vua Lê Thánh Tông đã viết tác phẩm mang tên Dụ khuyến học để
khuyến khích học tập và ông cho rằng, việc báo hiếu cha, mẹ được thực hiện bởi địa
Trang 24vị xã hội do việc học mang lại:
“…Nhờ văn chương mà địa vị rõ ràng Nhờ đạo đức mà tục dân giáo hóa Giúp dân giúp chủ, lợi ích thấm khắp đương thời Bản thân cha mẹ vẻ vang, sự nghiệp lưu truyền hậu thế …” [87– tr.173]
Mặt khác, luận án coi khuyến học dòng họ xứ Thanh là một hiện tượng văn hóa để giải mã nguyên nhân thành công của các dòng họ Khuyến học với tư cách là một nét văn hóa của dòng họ đã và đang là động lực cho sự phát triển ổn định của cộng đồng làng xã hiện nay Nghiên cứu "khuyến học qua văn hóa dòng họ" là xem xét việc khuyến học trong mối quan hệ ứng xử của dòng họ, trong chuỗi liên kết văn hóa giữa: Cá nhân, gia đình, dòng họ, xóm làng ở từng vùng miền của đất nước trong một thời gian nhất định, là sự xem xét trong tổng thể không gian và thời gian của một gia tộc Việc khuyến học đã được biểu hiện qua các thành tố của văn hóa dòng họ một cách cụ thể như: khuyến khích vật chất, tinh thần của dòng họ, các nghi lễ tâm linh, việc phân công trách nhiệm cộng đồng, trách nhiệm các thành viên gia tộc đối với việc học Từ đó trả lời câu hỏi, việc khuyến học qua văn hóa dòng
họ đã thúc đẩy việc học tập ra sao? Đã đem lại kết quả gì cho đời sống cộng đồng? Nói cách khác, nghiên cứu khuyến học qua văn hóa dòng họ là nghiên cứu cách thức, biện pháp khuyến khích việc học của các dòng họ như một nét văn hóa được lưu truyền từ đời này sang đời khác
Theo quan niệm của Malinowski (1884 – 1942) - người theo Trường phái chức năng - tâm lý, coi xã hội như một tổng thể các thành tố mà mỗi thành tố đóng
một chức năng nào đó góp phần vào sự bền vững của xã hội.[44] Mặt khác, một nền văn hóa không phải chỉ là tổng của các thành tố mà các thành tố văn hóa có sự tương tác kết nối chặt chẽ với nhau, đều có chức năng nhất định trong tổng thể nền văn hóa mà chúng tồn tại [111]
Soi chiếu từ quan điểm chức năng tâm lý vào nghiên cứu khuyến học trong văn hóa dòng họ xứ Thanh, có thể thấy, khuyến học cũng đóng vai trò và có chức năng nhất định trong tổng thể bối cảnh văn hóa, xã hội, chính trị, địa lý xứ Thanh Đồng thời trong văn hóa dòng họ xứ Thanh, luận án cũng sẽ chỉ ra những mối quan
hệ tương hỗ và liên kết chặt chẽ giữa tinh thần hiếu học của các cá nhân trong dòng
Trang 25họ với tinh thần khuyến học của dòng họ (chương 3 phần khuyến học của các dòng họ), giữa việc khuyến học dòng họ với cộng đồng trong bối cảnh địa lý - lịch sử - chính trị của vùng đất nơi đây (chương 1, phần bối cảnh tự nhiên và xã hội cho việc học), cũng như giữa việc khuyến học với các thành tố khác của văn hóa dòng họ (chương 1, phần khuyến học và việc học ở xứ Thanh) vv Nói cách khác, sẽ không thể hiểu được khuyến học dòng họ ở xứ Thanh nếu tách rời nó khỏi tổng thể các thành tố khác trong tổng thể văn hóa nơi nó sinh ra và tồn tại
Đồng thời, với những nét đặc trưng về điều kiện tự nhiên, xã hội do lịch sử
quy định đã tạo nên một xứ Thanh mang tính trung gian “Khu Bốn đẩy ra, khu Ba đẩy vào” (xin được nói rõ trong mục 1.3.1 ngay sau đây) nên đất Thanh Hóa mang diện mạo một vùng đất đặc thù về lịch sử và văn hóa Vì vậy, Thuyết vùng văn hóa - lịch sử của các nhà Dân tộc học Liên Xô cũ đề xướng đã được Ngô Đức Thịnh áp dụng vào Việt Nam và đưa ra khái niệm Vùng văn hóa [125] cũng có thể sử dụng để
xem xét các vấn đề liên quan đến tính vùng, miền trong văn hóa dòng họ xứ Thanh Vùng văn hóa được hiểu là một vùng lãnh thổ có tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên,
cư dân ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về kinh tế và xã hội Giữa họ đã diễn ra giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân Vùng văn hóa được hình thành và tồn tại là kết quả tác động của nhiều nhân tố tự nhiên, xã hội và lịch sử, trong đó quan
hệ giao lưu và ảnh hưởng qua lại có vai trò quan trọng hàng đầu [125 – tr 64, 65]
Trong các vùng văn hóa, giữa các tộc người luôn có sự giao tiếp lâu dài về văn hóa dẫn tới sự biến đổi một số đặc điểm, thậm chí là cả tổng thể văn hóa cộng đồng Sự tiếp xúc đó diễn ra trên nhiều lĩnh vực với những cấp độ, hình thức khác nhau Tiếp xúc và giao tiếp văn hóa là tác nhân kích thích phát triển và nhờ đó nảy sinh ra các hiện tượng văn hóa mới Văn hóa của một cộng đồng phát triển hay tiêu vong tùy thuộc vào những yếu tố nội sinh - truyền thống văn hóa của chính cộng đồng ấy trong giao tiếp Khi yếu tố nội sinh đủ mạnh, nó sẽ tự lựa chọn và bản địa hóa những yếu tố văn hóa mới tiếp thu được từ cộng đồng khác làm phong phú thêm cho văn hóa của cộng đồng mình.[125 – tr 18, 22]
Ở Việt Nam, xứ Thanh được nhiều nhà nghiên cứu xem như một tiểu vùng văn hóa lịch sử vừa hoàn chỉnh, biệt lập tương đối lại vừa trung gian, chuyển tiếp
Trang 26trong tổng thể văn hóa xã hội Việt Nam Tính trung gian chuyển tiếp không chỉ trên bình diện môi trường địa lý tự nhiên mà cả các phương diện về lịch sử và văn hóa, tạo nên nét riêng của xứ Thanh Tìm hiểu khuyến học qua văn hóa dòng họ ở đây phải được xem xét trong tổng thể các yếu tố của một tiểu vùng văn hóa xứ Thanh và ngược lại, các yếu tố văn hóa của vùng đất này, trong quá trình vận động đã góp phần quy định nên “tố chất” của người xứ Thanh trong học tập và cuộc sống Các quan điểm của thuyết vùng văn hóa sẽ được thể hiện chủ yếu trong chương 1 phần nói về khuyến học và việc học ở xứ Thanh và trọng tâm ở chương 2 về khuyến học dòng họ xứ Thanh Các quan điểm của lý thuyết này cũng được vận dụng ở chương
3 khi nói về khuyến học của một số dòng họ tiêu biểu xưa và nay
1.3 Khuyến học ở xứ Thanh
1.3.1 Xứ Thanh - môi trường tự nhiên và xã hội cho việc học
H Le Breton trong “Tỉnh Thanh Hoá” (La province de Thanhhoa) cho rằng:
“ Xét về các phương diện (địa dư, khí hậu hay sử ký) thì tỉnh Thanh Hoá thuộc về Bắc Kỳ là hơn, nhưng nhà Nguyễn phát tích ở Thanh Hoá, nên tỉnh ấy thuộc về Trung Kỳ là rất phải tỉnh Thanh Hoá không phải là một hạt cai trị mà thôi, thật là một xứ…là cái hình ảnh thu nhỏ của xứ Bắc Kỳ vậy…” [43 - tr.82]
Nhận xét về vai trò và vị trí của tỉnh Thanh trong toàn quốc, ông còn
viết: “…Thanh Hóa là nơi căn bản của nước Nam; muốn học sử Nam, phải học sử tỉnh Thanh Hóa trước … nước có nguồn, cây có cội, người Nam phải quý đất Thanh ” [43 - tr 88]
Thanh Hóa là một “Xứ” nhưng không phải là tứ trấn nội kinh như: Xứ Bắc,
xứ Đông, xứ Đoài, xứ Nam (tương ứng với các tỉnh đồng bằng châu thổ sông Hồng ngày nay) vây quanh kinh thành Thăng Long xưa hay xứ Huế - kinh đô Phú Xuân của triều Nguyễn ở Đàng trong mà xứ Thanh ở vị trí trung gian, là ngoại trấn, là trại, là phên dậu, là vùng ngoại vi của cả 2 trung tâm văn hóa – chính trị lớn đó của
cả nước Vị trí địa – chính trị, địa – văn hóa này cộng với thế “đất vua” - nơi phát tích các bậc quân vương - đã mang lại cho xứ Thanh và con người xứ Thanh những
sắc thái văn hóa mang tính đặc thù riêng của một vùng đất giàu truyền thống
Trang 271.3.1.1 Lịch sử vùng đất trọng học hành
Lịch sử hình thành xứ Thanh đã “ngầm quy định” tinh thần trọng học hành của vùng đất này Theo các sử sách còn lưu lại đến ngày nay, tên gọi đơn vị hành chính tỉnh Thanh Hoá được thay đổi qua các thời kỳ tuỳ theo phương thức cai trị
của nhà nước trong toàn lãnh thổ Theo học giả Đào Duy Anh trong sách Đất nước Việt Nam qua các đời [2], thời các vua Hùng người ta gọi Cửu Chân (Thanh Hoá) là
Bộ, có quan niệm cho rằng “bộ” ở đây là “bộ lạc” vì bộ máy hành chính lúc này còn
sơ khai, tự phát trong chế độ mẫu quyền mà nhiều dấu vết còn lưu lại đến ngày nay [2 - tr.19] Thời thuộc Hán, Thanh Hoá thuộc vùng đất được gọi là quận Cửu Chân
và dưới quận là huyện theo cách gọi ở Trung Hoa của nhà Hán Đây là cách mà nhà Hán muốn thống thuộc nước ta, xoá bỏ nền độc lập của nhà nước Âu Lạc Sau khi tiêu diệt nhà Tùy năm 622, Nhà Đường đổi quận Cửu Chân thành Ái Châu là một bước nâng bậc nước ta từ Quận lên Châu Thời Lý - Trần đặt Thanh Hoá là Lộ Thanh Hóa, cũng gọi là Phủ Thanh Hóa Cách gọi này hàm ý thắt chặt quan hệ giữa trung ương và địa phương, hạn chế quyền hạn của quan địa phương Năm Quang Thái thứ 10 (1397), Hồ Quý Ly làm phụ chính thái sư đã sửa chế độ hành chính và đổi các lộ, phủ ra làm trấn và Lộ Thanh Hóa được đổi thành Trấn Thanh Đô Sau khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần thì đổi Phủ Thanh Hóa (Trấn Thanh Đô) làm Phủ Thiên Xương Sau khi nhà Minh tiêu diệt nhà Hồ và thống thuộc nước ta, đặt nước ta làm Quận Giao Chỉ và Thanh Hóa lại hợp thành Phủ Thanh Hóa Việc sắp xếp hành chính lúc này nặng về dân sự Thời Trần Thuận Tông (Quang Thái thứ 10, năm 1397), thời Lê Tương Dực (Hồng Thuận từ 1509 – 1516) và thời Nguyễn từ Gia Long – Minh Mệnh, Thanh Hoá được đặt thành Trấn bởi lúc đó đất nước chưa yên, nhiều việc phiền nhiễu nên đặt làm Trấn là có ý dùng chế độ quân sự để chỉ huy và điều khiển các công việc nhà nước Sau 10 năm dấy binh khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược, Lê Lợi lên ngôi vua vào năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), nhà nước phong kiến triều Lê chia nước ta làm 5 đạo, Thanh Hoá thuộc Hải Tây đạo Đời Lê năm Quang Thuận thứ 7 (1466) đặt Thanh Hoá là Thừa Tuyên nhưng
về các chức quan vẫn như cũ Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), đổi thành Thanh Hoa
xứ Thanh Hoa xứ có 4 phủ, 16 huyện và 4 châu Sau đó, đến thời Hồng Thuận (Lê Tương Dực 1509 – 1516) lại đổi thành Trấn Thanh Hoa Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) đổi lại tên Thanh Hoa thành Thanh Hóa và được gọi là tỉnh Thanh Hóa từ
Trang 28năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) cho đến ngày nay [2 - tr.193]
Theo cách thống kê ở trên, từ thời Vua Hùng đến ngày nay, đất Thanh Hoá
đã trải qua nhiều lần đổi tên và mỗi tên gọi đều mang trong mình những dấu ấn của lịch sử So với các tên gọi khác, tên gọi “xứ Thanh” đánh dấu một giai đoạn thái bình của đất Thanh Hoá Trong các triều đại phong kiến, thì đời vua Lê Thánh Tông với việc ban bố Luật Hồng Đức đã đem lại sự cải tiến mạnh mẽ về giáo dục, giáo huấn và gia phong góp phần mở mang tri thức dân tộc Theo các nhà nghiên cứu thì đây là triều đại cực thịnh của vua sáng, tôi hiền và việc đặt tên “xứ Thanh” cũng hàm chứa sự tin tưởng về một vùng đất an bình và phát triển
Mặt khác, về mặt lịch sử, Thanh Hóa là mảnh đất từ xa xưa đã được mệnh danh là đất của các bậc đế vương sáng nghiệp mà dân gian thường gọi là đất “Tam vương, nhị chúa” Ba triều vua phát tích từ xứ Thanh là: Triều Hồ, triều Lê và triều Nguyễn.1 Hai nhà Chúa phát tích từ Thanh Hóa là chúa Trịnh và chúa Nguyễn.2Đây cũng là vùng đất duy nhất Việt Nam có 1 dòng họ vừa xưng chúa, vừa xưng vua Đó là dòng họ Nguyễn xưng chúa 9 đời ở Đàng trong (bắt đầu từ chúa Tiên -
1 Theo sử sách, Hồ Quý Ly có gốc tích từ Nghệ An nhưng đến đời thứ 4 (tính đến Hồ Quý Ly) thì lật đổ triều Trần, chọn Thanh Hóa làm đất xưng vương, lập nên vương triều nhà Hồ Nhà Hồ xây dựng kinh đô mới An Tôn (Tây Đô) thuộc huyện Vĩnh Lộc mà dân gian quen gọi là thành nhà Hồ Vương triều Lê do Lê Lợi sáng nghiệp từ đất Lam Kinh, Thọ Xuân Đây là vương triều phong kiến to lớn, rực rỡ bậc nhất của chế độ quân chủ Việt Nam Ngoài sử sách ghi chép thì những di tích, truyền thuyết về Lam Sơn dấy nghĩa còn được dân gian lưu truyền rất đậm nét Vị vua thứ 3 hiển linh ở đất Thanh là vua Nguyễn – triều vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam Vua Gia Long – Nguyễn Ánh đã đánh bại nhà Tây Sơn lập nên nhà Nguyễn ở Kinh đô Phú Xuân – Huế Ngoài ra, còn một vị vua nữa là vua Lê Đại Hành thời tiền Lê (tương truyền là người ở xã Trung Lập, huyện Thọ Xuân) nhưng hiện tại, các nhà khoa học chưa thống nhất nên tạm chưa tính
là vị vua phát tích từ Thanh Hóa
2 Chúa Trịnh quê gốc làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc, sau dời đến làng Biện Thượng (nay là xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc) với 12 đời chúa bắt đầu từ “Thế tổ Minh khang Đại vương Trịnh Kiểm” [113 - tr.676] Chúa Trịnh là người đã có công lao rất lớn đối với sự nghiệp trung hưng của nhà Lê cuối thế kỷ XVI, gây dựng nên thanh thế của chúa Trịnh Đàng ngoài Người khởi nghiệp các chúa Nguyễn Đàng trong là Nguyễn Hoàng, con của Nguyễn Kim, người làng Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung Khi Nguyễn Kim mất, Trịnh Kiểm lên thay quyền và được phong làm Thái sư nắm toàn thể quân đội Trịnh Kiểm đã có ý diệt nhà Nguyễn để thâu tóm quyền lực Biết được điều đó, Nguyễn Hoàng (con trai Nguyễn Kim) nhìn xa, trông rộng nên đã xin vua Lê, chúa Trịnh cho vào trấn thủ Thuận Hóa, từ đó gây dựng thanh thế chúa Nguyễn Đàng trong, đối địch với chúa Trịnh ở Đàng ngoài
Trang 29Nguyễn Hoàng), sau đó xưng vua 13 đời (bắt đầu từ niên hiệu Gia Long) Như vậy,
xứ Thanh là mảnh đất đặc biệt Việt Nam mang trong mình nhiều dấu ấn lịch sử và điều đó đã ảnh hưởng lớn đến truyền thống học hành, khoa bảng của vùng đất này Trong lịch sử khoa cử Việt Nam, đa số các vị vua, chúa đều là người được giáo dục kỹ càng về mọi mặt Những triều đại thịnh trị, nhà vua thường là người ra
đề thi Đình, chấm đỗ kỳ thi cao nhất này và trực tiếp chọn Trạng nguyên cho triều đình Xứ Thanh là đất quân vương nối tiếp nhau nên có bề dày truyền thống về mọi mặt, chịu ảnh hưởng nhiều về phẩm chất trí tuệ và phương thức cai trị của nhà nước phong kiến
Người dân xứ Thanh là người dân của “Đất vua” nên có điểm tựa (cả vật chất và tinh thần) hơn những nơi khác để tạo lập truyền thống khoa cử Bởi thế, việc học tập cũng được đề cao hơn, chính tắc hơn Các Nho sinh dòng dõi vua, chúa sẽ được ưu tiên quan tâm, săn sóc kỹ hơn, được tiếp cận với việc học hành sớm hơn và được hưởng môi trường, phương pháp học tập tốt hơn rất nhiều so với con nhà bình dân khác Hơn nữa, các vị vua, chúa (có thể có một số vị kế nghiệp do quần thần dựng lên vì tham vọng chính trị nhưng hầu hết các vị vua, chúa đều là người dòng dõi trí tuệ) đứng đầu triều đình phong kiến chính là tấm gương để các thế hệ con cháu noi theo, quyết chí học hành đỗ đạt cho xứng với tổ tông Môi trường xung quanh vua chúa là môi trường được bao bọc kỹ càng theo lễ giáo phong kiến nên tự
nó đã tạo nên một “từ trường” Nho giáo che phủ, lan tỏa ra xung quanh, khiến cho người dân đất này chịu ảnh hưởng rất lớn của tinh thần Nho học Xứ Thanh là vùng đất “tam vương, nhị chúa” nên người xứ Thanh mặc nhiên coi mình là con vua, cháu chúa, là người của vua, chúa Chính vì vậy, người dân xứ Thanh đã chọn con đường học hành, khoa cử, làm quan để tiếp nối truyền thống dòng tộc và thỏa mãn tâm lý của một vùng đất vua, chúa
Người dân xứ Thanh cũng bị chi phối bởi nếp sinh hoạt, học tập của nhà vua, nhà chúa Theo quy luật chung, nơi phồn hoa, đô hội bao giờ cũng là nơi thu hút các nhân tài, vật lực từ khắp mọi miền của đất nước Thanh Hóa là nơi phát tích của ba đời vua, hai đời chúa nên đã tạo sức hút tự nhiên, thu hút nhân tài nơi khác về Đội ngũ quan lại triều đình, những người hầu cận và đội ngũ Nho sĩ được nhà nước phong kiến chọn lựa kỹ càng để phục vụ vua, chúa đã mặc nhiên góp phần nâng cao chất trí tuệ của cộng đồng dân cư nơi đây Các thế hệ này đã dần tạo nên đội ngũ
Trang 30dân sĩ, trí thức đi đầu cho việc học tập và khoa cử, lan tỏa đến mọi người dân trong vùng
1.3.1.2 Tác động của yếu tố địa lý - tự nhiên
Tinh thần hiếu học ở xứ Thanh, có thể nói phần nào bắt nguồn từ chính yếu
tố địa lý - tự nhiên nơi đây Theo sách Địa chí Thanh Hoá [130], Thanh Hoá nằm ở
cực bắc của Trung Bộ nước Việt Nam, là một tỉnh mang tính trung gian giữa Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ Phía bắc tiếp giáp 3 tỉnh là Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình với đường ranh giới dài 175 km Phía nam và tây nam giáp Nghệ An với đường ranh giới dài hơn 160 km Phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với đường biên giới kéo dài 192 km Phía đông Thanh Hoá mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc Biển Đông với đường bờ biển của dải đất liền hơn
102 km và một thềm lục địa khá rộng Thanh Hóa có diện tích tự nhiên là 11.117.3 km2 với 27 huyện thị xã, thành phố, 637 xã phường, thị trấn, 6.042 thôn bản, phố và dân số gần 3.5 triệu người (tính đến tháng 7/2012) [Phụ lục ảnh 2.1 tr 159]
Về mặt địa lý, theo sách Địa chí Thanh Hóa [130], Thanh Hóa là tỉnh có đồi
núi chiếm 3/4 diện tích, bao gồm từ núi cao đến đồi trung du, đồng bằng cao thấp bậc thang … và các đảo ven bờ, ngoài khơi Nếu miền núi phía bắc của Thanh Hóa
là phần cuối của dãy Tam Điệp (các huyện Thạch Thành, Hà Trung, Nga Sơn …) và
là nơi con sông Mã đổ ra biển Đông thì phía nam Thanh Hóa lại là sự bắt đầu của bước chuyển từ đồng bằng gắn vào dãy núi Trường Sơn (các huyện Như Thanh, Như Xuân …) Chính vì vậy, dân gian vẫn thường gọi xứ Thanh là đất “cuối sông, đầu núi” là như vậy
Do ở vị trí địa lý “trung chuyển” giữa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nên khí hậu
xứ Thanh mang cả đặc điểm của khí hậu Bắc Bộ là có một mùa đông lạnh và khô với những ngày đầu mùa xuân ẩm ướt, âm u, thiếu nắng do mưa phùn và sương mù kéo dài Nếu hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình là nguồn phù sa bồi đắp nên châu thổ sông Hồng thì đồng bằng xứ Thanh do hệ thống sông Mã và sông Chu bồi phủ Nhưng một số huyện phía bắc của Thanh Hóa như: Nga Sơn, Hà Trung … lại cũng được ảnh hưởng phần bồi đắp của phù sa sông Hồng nên vùng này có phần gắn kết với châu thổ sông Hồng hơn, giống như sự gắn kết tự nhiên của Thanh Hóa với Bắc
Bộ vậy Đồng bằng Thanh Hóa có độ nghiêng rất lớn từ tây bắc xuống đông nam
Trang 31Nếu độ dốc của đồng bằng sông Hồng là 0,3% thì độ dốc trung bình của Thanh Hóa
là 0,9% (cao gấp 3 lần) Đồng bằng Thanh Hóa hầu hết được bồi đắp bởi hệ thống sông Mã nhưng địa hình không bằng phẳng, chia cắt nhiều nên rất khó khăn trong việc tiêu úng, tưới nước và dễ bị xói mòn, bạc màu khi lũ lụt hoặc hạn hán [130] Nước của vùng biển Thanh Hóa nóng ấm quanh năm, độ mặn trung bình khoảng 3,2‰ và có độ mặn xu hướng tăng lên vào mùa khô Do ảnh hưởng của khí hậu gió mùa nên có dòng hải lưu hoạt động mạnh Chính vì vậy, biển Thanh Hóa có vẻ
“mặn mòi” hơn, dữ dội hơn so với vùng biển các tỉnh khác thuộc Bắc bộ
Thanh Hoá là một vùng quê đất rộng, người đông nhưng mùa màng không mấy thuận lợi Chính địa hình đồi núi cao mà dốc, đồng bằng có độ nghiêng lớn, sông sâu và hung dữ, biển “mặn mòi”, cấu tạo rất phức tạp, độ cao thấp khác nhau
và có xu thế nghiêng dần ra biển, cộng với khí hậu, nước, sinh vật … nhiều biến đổi làm cho thiên nhiên Thanh Hóa thật đa dạng, muôn hình vạn trạng, hạn hán, lũ lụt
liên miên mang đến cho con người xứ Thanh không ít khó khăn trong cuộc sống
So với cả nước thì Thanh Hoá không phải là một miền đất có truyền thống
giỏi về canh tác nông nghiệp và nghề phụ (xin được nói kỹ ngay sau đây) Người xứ
Thanh đã phải bỏ nhiều công sức để chế ngự phần nào thiên nhiên và cùng “chung sống hòa bình” với điều kiện thực tế vốn dĩ đã có trong lịch sử của vùng đất này Có
lẽ những khó khăn trong cuộc sống khiến người xứ Thanh càng có nhiều quyết tâm thay đổi cuộc đời bằng con đường học tập Như vậy, có thể nói, chính điều kiện lịch
sử, tự nhiên – xã hội như trên của đất Thanh đã góp phần quy định nên phẩm chất của con người xứ Thanh, khích lệ tinh thần học tập, tạo dựng truyền thống hiếu học, khoa cử trong giới Nho học nơi đây
1.3.2 Động cơ của tinh thần hiếu học
Các điều kiện tự nhiên – xã hội trình bày ở trên đã phần nào “quy định” khí chất người xứ Thanh: mạnh mẽ, cương quyết, sẵn sàng đương đầu với thực tế, vượt
lên mọi khó khăn nhưng cũng rất hiếu học, tài hoa như lời bàn trong sách Đại Nam nhất thống chí (phần Thanh Hóa thượng) khi nói về người Thanh Hoá: “ Kẻ sĩ chuộng văn học, trọng khí tiết Đời nào cũng có anh tài phóng khoáng lỗi lạc, cũng
là nhờ tinh túy núi sông hun đúc ” [35- tr 880]
Phần lớn các dòng họ khoa bảng xứ Thanh đều sống ở những làng rất nghèo Đồng ruộng ở đây hoặc là đồng chiêm trũng hoặc là đồi núi khô hạn, canh tác khó
Trang 32khăn, đời sống bấp bênh hơn nhiều những làng quê khác Cũng trong sách Đại Nam nhất thống chí khi nói về sản xuất và đời sống của người dân xứ Thanh có viết “ Người làm ruộng thì chăm chỉ cấy cày, nhưng phương pháp làm ruộng thì kém thua ngoài Bắc, cho nên thóc lúa không được dồi dào Nghề thủ công cũng không có gì đặc biệt nghề buôn bán thì không có những khách buôn to, giầu có, tuy vẫn có thuyền bè giao thông buôn bán với các tỉnh hạt song cũng chỉ là quán hàng nhỏ thôi .” [35 - tr 880] Vì vậy, hướng thoát nghèo và ý chí thoát nghèo bằng việc học là
một trong những động lực mạnh mẽ giúp các dòng họ động viên con cháu gắng công học tập thành đạt nên người Cũng là lời giáo lý cho con trẻ về ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ như câu ca quen thuộc trong kho tàng ca dao, dân ca Việt Nam: “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ ”, nhưng ở xứ Thanh, câu ca đó lại gắn với một ý nghĩa hết sức thiết thực về cuộc sống:
“ Vui đâu bằng hội đề danh Nghề đâu là nghiệp học hành là hơn Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trên nguồn chảy xuôi
Phu nhân thì có công nuôi Toàn gia hưởng phúc lộc trời ban cho ” [150 - tr.66]
Như vậy, đi học ở Thanh Hoá vừa là một nét đẹp văn hoá nhưng đồng thời cũng là một giải pháp tích cực cho cuộc sống tương lai
Trong các phương án lựa chọn cho tương lai của người Thanh Hoá từ đi buôn, làm thợ, hàng xay, hàng xáo, làm ruộng thì việc học được chọn với sự đầu
tư vốn ít nhất nhưng nhiều khả năng đem lại cuộc sống no ấm, vinh hiển Người xứ Thanh đã chọn việc học làm một trong những kế sinh nhai Nghề “đi học” khá phổ biến và trong các thú vui hội hè xưa (vốn rất phổ biến và thu hút dân quê) thì “hội
đề danh” - hội xướng tên người đỗ đạt - được coi là ngày hội vui nhất Dưới chế độ phong kiến, việc học hành khoa cử thường liên quan mật thiết với việc ra làm quan, thay đổi thân phận của mình Hầu hết, sau các kỳ thi, nhất là các kỳ thi lớn như thi Hội, thi Đình thì những người đỗ đạt đều được nhà nước phong kiến bổ dụng làm quan, không phân biệt thành phần xuất thân là giàu hay nghèo Từ chỗ là người nông dân nơi làng quê, họ sẽ được làm quan, được Nhà nước phong kiến trọng dụng, và theo đó, gia đình sẽ được hưởng lộc vua ban, no ấm cả đời, cả dòng họ,
Trang 33hàng xóm láng giềng cũng được thơm lây Chính vì vậy, đây là một trong những động lực thúc đẩy mọi tầng lớp nhân dân Thanh Hóa vươn lên trong học tập, khuyến khích con cháu học hành thi cử, chí ít, nếu thi trượt làm thầy đồ thì cũng là
một nghề nho nhã mà thanh thản (“Tiến vi quan, thoái vi sư”) Đỗ đạt, vinh quy là
khát vọng cháy bỏng không chỉ của các sĩ tử mà của cả gia đình và dòng tộc Việc học tập đỗ đạt sẽ đem lại cho người dân một địa vị xã hội kèm theo là sự trọng vọng của cả cộng đồng Chính vì thế, mặc dù nước ta là một nước nông nghiệp với sản xuất, gieo trồng lúa nước là căn bản, các sĩ tử đi thi đều xuất thân từ nông thôn, ra đi
từ làng quê nhưng dân gian vẫn có câu nói cửa miệng rằng: “Nhất sĩ, nhì nông”
Bởi vì, người làm ra miếng cơm, manh áo, một nắng, hai sương vẫn chỉ là “thứ dân”
trong xã hội phong kiến xưa
Tâm lý học để làm quan, để thay đổi thân phận nông dân nghèo (“Một người làm quan, cả họ được nhờ”) không những đeo đẳng bản thân các học trò từ lúc bắt
đầu học chữ thánh hiền cho đến lúc đi thi mà còn biến thành ý chí, niềm khát khao
và hy vọng của cả một dòng họ, mặc dù niềm tự hào đó đôi lúc đã trở thành gánh nặng, áp lực tâm lý mà người học trò phải mang theo suốt cả cuộc đời mình:
“…Bao giờ Ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước, họ này hết quan…”
(Câu ca về họ Nguyễn làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) Như vậy, hơn cả việc học để đem lại phú quý, giàu sang cho bản thân mình
mà việc học xưa còn được coi là một nét truyền thống quý báu của các dòng họ khoa bảng Học là để làm quan cho cả dòng họ được cậy nhờ, học còn làm vẻ vang dòng họ, để cho trong làng, ngoài nước biết đến và còn lưu truyền đến muôn đời sau Ở đây, việc công thành danh toại đối với học trò là vinh dự của cá nhân họ nhưng cũng là bổn phận và nghĩa vụ đối với dòng họ vì hàm chứa bên trong đó còn
là sự chờ đợi, ước vọng của cả một gia đình, dòng tộc về một sự đổi thay thân phận mình Cả người học và gia đình, dòng họ của họ đều mong chờ đến ngày đăng khoa, cho bõ công phụng dưỡng, đèn sách Làng nào, dòng họ nào có nhiều người đi học, nhiều người đỗ đạt cao là niềm vinh dự, tự hào lớn lao cho không chỉ bản thân người đó mà còn đem vinh quang về cho cả dòng họ, cả làng, cả tổng Không phải ngẫu nhiên mà người xứ Thanh quan niệm rằng:
Trang 34“Một người làm quan cả họ được nhờ Một người làm quan cả làng được cậy”
Nhưng đồng thời cũng quy rõ trách nhiệm của dòng họ trước sự tiến bộ, đặc biệt là hư hỏng của từng cá nhân trong dòng họ:
“Một người làm bậy cả họ phải mang”
Đã có nhiều miền đất của xứ Thanh đi vào tục ngữ, ca dao như một niềm tự hào về truyền thống khoa bảng, với việc học hành, đỗ đạt như một đặc trưng vùng
miền: “Mẹo mực Quảng Xương, văn chương Hoằng Hóa”; “Thi Hoằng Hóa, khóa Đông Sơn”, “Cơm Nông Cống, cá Quảng Xương, văn chương Hoằng Hóa”… để
nói về những miền đất thời nào cũng có nhiều người học, nhiều người đỗ cao Nhưng cũng có những câu ca lại phản ánh quan niệm về giá trị của việc học theo
chiều ngược lại: “Văn chương không bằng xương con cá lẹp” (cá lẹp là loài cá
mỏng mình, ít thịt, nhiều xương giá trị kinh tế rất thấp, xuất hiện nhiều ở vùng biển Thanh Hóa vào mùa thu) Chúng tôi chưa bàn đến quan niệm đúng, sai khi nhìn nhận về giá trị của việc học trong đời sống nhưng rõ ràng, các câu ca dao, tục ngữ như trên cho thấy: Việc học đã đi vào đời sống hàng ngày của người dân xứ Thanh
và ý thức về việc học đã thường trực trong suy nghĩ, trong cách diễn đạt của họ
Trong sử sách ghi lại cũng như lưu truyền trong dân gian, truyền thống hiếu học khoa bảng của các dòng họ vùng Thanh – Nghệ thường xuất hiện những giai thoại về tấm gương vượt khó học tập Người dân xứ Thanh tự hào về truyền thống khoa bảng và can trường về khả năng chịu thương, chịu khó để học hành Chúng ta
dễ bắt gặp nhiều câu chuyện cha mẹ hy sinh cho con cái ăn học, vợ hy sinh cho chồng, cho con (kể cả con rể, con nuôi), gia chủ tạo điều kiện cho đày tớ học tập hay cả cộng đồng làng xã góp sức cho một người ăn học để thành tài … Người dân nơi đây có thể nói học trò nghèo nhưng chưa bao giờ nói học trò hèn, cũng không thấy họ tỏ thái độ dè bỉu hay chê bai sự nghèo túng đó Và trong làng vẫn có những
cụ đồ nghèo mở lớp dạy tư cho trẻ với tâm nguyện thế hệ sau sẽ có những trò giỏi
hơn mình, thi đỗ làm quan để “con hơn cha là nhà có phúc”, để làm rạng danh cho
cả họ, cả làng
Trong kho tàng giai thoại về việc học của các nhà khoa bảng xứ Thanh, có một điều rất đặc biệt là: Hầu hết giai thoại đều không thấy ghi các nhà khoa bảng xứ
Trang 35Thanh được học tập trong các trường lớp chính quy do nhà nước phong kiến lập ra hay được cha mẹ gửi vào học chính thức ở một lớp nào đó do các Nho gia dạy dỗ
mà đều thấy họ học theo lối “học lỏm”, nghe người khác học mà nhớ, mà thuộc bài rồi về ghi lại … Đơn cử như một số câu chuyện được lưu truyền lại sau đây:
Dòng họ Lê luôn tự hào về tấm gương của Bảng nhãn Lê Văn Hưu, người huyện Đông Sơn, thời nhỏ thường đến Quán học là nơi các cụ có chữ Nho ra đọc sách, giảng bài cho con em trong làng Cậu bé Lê Văn Hưu đã nghe giảng bài và viết lại bài giảng vào một tờ giấy khác không sai một chữ khiến cả lớp kinh ngạc Ngoài ra, Lê Văn Hưu còn nổi tiếng với các câu chuyện về vế đối với ông thợ rèn khi đi qua lò rèn, câu chuyện về việc ông trọ học ở chùa Báo Ân (núi Nhồi, huyện Đông Sơn) đã trò chuyện, lâu thành bạn tri kỷ với ông Tiên trong núi; hay câu chuyện về tài đối đáp của ông với thầy đồ Phúc Triền khiến thầy phải nhận làm học trò và gả con gái cho ông … Câu chuyện về bà Lê Thị, mẹ của Bảng nhãn Lương Đắc Bằng người làng Hội Triều, Hoằng Hóa đã cương quyết đòi chồng gửi con theo học cụ Trạng Lương Thế Vinh vì lý do là mình không còn chữ để dạy con nữa, để
về sau đất nước có một Bảng nhãn Lương Đắc Bằng (trình bày cụ thể ở mục 1.3.5)
Dòng họ Nguyễn cũng là dòng họ có nhiều tấm gương tiêu biểu trong việc vượt khó tìm thầy lo đạo học: Tiến sĩ Nguyễn Quán Nho người làng Thiệu Hưng, Thiệu Hóa do cảnh mẹ góa, con côi, cơ cực bần hàn không được học đến nơi đến chốn Sau, do quý mến người chịu khó, chịu khổ mà học nên các thầy giáo làng đã phụ đạo giúp ông học giỏi nên người [132]; Tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân người xã Thiệu Thịnh, huyện Thiệu Hóa, nhà rất nghèo lại mồ côi cha nên không được đi học Ông đã xin mẹ cho đi ở, chăn trâu, cắt cỏ để tự nuôi sống bản thân mình Nhà chủ có cậu bé bằng tuổi ông nên gia chủ đã thuê thầy về dạy học Do là người ở nên ông thường xuyên phải quét nhà, pha trà cho thầy giáo Chính vì thế, tất cả các bài học của con nhà chủ ông đều thuộc hết Chủ nhà và thầy giáo biết sức học của ông nên đã cho ông cùng ăn học để tiếp tục kèm cặp con mình [132] Ngay tại đất học Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, quê hương của dòng họ Hồ khoa bảng hàng đầu Việt Nam cũng xuất hiện rất nhiều tấm gương vượt khó học giỏi, đỗ cao như: Hồ Sỹ Dương phải gom lá khô, đốt lên soi sách học mà sau này đậu Hoàng giáp; Văn Đức Giai nhà nghèo không có tiền mua dầu thắp đèn phải bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng
để đọc sách mà sau này đỗ Tiến sỹ; Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Chủ tịch Hồ Chí
Trang 36Minh) lúc bé học lỏm ngoài lớp, sau được thầy Hoàng Đường quý mến đưa về nuôi, dạy và thi đỗ Phó bảng [147 - tr 37]
So với xứ Nghệ, tinh thần hiếu học của học trò xứ Thanh đã thể hiện đậm nét hơn trong việc “tầm sư học đạo” mà nên người Rõ ràng, các dòng họ xứ Thanh luôn mang trong mình tinh thần hiếu học, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn để học tập Hơn thế nữa, vì biết thân phận của mình là nghèo khổ nên họ luôn luôn ý thức phải tận dụng hết mọi cơ hội để học tập cho bản thân
1.3.3 Khuyến học qua hương ước
Hương ước (của người Kinh) và luật tục (của các dân tộc thiểu số) là một di sản văn hóa truyền thống đóng vai trò như là công cụ để quản lý cộng đồng địa phương [126 - tr.323] Hương ước là những quy định mang tính tự quản nhằm điều hòa các quan hệ xã hội và quản lý cộng đồng làng xã, là một hình thức của pháp luật (các bản hương ước đều được nhà nước phong kiến địa phương phê chuẩn) Thực chất, hương ước là những cam kết cộng đồng có giá trị thực thi rất lớn trong
các hoạt động làng xã Việt Nam xưa bởi “Phép vua thua lệ làng” Trong số 40 bản hương ước Thanh Hóa được công bố trong sách Hương ước Thanh Hóa của Võ
Quang Trọng và Vũ Ngọc Khánh thì có 36 bản nói đến việc học và khuyến học [153]
Theo sách nói trên, hương ước của các làng quê xưa đều có những điều khoản nêu rõ những ưu tiên của làng xóm cho việc học tập của con cháu như: Người đang đi học, ôn thi thì không phải tham gia tuần canh, không phải lao động công ích, được giảm đóng lệ phí làng… Học trò đi thi nếu đỗ thì tùy mức mà làng trọng thưởng từ việc đón rước, cỗ bàn cho đến thưởng bằng vật chất Một số dòng
họ còn góp đất, góp công tạo lập “ruộng học điền” chuyên dành cho các gia đình có học trò đi thi canh tác lấy chi phí bù đắp cho việc học; một số họ khác lập “vườn kế thí”, “quán học” để cho học trò nghèo có chỗ chuyên tâm ôn luyện đi thi …Việc cộng đồng làng xã thống nhất trợ giúp cho người học là một bước tiến quan trọng trong khuyến học làng xã Việt Nam Trong số 40 bản hương ước được công bố nói trên, hầu hết đều có nói đến hỗ trợ người học, trong đó có 26 bản (chiếm 65%) quy định cụ thể mức độ trợ giúp cho người học Đây là một tỷ lệ khá cao so với các nội dung khác của hương ước bởi Thanh Hóa là một tỉnh nghèo nhưng hiếu học
Trang 37Việc hỗ trợ người học được thể hiện tập trung trong các khoản về miễn trừ
sưu dịch, tuần phu, thổ mộc, tạp dịch … đối với người đang đi học và các khóa sinh
để tạo điều kiện tập trung cho học tập Người nào học lực khá, được cấp liễm, sưu
và các lệ hương ẩm đức được châm chước Hương ước làng Cầu Mơ tổng Bỉnh Bút, huyện Hậu Lộc lập năm Bảo Đại thứ 17, biên soạn năm 1942, có hẳn những chương, điều nói về việc làng lập ruộng học điền để giúp đỡ học trò nghèo và
khuyến khích học tập Điều 54 chương 9, Việc giáo dục ghi: “ Làng nào có công điền, công túc nên cấp cho con em đi học ” và tại Chương thứ 10, Việc lệ phụ chú tục lệ làng sau này, khoản 19 ghi “ Làng trích cấp cho làng văn 6 sào ruộng mỗi năm một lần xuân tế ” [153- tr.503 - 508] Khoán ước làng Vĩnh Trị, Hoàng Quang, Hoằng Hóa thì ghi “… Trong làng, nhà nghèo mà có con học giỏi hay làm nghề thủ công giỏi có thể làm gương cho đời sau thì được thưởng Có 2 loại thưởng: Thưởng cho người học giỏi tiền giấy bút hằng năm 4 đồng; thưởng cho người giỏi nghề thủ công 10 đồng…” [43 – tr.565]
Chế độ trợ cấp cho người học trong nhiều bản hương ước Thanh Hóa được
quy ra bằng tiền và số lượng nhiều, ít tùy theo khả năng của từng làng, xã Hầu hết trong các hương ước đều có quy định cụ thể về chế độ trợ cấp cho học sinh từ lúc đi học cho đến khi đi thi Xã Như Áng, huyện Tĩnh Gia cấp tiền giấy, bút 1 quan/năm;
xã Mỹ Phong, huyện Tĩnh Gia thì cấp 3 quan/năm …để khuyến khích học tập [153-
tr.99]
Đặc biệt, việc ưu tiên trợ cấp cho con nhà nghèo hiếu học cũng đã được dân
xứ Thanh quan tâm và có những ứng xử mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Điều 36,
hương ước xã An Tốn Hạ, tổng Cao Mật, huyện Vĩnh Lộc ghi rõ: “Con em người nhà trong xã, người nào tình nguyện theo học, trừ con nhà giàu ra, còn con nhà nghèo không có ruộng riêng từ 1 sào trở xuống có thể theo học trường công, mỗi năm dân xã cấp cho tiền giấy bút 1 đồng 1 hào để khuyến khích học tập tiến bộ ”
[153- tr.299]
Các làng khoa bảng Thăng Long – Hà Nội cũng có lệ biếu tiền nhưng chỉ biếu khi học trò thi đỗ: Làng Thượng Cát thì cả làng góp 100 quan và 1 mẫu đất bãi mừng Tiến sỹ, họ Nguyễn làng Hạ Yên Quyết mừng chung 2 quan và trầu rượu [39 – tr.89, 90] Còn ở Nghệ An thì làng Tri Lễ, Anh Sơn dân biếu 1 sào rưỡi [146 – tr
Trang 3833] Trong khi đó, các dòng họ và các làng xứ Thanh lại có chế độ trợ cấp cho người học ngày từ khi đi học, ôn luyện và đi thi (như trên đã nói) và đặc biệt nếu là con nhà nghèo thì được đi học trường công và xã cấp tiền giấy bút hàng năm Động thái này thể hiện người dân xứ Thanh quan tâm “đầu tư” có chiều sâu hơn, khuyến
khích sớm hơn cho việc học
Học tập trung, mời thầy dạy là một cách khuyến học rất sáng tạo của các làng quê xứ Thanh Trong Hương ước Thanh Hóa cũng có nhiều bản nói đến việc
học tập trung của học trò trong làng và trách nhiệm của những người Nho học trong việc giúp đỡ học trò ôn luyện Một số bản hương ước cũng đã chỉ rõ sự đồng thuận của người dân trong việc huy động sức dân, đóng góp, tạo điều kiện học tập cho học
trò: “…Thuận tình trích tiền công quỹ hằng năm từ 12 đồng đến 20 đồng mua đèn dầu và đồ dùng học tập để trợ cấp cho con nhà nghèo (không bị) thất học Ban đêm, (những người này) đến hội đồng để học tập Còn thầy giáo thì chọn riêng người có bằng sơ học để giảng dạy không có cấp lương, mỗi đêm nên có một viên chức sắc chủ tọa để bảo vệ trông coi trật tự ” [153- tr.390]
Cách làm của các dòng họ xứ Thanh cũng gần giống cách ôn luyện thi thư cho con cháu trong họ của họ Vũ làng Mộ Trạch, tỉnh Hải Dương Trước khi đi thi hàng huyện, các thí sinh đều phải đăng ký vào sổ thi của họ và phải vượt qua được
kỳ thi thử do làng tổ chức tại Quán Kỳ Anh đầu làng hoặc Quán Hoàng Oanh mà dân làng thường gọi là “cựu quán khảo văn”
“ Tại quán này, những người khoa bảng trong họ Vũ và làng làm nhiệm vụ khảo xét, bồi dưỡng cho con cháu trong dòng họ để có đủ khả năng trước khi thi thố với thiên hạ ” (Phỏng vấn ông Vũ Đăng Hướng –
85 tuổi, thủ từ Đền thờ Vũ Hồn - Mộ Trạch - Hải Dương ngày 31/3/2013) Trong hơn 300 hương ước xưa của Hà Nội, truyền thống khuyến học cũng đã được ghi lại trong nhiều điều Trong đó, hương ước làng Khương Hạ, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, (nay là quận Thanh Xuân) Hà Nội và một vài làng khác (cũng tương tự như hương ước Thanh Hóa) ghi khen thưởng về tinh thần đối với những người vợ đã nuôi chồng ăn học, thành tài:
“… Điều 132 Nếu người đàn bà nào nhà nghèo chịu khó làm ăn cặm cụi,
Trang 39nuôi chồng con học hành nên danh phận thì dân sẽ có chiếu riêng để khi đình đám, phải mời những người ấy ra đình lễ thần nghe hát …” [39 - tr 24]
Thời phong kiến, chốn đình trung chỉ dành riêng cho nam giới tế thần và bàn việc làng, đàn bà không được lui tới nhưng trong hương ước làng Khương Hạ lại quy định như trên quả là việc làm đặc biệt, đánh giá cao công lao của người phụ nữ
đã dày công nuôi chồng, con ăn học thành tài và cũng chỉ ra rằng, chính họ mới là người sản sinh và nuôi dưỡng tài năng cho làng, nước
Phạt nặng nếu giả danh đi học để trốn việc Người xứ Thanh đồng lòng xử
phạt nặng các tội liên quan đến việc học Các tội danh phổ biến bị phạt là: Học trò lười nhác, không chịu học bị phạt từ 1 đến 2 quan, người trong hội Tư văn mà thất
lễ thì phạt 6 quan … Đặc biệt, tội không trung thực, mượn cớ học trò (đã được ưu tiên cho ăn học) để đi làm việc khác thì phạt rất nặng và không cho học nữa
“…Nếu phải về đi cày, bản thôn truy phạt từ năm 19 tuổi là 2 quan, lại phạt 3 quan
về tội lừa dối, cộng là 5 quan, đến 23 quan tiền để kính lễ sĩ phong …” [153 - tr 147] và “ Người trong xã tình nguyện đi học, được bản xã cấp tiền mua giấy, bút, mỗi năm là 3 quan Nếu giả danh đi học thì sẽ bị phạt 6 quan, thu tiền tăng gấp đôi ” [153 - tr.19]
Như vậy, các tội danh liên quan đến học tập được xử phạt rất nghiêm minh Bên cạnh việc trợ giúp người học thì những án phạt cho những vi phạm cũng mang
ý nghĩa răn đe rất lớn Thực chất, những hình phạt dành cho Nho sinh vi phạm, một mặt giữ nghiêm kỷ cương, phép nước nhưng mặt khác cũng có tác động to lớn trong việc khuyến khích học tập Đây cũng là một nét đặc biệt trong khuyến học xứ Thanh vì trong các tài liệu liên quan đến khoa bảng Thăng Long - Hà Nội, Nghệ
An và Hải Dương chưa thấy quy định điều này
Bên cạnh những điều, khoản tương tự như hương ước một số địa phương khác, trong hương ước xứ Thanh đã quy định nhiều điều, khoản đặc biệt, mang ý nghĩa lớn trong việc khuyến học, thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của cả cộng đồng ưu tiên cho việc học:
Lý trưởng phải là người Nho học: Hiện còn lưu được 4 bản hương ước nói rõ
tiêu chuẩn bầu lý trưởng phải là người Nho học Đó là hương ước của các xã: Đôi
Trang 40Phục, huyện Nông Cống, xã Tập Cát, huyện Nông Cống, thôn Xa Lý, xã Ngọ Xá,
huyện Nông Cống và làng Nỗ Giáp, xã Vân Trai, huyện Tĩnh Gia ghi rằng: “Người nào có văn chương, lý lẽ tinh thông, bản thông chọn bầu làm lý trưởng” [153 –
tr.98] Như vậy, trong các bản hương ước xứ Thanh Hóa ngoài việc nêu những điều khoản mang ý nghĩa khuyến khích học tập nhưng đặc biệt nhấn mạnh rằng: Chỉ có người Nho học mới có khả năng được làm chức quan cao nhất trong làng xã Điều
đó đã khuyến khích, tạo động lực mạnh mẽ việc học tập ở làng xã xứ Thanh xưa, khẳng định vị thế của Nho học và đặc quyền, đặc lợi mà người đi học có thể nhận
được qua con đường khoa cử
Lập quỹ công phục vụ cho việc học: Hương ước làng Nguyệt Viên, huyện Hoằng Hóa ghi: “ Hiện nay, các khoản học phí, lương thưởng của thầy giáo, trở sưu, phụ phí khá nhiều Cứ phải đợi thấy sưu thuế mới thu luôn, quá nặng đối với dân Nay xã lập công quỹ trích từ các khoản tạp phí của xã, khi cần đem ra sử dụng .” [153- tr 342] Đây cũng chính là một hình thức huy động sức mạnh của cả cộng đồng chăm lo cho giáo dục và cũng là nét riêng trong khuyến học ở xứ Thanh
Mở trường tư, mời thầy dạy và thưởng cho thầy và trò: Hương ước làng Bái Sơn, huyện Hà Trung lập năm Bảo Đại 13, sao lại vào năm 1938 ghi rõ: “ Các gia đình trong làng được tuỳ ý thiết lập trường tư do quan địa phương xin phép, còn chương trình tuân theo y như những điều đã định ra về học tập của chính phủ ”
[153 - tr 390] và điều này cũng được ghi lại tại điều 57 trong hương ước thôn Bái, tổng Bỉnh Bút, huyện Vĩnh Lộc lập năm Bảo Đại thứ 13, sao lại vào năm 1938 [153 - tr 444] Việc mời thầy về kèm cặp cho con mình cũng đã được chính thức đề cập trong hương ước xứ Thanh Hương ước xã Nhân Lộ, huyện Vĩnh Lộc cũng nêu:
Tư gia được nuôi thầy dạy học nhưng phải có giấy phép quan trên và dạy theo chương trình quy định của nhà nước Điều này cũng thấy xuất hiện trong hương ước làng Cầu Mơ, huyện Vĩnh Lộc Đây là những nét rất mới trong việc tổ chức giáo dục địa phương mà ngành giáo dục hiện nay đang áp dụng
Trên đây là một số điểm nổi bật trong số những cam kết của cộng đồng làng
xứ Thanh cho việc học được thể hiện qua hương ước Những cam kết mạnh mẽ, có giá trị to lớn của cộng đồng nhằm khuyến khích việc học tập cho học trò sẽ được đề cập kỹ hơn trong chương 2 nhưng khuyến học qua hương ước bằng những điều