Trong mục Văn tịch chớ ở bộ “Lịch triểu hiến chương loại chớ" Phan Huy Chỳ cú nhận xột về tớnh chất giọng thơ, lời thơ của những nhà thơ tiờu biểu mà ụng giới thiệu : “Lời thơ thanh nha
Trang 1oa BỘ GIAO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SU PHAM
VAN HỌC VA PHÂN TÍCH GIỌNG
ĐIỆU NGHỆ THUẬT CỦA THANH
Trang 2Em xin chan thank cim on
keting déin em haan théwh lute
Ain chan thank cam on
Khoa Ugdé Van va cam on ban
bé dd guip dé, ding gp ¢ hen
ladin vin
Migeldt thee hin
Uguyen The Tam
Trang 3
Phint : DẪN NHẬP Trang
1 Ly do chon để tài và mục đích nghiên cứu I
Si SIERRA EIR CO cs acs pthc ereremeeevenicerpeece nee pcmenemreseymepspemeneuuresnmmpnemepsmrsssnes 2
°, CN DEN DRRENVI NGHIỆN DỄN ai es 4
4 Phương phấp nghiên cứu <i 4
5 Cấu trúc luận văn 4 Phần H: NỘI DUNG 6
Chudng: VE GIONG DIgU NGHE THUAT TRONG TÁC PHAM VAN HỌC 6
1 TY giong điệu - lời nói con người đến giọng điệu nghệ thuật 6
1 Giọng điệu - lời nói con người 6
2 Giọng điệu nghệ thuật 7
II Những quan niệm về sự hình thành và sự thể hiện của giong điệu nghệ thuật
trong lý luận xưa và nay - 10
1 Về sự hình thành hay cội nguồn phát sinh của giọng điệu nghệ thuật 10
Chương H : GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT CỦA THANH TỊNH TRONG TẬP
1.Vé tấc giả Thanh Tịnh và sự hình thành phong cách tác giả 15
II Những sắc thái khác nhau của giọng điệu trữ tình trong tập truyện “Quê mẹ” 26
1 Giọng vui nhẹ nhàng như một khúc đồng quê Lúc 26
2 Giọng buồn, cô đơn, xa vắng và hắt hiu - 5- s24 925.05 118 28
3 Giọng xót xa về những ni mất tất Lần lụi., - 2 5513 32 meemin 30
4 Giọng thương tâm về những cảnh đời éo le, cùng khổ của con người 3I
5 Giọng u hoài, tiếc nuối về đĩ vãng - - -.~ s55 33 _ 6, Giọng đau thương, khiếp sợ trước những sự cố ma quái, rùng rợn 34
1 We belie aii es 37
2 Tai liéu tham khảo sisteg is 39
Trang 4Luận văn tốt nghiệp
PHAN MOT : DAN NHAP
1_LY DOCHON ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
1.1 _ Lý do chọn để tài :
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 phất triển theo hai khuynh hướng : văn học lãng
mạn và văn học hiện thực Mỗi khuynh hướng văn học tuy còn một số hạn mặt hạn chế nhưng
đều đạt được những thành tựu nhất định, đã có đóng góp tích cực cho văn học Việt Nam hiện
đại sau này
*húng ta không thể quên những tên tuổi nổi tiếng của dòng thơ mới như : Xuân Diệu, Huy
Cận, Hàn Mặc Tử những tên tuổi của nhóm 'Tư lực văn đoàn như : Thạch Lam, Nhất Linh,
Khái Hưng những tên tuổi của nhóm văn học hiện thực phê phán như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng Trong số đó, Thanh Tịnh sớm khẳng định vị trí của mình trên văn đần thơ niới với
những bài thơ nổi tiếng : "Tơ trời với tơ lòng”, “Mòn mỗi", “Rồi một hôm” Không những
thế, Thanh Tịnh còn là cây bút truyện ngấn đặc sắc với những truyện được tập hợp trong tip
“Qué me”
“Chúng tôi khuyên các em học tập cách viết của nhà văn Thanh Tịnh Các em chứ nói : làm sau mà học sinh lại viết được bằng nhà văn? Các em cứ đọc đi và sẽ thấy
nhà văn Thanh Tịnh rất gần gũi các em Thanh Tịnh không phải là nhà văn kiêu kỳ
cầu kỳ, Thanh Tịnh viết đã mọi người déu doc dua Che em nén biét Thanh Tinh
cũng là một thầy giáo”
Đó là lời khuyên của Giáo sư Hoàng Như Mai đối với học sinh, được ghi trong Lời đầu
sách khi tấi bản tập truyện “Quê mẹ * đã góp phần khẳng định về nhà văn đa tài này Riêng chúng tôi, khi đọc xong tập truyện “Quê mẹ ” chúng tôi cắm thấy yêu thích phong cách viết văn của Thanh Tịnh và thấy cẩn thiết phải nghiên cứu về ông Đó là lý do khi chúng tôi chọn
để tài cho luận văn tốt nghiệp này
12 _ Mục đích nghiên cứu :
Vấn để giọng điệu nghệ thuật đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu nhưng chưa
có công trình nghiên cứu nào tập hợp lại thành một chuyên để khoa học Chúng tôi muốn thống
kê lại những ý kiến, những quan niệm về giọng điệu nghệ thuột trong the phẩm vn học qun các
tài liệu nghiên cứu, lý luận và thử áp dụng phân tích, tìm hiểu giọng điệu nghệ thuật trong tập
truyện “Quê mẹ ” của Thanh Tịnh
Nghiên cứu giọng điệu nghệ thuật của Thanh Tịnh trong tập truyện “Quê mẹ” được đặt dưới góc nhìn thí phấp, góp phẩn xác định phong cấch nghệ thuật của tấc giả
Trên cơ sở vừa tổng hợp, vừa tiếp thu ý kiến tổng hợp của những người đi trước, vừa vận
dụng khả năng hiểu biết của mình chúng tôi đã khẳng định sự đóng gói? của tác giả Thanh 'fịnh
cho nén văn học nước nhà và có cái nhìn toàn diện, hệ thống hơn vẻ vấn để giọng điệu nghệ
thuật trong tác phẩm văn học
Thanh Tịnh là người đa tài : vừa là nhà văn, vừa là nhà thơ, làm độc tấu, nghiên cứu lịch sử, hướng dẫn viên du lịch Nhưng trong giới trẻ ngày nay, đặc biệt là học sinh, ít người biết đến 'Thanh Tịnh Những tác phẩm đã xuất bản trước đây cũng không được các nhà biên tập chú ý
Trang 5kuận văn tốt nghiệp
tái bẩn lại Tìm được tác phẩm của Thanh Tịnh trên thị trường sách báo thật khó khân luận
văn này góp phẩn phát hiện, giới thiệu tác giả Thanh Tịnh qua sự cố gắng sưu tẩm tài liệu tong bù lại sự thiếu vắng nói trên
2_LỊCH SỬ VẤN ĐỀ :
Thật không khó khi tìn một khái niệm về giọng điệu nghệ thuật, bởi lẽ, từ xưa đến nay, khái niệm này với nhiều tên gọi khấc nhau đã được để cập trong các sách nghiên cứu và lý luận Có
thể thấy những vấn để về giong điệu nghệ thuật được thể hiện qua các công trình nghiên cứu và
lý luận trong và ngoài nước Ở nước ngoài có thể kể đến như ; Cá tính sáng tạo của nhà văn
và sự phát triển văn học, Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực con người của Kh.rapchenkô, Đẫn
luận nghiên cứu văn học của G.N.Pospelov, Lý luận văn học cổ điển Trung Quốc của Khâu
Chấn Thunh Ở Việt Nam có : Văn học và học văn của lloàng Ngọc Hiến, Giáo trình thị pháp học của Trần Đình Sử, Lý luận văn học của Phương L.ựu ( chủ biên ) và đặc biệt là Từ
trong dì sản của Nguyễn Minh 'Tấn ( chủ biên ) uy nhiên, đó là những ý kiến rải rác, khônp
tập trung và chưa có một công trình nào tập hợp đẩy đủ các quan niệm, tìm cội nguồn phát sinh
cũng như quá trình phất triển và sư thể hiện của nó trọn vẹn và đẩy đủ
Vẻ tác giả Thanh Tịnh Ông là một nhà van da tài nhưng những công trình nghiên cứu về thơ văn ông còn huụn chế Có thể nói các nhận xét về thơ văn và con người Thanh Tinh chỉ được đăng rải rác trên các báo, sau đó Ngô Vĩnh Bình tập hợp, sưu tẩm và biên soạn nên cuốn Thanh Tịnh, văn và đời (lo Nhà xuất bẩn Thuận Hoá ìn năm 1966 Xiu được điển qua nhfnp ý
kiến, đánh giá, nhận xét về thơ văn Thanh "Tịnh từ trước đến này
Thanh Tịnh có mật trên vân đàn thơ mới với tập thơ Hiện chiến trường (1937) Năm 1941, tập truyện ngắn “Quê mẹ * ra đời Viết Lời tựa cho tập truyện này, Thạch Lam nhận xét :
“Thanh Tịnh muốn làm người mục động ngôi dưới bóng tre thổi sáo để ca hát
những đám mây và làn gió lướt bay trên cánh đẳng, ca hát những vẻ đẹp của đời thôn quê ”
Và cũng từ cách nhậu xét tính tế ấy, Thạch Lam đã nói : “Đối với Thanh Tịnh truyện ngắn
nào hay déu có chất thơ và bài thơ nào hay đều có cốt truyện” Nghĩa là giữa thơ và truyện ngắn
Thanh Tịnh, phong cách vÀ giọng điệu có sự đan xen lẫn nhau Đồng nhận xét về tập truyện ngắn này có ý kiến cho rằng : “Truyện ngắn Thanh Tịnh duyên dáng, hương vị đậm đà, mang không khí của xứ Huế quê anh”"??, Riêng Vũ Ngọc Phan thì nhận xét : “?hứ tình cảm tiểu thuyết
ở Thanh Tịnh là thứ tình cảm Êm dịu, nhẹ nhàng, thứ tình của dân quê hẳn hậu Trung Kỳ, diỄn
ra trong những khung cảnh sông nước đẳng ruộng”, các đặc điểm ấy đều có trong tập truyện
“Qué me”
Nhìn chung các nhận xét đểu gập nhau ở chỗ : tập tuyén “Qué me” lÀ một tập truyện
trữ tình Chính cái làng quê Huế đã tạo nên một phong cách nghệ thuật độc đáo, phong cách của riêng ông Viết Lời bạt cho tập ưruyện ngắn này, Giáo sư Trần Hữu Tá cũng đã nói :
"Thanh Tịnh có một phong cách nghệ thuật riêng Nhìn chung, ông thích cái nhẹ nhàng, dịu
ngọi, bảng khuâng, man mác”
‘
(1) Np& Vinh Hình - Thanh Tịnh, văo và đời - NXH Thuận Hóa, 1996 ~ trang 4R9
(2) Vũ Ngọc Phan - Nhà văn hiện đại - Tập 2 - NXIKHXH, 1989 - trang 1106
SVTH : Nẹu yên 1 hị Tám ‘Trang 2
Trang 6Luận văn tốt nghiệp
Năm 1942, xuất bản tập truyện ngấn Chị và em Năm 1943, xuất bản tập Ngậtn ngải tìm trầm Suốt đời cẩm bút, day là những tập truyện tiêu biểu của ông Hai tập truyện này vẫn
là cái không gian nghệ thuật ấy _ làng Mỹ Lý _ vẫn là âm thanh cuộc sống ấy nhưng đưới ngòi bút tài hoa cha Thanh Tinh, sv lap lai fy khong iam cho người đọc nhầm chấn Cho nên nhận xét chung về truyện ngấn Thanh Tịnh thì cũng có thể hiểu đó là những nhận xét riêng cho từng
tập truyện Xin được điểm qua vài nhận xét chung ấy
Nhận xét đầu tiên mà chúng tôi để cập đến là : “Truyện ngắn của Thanh Tịnh đầm thắm
tình người, tình nhân đạo sâu xa và lắng đọng”””, lại có ý kiến cho rẰng Thanh 'Tịnh là: “mớt
nhà văn viết truyện ngắn giàu tình cảm, nhiễu khi hóm hình, dí dồm *“? Cái "hóm hình đi ddm”
ấy chỉ là một phần nhỏ Có lẽ Thanh Tịnh xen giọng điệu ấy vào để phá vỡ cấi không khí tĩnh lặng, êm đểm Nhưng cũng chính cái “hám hỉnh, dí đđm" Ấy góp phẩn tạo nên sự thu hút đối với
người đọc và dù có “hóm hinh, di đảm” thì cái chất riêng của con người Huế, của xứ Huế cũng
không bị xóa nhòa Vũ Quần Phương đã nói : “Cái cảm giác buẦn thương, hìu nhẹ của tập
truyện _ cái buôn kiểu Huế _ đã thành một kỉ niệm trong đời ái học của tôi”?
Những tập truyện ấy là tiêu biểu cho sáng tác của ông trước cách mạng Nhận xét về
giọng văn của ông qua các tập truyện ngắn ấy, Nguyễn Hòa đã nói : "Trong văn chương trước cách mạng, ông đã sớm hình thành một giọng điệu, một phong cách riêng : tính tế, mượt mà, pha chút buôn bâng khuâng "9
Và chính Thanh Tịnh ông cũng thừa nhận rằng chịu ảnh hưởng của hai nhà văn nước ta
Thạch Lam và Nguyễn Công Hoan và hai nha vin Phip 14 Alphonse Daudet vA Guy De
Maupassant Ciing nhw A.Daudet, Ong c@ bing khuing ng4m ngdi trtdéc khéng khi ém dịu, thi
vị một thuở làng quê đã bị tiếng cdi tau phá vỡ cũng nhw G Maupassant ông thể hiện nỗi khổ
của kẻ nghèo hèn bé nhỏ Cuối cùng, có thể nói "những truyện ngắn của Thanh Tịnh giống
những hạt ngọc qiá trong nẵn văn học hiện đại của cluẳng ta "P9
‘Tred lên trên là những nhận xét về những :ruyện ngắn của Thanh Tịnh mà chúng tôi đã
cổ công sưu tẩ¡n và ghỉ chép lại.Thế nhưng, với tắm hiểu biết còn hạn hẹp, luận văn chỉ đi sâu
vào tìm hiểu giọng điệu đặc trưng của tập truyện ngắn “Quê mẹ" Như Ngô Quốc Trung đã
định hướng trước : “Những truyện ngắn trong tập “Quê mẹ” đầu đúng là những truyện ngắn cổ
điển, hình thức truyện ngắn gọn, mỗi truyện là một câu chuyện xinh gọn, với giọng điệu rất phong phú lác hám hình Tình trong câu hát, lác ngậm ngùi chua xót Tình thư, có khí như là một
sự hoài cẩ",!°
Tìm hiểu giọng điệu đặc trưng nhất của tập truyện “Quê mẹ ” là nội dung luận văn nghiên cứu và đó cũng là những đóng góp nho nhỏ mà luận văn muốn đóng góp vào những công trình
nghiên cứu còn để ngỏ
(1) Ngô Vĩnh ftìah - Thanh Tịnh, văn và đề - Sđđ - trang 3%9
(2) — Như trên - trang 441
(3) Vũ Quần Phương - Nhà văn Thanh Tịnh - Văn nghệ quân đội,xố 7/77
(4) Nguyễn Ilòa - Thanh Tịnh - từ thi sĩ lãng raạn đến nhà thơ chiến sĩ - Tạp chí vần học sấ 12/1994
(%) Ngô Vĩnh Hlah - Thanh Tịnh, văn và đời - Sdd — trang 359
(6) Ngô Quốc Trung — Nhà văn Thanh Tịnh : Con người - cuộc đời - Văn nghệ quân đội, số 10/1991
S VIN ‘ Nguyễn Thị lim ‘Trang 4
Trang 7Luận văn tối nghiệp”
3 - Giới hạn phạm ví nghiên cứu :
Trong luận vân, chúng tôi chỉ nghiên cứu trong những phạm vi sau:
Lịch sử những quan niệm về giọng điệu qua các tài liệu khác nhau
Vấn để giọng điệu chính và các sắc thái của giọng điệu
Ứng dụng việc nghiên cứu giọng điệu qua phân tích giọng điệu truyện ngắn Thanh Tịnh
4 — Phương pháp nghiên cứu :
Nghiên cứu giọng điệu nghệ thuật của tác giả là một vấn để mang tính khoa học, chúng tôi
nghiên cứu theo quan điểm liên ngành, nghĩa là vận dụng những trì thức phương pháp của ngành Ngôn ngữ học, Lý luận văn học và Thị pháp học Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các
phương pháp, loại hình, hệ thống, so sánh
4.1 Phương pháp loại hình :
Tập truyện “Quê mẹ ” là một tập hợp gồm nhiều truyện ngắn Do vậy, chúng tôi khảo sất tập truyện đưới góc độ truyện ngắn để phân biệt với cấc thể loại khác như thơ, kịch, tiểu thuyết
4.2 Phương pháp hệ thống
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tập hợp những đặc điểm sắc thái về giọng điệu nghệ thuật thành một hệ thống của giọng điệu chính Điều đó được thể hiện trong trường hợp của
Thanh Tịnh, các yếu tố về sắc điệu trong cic tuyén ngấn khác nhau tập hợp thành một tổng
thể Đó là giọng điệu chính của toàn tập truyện của tác giả
4.3 Phương pháp so sánh
Vận dụng phương phấp so sánh trong quá trình nghiên cứu để so sánh những nét cơ bản giữa
tập truyện ngắn “Quê mẹ ” với các tập truyện khác của Thanh Tịnh Đồng thời trong quá trình
nghiên cứu, chúng tôi cũng so sánh giữa cấc truyện trong tập truyện, so sánh với các nhà văn
mà tấc giả chịu nhiều ảnh hưởng như Thạch lam, Nguyễn Cong Hoan, A.Daudet, G.Maupassant ,
5 — Cấu trúc luận văn :
Luận văn trình bày vấn dé theo ba phan :
PHAN 1 : DẪN LUẬN
PHAN IL : NOI DUNG
CHƯƠNG L : VỀ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT TRONG 'FÁC PHẨM VĂN HỌC
I- Từ giọng điệu - lời nói con người đến giọng điệu nghệ thuật
II - Những quan niệm về sự hình thành và sự thể hiện của giọng điệu nghệ thuật trong lý luận xưa và nay
CHƯƠNG II : GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT CỦA THANH TỊNH TRONG TẬP
TRUYEN NGAN “QUE ME”
1 - Về tác giả Thanh Tịnh và tập truyện ngắn “Quê mẹ ”
SVIH: Nguyễn Thị Tám | s ‘Trang 4
Trang 8Luận văn tốt nghiệp
| Il - Giọng điệu chính của toàn tập truyện ngấn
Tl Những sắc thái khác nhau của giọng điệu trữ tình trong tập truyện “Quê mẹ”
PHẦN II : KẾT LUẬN
TY .ố.ố.ố ố `.`.`Ẻ` ```Ẻ` ` ` `.`
SVTH : Nguyễn Thị Tám Trang 5
Trang 9r
PHẦN HAI : NỘI DUNG
CHƯƠNG I1 : VỀ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
I~ TỪ GIỌNG ĐIỆU ~ LỜI NÓI CON NGƯỜI ĐẾN GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT
1- Giọng điệu — lời nói con người :
Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng nhất để con người có cuộc sống văn hoá,
đi vào xã hội văn minh Ngôn ngữ có cấc dạng khác nhau : ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, ngôn
ngữ nghỉ Trong giao tiếp cụ thể, ngôn ngữ được thể hiện bằng lời nói Lời nói có hai tính năng :
thông tin và biểu cẩm Trước hết lời nói là một công cụ mang ý nghĩa giao tiếp, thông tin là cầu
nối giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội, cá nhân với cộng đồng Để làm được
điều đó, phải có sự học hỏi :
"Học ăn, học nói, học gói, học m?"
Để lời nói có tính thuyết phục và phù hợp với đối tượng nghe, cẩn phải lựa chọn :
“Lời nói chẳng mất tiền mua
Lita lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Nếu không lựa lời thì : “Nhất ngôn kí xuất, tử mã nan tráy” (Một lời đã nói thì bốn ngựa khó
đuổi theo) Lời nói không phải là gốc con người mà chính lÀ bản chất con người HẪn Ông cha ta
đã không vô lý khi gấn chữ “ngôn” vào một trong đức tính người phụ nữ ngày xưa cẩn phải có :
công, dung, ngôn, hạnh
Đó là lời nói với tư cách là một công cụ giao tiếp Mặt khác, lời nói còn là phương tiện biểu lộ tình cắm Lời nói không chỉ mang ý nghila còn có âm thanh, ngữ điệu, còn có giọng nói,
ý nghĩa của từ trữ có thể là của chung nhưng giọng nói là của riêng mỗi người Nó thể hiện cá tính, phong cách riêng của mỗi người Cơn người ai cũng biết nói nhưng giọng ở mỗi người có
sự khác nhau Giọng nói cao hay thấp, trầm hay bổng, thô lỗ hay cộc cầu chỉ cẩn vài phút ao
đổi là người nghe cảm nhận ngay được Lời nói không đẹp sẽ làm mất hết mọi vẻ đẹp khác của con người Ca đao có cầu :
“Chim khôn kêu tiếng rằnh rang Người khôn nói tiếng dịu dàng dể nghe"
“Người khôn” trong trường hợp này chính là người đẹp “Chửn khôn” còn biết luyện tiếng kêu
huống chỉ con người lại không thích lời nói dịu đàng ! Người có lời nói địu đàng không chỉ là
người khôn mà còn là người thanh lịch :
“Dất tất trằng cây rườm rà
Những người thanh lịch nót ra địa dàng”
Cũng trên cơ sở này, Ông cha ta đã so sánh lời nói giữa người thanh lịch với người thô tục
“Đất nắn trắng cây ngắng nghỉu Những người thô tục nói điểu phầm phư”
Như vậy, ngoài việc phân biệt giữa con người và con vật, ngôn ngữ còn là để phần biệt giữa
con người có văn hoá và con người không có văn hóa
SVTH : Nguyễn Thị Tám Tran # 6
Trang 10Luận văn tốt nghiệp _
Ngôn ngữ còn là chất liệu tạo nên tấc phẩm vãn học, là yếu tố thứ nhất của văn học
(M.Gorki) Trường hợp lời nói có tác dụng biểu cảm như trên là lời nói đã gần với lời nói nghệ thuật Từ lời nói sẽ góp phần hình thành giọng điệu nghệ thuật
2 - Giọng điệu nghệ thuật và vai trò của nó trong sắng tác văn học :
Điểm xuất phát khi để cập đến giọng điệu nghệ thuật trong văn học, trước hết phải khẳng
định “ăn học là nghệ thuật ngôn từ” Cũng là nghệ thuật, nhưng khái niệm giọng điệu không nói trong kiến trúc, hội họa, ngay cả Âm nhạc Giọng điện chỉ là phạm trù thuộc nphệ thuật văn chương vì văn chương dùng chất liệu ngôn ngữ con người MỖi nhà văn, nhà thơ đểu có một
phong cách của riêng mình Nhận biết được điểu đó là nhờ vào những “sản phẩm tình thắn” của
họ, nhờ vào giọng điệu toát ra từ "sản phẩm tính thần” ấy Mỗi cá nhân, đặc biệt là người tài năng bao giờ cũng xấc lập giọng điệu nghệ thuật của mình
Thế nhưng, giọng điệu nghệ thuật là gì và việc xác định khái niệm ấy nhằm mục đích gì ?
Trước hết, chúng tôi nghiên cứu giọng điệu nghệ thuật dưới góc độ thi pháp học nên việc
xác định giọng điệu nghệ thuật là một khái niệm của thi phấp học, cũng đồng thời là của lý
luận văn học
Mặc dù manh nha từ thời cổ nhưng đến nay thí pháp học mới có điểu kiện trở thành mot ngành khoa học Dối tượng nghiên cứu chính của ngành khoa học này IÀ tấc giả và phong cách Giọng điệu nghệ thuật lại là yếu tố chính giúp định hình phong cách tấc giả nên nó cũng thuộc phạm vi nghiên cứu của thi pháp học Suy cho cùng, việc xác định giọng điệu nghệ thuật lÀ
nhằm nghiên cứu phong cách tác giả và phong cách tác phẩm Văn có được là do hợp các đức
tính của con người : “7m t linh hoạt, cốt cách cao kỳ ý khí như vàng ngọc, thanh điệu như nhạc ca, sóng từ kết lại, phát ra thành văn".°? Nghiên cứu giọng điệu để phát hiện những đặc
điểm về phong cách tác giả cũng như nghiên cứu các khái niệm khác như : để tài, chủ để, tư
tưởng, không gian nghệ thuật, thời gian 0ghệ thuật Trong số các khái niệm đó thì giọng điệu
là một khấi niệm có vị trí đặc biệt vì nó vừa phẩn ánh nội dung, tư tưởng, vừa thể hiện hình
thức Tức là :*Giong điệu lÀ một khát niệm tổng hoà cả nội dung và hình thức nghệ thuật, nó vừa
la tu tưởng tình cảm, động thời nó được vật chất hoá bằng ngôn ngữ, âm thanh sinh động, cụ
thé’?
Khi nói về những vấn để phong cách của nhà văn, nhà lý luận người Nga Kh.rapchenkô đã nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của giọng điệu Ông đã viết : “frong khi xem xét những vấn
dé phong cách trước hết cẩn phải chú ý tới sự tổng hợp của những phương tiện giọng điệu DÀ
tài, tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong một môi trường giọng điệu nhất định, trong
phạm: ví của một thát độ cảm xúc nhất định Hiệu suất cảm xúc của lối kể chuyện, của hành động
kịch, của lời lẽ trữ tình trước hết được thể hiện ở giọng diệu chủ yếu vốn là đặc trưng của tác
phẩm văn học với tư cách là mội thể thống nhất hoàn chỉnh t 'Eác giả còn phân tích vai trò của
giọng điệu chủ yếu của tác phẩm và những sắc điệu khác nhau : “Giọng điệu chỉ yếu quyết định
nhiễu cái trong việc xây dựng tác phẩm cũng như trong tính chất khắc hoa nhân vật”, “Giọng
điệu chủ yếu không những không loại trừ mà còn cho phép tân tại trong tác phẩm những sắc điệu
khác nhau me lắc ‘iat aad thuật xuất sắc thường có sự phân hoá phức tạp về giọng điệu"
~-~~~.*.~~.~.~.~.~.~.~.-~- ~.~~.~.~.~.—~.~.~~~
(1)Lê Pình Ky _€C Chuyển đẫn theo [Đài Hữu ch _ Trên đường vân học NXBVH 1995 trang 35
(23) LAm Vĩnh _ “Hài giằng về phong cách trong sáng tie van boc “(tai biện Rônêo}
(3)MB.Klưapclvenkð _ Cá tính sáng tạo của nhà văn vÀ sự phát triển vin boc — NXBTPM Ha NOi, 1978 _ trang 167
SVIIH: Nguyễn Thị Tám - Trang 7
Trang 11Lugn van 161 nghi?p
lác giả nêu trường hợp l.Tônxtôi khi viét truyện Khatri - Môrát, nhà văn nói rằng minh da
chuẩn bị xong tư liệu để viết “nhưng vẫn chưa tìm được giọng điệu" ° Tác giả còn nêu ý kiến
của một nhà viết kịch: "Một vở kịch hay bao giờ cũng có một giọng điệu riêng của tác giả nếu cát giọng điệu ấy không có tức là tác giả không có tài năng" ®
Kh rapchenkô còn nêu rõ ý nghĩa của giọng điệu đối với việc xác định phong cách riêng
của tấc giả và thiện chí qua giọng điệu, có thể nhận ra tấc giả của tấc phẩm nào đó “Những người sành sỏi về văn học có thể căn cứ vào những đặc điểm về giọng điệu của một đoạn văn tự
sự hoặc mấy dòng của một bài thơ để xác định tác già của những tác phẩm ấy" t?, Như vậy, chứng tổ giọng điệu có vai trò quan trọng trong việc xác định cá tính, phong cách của một nhà
văn -
Đó là quan niệm của Kh.rapchenkô vẻ giọng điệu nghệ thuật Ở nước ta, Hoàng Ngọc
Hiến cũng rất tâm đắc về vấn để này Trong bài viết “Giọng điệu trong văn chương" ông đã nhấn mạnh ý nghĩa giọng điệu đối với tấc phẩm văn học vì “Văn học là nghệ thuật ngôn từ"
Trước hết phải xem xét ý nghĩa ngôn từ chính là ở giọng văn, giọng điệu, không phải là ở từ
ở mã từ "Câu văn có hẳn là câu văn có giọng” "Sự phong phú, tính đa nghĩa, ý vị đậm đà
của bài văn trước hết là ở giọng" “ở những áng văn hay, cái giọng của câu mở đầu có ý nghĩa
quyết định cho sự cảm nhận cảm hứng chủ đạo và nội dung của toàn bộ tác phẩm"'“° Tác giả
cũng nêu trường hợp nhà văn đương đại Marquel khi viết tác phẩm “Trăm năm cô đơn ” đã có
đủ tư liệu nhưng phải năm năm sau mới tìm được giọng điệu thích đấng “!i1óa ra giọng kể có khi
còn quan trọng hơn câu chuyện được kể rất nhiều”) Tác giả cũng đưa ra nhận xét về Nguyễn
Du khi mở đầu giọng điệu cho Truyện Kiểu ở “cái giọng mÌa mai, hờn mát, đay đả” ngay ở câu mở đầu tác phẩm :
“Trim năm trong cối người ta
Chữ tài, chữ mệnh khéo mà ghét nhau ”
"Giọng điệu riêng là mục tiêu và kết quả được tạo nên bởi cả quá trình phấn đấu toàn diện, đẳng bộ mọi mặt tích lũy, lao động sáng tạo trên công cụ chủ nghĩa của nhà văn” “Đó là
sự huy động tổng lực mọi thứ vốn của người viết, trong đó đứt khoát phải có tài năng *®
Tập thể tác giả : Lê Bá Hán, Trấn Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển văn học
cũng đã viết : “Giọng điệu là một phạm trù thẩn: mỹ của tác phẩm văn học nó đã hỏi người trần thuật, kể chuyện hay nhà thơ trữ tình phải có khẩu khí, phải có giọng và điệu Giọng điệu trong tác phẩm có giá trị thường da dạng, có nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản, chủ đạo chứ không đơn điệu"
(1)M.B Khiapebenkô_ Cá tính sáng tạo e1lla nhà văn và sự phái triển vần học - Sdd- trang 168, 169,
(2)3)M.B Khrapcbenkô_ Cá tính sáng tạo của nhà văn của nhà vẫn và sự phát triển văn học Sđd - trang 17 I (4) Hoàng Ngọc Hiến - Văn học và học văn Trường CĐSP TP.HCM và Trường viết vẤn Nguyễn Du, HÀ Nội,
1990 trang 64, z
(5%) Hoàng Ngọc Hiến _ Văn học và học văn_ Sđd _ trang 65
(6) Phong L&_ Trén bank trình 40 năzn vần xuôi, ngồa ngữ về giọng điệu _ tạp chí văn học số 5/1985
(7) Lê Bá Hán, Trần đìnb sử, Nguyễn Khắc Phí _ Từ Điển thuật ngữ văn học _NXBGD 1992 _ trang 91
_-.—— —————_—— — ———¬- ———> ee _— - ——— —- — —_—
‘Trang R
Trang 12,Luận văn tốt nghiệp
|
| Một số quan niệm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, tuy ngắn gọn, nhưng ta
cũng hình dung được giọng điệu nghệ thuật trên cơ sở khái quát Tìm hiểu giọng điệu nghệ
thuật của tác giả là một việc làm công phu và tính tế Vấn để đặt ra trước mắt là : cắn phải tìm
được sự thể hiện của giọng điệu nghệ thuật trong lý luận xưa và nay để làm cơ sở cho viée thm
liểu sự thể hiện cửa giọng điệu nghệ thuật trong tác phẩm văn học nói chung và giọng điệu cửa từng tác giả qua tác phẩm nói riêng
|
SVTH : Nguyễn Thị Tám | ‘Trang 9
Trang 13Luận văn tốt nghiệp
ll NHỮNG QUAN NIỆM VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỰ THỂ HIỆN GIỌNG ĐIỆU
NGHỆ THUẬTT TRONG LÝ LUẬN XƯA VÀ NAY,
I_ Về sự hình thành hay cội nguồn phát sinh giọng điệu nghệ thuật,
1.1 Giọng điệu bắt nguỗn từ tính cách, cá tính con người — chủ thể sáng tạo
"Văn tức là người” _ câu nói này của nhà văn Phấp Buýp _ phông, về sau C.Mac
đã nhấc lại Giọng điệu bắt nguồn từ tính tình, tính cách, cá tính con người Có thể hiểu, tác giả
có một phẩm chất như thế nào thì nẩy ra một tác phẩm như thế ấy Ngược lại, thông qua tác
phẩm cụ thể, có thể hiểu biết được tác giả là con người như thế nào Khi trả lời câu hỏi : “Văn
và người có quan hệ như thế nào ?" Ông Nguyễn Đức Đạt (thế kỷ XIX) trả lời : "Văn như con
người của nó Văn thâm hậu thì con người của nó trdm và tĩnh, văn ôn nhu thi con người của nó
khiêm mà hòa, văn cao khiết thì con người của nó đạm mà giản, thì hùng hồn thì con người của
nó cương mà nhanh, văn uyên sâu thì con người của nó thuần táy mà đứng đần " ©
Lý Tử Tấn (1378 - 1454) nói rằng : "7i cho rằng làm thơ khó lắm thay : Hào phòng sẽ di đến quá trớn, mộc mạc sẽ tới chỗ quê mùa Lời hàng hậu mà thoát tục, khi cao thoát mà ôn hoà,
khó lắm mới được vậy" ®)
Nhà thơ Trung Quốc Lục Du (đời Tốug) cũng từng nói : “Quán tử có cái "văn” như ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, như Âm thanh của vàng đá, như sóng cả của sông biển, như nến vẦn của hổ báo Có cái thực ấy mới có cái văn ấy Xìa tâm được nuôi dưỡng, phát ra thành lời, lời được phát ra, được tổ chức lại mà thành văn Con người, chính hay tà, chỉ cẩn xem cái “văn"” (vẻ
đẹp hình thức) của họ là rõ hết Chẳng thể giấu được Ngọn lửa đuốc làm sao biến thành ánh
sáng của mặt trăng, mặt trời ? Ngói vò làm sao sánh được âm thanh của vàng đá ? Vũng nước
làm sao xuất hiện sóng cả, của sông biển ? Chó dê làm sao có được nếp vần của hẩ báo ?" ®
1.2 - Giọng điệu bắt nguồn từ khuynh hướng tư tưởng (người xưa gọi là “chí”) Nhà
thơ Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613) đã nói : “Mà cái gọi là thơ thì không phải là láu lưỡi
trong tiếng sáo, chơi chữ dưới ngòi bát thôi đâu, mà là để ngâm vịnh tính tình, cảm động mà phát
ra ý chí nữa Thế cho nền, chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lề hỗn hậu, chí mà ở sự nghiệp
thì tất là nhà ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối gò hoang thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở
gió mây trăng tuyết thì thích về thơ thanh cao, chí ở nỗi uất ức thì làm ra lời thơ ưa tư, chí ở niềm
cảm thương thi lam ra diéu tho ai odn Nghia là, lời thơ, tứ thơ, âm điệu thơ đều phụ thuộc ở
cái “chí” của con người Cái “chí” ở đây có một tẩm quan trọng đặc biệt để tạo nên giọng điệu
nghệ thuật Mà “chí” là xuất phát từ bản thân con người tấc giả - nên chính cái “chí” là cơ sở
để tạo nên giọng điệu nghệ thuậ L
Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890) thì nói về yếu tố thần, khí, thể, cách của thơ : “Tỉnh nghĩa nhập thân thì cái thần văn sẽ đây đặn, nuôi tầm nhìn rộng trông xa thì hơi văn sẽ thăng bằng
trong bụng suốt tắm, chín chằm Vân Mộng thì thể văn sẽ bao la mà thoải mái, đọc nát vạn cuốn sách, cảm thấy như có thần bên mình thì thể cách văn sẽ lớn lao mà đứng đắn Người nào gôm đủ các mặt trên, đấy là nhà văn ưa tú nhất" °)
Nếu như cái “chí”, lý tưởng là điều kiện cẨn có của một con người trong xã hội ngày nay thì
từ ngày xưa nó đã trở thành cơ sở để tạo nên giọng điệu Từ lý tưởng của bản thần mà viết
thành tác phẩm của riêng mình thì các lý lường ay IÀ cơ sở để igo nên giọng điệu là điều tất yếu
(1) Từ trong đi sản _ Nguyễn Minh Tấn (chỉ biên) _ NXBTPM Hà Nội tk 189
(2) (4) (5) Từ trong di sản _ Nguyễn Minh Tốn (ch biên) Sđd trang 23, trang 41, trang 159
(3) Khâu Chấn Thanh - Ì.ý luận văn học cổ điển Trung Quốc - NXHƠI), 1994 - trang 13,14
_SVTH: Nguyễn Thị Tám - _ ‘Trang 10
Trang 14_ Luận văn tốt nghiệp om
1.3 - Giọng điệu bắt nguồn từ tình cảm, từ cảm hứng chủ đạo
Văn học nghệ thuật là tiếng nói tình cảm của con người Trước hết, đó là tiếng nói tình cắm
của một thời đại, một dân tộc Âm nhạc và văn chương là hai loại hình nghệ thuật đi đầu thể
hiện tiếng nói tình cảm đó
Tháng giêng năm Dinh Ty (1437), Vua Lý Thái Tôn ra lệnh cho Nguyễn Trãi về Lương Đăng soạn nhạc cho cung đình, Nguyễn Trãi đã tâu rằng : "Thời loạn thì dàng võ, thời bình thì
dàng văn Ngày nay, định ra lễ nhạc, chính là phải thời lắm Song, không có gốc thì không thể
đứng vững, không có văn thì không thể lưa hành Hàa bình là gấc của nhạc, thanh âm là văn của
nhạc, không dám không hết lòng Song, học vấn có sơ sài, nông cạn, sợ trong áng thanh luật khó
làm cho được hài hoà Dám mong bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân khiến cho
trong thôn cùng xóm vắng, không có một tiếng hờn giận, oán sẩu Đó tức là giữ được cái gốc của
nhạc 9®
Lý luận văn học cổ Trung Hoa cũng còn ghi lại những quan điểm tương tự Trong Nhạc ký
~ Nhạc bản thiên, Công Tôn NI Tử (Thời Chiến Quốc) đã viết : “Pham Am Id cái sinh ra từ
lòng người Tình động ở trong, mới hình thành ở thanh, thanh thành văn thì gọi là âm Cho nên
cái âm của đời trị an vui vì nền chính trị của nó hài hoà Âm đời loạn oán giận, vì nền chính trị
sai trái, Âm mất nước ai oán, người dân khốn khổ Đạo thanh âm có quan hệ với chính trị vậy" ®
Nghĩa là, đó là mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, hay cũng chính là mối quan hệ
giữa nhạc và thời đại, giữa nhạc và đời Nhạc xuất phát từ lòng người, sau đó được thể hiện bằng những âm thanh trầm, bổng Đó chính là yếu tố tình cảm chi phối điệu nhạc, chỉ phối
giọng điệu của người thể hiện Vậy nên, giọng điệu của nhạc còn xuất phát từ tình cdm cia con
người, huống hỏ là giọng điệu của văn chương ?
Tác phẩm văn học đó là sự thể hiện của tiếng lòng, tư tưởng, tình cẩm của nhà văn Tư tưởng, tình cảm được bộc lộ trực tiếp ở giọng điệu Giọng điệu còn là tiếng nói tình cảm của người sáng tạo Về bản chất, văn học là tiếng nói của tình cản Khi cẩn thể hiện khuynh hướng
tư tưởng thì văn học vẫn thể hiện thông qua tình cảm, cắm xúc Nguyễn Hành (Thời nhà Lê) đã
viết ; "Tiếng kêu não nàng của con quốc, cuối càng là lơ lừng treo trên cành cây mà thôi Ta kêu
bằng văn chương, chữ nghĩa đến quyển sách này là tột cùng của sự đau khổ rỗi" ©
Xuân Diệu khi xuất bắn tập Thơ thơ (1935) đã viết lời mở đầu như sau : “Tôi để lòng tôi
trong những câu, những tiếng, tôi đã gởi nhịp máu trong nhịp thơ, đã gói ghehơi thở của tôi rất
nhiễu âm điệu"
Các nhà lý luận Kh Rapchenkô, Pospelov đều nhấn mạnh vai trò của cảm hứng chủ đạo
trong đó tác phẩm thơ ca Khái niệm cảm hứng chủ đạo xuất phát từ thời cổ đại Hy Lạp được
Biêlnxki phát triển : “Cảm hứng chủ đạo của sáng tác bao gồm tự tường chưng của tác phẩm,
không xuất hiện dưới dạng lôgic trừa tượng mà xuất hiện dưới dạng đan bện sống động với các
xúc cẩm nhiệt tình của tác giả" Còn Pospelov thì cho rằng : "Do có sự khác biệt cốt yếu của
bản thân cuộc sống được nhận thức, cằm hứng của các tác phẩm văn học cũng bộc lộ một số
biến thể Nó có thể là cằm hứng anh hùng, cảm hứng bỉ kịch, cảm hứng kịch tính, cảm hứng
thương cảm, cảm hứng lãng mạn, cảm hứng châm biếm, cảm luứng hài hước” ~
| (1) G) Ti rong di sin _ sd _ trang 25, trang 159
(2) Khâu Chấn Thanh _ Lý luận vân bọc cổ Tmng Quốc _ Sđủ _ trang 13,14
(4) Kh,rapchenkð - Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực con người - Tập 1 NXHKHXH, 1984 - trang 191
(5) G.N.Pospelov ~ DẪa luận nghiên cứu văn boc - Tap 1 — NXBGD, 1985 - trang 153
Trang 15[xuân văn tốt nghiệp
Trở lên trên là những ý kiến của các nhà nghiên cứu xoay quanh vấn dé sự hình thành giọng điệu nghệ thuật Đi vào tìm giọng điệu của tác phẩm là vấn để khá lý thú và hấp dẫn
2 - Sự thể hiện của giọng điệu nghệ thuật
Mỗi nhà văn có một giọng điệu cơ bản thể hiện phong cách của rnình Nhà nghiên cứu Kh.rapchenkô cho đó là “gíong điệu chủ yếu” Nhưng sự phong phú đa dạng của tình cắm, cắm
xúc trước đối tượng phản ánh khiến mỗi nhà văn thể hiện giọng điệu chủ yếu đó ở mỗi tình
hướng, mỗi sự kiện, mỗi nhân vật rất khác nhau Những sắc thái khác nhau của giọng điệu chủ yếu gọi là sắc điệu (Kh rapchenkô)
2.1 - Khái niệm cảm hứng đã được lý luận văn học sử dụng từ thời cổ đại Hy lạp (Pathos), sau nay 1A Héghen va Biélinxki D6 1A "trạng thái hưng phấn cao độ của nhà văn áo uiệc chiếm lĩnh được bản chất cuộc sống mà họ miêu tả” “Nó có thể là cảm hứng anh hùng, cảm
hứng bL kịch, cảm hứng kịch tính, cảm hứng thương cảm, cảm hứng lãng mạn, cảm hứng châm
biếm” tì
2.2- Giọng điệu thể hiện ở tính chất của lời văn, lời thơ Trong mục Văn tịch chí ở bộ
“Lịch triểu hiến chương loại chí" Phan Huy Chú có nhận xét về tính chất giọng thơ, lời thơ của những nhà thơ tiêu biểu mà ông giới thiệu : “Lời thơ thanh nha (Trần Thái Tông) thanh tân
và có sức mạnh (Trần Minh Tông), hùng hỗn và mạnh mẽ, phóng khoáng (Trần Minh Tông),
thanh thoát nhàn nhã (Trắn Quang Khải), hào mại, phóng khoáng có cốt cách, khí phách
(Nguyễn Trung Ngạn), cao siêu, hào phóng (Phạm Sư Mạnh), khí khái mạnh mẽ, lời ý bay bướm
(Huyền Quang), ôn nhá, trung hậu, không cần chải chuốt (Nguyễn Tri), thanh tao, tiêu sái, hẳn
hậu (Nguyễn Bình Khiêm) và trong trằo, tao nhã, hàng hôn (Phùng Khắc Khoan)" ?°
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh nhận xét về phong cách các nhà thơ mới như
sau : “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hỗn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ
màng như Lưu Trọng Iư, hàng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo
não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha rạo rực,
bâng khuâng như Xuân Diệu, từ người này sang người khác, sự cách biệt rõ ràng, cá tính con
người bị kiểm chế trong bao nhiêu lâu bỗng được giải phóng" °°, Cùng một thời đại, cùng sinh
trưởng và phát triển trong một chế độ xã hội như nhau nhưng mỗi nhà thơ lại có một giọng điệu
khác nhau,
Nguyễn Đăng Mạnh có nhận xét về lối nói năng và giọng kể chuyện rất sình động của
Nguyễn Tuân : “Người ta nghĩ đến lối nói năng, kỂ chuyện rất vud, rất hóm của ông Vui vì viết văn mà cứ như là trò chuyện thoải mái theo lối tán gẫu, nói trẹng Vưi vì giọng văn luôn chuyển đổi linh hoạt, đang trang nghiêm cổ kính bỗng chuyển sang bông đùa, vui nhộn, đang nói giọng
bắc, chuyển sang giọng Trung, giọng Nam ")
(ỤGN Pospelov _ Dẫn luận nghiên cứu văn học Sđd _ trang 15%
(2) Xem : Từ trong di sảu _ Sđd _ trang 119, 120, 121
(3) Hoài Thanh, Hoài Chân - Thi nhân Việt Nam - NXBVH, 1997 - trang 29
(4) Nguyễn Đăng Mạnh — Nhà văn tự tưởng và phong cách - NXHVH, 1983 - trang 226
SVTHI : Nguyễn Thị Tám _ Trang I2
Trang 16Luận văn tốt nghiệp
2.3- Giọng điệu thể hiện ở sắc thái tình cảm có tính phổ biến trong nhiều tấc phẩm Nếu như cảm hứng chủ đạo là một sắc điệu bao trùm, phổ biến của một hoặc nhiều tác phẩm của nhà văn thì sắc thái tình cảm của lời văn, giọng văn là sự thể hiện cụ thể ở nhiều tác phẩm
Nói cách khác, trong giọng điệu trào phúng (cẩm hứng chủ đạo) có sấc thái hoặc giọng cười
quyết liệt, đữ đội hoặc thâm thúy, kín đáo (sắc thái tình cẩn) Khi viết về Tú Xương, Nguyễn
Đình Chú đã nhận xét : “Tiếng cười của Tú Xương lÀ tiếng cười nhiễu cung bậc, nhiễu màu và
nhưng chủ đạo là tính chất quyết liệt, dữ dội, khác với tiếng cười của Nguyễn Khuyến là tiếng cười thâm thúy” t?, Sống cùng một thời đại xã hội, cùng làm thơ trào phúng, châm biếm để lên
ấn xã hội nhưng mỗi người lại có một giọng cười khác nhau Chính cái giọng ấy đã giúp ta phân
biệt phong cách hai nhà thơ Cầm một bài thơ trào phúng trên tay, dù tên tác giả có bị xóa đi - Tác giả là một trong hai nhà thơ ấy - thì ta cũng dễ đàng nhận ra là của nhà thơ nào Bởi lẽ,
một tiếng cười thâm thúy với một tiếng cười quyết liệt, đữ dội thì nhầm làm sao được ?
Vẻ Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Đăng Mạnh đã viết : “Một mặt coi là vô nghĩa là trò đùa,
luôn luôn có giọng Om ở, bồn cợi, nhìn đời, nhìn người chỉ thấy mặt bÌ Ổi, thú vật, mặt khác, là
một cái tôi nghiêm chỉnh ái tìm khuôn mẫu của con người đích thực, chân chính "` Một cái tôi
lưỡng phân qua ngồi bút của một con người Hai cái tôi trên trang viết nhưng ngoài đời thực là
một con người Nguyễn Đăng Mạnh cũng giải thích thêm : "Nếu cái tôi thứ nhất là văn xuôi thì
cái tôi thứ hai là thơ Từ những trang văn xuôi ngẩn ngang bé bén, thậm chí còn xô bỔ, tục fĩw uà
đây khinh bac của Nguyễn Huy Thiệp nhiễu khi thấy vút lên từ thơ thật trong trẻo Những âm điệu thật thiết tha và bao giờ cũng mênh mang buôn Buồn thương xót xa vẫn là âm hưởng bao
tràm lên mọi trang viết của Nguyễn Huy Thiệp" ?” Cái Âm hưởng “buẩn thương xót xa" ấy chính
là giọng điệu chủ yếu của Nguyễn Huy Thiệp còn biểu hiện lưỡng phân của cái tôi là những
sắc điệu khác nhau của giọng điệu chủ yếu đó
Hoài Thanh đã phân tích giọng trữ tình chính trị của Tố Hữu (giọng chủ đạo) đã thể hiện ở
những sắc thái rất đa dạng : “Giọng thơ Tố Hiều có khi dẫn dập, khẩn trương mà như sang sẳng tiếng sắt, tiếng đẳng, có khi say sưa sôi nổi, rộn rã, tươi vuả, có khi trầm ngâm say nghĩ, lại có khi cũng tươi vui mà vẫn phẳng phất chút trầm ngâm suy nghĩ" '9
Nếu như cùng làm thơ châm biếm, đả kích mà Tú Xương và Nguyễn Khuyến vẫn có
giọng điệu khác nhau thì cùng viết văn phản ánh hiện thực, Nam Cao và Vũ Trọng Phụng
cũng có sự khác biệt lớn : “am Cao đã sáng tạo cho mình một phong cách nghệ thuật độc đáo
và hấp dẫn Ông đặc biệt đi sâu vào cuộc phẩn đấu gian nan của con người để giữ lấy nhân cách,
nhân phẩm của mình Ông dạy người ta phải biết xấu hổ và sự hèn kém, thiếu tự trọng của mình
trước thử thách của miếng cơm manh áo và những cám dỗ của đời sống vật chất tắm thường Ông
dùng văn chương để chống lại cái chất về tỉnh thần của con người trước thử thách ấy" ?)
Tế mục đích sáng tấc ấy, Nam Cao đã đi vào phắn ánh mọi ngóc ngách của đời sống con người từ vậtđến tỉnh thẲn và cũng do mục đích sáng tác ấy nên “Tác phẩm của ông có một ý
vị triết lý riêng, triết lý mà không khô khan, trái lại thấm đượm chất thơ trữ tình có sức vang dội
sâu xa trong lòng người ".(9
(1) Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Dâng Mạnh, Nguyễn An _ Tae gid van boc Viet Nam _ tập l_NXHGD, 1990 _ trạnh 144, (2) Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chó, Nguyễn An _ Tác giả vẫn học Việt Nam _tập2 NXBGD 1992 _ trang 78
(3) Nguyễn Dăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn An _ Tác giả vần học Việt Nam _ tập 2_ NXHGUD 1992 _ trang 78
(4) Troag bài ^Gió lộng _ một bước tiến lên của tx! Tế Hữu "_ Nghiên cứu vần lsọc xế 8/1962
(5) (ó) T& giả văn bọc Việt Nam ~ Tập 2 ~ Sdd ~ wang 59
SVIIH : Nguyễn Thị Tám Trang 13
Trang 17Chính vì vậy giọng điệu nghệ thuật của Nam Cao không thể nhdm lẫn bất cứ giọng điệu của nhà văn nào Ngay cả với Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét vẻ Vũ Trọng Phụng như sau : “Sự nghiệp văn chương của Vũ Trọng Phụng là tiếng nói đÂy phẫn nộ
ném vào xã hội những kẻ tàn ác, đều giả, vô đạo đức mà đẩy quyền thế thời thuộc Pháp" t° Bời
vì, “bất lực trong đời sống thực tại Vũ Trọng Phụng đã dùng những dòng chữ, những hình tượng
uăn chương đẩy góc cạnh của mình để phá nhách, đỂ trả thà, để bộc lộ làng căm thà mưãnh liệt
đối với bọn thực dân quan lại, địa chủ, tư sẵn tàn ác, đểu giả, thối nát, lỡ bịch ." ®)
Vậy thì đã rõ, cùng bất bình trước hoàn cảnh xã hội nhưng mỗi nhà văn lại có một trạng thái
tình cảm khác nhau và đã chỉ phối đến cái giọng điệu khác nhau ấy Nhưng, không chỉ khác nhau ở cái giọng điệu, cái âm điệu chủ đạo mà ngay trong từng tác phẩm cững có những biểu hiện khác nhau Với Vã Trọng Phụng,tiểu thuyết “Giông tố” (1936) là bức tranh tổng hợp
rộng lớn về xã hội Việt Nam thời thuộc Pháp gồm đủ các giai cấp, các hạng người "Số đỗ"
(1936) là bức tranh "giới thượng lưu trí thức” của xã hội thành thị thời thuộc Pháp với phong
trào “cải cách Âu hoá " và “thể thao thể dục” hết sức giả dối và lố bịch Do vậy, một giọng điệu xót xa và một giọng điệu trào phúng, châm biếm là hai giọng điệu cơ bản của hai tiểu thuyết
trên trong cái âm hưởng chủ đạo là thái độ phê phán
Còn Nguyễn Công Hoan thì sao ? Nguyễn Đăng Mạnh đã viết : "Phong cách Nguyễn Công Hoan thiên về lối thâm trâm kín đáo Ông thích bốp chát, đánh vỗ ngay vào mặt đối phương Tiếng cười đủ kích của Nguyễn Công loan, vì thế thường là những đoạn đơn giản mà ác
liệt" ?? Như vậy, ở góc độ nào đó, giọng điệu của Nguyễn Công Iloan gần với giọng điệu của
Vũ Trọng Phụng Một số nét tương đồng giữa các nhà văn, nhà thơ cùng thời đại là điểu không trấnh khỏi
“Văn học không phải là sự phản ảnh hiện thực mà là sự nghiễn ngẫm về hiện thực" '°, Nên,
hiện thực chỉ là chất liệu tạo nên tác phẩm chứ không phải là yếu tố trung tâm của tác phẩm
Diểu cốt yếu là, nhà văn phải tận đụng thiên phú bẩm sinh cùng với tài năng được rèn luyện
qua thời gian để tạo nên tác phẩm nghệ thuật Như Dêgdcx đã nói : "Chừng nào tâm hẳn một người còn cẩn đến với một tâm hỗn khác, chứng tỏ tác phẩm nghệ thuật còn cân thiết cho con
g ười ©)
(1) Tác giả văn học Việt Nam _ tập 2 _ Sdd _ trang 150
(2) Tác giả văn học Việt Nam _ tập 2 _ Sđd _ trang, 151
(3) Nhà văn tứ tưởng và phong cách _Sđđ _trang 121
(4) LẺ Ngọc Trà- Lý luận và văn học ˆ NXR Trẻ, 1990- trang 41
(5) Phương Lựu (cb) _ Lý luận văn học _ NXBGD 1997, trang 180 Chuyển dẫn từ báo văn nghệ số 962_ 10/04/
1982
SVTHI : Nguyễn Thị Tám Trang 14
Trang 18Luận văn tốt nghiệp
TẬP TRUYỆN NGẮN “QUÊ MẸ "
I - VỀ TÁC GIẢ THANH TỊNH VÀ TẬP TRUYỆN NGẮN “QUÊ MẸ":
Sau khi tìm hiểu về những đặc điểm mang tính chất lý thuyết của giọng điệu nghệ thuật,
nay chúng tôi thử đứng dụng những quan niệm lý thuyết đó vào việc nghiên cứu cụ thể giọng
điệu nghệ thuật của một tác giả truyện ngắn đó là giong điệu nghệ thuật trong tập truyện “Quê
me” cia Thanh Tịnh
Giọng điệu là yếu tố thuộc về phong cách sấng tạo của nhà vãn Muốn tìm hiểu phong cách cần phải đi từ cuộc đời của nhà văn, quá trình sấng tấc với sự vận dụng những để tài, chủ để cơ bản đối tượng phản ảnh cơ bản Từ đó phát hiện văn mạch chính và giọng điệu chính của nhà
văn Trong phẩn này, trước hết, ta tìm hiểu tiểu sử, quá trình sáng tác, đặc điểm sáng tác cửa
Thanh Tịnh Đó là con đường hình thành phong cách và giọng điệu của tấc gid vA từ đó đi vào phân tích giọng điệu chủ đạo và những sắc điệu khác nhau của tập truyện ngắn “Quê mẹ ”
1- Về tác giả Thanh Tịnh và sự hình thành phong cách tác giả :
Thanh Tịnh sinh ngày 12-12-1911 tại xóm Gia Lạc, làng Dương Nỗ, huyện Phú Vang,
tỉnh Thừa Thiên Huế, tên thật là Trần Văn Ninh, lên sáu tuổi, đổi là Trần Thanh Tịnh
Thanh Tịnh học chữ nho, sau học chữ Quốc Ngữ, chữ Pháp ở trường Đông Ba, rồi trường
Pêralin Ông thích nghiên cứu cổ vật, danh lam thắng cảnh và đọc các tấc phẩm của các nhà
văn nhà thơ trữ tình của Pháp, đặc biệt là các tác phẩm của Alphose Daudet và Guy de
Maupassant
TY năm 1933 đến 1945 Thanh Tịnh làm nghề dạy học, làm ở các sở tư và bắt đầu viết văn Những tác phẩm đã xuất bản như : tập thơ “Hận chiến trường” (1937), các tập truyện ngắn : “Quê mẹ” (1941), "Chị và em" (1942), “Ngậm ngải tìm trầm ” (1943), tập truyện dài
“Xuân và Sinh ” (1944) Như vậy, Thanh Tịnh xuất hiện khá sớm trong nền văn học nước ta trước Cách mạng tháng Tám và có tên trong Thi nhân Việt Nam (1942) với hai bai tho “Mon
mỗi", “Tơ trời với tơ lòng” (tập thơ “Hận chiến trường”), và kể từ đó, Thanh Tịnh có mặt
trên văn đần thơ mới với các nhà thơ mở đầu như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư
Sau Cách mạng tháng Tám, ông vẫn tiếp tục công tác đó Năm 1946, ông gia nhập bộ đội
và bất đầu cuộc đời làm sân khấu Cũng trong thời gian này, ông sáng tác ra thể loại độc tấu và trở thành người khai sanh ra loại hình nghệ thuật nÀy
Với tư cách là nhà văn quân đội, ông đi khắp các chiến trường trong chống Pháp, chống Mỹ
và tiếp tục sáng tác Các tấc phẩm đã xuất bản : “Sức mổ hôi” (tập ca dao - 1955), “Những
giọt nước biển ” (tập truyện ngắn - 1957), “Độc tấu sáng tác và biểu điễn " (1969), “ĐI giữa một mùa sen” (Trường ca - 1973), “Thi ca * (Tuyển thơ, ca dao, trường ca 1982) Năm 1983, tái bẩn tập truyện ngắn “Qué me”
Thanh Tịnh mất ngày 17/7/1988 (tức ngày O4 tháng 6 năm Mậu 'Thìn)
Thanh Tịnh mất đi nhưng những đóng góp của ông vào kho tầng văn học vẫn còn đó, chẳng
những không bị mài mòn, tiêu hao mà lắng đọng nguyên vẹn trong tâm trí mỗi người Hơn 50
năm cẩm bút, Thanh Tịnh không chỉ là nhà thơ, nhà văn, nhà báo mà còn là nhà văn hoá nữa
Trang 19
Luận văn tốt nghiệp
Và, đẫu ông có mất đi nhưng trong lòng bè bạn, hình ảnh một anh, một bác Thanh Tịnh thích
đùa, kể chuyện hay, độc tấu giỏi và có một giọng nói rất khó nhẩm lẫn - giọng Huế - vẫn không phai mờ Những cảm nghĩ “Trong lòng bạn bè” in trong tập “Thanh Tịnh, văn và đời"
đã giúp chúng tôi hình dung ra bức chân dung Thanh Tịnh dù chưa một lẩn gặp mặt, tiếp xúc
cùng ông Đó là một con người đa tài, một người con ưu tú của xứ Huế với hình đấng cao to,
mấi tóc bổng nghệ sĩ, một người thích đàa và có giọng Huế trắm Chúng tôi chỉ hình dung và phát họa được như thế
Nét đặc biệt đấng chú ý trong con người Thanh Tịnh là ông sinh ra ở Huế, gắn bó với Huế
nửa cuộc đời, sau đó sống ở Hà Nội và khi mất đi, di hài ông lại được đưa vẻ Huế, đà phải sau khi mất ba năm (1991) Quê hương xứ Huế gắn bó với Ông rất mật thiết nên phẩn lớn sấng tác của ông đều viết về Huế Trước hết, chúng tôi để cập đến vấn để Thanh Tịnh là một nhà thơ Những sáng tác đầu tiên của chặng đường hoạt động nghệ thuật của Thanh Tịnh là đoạt
giải cuộc thi thơ, là tập thơ “Hận chiến trường” Sau cách mạng đó là tập Trường ca, những
bài ca dao, tập Thỉ ca Có lẽ, tập thơ “Hận chiến trường” để lại ấn tượng nhiều nhất trong
lòng tác giả Bài thơ “Rồi một hôm” của Thanh Tịnh đù đựa theo tứ thơ của Maeteclin ?
nhưng với sư sáng tạo của Thanh Tịnh, bài thơ vẫn mang đậm phong cách Á Đông Đó lÀ bài
thơ với giọng cảm xúc bao trùm :
“Rồi một hôm nếu về cha hỏi
Mẹ ở đâu con biết nói sao ?
- Con sẽ bảo : trông cha mòn mỏi
MẸ từ trần sau may thang dau ”
Và người đọc cũng không thể quên được hình ảnh ngựa hồng trong bài thd “Mon mdi” cia
Ông:
“Em ơi, nhẹ cuốn bức rềm tơ Tim thừ chân mây khói tảa mờ
Có bóng tình quân muôn dặm rudi
Ngựa hỗng tuôn bụi cỗi xa mơ "
Đây là bài thơ phỏng theo truyện Barbe bleue nhưng Thanh Tịnh đã tạo ra một không
khí rất Á Đông
Người đọc càng không thể quên được hình ảnh thiếu nữ ngắm tơ trời bay trong bài thơ
*'Tơ trời với tơ lòng ”
"Còn nhớ hôm xưa độ tháng này Cánh đẳng xào xạc gíó đùa cây
Vô tình thiếu nữ cùng ta ngắm
Một đoạn tơ trời lũng thững bay ”
(1) Macteclin (1868- 1949) giải thưởng Nobel 1931
Trang 20Luận văn tốt nghiệp
Sơ qua ba bài thơ thì đã có hai bài thơ vay mượn, mô phỏng, nhưng cái không khí Á
Đông mà Thanh Tịnh sắng tạo ra trong bài thơ ấy mới là tài năng Và thông suốt ba bài thơ làm
một giọng thơ trữ tình đầm thấm Sau này, sống ở Hà Nội, nhớ về xứ Huế quê hương, Thanh
Tịnh đã viết bài thơ :
“Sông mái vươn dài tiếp núi sông
Cò bay thẳng cánh nổi đẳng không
Cá người bảo Huế xa, xa lắm
Nhưng Huế quê tôi ở giãa lòng
Bao dé thu vé thu lai qua Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa
Mỗi lần phượng nở rung màu đỏ
Càng giục canh sương rộn tiếng gà
(Nhớ Huế quê tôi)
Tâm tình một người con xa quê đối với quê hương thật xác động |
"Xem thơ Thanh Tịnh, cái cảm giác trội nhất của tôi lÀ thấy một cái gì cứ dần trải, dàn
trải hoài mà lại lồng Có lẽ là một mặt hỗ Cũng chưa đúng HÀ còn có bờ, có hình nhất định Ở
đây không có bờ, và nước - âu cũng gọi là nước - cứ chảy tràn lan Những cảnh sắc đâu tn hình
trên mặt nước: vẫn thường thay đổi : có khi là một cây liễu rũ, cũng có khi là một lũy tre Nhưng
cảnh sắc dẫu có khác, bao giờ cũng chỉ ngắn ấy nước mà thôi Có lần, người ta bỗng thấy trên
mặt nước dựng lên một lâu đài xương máu nhưng khí người ta tới nơi, nó lại biến đâu mất Thì ra
là một ảo cảnh" f”, Nhận xét ấy của Hoài Thanh đã làm nổi bật được phong cách nghệ thuật
thơ của Thanh Tịnh
Và như đã nói, Thanh Tịnh gắn bó với Huế, nhưng không phải Huế hoàng tộc mà là
Huế Thừa Thiên Nơi xóm Gia Lạc, làng Dương Nỗ, huyện Phú Vang của tỉnh Thừa Thiên đã
tạo nên không gian nghệ thuật của sáng tác Thanh Tịnh - mội làng với tên gọi Mỹ Lý - Mỹ
Lý theo tiếng Hán có nghĩa là một dặm đẹp Theo như Thạch Lam, đây có lẽ là một làng không có thật trên bản đồ nhưng bối cảnh và con người trong sáng tác của ông lại không phi IA tưởng tượng Vùng ngoại ô tỉnh Thừa Thiên nghèo, con người sống lãng lẽ, cam chịu đã chỉ phối
đối tượng sáng tác của Ông Mặt khác, nhà ở của Thanh Tịnh sát ngã tư đường : đường lên kinh
đô, đường vẻ cửa biển Thuận An, đường vào làng L.a Ỷ, đường xuống bến đò chợ Dinh Xóm
tuy nhò nhưng có đủ đình, chùa, am, miếu, nhà thờ tôn giáo, phủ Ông Hoàng, rạp hất tuổng vÀ dinh thự hai đòng họ lớn : Nguyễn Khoa và liỏ ĐẮc Tiếng chuông, tiếng mỏ, tiếng trống thường gióng giả theo nhiều âm sắc thường lách vào tim hén con người lúc chiếu tối và lúc trời
sắp rạng đông Mẹ của Thanh Tịnh bán hàng xén ngay Ở ngñ tư ấy nên người qua lại thường ghé vào nghỉ chân, đợi đò, mua vài thứ vặt Nhờ vậy, Ông nghe được rất nhiễu chuyện từ cái
quấn nghèo Ấy
#
(1) Hoài Thanh _ Thi nhần Việt Nam _ Sđđ _ trang 79
SVTH : Nguyễn Thị Tám Trang 17
Trang 21Luận văn tốt nghiệp
Rồi thỡ đờm đờm tiếng hũ gió gạo quanh xúm, tiếng hũ mỏi đẩy trờn sụng Hương, tiếng sỏo du đương lỳc trầm lỳc bổng, buụng theo mỏi chốo len lỏi vào hỗn văn, hổn thơ, tớch tụ thành nhựa sống của cậu bộ ngõy thơ Trần Văn Ninh, để rồi tớch lũy lớn lờn trong thơ văn Thanh Tịnh
Những chỉ tiết nhỏ nhặt ấy, cỏi làng "định mệnh” ấy với những cõu chuyện đời thường đều cú mặt trong truyện ngấn của ụng núi chung và tập truyện “Quờ mẹ” núi riờng "Truyện ngắn nào hay đu cú chất thơ và bài thơ nào hay, đu cú cốt truyện", nhận xột của Thạch Lam quả
là đỳng đắn
Nghiờn cứu tập truyện ngấn “Quờ mẹ” của Thanh Tịnh là nghiờn cứu giọng điệu nghệ thuật của Thanh Tịnh qua những cõu chuyện trong khụng gian nghệ thuật làng Mỹ L.ý
2- Về tập truyện “Quờ mẹ” â°,
Tập truyện “Quờ mẹ" xuất bản năm 1941 do nhà xuất bản Đời nay chịu trỏch nhiệm xuất
bản Vừa mới ra đời, ” “Quờ mẹ” 44 được đụng đảo đọc giả và cỏc nhà nghiờn cứu ph“ bỡnh
đỏnh giỏ cao" Đú là lời nhận xột của Giỏo sư Hoàng Như Mai trong Lời đầu sỏch tập truyện
ngắn “Quờ mẹ ”
Sở di tập truyện “Quờ mẹ ” được mọi người chỳ ý là ở đối tượng và nội dung để tài phản
ỏnh ta bắt gặp trong truyện là bức tranh cảnh quờ vựng ngoại 0 Huế, là tỡnh yờu giữa con người
với con người, tỡnh yờu nam nữ Thanh Tịnh núi lờn số phận đời người mà mục đớch để núi
lờn những đổi thay, mất mỏt của người đõn nghốo ở miễn quờ Thừa Thiờn Cỏi mới đến, dem theo những đổi thay của xó hội, cỏi ga tạm được dựng lờn, đời sống con người thay đổi, tỡnh yờu
lại nảy sinh và lại chia tay Thứ tỡnh yờu đến một cỏch ờm ả rồi chia tay nhẹ nhàng “Tinh, trăng, nước, đú là tất cả những cỏi làm tài liệu cho Thanh Tịnh để xõy dựng nờn những truyện trong tập truyện “Quờ mẹ "" đè, Nhận xột của Vũ Ngọc Phan đỳng, nhưng cú lẽ chưa đủ Bởi vỡ, chất liệu làm nờn tập truyện cũn là cuộc sống con người, đõy mới là chất liệu trung tõm, và đặc biệt là đời sống tỡnh cảm
*Cú thể coi đõy là thành tựa tiờu biểu hơn cả, cho suốt chặng đường sỏng tỏc
dài hơn nửa thế kỷ của cõy bỏt lóo thành này" â
Tập truyện “Quờ mẹ” xuất bản năm 1941 gồm 13 truyện ngấn Tỏi bản lắn thứ nhất (1983) vẫn là 13 truyện Nhưng trong bản in lẩn này (1989) cú bổ sung thờm năm truyện : “Am
cu l xe”, “Ngậm ngài tỡm trầm”, “Con so về nhà mẹ”, “Làng”, “Một đờm xuõn”, Trước Cỏch mạng thấng Tỏm, năm truyện này đó in trong tập “Ngậm ngải tỡm trầm” (1943) và tạp
Giai phẩm mựa xuõn (1943)
Chỳng tụi nghiờn cứu tập truyện vừa in lại sau này gồm mười tấm truyện ngắn
(1) Chỳng tụi nghiờn cứu tập truyện ngấos “Quờ mẹ”_ NXBGD, Hội nghiờn cứu giẳng dạy văn học TP.HCM
1989,
(2) Vũ Ngọc Phan _ Nhà văn hiện đại _tập 2_ NXHKHXH, 1989 _ trang 1106
(3) Trần Hữu Tỏ _ lời bạt tập truyện ngẤn “ Quờ mẹ *,
SVIH: Nguyễn Thị Tỏm ‘Trang 18