Từ khi Bến Tre được hình thành, trên vùng đất này đã diễn ra nhiều thay đổi, người dân nơi đây đã làm nên nhiều kỳ tích bảo vệ và xây dựng quê hương.Vùng đất Bến Tre đã có một chiều dài
Trang 1gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 2DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài:
Bến Tre là vùng đất gắn liền với quá trình lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ Nơi đây, mỗi tên đất, tên người, mỗi xóm làng, hàng cây, bến nước ngày nay đều có một sự nối tiếp gắn liền với quá khứ xa xưa
Bến Tre ở trong lòng Nam Bộ, giữa đồng bằng sông Cửu Long, là vùng đất máu thịt của Việt Nam, cũng chính là nơi tôi đã được sinh ra và lớn lên
Từ khi Bến Tre được hình thành, trên vùng đất này đã diễn ra nhiều thay đổi, người dân nơi đây đã làm nên nhiều kỳ tích bảo vệ và xây dựng quê hương.Vùng đất Bến Tre đã có một chiều dài lịch sử gắn với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc
Đồng bằng sông Cửu Long có tầm quan trọng đặc biệt đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta trong quá khứ, hiện tại và tương lai, là đối tượng nghiên cứu có sức hấp dẫn lớn đối với nhiều ngành khoa học Đây là một vùng đất mới giàu tiềm năng về mọi mặt, có lịch sử hình thành gắn liền với những giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc, một vùng đất còn được mệnh danh “vùng đất vàng” chứa đựng nhiều
bí ẩn cần khám phá và khai thác, chứa đựng nhiều bài học quá khứ giúp chúng ta nhận thức được hiện tại và định hướng phát triển cho tương lai
Ở góc độ lịch sử, khoa học, việc nghiên cứu tổng thể về đồng bằng sông Cửu Long cần phải dựa trên nhận thức cụ thể về lịch sử của từng vùng Mỗi vùng đất tạo nên một diện mạo, một sắc màu, làm nên một bức tranh lịch sử của cả đồng bằng sông Cửu Long Có thể nói một cách hình ảnh rằng, với những nét riêng của mỗi vùng đất, làm nên vẻ đẹp toàn cảnh của đồng bằng sông Cửu Long, như dáng lá, màu hoa là vẻ đẹp của các nhánh cây trên cùng một cội Bến Tre có mối quan hệ khăng khít lâu đời với nội vùng và ngoại vùng đồng bằng sông Cửu Long,vì vậy chúng tôi chọn Bến Tre làm địa bàn nghiên cứu cụ thể để có thêm những nhận thức mới về Nam Bộ nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng
Việc tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử của vùng đất cũng là một nhịp cầu gửi gắm tình cảm đối với quê hương Qua luận văn này, chúng tôi hy vọng giúp thế hệ trẻ Bến Tre hiểu biết thêm về lịch sử hình thành của quê hương mình, về công cuộc khai phá xây dựng và bảo vệ vùng đất này của ông cha từ đời xưa Hiểu biết để trân trọng và đền đáp công ơn của lớp người đi trước, những người đã đổ mồ hôi và cả xương máu để biến nơi này vốn hoang vu, bạt ngàn rừng rậm thành ruộng vườn trù phú xanh tươi, thành xóm làng đông vui no ấm… Chúng tôi cũng mong lớp trẻ hiểu biết để thêm yêu quê hương, yêu xóm làng, gắn bó và có trách nhiệm với quê hương Tìm về quá khứ, cội nguồn chính là thêm động lực tinh thần để củng cố bản lĩnh đấu tranh và sáng tạo, có thái độ đúng đắn và việc làm hữu ích để góp phần vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ quê hương mình
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 3Với luận văn này, tôi cũng muốn khám phá kỹ hơn về một vùng đất vốn là xứ sở sông nước cù lao, để khẳng định sự đóng góp của cư dân nơi này vào lịch sử dân tộc và lịch sử Nam bộ
Tôi muốn tìm hiểu vùng đất này để góp phần dựng lại bức tranh của Bến Tre như một sắc màu của bức tranh về đất nước, dựa vào những nhận thức lịch sử, những tìm tòi khám phá và coi đây là món quà trân trọng dâng tặng quê hương yêu dấu của tôi
Với những lý do đó, tôi chọn đề tài luận văn là “Vùng đất Bến Tre trong các thế kỷ XVII - XIX”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Với đối tượng nghiên cứu được nêu rõ trong tên đề tài, luận văn này sẽ tìm hiểu mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Bến Tre, góp phần dựng lại bức tranh toàn cảnh về đất và người Bến Tre trong suốt một chiều dài lịch sử, từ thế kỷ XVII khi bắt đầu có những bước chân khai phá của lưu dân người Việt ở vùng đất này, cho đến thế kỷ XIX, trước cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp
Vùng đất ngày nay được gọi là Bến Tre vào thời chúa Nguyễn, đến khi thực dân Pháp xâm lược thuộc địa giới tỉnh Vĩnh Long Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu bức tranh toàn diện thuộc phạm vi không gian địa giới tỉnh Bến Tre ngày nay
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn sử liệu:
3.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Bến Tre được hình thành trong tiến trình lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ Nguồn sử liệu và công trình nghiên cứu vùng đất Nam bộ rất phong phú, nhưng hầu như chưa có công trình chuyên khảo nào dựng lại bức tranh toàn cảnh của vùng đất Bến Tre từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX Có thể điểm lại vài nét về nguồn tư liệu đã đề cặp tới Bến Tre như sau:
Nguồn thư tịch cổ:
Bộ sách Phủ biên tạp lục được Lê Quý Đôn (1726 – 1783) viết vào khoảng năm
1776, khi ông được vua Lê phái đi trấn nhiệm Thuận Hoá và Quảng Nam Lịch sử về vùng đất Bến Tre thời kỳ này được đề cập đến với tên gọi chung là vùng sông Tiền sông Hậu Đây là nguồn thư tịch được viết vào thời điểm diễn ra công cuộc mở đất về phương Nam, có những dòng sử liệu rất quý về cảnh quan địa lý, tài nguyên, dân cư của Nam Bộ khi chưa khai phá, những biến động về kinh tế, chính trị và thành quả bước đầu của chính quyền chúa Nguyễn trong quá trình mở đất
Tác phẩm Gia Định thành thông chí do Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825) được viết
dưới triều vua Gia Long (1802 – 1820) Tác giả mô tả kỹ về núi sông Nam Bộ, nên có thể xem đây là cuốn sách địa lý, lịch sử đầu tiên về Nam Bộ Vùng đất Bến Tre được đề cập đầu tiên trong mục “Trấn Vĩnh Thanh” Bộ sách này có những tư liệu liên quan đến vùng đất Bến Tre về nhiều mặt: Vị trí, giới hạn, tên các phủ, huyện, tổng, xã, thôn, phong tục, tín ngưỡng, quần áo, nhà cửa, hội hè, tình hình làm ruộng lúa, tài nguyên sản
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 4vật, các đền chùa, các cầu chợ, đồn lũy… Ngoài ra tác phẩm còn đề cập quá trình mở đất về phía Nam, việc bang giao với hai nước láng giềng Cao Miên, Xiêm La, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và việc Nguyễn Ánh khôi phục quyền thống trị của các chúa Nguyễn
Bộ sách Đại Nam liệt truyện: gồm hai phần là Tiền biên và Chính biên, là công
trình biên soạn của triều Nguyễn, cơ quan chịu trách nhiệm là Quốc sử quán triều Nguyễn Bộ sách này ghi lại những sự kiện chủ yếu trong các triều vua, cung cấp những
tư liệu quan trọng giúp chúng ta hiểu những nét đại cương nhất về mục đích, nội dung, chủ trương chính sách khẩn hoang dưới triều Nguyễn, cũng như những thành quả đạt được trong công cuộc khẩn hoang vùng đất Nam bộ trong đó có Bến Tre
Bộ sách Minh Mệnh chính yếu , được Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn vào
năm 1837 gồm 26 quyển, nội dung ghi chép những việc làm thiết yếu dưới triều Minh Mệnh: Những chỉ vụ của vua, sinh hoạt cung đình, hình luật, lễ nhạc, ngoại giao, trị an, tiến trình và những chính sách khẩn hoang Qua bộ sách này, tài liệu gốc về chính sách khẩn hoang, thuế, tổ chức cai trị… Ở Nam bộ trong đó có Bến Tre được ghi chép kỹ càng, là nguồn tư liệu lịch sử cần thiết để tác giả luận văn tham khảo
Bộ Đại Nam nhất thống chí là bộ sách địa lý lịch sử, được biên soạn vào năm Tự
Đức 29 (1875) hoàn thành khoảng năm 1881 Vùng đất Bến Tre được nói đến ở phần Tỉnh Vĩnh Long, Tỉnh Định Tường với các mục như: Hình thể, ranh giới các huyện, phủ, sông, biển, khí hậu, thành trì, phong tục, hộ khẩu, thuế khoá, chợ quán, dịch trạm, cầu đường, chùa miếu, thổ sản, đê đập, cổ tích, nhân vật lịch sử Nguồn thư tịch này là tài liệu có ích cho việc nghiên cứu về vùng đất Bến Tre
Thư tịch cổ đề cập tới vùng đất Bến Tre một cách tổng quan là nguồn sử liệu quan trọng giúp tôi hiểu một số đặc trưng của vùng đất này trong mối quan hệ tổng thể với cả Nam bộ Loại sách này đề cập, ghi chép về Bến Tre nằm giữa đồng bằng sông Cửu Long, cung cấp thông tin tổng quát về các mặt địa lý, lịch sử, tài nguyên, con người… Nhưng chưa có những chi tiết về một địa bàn cụ thể và còn thiếu những tư liệu điền dã
Trong thời cận đại và hiện đại, nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử Bến Tre hoặc đề cập đến Bến Tre đã được công bố
Năm 1930, người Pháp công bố cuốn Monographie De La Province De Bến Tre (Địa phương chí tỉnh Bến Tre) Chúng tôi sử dụng bản dịch của Nguyễn Văn Bá, Dương
Xuân Đính, tài liệu ronéo của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Bến Tre năm 1980 Tài liệu này trình bày có hệ thống về vị trí địa lý, tự nhiên, sông ngòi , khí hậu, thủy lợi, tình hình kinh tế, cây trồng, nhưng nhìn chung còn sơ lược, chưa dựng lại bức tranh toàn cảnh của vùng đất Bến Tre, ở một mức độ nào đó cũng là nguồn tài liệu tham khảo
Trong những năm 60, hàng loạt “sách khảo cứu các tỉnh, thành năm xưa” ở Nam
của tác giả Huỳnh Minh Ba cuốn sách: Kiến Hoà (Bến Tre) xưa, Vĩnh Long xưa, Định Tường xưa, xuất bản năm 1965, đã đề cập đến Bến Tre, trong đó tác giả Huỳnh Minh
trình bày diện mạo vùng đất Bến Tre qua các mặt lịch sử, địa lý, nhân vật, giai thoại,
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 5huyền thoại, di tích, thắng cảnh, cây dừa, địa danh năm xưa Phần dành cho các thế kỷ XVII còn ít và sơ lược, nhưng cũng giúp người đọc có những hiểu biết và tình cảm sâu sắc đối với vùng đất cù lao sông nước này
Ngoài ra, cần phải nhắc đến cuốn sách viết về Bến Tre khá hay: Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam từ năm 1757 đến 1945 của tác giả Nguyễn Duy Oanh, Phủ Quốc
Vụ Khanh Sài Gòn xuất bản năm 1971 Tác giả đã có những đóng góp nhất định, khắc hoạ được bức tranh toàn cảnh Bến Tre Tuy nội dung còn sơ lược, nhưng có thể tìm được những tư liệu về vùng đất Bến Tre trên các lĩnh vực địa lý, lịch sử, kinh tế, giáo dục, y tế, tổ chức hành chánh của chính quyền họ Nguyễn và thực dân Pháp, một số phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp, một số nhân vật lịch sử
Đề cập về đất và người Bến Tre còn có Ba Tri đất và người, do Ban chấp hành
Đảng Bộ huyện Ba Tri xuất bản năm 1984, trong đó có một số thông tin về những nhân vật lịch sử tiêu biểu gắn bó với Ba Tri, những địa danh từng có những chiến công oanh liệt của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp, một số ngành nghề truyền thống và một ít di tích văn hóa của Ba Tri, về hát sắc bùa Phú Lễ
Năm 1987, sau hai năm điều tra khảo sát và nghiên cứu công trình Địa chí Bình Đại do Ủy Ban nhân dân huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre xuất bản Đây là loại sách địa
phương chí viết về vùng đất Bình Đại (cù lao An Hoá), trong đó có thể tìm thấy một số tư liệu về địa lý, lịch sử, dân cư, kinh tế, văn hóa, giáo dục, truyền thống đấu tranh của nhân dân Bình Đại trong các thế kỷ XVII - XIX
Đáng chú ý là tác phẩm Địa chí Bến Tre, do các tác giả Thạch Phương, Đoàn Tứ
chủ biên, cùng nhiều cộng tác viên trong các ngành khoa học khác nhau, do nhà xuất bản KHXH.HN, năm 2001 Đây là một cuốn sách có giá trị về Bến Tre, một công trình nghiên cứu tỉ mỉ, công phu là thành quả kết tinh của trí tuệ tập thể nhiều người thuộc nhiều ngành nghề khác nhau, miêu tả nhiều mặt diện mạo Bến Tre, là nguồn tư liệu quý mà chúng tôi có thể kế thừa, trên cơ sở hình thành một cách tiếp cận mới từ góc độ sử học
Ngoài ra còn có những công trình sưu tầm nghiên cứu chuyên sâu đề cập đến một
số lĩnh vực nào đó như: Dân ca Bến Tre (Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Ty văn hóa thông tin Bến Tre xuất bản 1981); Văn học dân gian Bến Tre (Nguyễn Phương Thảo, Nhà xuất bản KHXH HN 1988); Ba Tri đất và người (Ban chấp hành Đảng Bộ huyện Ba Tri xuất bản 1984); hát sắc bùa Phú Lễ Ba Tri – Bến Tre (Huỳnh Ngọc Trảng, Nhà xuất bản TP HCM 1992); Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng (Nguyễn Văn Châu, Sở Văn hóa thông tin thể thao Bến Tre 1994); Tuyển tập văn học chữ viết Bến Tre (Nguyễn Chí Bền, Nhà xuất bản KHXH.HN 1996); Tìm hiểu một số hiện tượng văn hóa dân gian Bến Tre (Nguyễn Chí Bền, Nhà xuất bản KHXH.HN 1997);Lịch sử những ngôi chùa Phật huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre (Nhà xuất bản Tôn Giáo 2001); Tang lễ người già (Lư Văn Hội sưu tầm,
chuyên khảo trên địa bàn tỉnh Bến Tre, Sở Văn hóa thông tin Bến Tre xuất bản 2002);
Đất cù lao (Huy Khanh, Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre 2003); Lịch sử Đảng Bộ tỉnh Bến Tre 1930 – 2000 (Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia 2003) Đây
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 6là nguồn tài liệu tham khảo rất quý, dựa vào nguồn tài liệu này ta tìm hiểu phần nào về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, đời sống văn hóa vùng đất Bến Tre trong các thế kỷ XVII - XIX
Cuốn sử học số 2 - Những vấn đề khoa học lịch sử ngày nay (Nhà xuất bản Đại
học và Trung học chuyên nghiệp 1982) tập hợp những bài viết về các vấn đề lịch sử của
Nam Bộ, trong đó có Bến Tre như bài viết: Khẩn hoang khu vực Mỹ Tho thuộc trấn Định Tường và Bến Tre thuộc dinh Long Hồ trong thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX tác giả
Lê Quang Minh, cho biết rõ về đặc điểm đất đai, công cuộc khẩn hoang, hình thành thôn xóm, một số thành tựu khẩn hoang vùng đất Bến Tre trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX Đây là nguồn tư liệu quan trọng đề cập đến Bến Tre trong giai đoạn lịch sử này
Địa bạ triều Nguyễn phần Vĩnh Long (Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh), được xác
lập vào năm 1836 dưới triều Minh Mạng thứ 17, khi ấy vùng đất Bến Tre còn thuộc Vĩnh Long Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu đã có nhiều công sức nghiên cứu sưu tập Địa bạ vĩ đại này Sách do nhà xuất bản TP.HCM xuất bản năm 1994 Địa bạ Vĩnh Long có 111 tập gồm 360 quyển Địa bạ (bao gồm Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh) Đây là nguồn tư liệu quý để tác giả luận văn có thể so sánh, đối chiếu về vị trí, ranh giới, trên các thôn, tổng, phủ, huyện, về cơ cấu sử dụng đất đai, tỷ lệ giữa diện tích canh tác với diện tích cư trú, tổng số ruộng đất thực canh cũng như ruộng hoang hoá, vấn đề thuế, cây trồng và những vấn đề kinh tế – xã hội khác
Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo, là tập hợp công trình nghiên cứu của
tác giả Nguyễn Phương Thảo (Nhà xuất bản giáo dục 1994), là nguồn tư liệu khá phong phú Dựa vào nguồn tài liệu này tôi khai thác được phần nào sự hình thành và phát triển nghề làm vườn, văn hóa miệt vườn, một số mảng văn học dân gian, lễ hội ở Bến Tre, một số đặc điểm cấu thành địa danh ở Bến Tre
Lịch sử tỉnh Vĩnh Long 1732 – 2000, Ban Tuyên Giáo tỉnh ủy Vĩnh Long biên
soạn (Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2002) Đây là nguồn tư liệu quan trọng đề cập đến vùng đất Bến Tre, vì trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX Bến Tre thuộc Vĩnh Long Dựa vào nguồn tài liệu này tôi tìm hiểu về cội nguồn lịch sử vùng đất Bến Tre, tổ chức cai trị của các chúa Nguyễn - vua Nguyễn, đồng thời có cái nhìn tổng thể về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, các phong trào đấu tranh của nhân dân chống áp bức cường quyền và chống ngoại xâm
Các công trình nghiên cứu đã được công bố như: Kết quả khai quật địa điểm khảo cổ học Ba Vát (huyện Mỏ Cày – Bến Tre năm 2003); Kết quả khai quật di chỉ Giồng Nổi
(xã Bình Phú, thị xã Bến Tre năm 2003) do Viện khảo cổ học kết hợp với Viện bảo tàng tỉnh Bến Tre thực hiện năm 2003, là nguồn tư liệu khảo cổ học vô cùng quý giá về giai
đoạn Sơ sử đã từng tồn tại trên vùng đất Bến Tre
Các ấn phẩm như: Tập san sử địa số 19/20/1969; Tạp chí Xưa và Nay (nhà xuất
bản TP.HCM năm 1998), đăng các công trình nghiên cứu về các cuộc di dân của người Việt từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, “quá trình mở đất về phương Nam” của dân tộc Việt Nam, việc khẩn hoang ở Nam Kỳ dưới triều Nguyễn và những thành quả của
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 7công cuộc khẩn hoang, lịch sử vùng đất Nam Bộ trong đó có Bến Tre…Đây là một nguồn thông tin tham khảo hết sức phong phú
Công trình nghiên cứu của một số tác giả có đề cập đến “quá trình Nam tiến”
của dân tộc: Tác giả Đào Văn Hội Lịch trình hành chánh Nam phần (1961); Phan Khoang với Việt sử xứ Đàng Trong (1966); Nguyễn Đình Đầu với giới Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại (1997); Nguyễn Quang Ân trong Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới (2003); Vũ Huy Phúc trong Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX (1979) Nguồn tư liệu tham khảo này giúp tôi có thêm thông tin về những bước
đi của dân tộc Việt Nam về phương Nam thời các chúa Nguyễn – Vua Nguyễn, tiến trình xác lập chủ quyền và tổ chức hành chánh trên đất Nam Bộ, một số chính sách khẩn hoang đất Nam Bộ trong đó có Bến Tre
Sau năm 1975, Nam Bộ trở thành đối tượng quan tâm, sưu tầm, nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Một loạt sách về Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long được ra mắt bạn đọc Sau một thời gian nghiên cứu, qua thập kỷ 80, 90, các nhà khoa học liên tiếp công bố những công trình đi sâu tìm hiểu về một số lãnh vực của Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Năm 1982, Lê Anh Trà và Trường
Lưu công bố công trình Mấy đặc điểm văn hóa đồng bằng sông Cửu Long Năm 1987, Huỳnh Lứa chủ biên và công bố công trình Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, đến năm
2000, tác giả Huỳnh Lứa với Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX Năm 1990, Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường công bố công trình Văn hóa dân gian và cư dân đồng bằng sông Cửu Long Năm 1991, Mạc Đường viết Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long Năm 1992, Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh đã cho ra mắt bạn đọc công trình Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ Năm 1993, Huỳnh Ngọc Trảng, Hồ Tường, Trương Ngọc Tường công bố công trình Đình Nam Bộ, tín ngưỡng và nghi lễ Trong những năm 90, tác giả Sơn Nam cho ra mắt bạn đọc một số tác phẩm Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa (1993), Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1994), Đất Gia Định xưa (1997), Cá tính miền Nam (1997), Ấn tượng 300 năm (1998) Năm 1993 Phan Thị Yến Tuyết với Nhà ở trang phục ăn uống của các dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long Năm 1997, Nguyễn Đăng Duy cho ra mắt cuốn Văn hóa tâm linh Nam Bộ Năm 1998, Huỳnh Ngọc Trảng tiếp tục công bố công trình Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh Năm 1997, cần phải kể đến công trình sưu tầm và biên soạn của khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Cần Thơ, đó là tác phẩm Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long Gần đây, cần phải nhắc tới công trình nghiên cứu văn hóa Nam Bộ được công bố năm 2003: Hồ Bá Thâm với Văn hóa Nam Bộ vấn đề và phát triển Năm 2003, Huỳnh Quốc Thắng có tác phẩm Lễ hội dân gian Nam Bộ Ngoài ra, còn phải
nhắc đến những công trình về tình hình ruộng đất ở Nam Bộ như: Trần Thu Lương trong
Chế độ sở hữu canh tác ruộng đất ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX (1994) Nguyễn Đình Đầu với Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh (1999)
Thời gian trong vài năm gần đây, chúng tôi được tiếp cận một số công trình khoa học cung cấp những thông tin về Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long trong đó có Bến
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 8Tre như: Kỷ yếu hội thảo Nam Bộ và Nam Trung Bộ những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII – XIX, trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh năm 2002 với các bài viết như:
“Nhìn lại việc khai phá của người Việt trên đất Gia Định thế kỷ XVII, XVIII” của tác giả Trần Thị Thanh Thanh; “Bối cảnh của quá trình mở đất về phía Nam của người Việt thế kỷ XVII, XVIII” tác giả Ngô Minh Oanh; “Đồng bằng sông Cửu Long thế kỷ XVII – XIX với sự ra đời các tôn giáo địa phương vào thế kỷ XIX” tác giả Bùi Thị Thu Hà Một tập sách có giá trị vừa được xuất bản “Theo dòng lịch sử dân tộc”, tập hợp những bài nghiên cứu
lịch sử của phó giáo sư sử học Nguyễn Phan Quang, chúng tôi cũng khai thác nhiều thông tin từ nguồn tư liệu này bổ sung việc nghiên cứu các phong trào đấu tranh của nông dân thế kỷ XVII – XIX, vấn đề thương nhân người Hoa trên thị trường lúa gạo Nam Kỳ, tìm hiểu về những bậc danh nhân có học vấn uyên thâm của Bến Tre đó là Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký
Nhìn chung, các tác giả đã viết về quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, về cội nguồn lịch sử vùng đất, đã phản ánh diện mạo phong phú đa dạng, đời sống của cư dân Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, giúp chúng tôi nhận ra cái chung trong cái riêng, cái riêng trong cái chung, nhận rõ tính thống nhất của Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Tuy mức độ đề cập có khác nhau tuỳ theo từng tác giả, nhưng vùng đất Bến Tre được nhắc tới như một cứ liệu, một ví dụ, để kiến giải những vấn đề lớn hơn về kinh tế – văn hóa – xã hội Các tác giả không chọn Bến Tre làm đối tượng nghiên cứu của mình, nhưng Bến Tre có mặt trong những trình bày, kiến giải về toàn bộ Nam Bộ hoặc đồng bằng sông Cửu Long Đây là nguồn tư liệu rất phong phú mà tác giả luận văn có thể kế thừa
Như vậy, từ thời xưa đến nay vùng đất Bến Tre đã được đề cập đến trong nhiều loại sách vỡ với nhiều hình thức nghiên cứu từ địa lý lịch sử, địa phương chí đến các công trình chuyên khảo tổng quát Tuy nhiên, vẫn cần có một công trình chuyên sâu về Bến Tre trong các thế kỷ XVII – XIX, để vẽ lên được một diện mạo cụ thể, một bức tranh toàn cảnh làm cơ sở cho những hoạch định về văn hóa – xã hội của tỉnh
3.2 Nguồn sử liệu:
Tài liệu sử dụng để hoàn thành luận văn có thể chia làm nhiều nguồn khác nhau
* Nguồn sử liệu thành văn: Bao gồm các thư tịch cổ, gia phả, các tác phẩm,
công trình nghiên cứu, các sách chuyên khảo, những tư liệu trên các tạp chí, các kỷ yếu hội thảo khoa học
* Nguồn sử liệu vật chất: Bao gồm các di tích lịch sử và công trình kiến trúc
còn lại ở địa phương như đình, chùa, đền miếu, lăng thờ cá Ông, mộ, những ngôi nhà xưa được xây dựng trong các thế kỷ XVII - XIX, các di vật đồ gốm, đồ sứ, đồ đá, đồ xương ở viện Bảo Tàng tỉnh Tất cả là nguồn tư liệu hiện vật sinh động và cụ thể giúp tôi hình dung những nét sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng và đời sống cư dân vùng đất Bến Tre
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 9* Nguồn sử liệu truyền miệng: Là những câu chuyện, kết quả phỏng vấn qua quá trình nghiên cứu điền dã của tác giả luận văn từ các vị cao niên ở địa phương cùng
các cán bộ ở phòng văn hóa thông tin, ban Tuyên giáo các huyện thị kể lại những câu chuyện có nội dung rất lý thú và phong phú về: ăn, mặc, ở, đi lại, đánh bắt tôm cá, phong tục tạp quán… Bên cạnh còn được nghe các hòa thượng ở chùa Hội Tôn Cổ Tự huyện Châu Thành, chùa Huệ Quang ở Giồng Trôm, các cha sở ở nhà thờ Cái Mơn (Chợ Lách), Cái Bông (Ba Tri), đã cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu về sự ra đời và quá trình phát triển của Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo trên vùng đất Bến Tre Tất cả những nguồn tư liệu này đều được sử dụng
* Nguồn sử liệu từ những lễ hội: lễ hội thể hiện sinh hoạt văn hóa tinh thần
của cư dân vùng đất Bến Tre Tác giả luận văn tham dự những lễ hội, qua đó nghiên cứu tìm hiểu về phong tục tập quán ở hai khu vực ngành nghề của cư dân: “Miệt ven biển” chủ yếu là đánh bắt hải sản ngoài biển, ven cửa sông và “Miệt vườn”, “Miệt giồng” sống bằng nghề trồng lúa nước, làm vườn và trồng giồng
Nguồn tư liệu nói trên rất phong phú, có thể làm cơ sở nghiên cứu, triển khai vấn đề sâu sắc hơn Trên tinh thần kế thừa, tiếp thu học tập những người đi trước, tác giả luận văn đã tập hợp những tài liệu có liên quan, từ tài liệu thư tịch cổ đến những tài liệu thời cận, hiện đại, tìm hiểu, so sánh, phân tích, bổ sung một cách kỹ lưỡng, có hệ thống
nhằm dựng lại bức tranh toàn cảnh vùng đất Bến Tre trong các thế kỷ XVII – XIX
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống:
Bến Tre được đặt trong bối cảnh chung của khu vực Nam bộ và lịch sử dân tộc để nghiên cứu Vùng đất Bến Tre vừa tham gia vừa chịu sự tác động của những biến chuyển trong lịch sử phát triển đất Nam bộ Vì thế khi tìm hiểu các vấn đề lịch sử nói chung cũng như vấn đề phục dựng bức tranh toàn cảnh vùng đất Bến Tre nói riêng, chúng tôi cố gắng xem xét nó trong hoàn cảnh, điều kiện và các mối quan hệ cụ thể Phương pháp tiếp cận hệ thống là cơ sở nghiên cứu các vấn đề trình bày trong luận văn
4.2 Phương pháp so sánh
Ở một chừng mực nhất định, chúng tôi có sự đối chiếu, so sánh Bến Tre với những vùng đất khác, để thấy tiến trình lịch sử của đất và người Bến Tre vừa có những nét chung, vừa có những nét đặc thù
4.3 Phương pháp khảo sát điền dã:
Trực tiếp khảo sát, tiếp xúc với các di tích hiện vật lịch sử (đình, chùa, lăng, miếu…), sưu tầm gia phả, phỏng vấn một số người dân địa phương, các cụ già, sưu tầm
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 10những chuyện kể, sưu tầm tài liệu trong các thư viện, một số cơ quan ban ngành tỉnh huyện, trong các chùa Phật, các nhà thờ Thiên Chúa giáo
4.4 Phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic:
Là một đề tài lịch sử, luận văn chú trọng kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Ngoài việc phân tích, so sánh mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử Việc trình bày các luận điểm trên cơ sở sự phát triển của những sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian được kết hợp với việc nắm bắt quan hệ biện chứng nhân quả của sự vật, hiện tượng để khái quát, nêu nhận định, kết luận rút ra từ các sự kiện
5 Đóng góp của luận văn:
Thực hiện đề tài “Vùng đất Bến Tre trong các thế kỷ XVII - XIX”, chúng tôi hy
vọng có thể đóng góp một số nội dung sau:
- Phác họa một bức tranh toàn cảnh về vùng đất này dựa trên những kết quả nghiên cứu khoa học
- Góp phần cung cấp thêm những thông tin lịch sử địa phương nhằm bổ sung nhận thức về vùng đất này
- Những kiến giải, phân tích, lập luận của luận văn thể hiện sự nghiên cứu nghiêm túc, khoa học có ý nghĩa nhất định về khoa học và thực tiễn
- Từ đó góp phần giáo dục thế hệ trẻ tình yêu quê hương, gắn bó với quê hương, có ý thức và hành động xây dựng bảo vệ quê hương
6 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm bốn chương:
- Chương I: Lịch sử hình thành vùng đất Bến Tre trong các thế kỷ XVII - XIX
- Chương II: Diện mạo kinh tế–xã hội vùng đất Bến Tre trong các thế kỷ XVII – XIX
- Chương III: Diện mạo văn hoá vùng đất Bến Tre trong các thế kỷ XVII – XIX
- Chương IV: Tổng quan về đất và người Bến Tre
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 11CHƯƠNG I
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÙNG ĐẤT BẾN TRE
TRONG CÁC THẾ KỶ XVII - XIX
1 Vị trí địa lý:
Bến Tre là một tỉnh thuộc vùng hạ lưu của đồng bằng sông Cửu Long, Bến Tre nằm giữa các nhánh sông được bồi đắp bởi phù sa của 4 con sông: sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên Các sông này đã chia vùng đất Bến Tre thành 3 cù lao lớn: cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hoá Nhìn trên bản đồ, toàn tỉnh Bến Tre có dạng của một hình tam giác (hay hình rẻ quạt), mà đỉnh nhọn nằm ở phía thượng nguồn, đường đáy là bờ biển dài 65km, đường cao của tam giác theo hướng Tây Bắc – Đông Nam dài khoảng 75km
Bến Tre có toạ độ địa lý 9048’ đến 11020’ Bắc, 105057’ đến 106048’độ Đông Vị trí này đã tạo cho tự nhiên Bến Tre tính chất nhiệt đới ẩm điển hình
Địa thế của Bến Tre nằm giữa hai vùng đất là Tiền Giang và Hậu Giang Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang (sông Tiền là ranh giới tự nhiên), phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long Phía Tây giáp tỉnh Trà Vinh có sông Cổ Chiên làm ranh giới Phía đông giáp biển Đông với bờ biển dài 65km Bến Tre cách thành phố Hồ Chí Minh 86km về phía Bắc
Bến Tre là một tỉnh đồng bằng ven biển có diện tích 2322km2, địa hình toàn vùng bằng phẳng, thấp, rải rác có các giồng cát xen lẫn Bến Tre không có núi đồi cũng không có rừng lớn, hầu hết chỉ có các dãy rừng ngập mặn ven biển hoặc ven các cửa sông
2 Vài nét lịch sử kiến tạo và phát triển địa chất:
Theo nguồn tài liệu từ sở Tài nguyên môi trường của Bến Tre, lịch sử phát triển địa chất của tỉnh Bến Tre gắn liền với quá trình hình thành và kiến tạo địa chất của vùng hạ lưu đồng bằng sông Cửu Long
Các công trình nghiên cứu lịch sử trầm tích đồng bằng sông Cửu Long cho thấy từ
Paleogene (cận sinh), cách đây 70 triệu năm, trên nền đá Mosozic (trung sinh) một cuộc
biển tràn nhỏ làm cho một phần cực Nam của Bến Tre chìm xuống dưới nước mặn Sau
đó vào Paleogene muộn (cách đây 40 triệu năm), biển rút ra, còn chừa lại trầm tích đất liền thô hạt (trầm tích chứa nước ngọt đầu tiên ở độ sâu trên 1000m) Thời Neogene (Tân sinh), cách đây 30 triệu năm, vào tuổi Miocene sớm, biển tiến lớn tràn ngập toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long, lan đến tận Phompênh Đến Miocene giữa, trừ An Giang có móng
đá Bảy Núi cao, biển có lùi ra chút ít nhưng vẫn chiếm toàn bộ các tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long Đến Miocene muộn, biển lùi thật nhanh để lại trầm tích đất liền chứa nước ngọt lần thứ hai Tuy nhiên, đến thời Pliocene (cách đây 8 triệu năm), biển lại tiến phủ
lấp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đưa nước mặn vào đột nhập phù sa nước ngọt trước đó làm phá vĩa nước ngầm kinh tế của khu vực sông Tiền Cuộc biển tràn ấy chỉ
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 12chấm dứt vào cuối Pliocene (cách đây 9-3 triệu năm), ở độ sâu 205m Vào đầu Plestocene (mực 205-185m), là giai đoạn biển lùi, thời Plestocene giữa ở Ba Tri có giai đoạn biển tiến nhỏ, đến Plestocene muộn nằm sát bên dưới phù sa Holocene là giai đoạn
biển lùi khá rõ (105-90m), bắt đầu từ cách đây 33.000 năm đến cách đây 11.000 năm, mực biển rút xuống mực 68m so với biển ngày nay
Sự thành lập lãnh thổ Bến Tre hiện tại ở vào giai đoạn sau cùng của sự bồi tụ đồng bằng sông Cửu Long, gắn liền với quá trình phân nhánh của sông Cửu Long Đất Bến Tre chỉ mới xuất hiện bên trên mặt biển từ khoảng 4.500 năm trở lại đây [64,183] Trước tiên là một cồn cửa sông to lớn xuất hiện bên dưới Chợ Lách, rồi một số giồng phát sinh tại nơi đầu cù lao mà dấu vết ngày nay còn nằm ở Nam Chợ Lách (Bến Tre) và Vũng Liêm (Trà Vinh) Sau đó xuất hiện một cù lao lớn thứ hai ở Châu Thành, với các lòng sông rộng tạo nên cửa sông Mỹ Tho với giồng cát biển phát sinh tại Thị xã Bến Tre Sông Ba Lai sinh ra từ đó và góp phần bồi tích cho đến ngày nay, cùng lúc với sông Hàm Luông ở phía Tây và sông Tiền ở phía Đông Ba con sông này lấn biển và bồi đất rất nhanh chóng nên các giồng cát nằm san sát nhau Trong hiện tại, các giồng cát là dấu vết của bờ biển cổ Dạng bờ biển trước kia cũng gần giống dạng bờ biển ngày nay Do kiến tạo động nên giồng biển mọc ra trước ở ngoài biển, bên trong là đầm mặn mới bồi nên sau Bồi tích nhanh của sông Mỹ Tho làm cho sông Ba Lai bị nghẽn ở phía đầu trên, lượng nước yếu đi không tống nổi phù sa của sông Cửa Đại đang bít nghẽn phần đổ ra biển, do vậy nó sẽ bị xoá
Lịch sử kiến tạo địa chất ở Bến Tre thuở xa xưa tính từ đầu nguồn trở xuống là đất phù sa trầm thuỷ cặp ven sông rừng rậm, giồng cát, rừng ngập mặn và bờ biển trên là bãi cát dưới cửa sông là cát lẫn với phù sa
Bến Tre thừa hưởng ưu đãi của sông Cửu Long, đất này là do sự cấu tạo mới từ khối lượng phù sa của những con sông lớn bồi tụ hàng ngày – hàng năm, trải qua nhiều thế kỷ, làm cho đất đai nơi nầy có một sự tổng hợp rất đặc biệt Phù sa sông Cửu Long cấu tạo hai cù lao Bảo và Minh thành một vùng phì nhiêu và đang ở trong chiều hướng phát triển không ngừng
Bảng tóm tắt lịch sử kiến tạo và phát triển địa chất của Bến Tre
Thời kỳ Tình trạng biển tiến, lùi Hậu quả kiến tạo
Paleogene (Cận sinh) Biển tiến nhỏ một phần cực nam của Bến Tre chìm
xuống dưới nước mặn
Paleogene (Muộn) Biển rút ra còn chừa lại trầm tích đất liền thô hạt Neogenne (tân sinh) Biển tiến lớn tràn ngập toàn bộ đồng bằng sông Cửu
Long Miocene (giữa) Biển có lùi ra chút ít nhưng vẫn chiếm toàn bộ các tỉnh
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 13đồng bằng sông Cửu Long Miocene (muộn) Biển lùi thật nhanh Để lại trầm tích đất liền chứa nước
ngọt lần thừ hai
Pliocene
(cách đây 8 triệu năm)
Biển lại tiến Đưa nước mặn vào làm phá vĩa nước
ngầm của khu vực sông Tiền Vào đầu Plestocene
Thời Plestocene (giữa)
đến Plestocene (muộn)
giai đoạn biển lùi
ở Ba Tri có giai đoạn biển tiến nhỏ giai đoạn biển lùi khá rõ Bắt đầu từ cách đây 33.000 năm đến cách đây 11.000 năm, mực nước biển
rút xuống mực 68 mét so với biển ngày nay
Từ khoảng 4.500 năm
trở lại đây gắn liền với quá trình phân nhánh
của sông Cửu Long
Đất Bến Tre mới xuất hiện bên trên mặt biển
3 Cội nguồn lịch sử của vùng đất Bến Tre:
Vùng đất cù lao Bến Tre được hình thành khoảng 4500 năm trước đây, do quá trình bồi đắp phù sa của các nhánh sông lớn thuộc hệ thống sông Cửu Long, sau khi đã có
đất Cai Lậy và Tân Hiệp có tuổi tuyệt đối vào khoảng 5000 năm
Theo kết quả phát hiện về di chỉ khảo cổ học ở Giồng Nổi (Thị xã Bến Tre), Giồng Ớt (xã An Thuận huyện Thạnh Phú, Bến Tre), kết quả khai quật đã tìm thấy các di vật đều là công cụ sản xuất gồm: Đục đá, rìu bôn đá, răng trâu, bàn mài phẳng Ngoài ra còn có: đồ gốm, đồ xương… Các nhà khảo cổ học và sử học đã dựa trên nhiều tư liệu về môi trường sinh thái, những di vật phát hiện được trong tầng văn hóa cùng so sánh đối chiếu đa chiều, xác định đây là phát hiện đầu tiên di chỉ khảo cổ học cuối thời đại đồng thau đầu thời đại đồ sắt ở Bến Tre Có thể nói lịch sử vùng đất con người Bến Tre được
ghi thêm một chặng mới vốn trước đây trống vắng, đó là giai đoạn Sơ Sử, giai đoạn đầu
tiên hình thành lịch sử và là cơ sở tạo dựng những nét đặc trưng riêng của vùng đất cù lao sông nước nầy
Cùng với nhiều di tích thời Sơ sử ở Giồng Nổi, Giồng Ớt góp phần khẳng định cội nguồn dân tộc, tổ tiên của người Bến Tre hôm nay đã có từ hơn 2000 năm trước Cách đây hơn 2000 năm đã có dấu vết cư trú và sinh hoạt của con người trên đất cù lao Bến Tre Lớp cư dân cổ xưa được sử sách gọi là người Phù Nam và Chân Lạp còn để lại trên đất cù lao một số vết tích về địa danh học và khảo cổ học
Qua một số di vật đã khai quật được ở các di chỉ khảo cổ, đặc biệt là đồ gốm, loại gốm thô mềm, màu trắng phớt hồng trang trí văn khắc vạch, gốm xốp và một số hiện vật gốm như chân gốm… từ các di vật này, các nhà khảo cổ học đã có kết luận ban đầu
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 14“chúng ta có thể nhìn thấy, mặc dù rất mờ nhạt yếu tố văn hóa Óc Eo” [nguồn tư liệu từ
Viện bảo tàng Bến Tre năm 2003] Đây là một bằng chứng về một nền văn hóa cổ hưng thịnh đã từng tồn tại trên vùng đất cù lao này vào những thế kỷ đầu công nguyên Tuy nhiên, trải qua thời gian nền văn hóa ấy rơi vào cảnh suy tàn do tác động của những đột biến về địa lý – sinh thái và kinh tế – xã hội, đặc biệt là từ khi vùng đất này bị chìm ngập trong nước sau một lần “biển tiến” vào khoảng đầu thế kỷ thứ VII Đồng thời với sự suy tàn của nền văn hóa cổ, vùng đất này cũng trở nên hoang vu
Đến cuối thế kỷ thứ VII, đồng bằng sông Cửu Long trở thành đất Thủy Chân Lạp, trên vùng đất đồng bằng Nam Bộ này không để lại dấu tích về sự tiếp tục hiện diện của nền văn hóa cổ
Các nhà khảo cổ học và sử học cho biết, vì những nguyên nhân thiên nhiên và xã hội, số cư dân xưa chưa khai phá vùng đất này được bao nhiêu và ngày càng thưa vắng dần Theo họ cho biết thì số cư dân ấy đã có một sự chuyển dịch nào đó về vùng đất cao hơn Đất cù lao hầu hết vẫn là vùng đất hoang vu, xứ sở của vùng rừng sâu, sình lầy và thú dữ
Tình trạng ấy kéo dài nhiều thế kỷ, trước khi người Việt đến khai khẩn, rồi định
cư lập nghiệp, lập thành thôn ấp, Bến Tre cũng như cả vùng Nam Bộ vẫn còn là vùng sình lầy, hoang vu, hiểm trở, dường như còn ngủ yên trong vẻ hoang sơ u tịch – về căn bản vẫn là vùng đất chưa được khai phá nhiều Châu Đạt Quan, sứ thần nhà Nguyên của Trung Hoa mà chúng ta có thể coi là một nhân chứng đương thời, vào thế kỷ XIII khi đi ngang qua vùng này để thực hiện chuyến bang giao với vương quốc Khơme đã ghi chép
về vùng đất này như sau: “Chúng tôi đi ngang qua biển Côn Lôn và vào cửa sông Sông này có hàng chục ngả nhưng ta chỉ vào được cửa thứ tư (cửa Tiền Giang vào Mỹ Tho ngày nay), vì các cửa khác có nhiều cồn đất ngầm, thuyền lớn không đi được Nhìn lên bờ chúng tôi chỉ thấy toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết được lối vào, thế nên các thuỷ thủ cho rằng khó mà tìm được đúng cửa sông” “Bắt đầu vào Chân Bồ (Tchenp’ou, Vũng Tàu hay Bà Rịa) hầu hết cả vùng đều là bụi rậm của khu rừng thấp, những cửa sông của con sông lớn chạy dài hàng trăm lý, bóng mát um tùm của những gốc cây cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú sum xuê, tiếng chim hót và tiếng thú kêu vang dội khắp nơi Vào nửa đường trong cửa sông, người ta thấy những cánh đồng hoang không có một gốc cây nào Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ cây đầy dẫy, hàng trăm, hàng ngàn trâu rừng tụ họp từng bầy trong vùng này Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm lý” [67,22,23,80]
Bấy giờ từ biển Đông, đường thuỷ đưa dẫn sứ thần nhà Nguyên Châu Đạt Quan đến kinh đô Aêngco vẫn chưa là một thương lộ trong thời thịnh đạt của Chân Lạp Trong tầm mắt của Châu Đạt Quan vẫn là một quang cảnh hoang vu, không một bóng người, chỉ thấy khắp nơi là tiếng chim hót, thú kêu, từng bầy trâu rừng hàng trăm, hàng ngàn con, lau sậy um tùm không dễ gì tìm được lối đi Như vậy, chúng ta có thể biết một điều rằng cả miền đồng bằng sông Cửu Long bao la còn hoang vu sình lầy hơn thế nữa Từ
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 15cuối thế kỷ XIII trở về sau, khi Chân Lạp bước sang thời kỳ suy tàn thì miền đất này gần như không được nhắc đến
Khi dịch cuốn sách “Chân Lạp phong thổ ký” từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ, dịch
giả Lê Hương đã đoán định rằng cửa sông thứ tư mà Châu Đạt Quan cho rằng thuyền lớn có thể vào được để ngược lên Campuchia vì các cửa khác có nhiều cồn đất ngầm, thuyền lớn không thể đi được đó là sông Cửa Đại ngày nay Bắt đầu từ Chân Bồ tức núi Vũng Tàu hay Bà Rịa tới mũi Cà Mau, bờ biển rất thấp và có tới mười cửa sông Châu Đạt Quan đã chọn Chân Bồ tức núi Vũng Tàu hay Bà Rịa để làm điểm tựa tính đường đi là rất đúng, bởi vì từ Chân Bồ đến cửa thứ tư có các cửa sông sau:
1 Cửa Cần Giờ đi vào sông Lòng Tàu
2 Cửa Soài Rạp đi lên sông Đồng Nai hoặc vào sông Vàm Cỏ
3 Cửa Tiểu là cửa đầu tiên của sông Cửu Long, có nhiều bãi cát
4 Cửa Đại là cửa thuận lợi đi Mỹ Tho rồi lên Biển Hồ
Như vậy, cảnh quan hai bên bờ sông Cửa Đại mà Châu Đạt Quan mô tả chính là phần khu vực cù lao An Hoá (huyện Bình Đại của Bến Tre sau này), phía bên này của sông Cửa Đại và khu vực Hoà Đồng – Chợ Gạo – Gò Công – phía bên kia của sông Cửa Đại, lúc bấy giờ còn hoang vu, rừng rậm, thú dữ, sình lầy…
Ngay đến nửa cuối thế kỷ XVIII, trong sách Phủ biên tạp lục phần viết về tình
hình đất Gia Định, nhà bác học Lê Quý Đôn còn viết: “Đất Đồng Nai thuộc phủ Gia Định, từ các cửa Cần Giờ, cửa Sài Lạp (Soài Rạp), Cửa Đại, Cửa Tiểu đi vào toàn là những đám rừng hoang vu đầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hơn nghìn dặm”
Vào thời điểm đó, do còn rừng rậm lan tràn âm u bí hiểm, ở vùng đất Bến Tre nói riêng, đồng bằng sông Cửu Long nói chung có nhiều loại thú dữ, chúng xuất hiện ở khắp mọi nơi làm cho cuộc sống của người dân đi khai hoang bị đe doạ, trong rừng thì hùm beo trên sông thì cá sấu, như câu ca dao cổ của vùng Nam Bộ xưa:
Chèo ghe sợ sấu cắn chưn
Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma
Không chỉ có vô số hùm beo, cá sấu mà còn đầy dẫy muỗi mòng, rắn rết:
Muỗi kêu như sáo thổi,
Đỉa lội tợ bánh canh
Cỏ mọc thành tinh
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 16Rắn đồng biết gáy
Miền đất hoang vu này không chỉ có rừng rậm, lau sậy bao phủ, đầy rẫy thú dữ, muỗi mòng mà còn bởi “ao chằm dăng ngang”, “sông suối dọc ngang la liệt” [20,27]
Đất cù lao Bến Tre xưa thuộc vùng ngập nước, mặc dù đã có nhiều lớp cư dân đến sinh sống, nhưng sức khai phá của con người chưa nhiều Đất đai còn sình lầy, nhiều vùng rộng lớn là đất trầm thuỷ, rừng rậm âm u, sông rạch chằng chịt, nhiều thú dữ như cọp, trăn, rắn, sấu, heo rừng Nhiều địa danh ở Bến Tre ngày nay gắn liền với loài vật gây nguy hiểm và đe doạ cuộc sống của con người thuở ông bà mới đặt chân đến khai phá đất cù lao như: sấu Ba Kè, cọp Ba Châu, đỉa Lạc Địa, muỗi Cồn Rừng, rạch Cái Sấu, giồng Hổ, giồng Heo, giồng Rọ, rạch Mây, rạch Cái Cấm, Cái Trăn, Chẹt Sậy, Tắt Hang chuột, ngã Ba Lạc, Bàu Sấu, Bàu Dơi, Bàu Sen Những địa danh ấy gợi lại cho ta thấy được diện mạo của đất cù lao thuở xưa Giai thoại về ông già ở Tân Hưng đánh cọp, ông Thanh Vệ thuần hoá được cọp, cưỡi cọp đi ăn giỗ, cho chúng ta biết phần nào về vùng đất này, khi người Việt tới khai phá vẫn còn là một nơi hoang vu, nhiều thú dữ
Từ thế kỷ XVII, người dân ở miền Trung, vùng Quảng Nam, Quy Nhơn, Phú Yên… bị mất mùa, đói khổ, không chịu nổi chế độ quân dịch, tạp dịch, thuế khoá do hậu quả của cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn, họ đã phải rời bỏ quê hương dìu dắt nhau trốn chạy tìm nơi an toàn xa xôi hẻo lánh để làm ăn sinh sống Đoàn người di dân hướng về phía Nam, từ đó bắt đầu có dòng di cư của người Việt vào Nam Bộ ngày càng đông Bước vào thế kỷ XVII, vùng đất hoang dã này đã có sự thay đổi bởi sự xuất hiện một lớp
cư dân, thành phần chiếm đa số là người Việt
Năm 1679 (năm Kỷ Mùi), chúa Nguyễn Phúc Tần cho phép 3.000 người Hoa từ Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) được vào lập nghiệp Họ là những người “phản Thanh phục Minh”, do hai tướng Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên cầm đầu Chúa Nguyễn cho họ vào định cư ở Mỹ Tho và Biên Hòa, ở hai địa bàn cư trú trên đoàn người Hoa di dân ấy vỡ đất, phá rừng, lập chợ, lập nên nhà cửa phố xá Người Việt đã chấp nhận nâng đỡ người Hoa di cư này để rồi họ cùng chung sống, xây dựng vùng đất mới
Những lưu dân người Việt đã vào Nam Bộ trong đó có Bến Tre khai hoang, trên một trăm năm thì chính quyền người Việt mới tới lập Dinh, Trấn, Phủ, Huyện và đặt quan cai trị
Năm 1698, khi chúa Nguyễn Phúc Chu cử thống suất chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh dinh đất Đồng Nai lập ra phủ Gia Định thì ở đó dân cư đã có
4 vạn hộ: “Đất đai mở rộng ngàn dặm, dân số hơn 40.000 hộ, chiêu mộ những lưu dân từ châu Bố Chính trở vô Nam đến ở khắp nơi, đặt ra phường ấp xã thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế đinh điền và lập bộ tịch đinh điền Từ đó, con cháu người Tàu ở nơi Trấn Biên (Biên Hoà) thì lập thành xã Thanh Hà, ở nơi Phiên Trấn (Sài Gòn) thì lập thành xã Minh Hương rồi ghép vào sổ hộ tịch” [20,12]
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 17Theo sự ghi chép của Gia Định thành thông chí, chúng ta có thể phỏng đoán khi
chúa Nguyễn đến thành lập chính quyền, khi ấy đất “Nông Nại” hay “phủ Gia Định” gọi chung là cả Nam bộ, những lưu dân người Việt đã mở rộng đất đai hàng ngàn dặm, từ Mỗi Xuy (Bà Rịa- Biên Hòa) đến tận bờ Bắc sông Tiền (Mỹ Tho), người ta đã lập ra ở đó những trạm thu thuế ở Prei Nokor và Kas Krobey (là vùng Sài Gòn – Chợ Lớn hiện nay)
Khi chúa Nguyễn lấy xứ Sài Gòn đặt huyện Tân Bình (từ sông Sài Gòn về Tây Nam đến sông Cửu Long) lập dinh Phiên Trấn (Gia Định) Khi ấy, vùng Bình Đại của Bến Tre ngày nay và các vùng Gò Công, Tiền Giang, thuộc sự cai quản của phủ Gia Định, huyện Tân Bình
Năm 1732, chúa Nguyễn bắt đầu đặt sự cai trị của mình ở Định Tường, Vĩnh Long, tức là vùng Long Hồ cũ: “Mùa xuân năm Nhâm Tý (1732) đời vua Túc Tôn, Hiếu minh hoàng đế năm thứ 8 sai Khổn Suý Gia Định chia đất ấy lập làm châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ (Lỵ sở ở địa phận thôn An Bình Đông, huyện Kiến Đăng, tục gọi là dinh Cái Bè” [20,13]
Như vậy năm 1732, chúa Nguyễn cho đặt châu Định Viễn và lập dinh Long Hồ (tại Cái Bè), cho châu Định Viễn thuộc vào, còn Mỹ Tho vẫn thuộc về Gia Định như cũ
Năm 1744 chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) lập: Trấn Biên Dinh, Phiên Trấn Dinh, Long Hồ Dinh, còn đất Hà Tiên thì đặt làm Trấn (Hà Tiên Trấn)
Năm 1757 chúa Nguyễn Phúc Khoát mở rộng châu Định Viễn ra đến các cù lao sông Tiền, sông Hậu, dinh Long Hồ ở Cái Bè được chuyển sang cù lao Tân Dinh gọi là dinh Hoằng Trấn, rồi lại dời về thôn Long Hồ (thị xã Vĩnh Long ngày nay) châu Định Viễn dinh Long Hồ được chia làm 3 tổng: Tổng Bình Dương (vùng Vĩnh Long, tổng Bình
An (vùng Sa Đéc, tổng Tân An (trên 2 cù lao nay là đất Bến Tre) Tổng Tân An là tiền thân của đất Bến Tre sau này
Như vậy, từ năm 1757 đời Thế Tông Hiếu Võ, tức Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, vùng đất Bến Tre không còn thuộc Thuỷ Chân Lạp nữa, Bến Tre đã được sáp nhập vào bản đồ nước Nam, thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ phủ Gia Định
Trong thời gian trên nửa thế kỷ (1698-1757), các chúa Nguyễn đã đặt xong cơ sở hành chính trên khắp địa bàn Nam Bộ Bến Tre dĩ nhiên nằm trong sự sắp đặt đó, thuộc châu Định Viễn dinh Long Hồ phủ Gia Định
4 Quá trình khai phá vùng đất Bến Tre của cư dân người Việt trong các thế kỷ XVII - XIX:
4.1- Nguồn gốc và quá trình hình thành dân cư trên vùng đất Bến Tre:
Như trên đã nói, lớp cư dân cổ xưa trên vùng đất Bến Tre thưa vắng dần Tình trạng hoang vu sình lầy chưa được khai phá của vùng đất Bến Tre vẫn kéo dài Chỉ đến thế kỷ XVII, khi lưu dân người Việt từ các tỉnh ở miền Bắc, miền Trung di cư xuống thì việc khai hoang mở đất mới bắt đầu
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 18Vậy những lưu dân người Việt đến đất cù lao này thuộc thành phần xã hội nào? Nguyên nhân nào họ di cư đến vùng đất cù lao xa xôi này? Với tất cả những điều này cùng với quá trình đấu tranh chinh phục cải tạo thiên nhiên và xã hội ở vùng đất mới đã để lại dấu ấn gì, suy nghĩ gì và cách ứng xử trong nếp sống của họ?
Theo các tài liệu lịch sử, từ thế kỷ XVI chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc, xảy ra cuộc phân tranh giữa hai tập đoàn phong kiến họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong Cuộc giao tranh giữa hai tập đoàn phong kiến này kéo dài suốt 175 năm, trong đó có 45 năm (1627 – 1672) với 7 trận đánh lớn diễn ra liên tiếp Do đó họ Trịnh và Nguyễn đã thi nhau vơ vét sức người sức của phục vụ cho chiến tranh, dân chúng rơi vào tình cảnh đói khổ cơ cực ở khắp nơi, nhất là những nông dân và thợ thủ công nghèo khổ bị bắt lính để phục vụ cho cuộc chiến tranh này
Chính quyền phong kiến còn đặt ra chế độ thuế khóa nặng nề để vơ vét của cải nhân dân, một phần cung phụng cho cuộc chiến tranh mặt khác để thỏa mãn lối sống xa hoa của bọn địa chủ, quan lại, quý tộc… Sự vơ vét, bóc lột, ức hiếp và sự nhũng nhiễu của chính quyền phong kiến đã đẩy nhân dân vào con đường điêu đứng khổ sở… Người dân đã phải rời bỏ quê hương đi tìm đất sống vì đó là lối thoát duy nhất Lúc bấy giờ vùng đất
xa xôi và còn hoang vu ở phương Nam, trong đó có Bến Tre là nơi duy nhất họ hướng tới để tìm chỗ dung thân mong tìm cuộc sống yên ả hơn ở quê nhà
Như vậy lớp người tiên phong đầu tiên vào mở đất phương Nam, trong đó có Bến Tre, chính là những lưu dân – nông dân gian khổ chịu trăm cay ngàn đắng, băng rừng vượt biển, để rồi chinh phục hoang vu lập nên thôn ấp trên khắp vùng đất phương Nam, trước khi chính quyền thời các chúa Nguyễn đến xác lập chủ quyền trên vùng đất mới
Từ cuối thế kỷ XVII, sau khi chính quyền họ Nguyễn lần lượt xác lập quyền lực cai trị của mình trên vùng đất mới, các chúa Nguyễn thực hiện chính sách khuyến khích và chiêu mộ người từ các xứ Ngũ Quảng vào mở rộng sự nghiệp khai hoang, với mục đích vừa lập đồn điền, vừa bảo vệ biên cương, giữ gìn an ninh, kết hợp hoạt động quân sự, quốc phòng với công cuộc khẩn hoang Việc này tiếp tục diễn ra trong thế kỷ XVIII và cả nửa đầu thế kỷ XIX Ngoài sự di dân theo tổ chức của nhà Nguyễn, còn có sự di dân tự phát vì họ không chịu nổi đời sống cơ cực
Cư dân Việt trên địa bàn Bến Tre buổi ban đầu được tạo ra bởi ba nguồn chính: Thứ nhất là những người nông dân và thợ thủ công nghèo ở miền Bắc, miền Trung bị giai cấp phong kiến áp bức bóc lột, chán ngán chiến tranh Trịnh Nguyễn phải lưu tán, phiêu bạt rời bỏ quê hương để tìm một chân trời mới dễ thở và yên ả hơn nơi mà họ đã từng sinh sống Thứ hai là những người vốn đã giàu có, Lê Quý Đôn gọi họ là “dân có vật lực”, họ hưởng ứng lời kêu gọi của các chính quyền phong kiến (chúa Nguyễn, vua Nguyễn), bỏ tiền ra thuê mướn nhân công tìm đến vùng đất mới, tổ chức việc khai hoang với quy mô lớn Thứ ba là những lính thú, tội đồ của nhà Nguyễn bị xô đẩy vào phương Nam vừa làm nhiệm vụ khai phá đất đai vừa trấn giữ biên ải Ngoài người Việt, còn có một số ít ỏi người Khơme sống lác đác ở một số nơi như Mỏ Cày, Bình Đại, Giồng Trôm
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 19Vào nửa cuối thế kỷ XVIII, một bộ phận cư dân nguồn gốc là người Hoa mà ta gọi là người Minh Hương, sau một thời gian định cư ở Mỹ Tho, do sự biến chia rẽ nội bộ có một số vượt sông sang sinh sống cùng với người Việt ở một số vùng trên cù lao An Hoá (Bình Đại), một số ấp cạnh bờ Nam sông Ba Lai (nay thuộc xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành), lớp người cao tuổi còn biết về nguồn gốc của lớp cư dân này Ngoài vùng Phước Thạnh, cư dân Minh Hương còn sống rải rác ở một số thôn, ấp khác quanh vùng, họ sống cùng người Việt không lập thành làng xóm riêng rẽ Như vậy, từ buổi ban đầu khai phá, chủ yếu người Việt sinh sống và cư trú trên địa bàn ba cù lao
Theo các tác giả cuốn Địa chí Bến Tre, khi khảo sát 112 gia phả thu được thì: “38
gia đình quê gốc Quảng Ngãi, 17 gia đình quê gốc ở Thừa Thiên, Quảng Trị, 19 gia đình quê gốc Quảng Nam, 9 gia đình quê gốc Quảng Bình, 11 gia đình quê gốc Bình Định, 5 gia đình quê gốc Nghệ An, 3 gia đình quê gốc Hà Đông, 2 gia đình quê gốc Nam Định, 4 gia đình quê gốc miền Trung (không rõ tỉnh), 4 gia đình quê gốc miền Bắc (không rõ tỉnh) [64,247]
Khi ấy, người Việt đi từ miền Trung vào đất Đồng Nai – Gia Định (trong đó có vùng đất Bến Tre) chủ yếu bằng đường biển với phương tiện thuyền buồm, cũng có khi họ đi trên những chiếc ghe bầu và cũng có một số ít người đi theo đường bộ phải vượt núi trèo đèo rất vất vả, gian lao và nguy hiểm Ở vùng đất Bến Tre có một số lưu dân trước khi đến định cư tại Bến Tre, đã đi từng chặng, nghĩa là họ đã dừng lại ở một số địa phương, ở đó một thời gian, nếu thấy trụ lại được thì ở, thấy không được lại đi tiếp về vùng đất Phương Nam Các sách sử gọi đó là chuyển cư theo lối “nhảy cóc” từng chặng một Như “trường hợp gia đình ông Hồ Văn Ưa, là ông tổ của ông Hồ Văn Ngật, 74 tuổi
ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri Ông Hồ Văn Ưa gốc người Quảng Bình, theo cuộc di dân của chúa Nguyễn Đời Cảnh Hưng, gia đình ông vào Quảng Nam sinh sống một thời gian, sau đó lại đi tiếp vào trấn Biên Hoà Từ Biên Hoà, gia đình ông đã di chuyển đến Phú Lễ, huyện Ba Tri và sinh sống ở đó đến nay đã 5 đời [64,246] Có những nhóm người, hoặc gia đình di chuyển một mạch từ miền Trung đến Bến Tre, như trường hợp gia đình ông Thái Hữu Xưa sử sách triều Nguyễn của Nguyễn Aùnh – ghi năm 1742, cư dân ở Ba Tri còn thưa thớt Thái Hữu Xưa người phủ Tư Nghĩa (tức Quảng Ngãi) đem gia đình đi bằng ghe bầu vào thẳng Ba Tri làm ăn, được cử làm cai trại của Ba Tri cá trại
Trước khi lưu dân người Việt đến định cư, ở nơi đây đã có mặt một số ít người Khơme sinh sống ở Mỹ Thạnh (Mỹ Lồng) ta vẫn còn nghe nói chuyện chùa Giồng Me, đấy là ngôi chùa xưa kia được cư dân Khơme xây dựng ở Sóc Me Như vậy với sự có mặt của ngôi chùa cho phép ta phỏng định trước khi người Việt đến, chứng tỏ đã có người Khơme đến sinh sống khá đông Họ sống tập trung và có cuộc sống tương đối ổn định vì nếu không thì họ không nghĩ đến chuyện lập chùa (tư liệu điền dã ở xã Mỹ Thạnh – Giồng Trôm)
Về thời điểm lưu dân người Việt đến định cư ở vùng đất Bến Tre trong hai năm
1983 – 1984, Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Sở Văn
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 20hoá thông tin Bến Tre đã tiến hành khảo sát được 281 gia phả thành văn (bao gồm cả chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ) và một số câu chuyện kể cho kết quả như sau:
- Số người định cư trước thế kỷ XVIII chiếm 3,6%
- Số người định cư thế kỷ XVIII chiếm 32,3%
- Số người định cư thế kỷ XIX chiếm 63,9%
[64,247]
Qua kết quả cho ta thấy sự di cư của người Việt vào vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung, Bến Tre nói riêng diễn ra liên tục với mức độ ngày càng gia tăng theo sự diễn biến khốc liệt của cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn cùng mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân ngày càng gay gắt, đời sống nông dân rơi vào cảnh cùng cực Làn sống lưu dân chuyển vào đất Phương Nam và Bến Tre có lúc diễn ra ồ ạt, nhất là ở nửa đầu thế kỷ XIX khi triều Nguyễn chủ trương chiêu mộ khuyến khích lưu dân vào phương Nam khai khẩn
Như vậy, từ thế kỷ XVII cư dân người Việt đã bắt đầu đến khai phá các cù lao Bến Tre Đến giữa thế kỷ XVIII thì đã có ấp, trại, xóm làng tương đối đông đúc Những người Việt vào vùng đất Gia Định trong đó có Bến Tre, chủ yếu là những nông dân nghèo khổ lâm vào bước đường cùng buộc phải rời bỏ quê cha đất tổ Họ là những người
“tứ chiếng”, họ cũng là những con người có đầu óc phiêu lưu mạo hiểm, dám chấp nhận
nguy hiểm vượt suối băng rừng, đương đầu với bao thử thách… để rồi trong quá trình mở mang vùng đất mới này đã hình thành nên những đức tính đáng quý ở người Nam Bộ
4.2- Quá trình khai phá vùng đất Bến Tre:
4.2.1- Những bước đi khai hoang mở đất đầy gian khổ:
Trên những chiếc thuyền độc mộc hoặc chiếc ghe bầu từ biển khơi tấp vào mảnh đất xa xôi, những người lưu dân với mớ hành trang rất ít ỏi, vật dụng trong nhà hầu như chưa có gì đáng kể, ngay cả chiếc mùng để tránh muỗi cho giấc ngủ trong đêm khuya cho người tha hương cũng không có Bữa ăn có khi được dọn trên những chiếc lá vuốt sạch cát bụi, giấc ngủ luôn phập phồng lo âu trong không gian thăm thẳm giữa rừng sâu
vì lúc nào cọp cũng có thể vồ mất xác
Những lưu dân xa xứ, muốn bám trụ hầu đứng vững trên mảnh đất hoang vu xa lạ này để khai thác, các vị “tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ” phải đối mặt và chiến thắng các loài dã thú, thiên nhiên khắc nghiệt để bảo vệ mình và bảo vệ công cuộc sản xuất Họ sống giữa thiên nhiên, dựa hẳn vào thiên nhiên đồng thời vật lộn với nó để tồn tại và phát triển
Ngoài kia là biển cả mênh mông, trong này thì hai bên sông lớn, thân phận “tha phương cầu thực”, họ cũng không thể trở về quê cha đất tổ, nơi mà họ phải chạy trốn khỏi chế độ áp bức bóc lột nặng nề và tàn bạo của chính quyền phong kiến Không còn con đường nào khác phải trụ lại trên ba cù lao này Để bám được vào mảnh đất cù lao
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 21giữa ba bề sóng vỗ và luôn luôn nhoài ra biển, người dân lưu tán phiêu dạt đến vùng đất Bến Tre phải huy động biết bao công sức, trí tuệ và lòng dũng cảm
Họ sống giữa thiên nhiên hoang dã: sấu Ba Kè, cọp Ba Châu, đỉa Lạc Địa, muỗi Cồn Rừng, đâu đó trên nương rẫy thỉnh thoảng lại vang lên một điệu hò khắc khoải đơn côi của người xa xứ:
“Đến đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh”
Thế nhưng trên vùng đất mới còn hoang sơ, hiếm dấu chân người, những lưu dân
“tha phương cầu thực” còn thấy được “địa cuộc” tốt (theo cách gọi của người xưa), thấy được tiềm năng khai thác dồi dào về nông nghiệp trên chân trời mở rộng để bắt đầu xây dựng cuộc sống mới Những khó khăn không làm nhụt chí của người dân đi mở đất
Có thể nói lịch sử của những người đi khai hoang mở đất ở Bến Tre bắt đầu và đồng thời gắn liền với truyền thuyết dân gian về việc đánh lại cọp, bắt sấu, diệt heo rừng, trừ rắn độc… Đó chính là điều có thật trong đời sống hiện thực để tồn tại trên đất cù
lao này của lớp người đi trước Trong Gia Định thành thông chí phần Trấn Vĩnh Thanh,
Trịnh Hoài Đức viết: “Xứ này có nhiều cá sấu và cọp dữ, nhưng dân cư đã thường quen, nên không sợ hãi, tuy người bé và đàn bà cầm dao cắt cỏ và đòn xóc cũng bắt được cọp [20,21]
Ở vùng Thị trấn Bình Đại người dân nói lại thường nghe ông bà xưa kể rằng: có bà Tám, có người gọi là bà Tám Xuồng, người làng Thừa Đức, khi bơi xuồng từ Thừa Đức đi lên rạch Bà Khoai (nay là chợ Bình Đại), lúc đi qua khúc rừng vắng vẻ cọp nhảy
ra vồ bà Bà bình tĩnh dùng cây dằm bơi xuồng để đánh cọp, cọp bị trọng thương rồi chết Từ đó bà nổi tiếng là bà Tám Xuồng, cọp nghe tên bà là sợ không dám đến gần
Ở Giồng Trường, Lương Hoà (Giồng Trôm), dân làng truyền nhau kể chuyện xưa kia có bà Đỗ Thị Giang đi đỡ đẻ cho người ở xa, trên đường về đến Giồng Trôm trời đã khuya, đi ngang khoảng rừng gặp cọp đón đường Nhưng bà không sợ mặc dù lúc ấy trong tay bà chỉ có chiếc ống ngoáy trầu và gói dụng cụ sanh đẻ, khi cọp nhảy ra vồ bà, bà vùng thế võ hiểm đánh trả lại vào mặt cọp bằng ống ngoáy trầu, rồi sau đó đá cọp té lăn ra chết bên gốc cây trôm
Người đàn bà bình thường dễ nhút nhát, sợ cọp, sợ ma, sợ bóng đêm… Nhưng khi cần vẫn dũng cảm đánh trả lại cọp Có thể chính vì thế mà tác giả Trịnh Hoài Đức có ghi chép về thuở hoang sơ ở xứ này (nói về trấn Vĩnh Thanh trong đó có Bến Tre ngày nay) gan dạ dũng cảm chống lại cọp không chỉ có đàn ông Vì thế những chuyện phụ nữ đánh cọp không phải là không xảy ra và không có căn cứ của nó
Trên bờ, nếu lưu dân người Việt gặp cọp, thì dưới nước sấu rình rập đe doạ tính
mạng người Họ lại phải đánh sấu giết sấu để yên ổn làm ăn Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức từng ghi lại câu chuyện về một người dân vùng Tiên Thuỷ
(Bến Tre) đã dùng lưỡi câu lớn bằng sắt, bắt một con vịt sống, lấy dây mây lớn buộc con vịt vào sau lưỡi câu thật chặt, thả xuống sông để nhử con cá sấu, đợi khi cá sấu gần trồi
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 22lên mặt nước há miệng đến cắn, thì thừa cơ bỏ con vịt vào trong miệng cá sấu cho nó nuốt Sau đó rủ dân kéo dây mây vào và xúm lại đâm chết con sấu, con sấu khi ấy được ghi là dài 6 thước, thường đón ghe thuyền đi qua để bắt người nuốt sống, mà cư dân trong vùng thường gọi là “Ông Luồng” Tài nghệ diệt sấu của người dân câu ấy đến người ngoại quốc nghe cũng phải khiếp sợ [20,21]
Trên đây chỉ giới thiệu một vài câu chuyện kể trong vô vàn những chuyện dân gian về đánh cọp giết sấu ở vùng đất Bến Tre xưa Qua những câu chuyện, chúng ta cũng nhận thấy một màu sắc thần thoại nhưng gạt bỏ phần hoang đường đó là một cốt lõi hiện thực về buổi đầu đến khẩn hoang lập địa ở vùng đất Bến Tre, người dân Việt lưu tán đã thể hiện rõ trí thông minh, lòng dũng cảm, tính kiên cường để chống chọi lại những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, nhất là nạn cọp dữ hoành hành phá hại sinh linh, nhằm biến vùng đất hoang vu thành xóm làng trù phú
Để có được mảnh ruộng gieo trồng, cày cấy, những lưu dân nhẫn nại cần cù chịu khó đã vỡ hết miếng đất này đến miếng đất khác Họ đã bứng từng gốc cây, phát từng ngọn cỏ, xẻ từng con mương dẫn nước vào ruộng hay tháo nước ra khỏi ruộng, chống chọi với thiên nhiên, đối phó với cọp, sấu, rắn rết, luôn đe doạ tính mạng mình Người dân di
cư đã phải khắc phục vô vàn khó khăn để khai hoang Sách Phủ biên tạp lục chép:
“Những người di cư ra sức chặt phá cây cối, cắt cỏ rậm và mở mang đất đai thành những vùng đất bằng phẳng, thổ địa phì nhiêu” [19,439,440]
Theo sách Nghiên cứu địa bạ Triều Nguyễn (Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh), năm
(1836) vua Minh Mạng cho lập địa bạ lục tỉnh Nam Kỳ Vĩnh Long lúc bấy giờ có 3 phủ: Định Viễn (Vĩnh Long), Hoằng An (Bến Tre) và Lạc Hoá (Trà Vinh) Phủ Hoằng An (cù lao Minh và Bảo hiện nay), là vùng được khai phá sớm, tốc độ khai hoang cũng như diện tích ruộng đất và dân số tăng nhanh so với các phủ khác cùng tỉnh
Theo số liệu ghi chép trong địa bạ, năm 1836 phủ Hoằng An có đất đai đã được khai phá là 77.336 mẫu ta, chiếm 42,40% ruộng đất canh tác của tỉnh Vĩnh Long Số liệu tổng hợp từ địa bạ vĩnh long cho thấy, trong số 77.336 mẫu đất đã được khai phá ở phủ Hoằng An, có 75.178 mẫu đang được canh tác (sách gọi là diện tích đất thực canh) số còn lại hoang hoá hoặc chưa sử dụng đến
Ở phủ Hoằng An, diện tích thổ thực canh (các loại đất trồng cây hàng năm và cây lâu năm) là 26.212 mẫu (30,87%) Trong số này 26.212 mẫu thì đất vườn (viên lang thổ) chiếm 19.467 mẫu (74,27%); Đất trồng dâu tằm (Tang căn thổ) chiếm 6.744 mẫu (25,73%) Diện tích điền thực canh (ruộng lúa) 48.966 mẫu (65,13%)
Bảng so sánh diện tích điền và thổ của ba phủ thuộc Vĩnh Long
(Số liệu theo nghiên cứu địa bạ Triều Nguyễn)
Tên phủ
Diện tích (đơn vị tính là Mẫu ta) Điền thực canh Thổ thực canh Viên lang thổ Tang căn thổ
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 23Họ tạo nên những thành quả ban đầu nhưng vô cùng quan trọng, đặt cơ sở vững chắc cho việc mở rộng công cuộc khai phá sau này Những lưu dân đã làm nên những kỳ tích mà thời ấy dân khai hoang gọi là “nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá” với tất cả khí phách hào hùng của người tiên phong mở mang vùng đất mới
4.2.2- Tiến trình định cư và thiết lập hệ thống làng xã:
* Con đường khai phá:
Sau khi đi sâu vào đất liền, thoạt tiên họ khai mở phía Đông Bắc, kế đến là phía Nam và Tây Nam, rồi mở rộng sang phía Tây Bắc sau cùng là phía Đông
Theo tài liệu Địa chí Bến Tre, Ba Tri đất và người chúng tôi được biết vùng Ba
Tri (cù lao Bảo) là một trong những nơi lưu dân người Việt định cư và khai khẩn sớm nhất
Ba Tri là vùng đất ở gần biển, nơi đây có nhiều giồng đất cao theo hình cánh cung từ biển trở lên, xen kẽ những cánh đồng trũng Ở đây vào mùa mưa việc canh tác rất thuận lợi nhất là ở khu vực chân giồng, chân giồng là đất thấp, thuận lợi cho cấy lúa khi mùa mưa đến, mặt giồng thuận lợi cho việc trồng các loại hoa màu như rau, cải, khoai, sắn, đậu, bắp, dưa, bí, đồng thời trồng được một số loại cây khác như bông, vải, gai, dâu để cung cấp cho các ngành thủ công nghiệp
Trong thế kỷ XVIII, vùng Ba Vác được khai phá mạnh, trải rộng ra từ BaVác đến Mỏ Cày, An Định và một số giồng dọc sông Cổ Chiên như giồng Phú Hựu, giồng Nâu, giồng Buồm, giồng Ao, giồng Ba Việt, đó là vùng trù phú bậc nhất của vùng đất Bến Tre lúc ấy Trịnh Hoài Đức viết: “Huyện Tân An là huyện bận rộn, vất vả, lỵ sở ở đất thôn Phước Hạnh xứ Ba Việt cách trấn lỵ về phía Đông 121 dặm, ở ngay bờ sông, có chợ Ba Việt, nhà cửa trù mật…” [20,125], hay như câu ca dao đã từng nói: “Anh về Ba Vác chợ Thom, ruộng mùa lúa tốt cây vườn xanh tươi” Tuy nhiên, đến năm 1777 vùng này trở nên suy tàn vì xảy ra cuộc chiến tranh giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Aùnh
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 24Một vùng khác được khai phá gần như cùng thời là Bang Tra Thơm (Mỏ Cày) rồi đến khu vực Cái Mơn, Cái Nhum trên cù lao Minh ở ven sông Hàm Luông Dọc theo các con rạch Cái Mơn, Cái Nhum đất phù sa tốt, nước ngọt quanh năm, người nông dân có thể đưa nước ngọt vào ruộng vườn dễ dàng Đất đai ở đây gần như ít bị hạn hán như những nơi khác
Trong thế kỷ XVIII lưu dân còn khai phá vùng ven rạch Sóc Sãi (Tiên Thuỷ – Châu Thành ngày nay), vùng đất này cũng thuộc loại phù sa tốt, nước ngọt thích hợp việc trồng cây ăn trái Tiếp đến khu vực ven rạch Mỹ Lung (Mỹ Lồng), rạch Bến Tre trên cù lao Bảo cũng được khai phá trong thế kỷ XVIII Nơi đây, ngay từ rất sớm đã thu hút nhiều người đến sinh cư lập nghiệp, vì đây là nơi phần đất bên sông thuận lợi trong việc giao thông, địa hình lại được chia cắt bởi nhiều kênh rạch của tự nhiên, nên thuận tiện cho việc làm nông nghiệp
Cuối thế kỷ XVIII việc khai phá được mở rộng trên cù lao An Hoá, mở rộng tới khu đất ven sông Mỹ Tho và sông Ba Lai, cũng như vùng ven rạch Bình Đại
Như vậy, vùng đất mà ngày nay gọi là Bến Tre trong thế kỷ XVIII diện tích khai phá đã được mở rộng khá nhiều, từ cù lao Bảo qua cù lao Minh, rồi từ Minh qua Bảo và đến cù lao An Hoá Việc khai khẩn được tiến hành theo phương thức đi từ dễ đến khó, tức là đầu tiên đến những vùng đất phù sa ngọt trên những cù lao, trên những vùng đất giồng cao rồi sau đó mới mở lan sang những vùng khó khăn hơn, những vùng còn hoang
vu, nhiều thú dữ, ngập phèn, nhiễm mặn nặng nề
Bước sang thế kỷ XIX, công cuộc khai hoang sản xuất ở vùng đất Bến Tre càng được mở rộng hơn, vì đi đôi với việc tự khai phá của lưu dân, nhà Nguyễn cũng đứng ra tổ chức việc khai hoang, trồng trọt dưới hình thức đồn điền hoặc khai hoang lập ấp Nhà Nguyễn chiêu mộ những người dân có “vật lực” ở Ngũ Quảng vào khai phá Nam bộ, trong đó có vùng đất Bến Tre
Chỉ trong một thời gian ngắn, số trại đồn điền đã được lập ra đều khắp Năm
1822, trong bốn phủ, thành Gia Định thì phủ Định Viễn (trong đó có huyện Tân An tức Bến Tre ngày nay) có tất cả 14 hiệu, gồm 142 trại đồn điền, với dân số 6174 người [64,197] Phủ Kiến An (có phần đất của Bình Đại – Bến Tre ngày nay) có 8 hiệu, 79 trại đồn điền, với dân số 2641 người Rất có thể một phần trong số những hiệu, trại này ở hai
phủ nói trên đã được lập nên trên vùng đất Bến Tre Theo tài liệu Địa chí Bình Đại cho
ta biết đồn canh ở Thừa Đức, Thạnh Phước (huyện Bình Đại – Bến Tre ngày nay) thời Nhà Nguyễn có thể là dấu tích của những đồn điền khai phá đất đai ấy
* Hình thành xóm thôn làng xã:
Việc hình thành làng xóm nơi đất mới ở Bến Tre cũng giống như cả Nam Bộ, trong thời kỳ đầu hình thành một cách tự phát, chủ yếu dựa vào tinh thần tương thân tương trợ là chính Những người tha hương cầu thực khi đặt chân lên vùng đất mới nhanh chóng kết thành chòm xóm, cùng dựa vào nhau làm ăn sinh sống, đùm bọc lẫn nhau khi hoạn nạn, làng xóm của họ chưa bị ràng buộc bởi luật lệ, quy chế nghiêm ngặt của lệ
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 25làng Con người gắn bó với nhau thành một cộng đồng, lúc đầu mới hình thành bằng tên gọi xóm thôn như xóm Lưới, xóm Chài, thôn Đoài, thôn Thượng theo cách gọi của người dân Ngũ Quảng Từ sau khi Nhà nguyễn thiết lập và củng cố bộ máy quản lý hành chính, mối quan hệ cộng đồng càng chặt chẽ hơn
Sách Địa chí Bến Tre cho ta biết năm Cảnh Hưng thứ 20 (1759), chúa Nguyễn có
lịnh cho lập làng ở Bến Tre Những nơi nào đủ dân thì cho lập làng, ấp, nơi nào dân cư còn ít quá thưa thớt thì họp thành trại, người đứng đầu trại gọi là cai trại Do dân chuyển
cư liên tục diễn ra trong suốt thế kỷ XVII và đến giữa thế kỷ XVIII, vùng đất Bến Tre đã có đông dân, nên chúa Nguyễn đã ban bố lịnh lập làng này
Đến năm 1779, sau khi Nguyễn Aùnh chiếm được vùng đất Gia Định, để tăng cường sự quản lý tổ chức lại việc cai trị của chính quyền họ Nguyễn ở toàn vùng Nam Bộ Khi chia lại địa giới hành chính, vùng Bến Tre được đặt thành một tổng – tổng Tân
An, thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định, tuy gọi là tổng nhưng địa giới rất rộng bao gồm hai cù lao Bảo và cù lao Minh
Năm Mậu Thìn (1808), năm Gia Long thứ 7, tổng Tân An được nâng lên thành huyện bao gồm hai tổng: Tân Minh thuộc cù lao Minh (có 72 thôn), An Bảo thuộc cù lao Bảo (có 63 thôn) [43,19]
Năm 1823, đời vua Minh Mạng, lại thay đổi lần nữa, huyện Tân An đổi thành phủ Hoằng An (thuộc trấn Vĩnh Thanh), thăng tổng Tân Minh làm huyện Tân Minh và tổng An Bảo đổi thành huyện Bảo An Sự phân chia ranh giới tổng và thăng tổng thành huyện có thể cho ta một phỏng định là đã kéo theo sự phân chia thăng cấp các xóm thôn Mỗi lần lập địa bạ hoặc đại tu điền bộ, luôn có việc điều chỉnh, sát nhập, chia ra hoặc lập thêm các đơn vị hành chính như: Phủ, huyện, thôn, trại… một ví dụ là thời Minh Mạng, tại trung tâm thị xã hiện nay là trại Na Nguyên, kề bên là thôn Phú Lợi Sau đó trại Na Nguyên lập thành thôn Bình Nguyên, về sau sát nhập thôn Bình Nguyên và Phú Lợi thành làng Bình Phú, cùng các làng Bình Phú, Mỹ An, Phú Khương nhập lại thành làng mới có tên là An Hội cho đến sau này Có các thôn rất nhỏ như cù lao Phụ Long (ở Tiên Thuỷ – Châu Thành) sau đổi thành thôn Phú Long rồi sát nhập với thôn Tân Lợi thành làng Tân Phú, sau thành xã Tân Phú (huyện Châu Thành hiện nay)
Các thôn, trại khác trên vùng đất Bến Tre trong quá trình khai phá và phát triển cũng đều có tình trạng thay đổi như trên Như vậy, ta thấy việc thay đổi vị trí của một đơn
vị hành chánh, đồng thời cũng kèm theo việc thay đổi hoặc đặt mới tên gọi của đơn vị hành chánh ấy
Đến đầu thế kỷ XIX, vùng Bình Đại (cù lao An Hoá) đã có dân cư đông đúc, làng mạc rải rác ở nhiều nơi như làng Long Định, Lộc Thuận, Long Thạnh, Thới Thuận, nơi đây là những con giồng cao, lưu dân đến khai phá trước tiên, cũng là nơi khẩn hoang có kết quả tốt, đất tốt
Đến cuối thế kỷ XVIII, hệ thống làng xã ở vùng đất Bến Tre được hình thành và ngày càng ổn định Sự hình thành những thôn, xóm, làng trù phú đông vui trên vùng đất
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 26hoang vu, sình lầy, chính từ đó cho chúng ta hiểu hiết thêm thành quả của quá trình lao động khẩn hoang đầy gian khổ của cư dân trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận sự nỗ lực của các chúa Nguyễn – vua Nguyễn trong việc tổ chức có quy củ hệ thống hành chính các cấp trong việc ổn định làng xã ở Nam Bộ, trong đó có làng xã của Bến Tre
Trong quá trình lao động, cư dân đã biến vùng đất hoang vu, rừng rậm, sình lầy thành ruộng vườn trù phú, làng xóm đông vui Tên gọi của những làng xã đã nói lên
phần nào quá trình đó Theo nghiên cứu trong sách Gia Định Thành thông chí; Đại Nam nhất thống chí; Địa bạ triều Nguyễn đời vua Minh Mạng, chúng ta thấy từ buổi sơ khai các tổng trên cù lao Minh đều mang chữ Minh, các tổng trên cù lao Bảo đều mang chữ Bảo, các tổng trên cù lao An Hoá đều mang chữ Hoá Còn các thôn hầu hết đều có những
tên với các mỹ từ như: Hoà, An, Mỹ, Phú, Bình, Tân, Phước, Lộc, Hưng, Thạnh, Thới, Long, Vĩnh, Quý (hay Quới), Vinh, Thành, Lương Đức, Khánh, …
Những mỹ từ đặt tên cho thôn, làng, tổng… nói lên mơ ước và nguyện vọng của
người xưa “Quốc thới dân an”, “thái bình thạnh trị”, “phong hòa vũ thuận”, ai cũng
mong muốn làng xóm bền vững yên vui no ấm mãi mãi cho con cháu đời sau (xin xem phụ lục)
5 Quá trình cộng cư của các thành phần cư dân trên đất Bến Tre
Như phần trên đã đề cập, xét về nguồn gốc cư dân, những con người đầu tiên đặt chân tới vùng đất Bến Tre, vốn từ nhiều thành phần trong đó người Việt là dân tộc đa số Bến Tre cũng có một ít người Khơme sinh sống trên một số địa bàn trước khi lưu dân người Việt đến lập nghiệp Thời gian sau có thêm một số ít người Minh Hương, người trung Hoa, người Aán Độ và người Âu Châu
Ngay trong những buổi đầu khai phá các thành phần cư dân đã sống chung, xen kẽ với nhau Lìa bỏ quê hương bản quán đi tìm đất sống, những người tha hương cầu thực đã chấp nhận một cuộc chiến đấu mới cực kỳ gian nan nguy hiểm Cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ đó đòi hỏi một sự liên kết rộng rãi của những người “tứ chiếng” để tạo ra một sức mạnh cộng đồng và sự quần cư trong các làng xã, để rồi “tình làng nghĩa xóm” ngày thêm thấm đẫm, trong đó nổi bật lên ý thức cộng đồng
Thuở ban đầu chinh phục vùng hoang vắng, chống thú dữ, chưa quen thuỷ thổ… tự họ phải nhanh chóng hội nhập và hoà đồng để hình thành một cộng đồng xã hội ổn định, phải sống quần cư thành từng xóm gắn bó với nhau để tương trợ đùm bọc lẫn nhau Công cuộc phá đất lập vườn biến cồn hoang, rừng rậm, bãi bùn ngập nước thành vườn tược khang trang trù phú, đòi hỏi một sự lao động vô cùng nặng nhọc, phải có những con người cường tráng, có quyết tâm, biết tổ chức lao động tập thể để đạt hiệu suất cao Tình làng nghĩa xóm, lao động tập thể đã làm cho ý thức cộng đồng của người dân khai hoang ngày thêm củng cố trên vùng đất cù lao này Quá trình lao động gian khổ càng làm cho con người thiết tha gắn bó với đất đai, với mảnh vườn do chính họ làm nên
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 27Quá trình di dân cộng cư diễn ra một cách tự nhiên, cũng chính là quá trình tạo nên cộng đồng dân cư và dân tộc, tự nó đã quy tụ những năng lực và tính cách phong phú cho lớp tiền nhân tiên phong đi mở đất Tự nó đã hình thành nên đời sống văn hoá, tinh thần phong phú, phong tục tập quán, thói ăn nết ở, quan niệm sống, cách ứng xử xã hội, ứng xử với thiên nhiên Họ đã mang đến đây một đời sống xã hội đa màu đa sắc, theo quy luật hội tụ giao thoa, kết tinh, lan toả trong quá trình đấu tranh cực kỳ gian khổ, khắc phục vô vàn khó khăn để xây dựng xứ sở cù lao này
Trên vùng đất Bến Tre, chủ lực là người Việt, mặc dù họ là số đông nắm ưu thế về chính trị, quyền lực, nhưng người Việt không kỳ thị Trong giới bình dân giữa người Việt và người Khơme rất gần gũi nhau, như họ thường gặp gỡ nhau để uống rượu, trao đổi hàng hoá, trao đổi học tập nhau về kinh nghiệm sản xuất, chỉ cho nhau những dụng cụ thích hợp với đất đai, thời tiết Như trường hợp chiếc phảng dùng để phát cỏ, chiếc nóp được bện bằng đệm để ngủ, cái cà ràng vốn của người Khơme, người Việt đã cải tiến thành những dụng cụ thích hợp hơn cho nhà nông ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ở Bến Tre nói riêng Ông Nguyễn Văn Sâm 73 tuổi ở ấp Phong, xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú kể: “Hồi xưa, mỗi năm vào lễ Kỳ Yên ở các đình làng của người Việt, mặc dù lễ này không phải là tập tục của người Khơme, thậm chí họ cũng không hiểu rõ nội dung, tính chất của ngày lễ Kỳ Yên, nhưng họ vẫn vui vẻ sẵn sàng đến chung vui, giải trí, ăn uống” Trong quá trình cùng chung sống người Khơme cũng đã thực hiện việc chôn cất người chết theo tập tục như người Việt, ngược lại, một bộ phận người Việt có thực hiện việc hoả táng, gửi tro cốt của người quá cố ở chùa theo phong tục của người Khơme Món canh chua của người Khơme qua kỹ thuật nấu ăn của người Hoa rồi đến sự khéo léo của người Việt đã đạt tới mức ngon như hiện nay Chiếc áo “bà ba” là trang phục vốn có của người Việt, qua thời gian năm tháng đã trở thành trang phục phổ biến đối với nhiều dân tộc ít người Hay như món mắm ba khía của người Khơme được người Việt chế biến rất độc đáo chỉ có ở vùng Thạnh Phú, Bến Tre Trong quá trình cộng cư, người Khơme – người Hoa dần dần sử dụng tiếng Việt một cách phổ biến Sự bình đẳng, sự gần gũi của họ đã thể hiện rõ rệt trong cách xưng hô: những từ ổng, bả, ảnh, chỉ, bà xã, ông xã, má bầy trẻ… rất mộc mạc và chân chất pha lẫn sự thân tình đầm ấm
Sự giao lưu, giao thoa, tiếp biến văn hóa Việt - Khơme – Hoa diễn ra tự nhiên, thuận chiều và êm thắm theo dòng chảy của lịch sử Người Việt vốn bản chất hiền hoà, ít khi có sự kỳ thị về chủng tộc và văn hóa, mong muốn tìm một chốn dung thân và làm ăn yên ổn, có lẽ đó là điều mà cả người Việt, người Khơme và người Hoa đều mơ ước Chính từ đó đã củng cố tình đoàn kết gắn bó nhau giữa các dân tộc cùng chung sống trên vùng đất cù lao này.
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 28CHƯƠNG II
DIỆN MẠO KINH TẾ – XÃ HỘI VÙNG ĐẤT BẾN TRE
TRONG CÁC THẾ KỶ XVII – XIX
1 Các điều kiện tự nhiên – hành chánh dân cư và vấn đề kinh tế – xã hội vùng đất Bến Tre:
1.1- Điều kiện tự nhiên Bến Tre với vấn đề phát triển kinh tế:
1.1.1- Địa hình:
* Địa hình Bến Tre mang nét đặc trưng của địa hình đồng bằng châu thổ
Toàn bộ địa hình Bến Tre là ba cù lao thấp và bằng phẳng Địa hình có độ cao trung bình từ 1-2m so với mực nước biển, có xu hướng thấp dần từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam Bề mặt địa hình cũng có tác động đến thời gian và mức độ ngập nước theo thủy triều hàng ngày, nên ảnh hưởng đến quá trình phát triển đất đai và sản xuất nông nghiệp
* Địa hình tỉnh Bến Tre chịu sự chia cắt của các nhánh cửa sông Tiền tạo thành nhiều cù lao
Hệ thống sông rạch chằng chịt đã chia địa hình Bến Tre thành ba cù lao lớn: cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hóa Ngoài ra còn có rất nhiều cù lao (hay cồn) dọc trên các sông lớn, chúng được hình thành do sự bồi tụ phù sa trong mối tương tác không ngừng giữa sông và biển
* Địa hình các giồng cát (thường gọi là giồng) là một dạng phổ biến trên bề mặt địa hình Bến Tre
Giồng cát là kết quả tác động của dòng sông và sóng biển trong quá trình lấn biển của vùng cửa sông nên có thành phần cấu tạo chủ yếu là cát mịn hoặc cát pha Các giồng thường có dạng vòng cung (hay rẻ quạt), có độ cao từ 3 – 5m, song song nhau và song song với đường bờ biển Do có chứa nước ngọt nên trên các giồng là địa bàn cư trú chủ yếu của nhân dân vùng ven biển
* Những bãi bồi rộng chủ yếu ở bờ biển Bến Tre
Ở tất cả các cửa sông đều có những bãi cát bồi rộng với thành phần chủ yếu là bùn hoặc cát, ở độ sâu từ 1 – 2,5m khi triều rút bãi bồi nổi trên mặt nước trải rộng ra xa cách bờ biển đến hàng ngàn mét Đây là điều kiện thuận lợi cho phù sa sông có thể bồi tụ nhanh chóng Các bãi bồi còn thuận lợi cho việc phát triển nuôi thủy sản nước mặn (sò, nghêu)
Trang 29và quá trình khai phá cù lao hoang vắng, ngập nước, sình lầy, trầm thủy…Người khai phá đã cải tạo đất, đất đai và cuộc sống đã hình thành trên đó
Do từng điều kiện hình thành cụ thể mà đất đai ở Bến Tre được phân hóa thành 4 nhóm chính: đất phù sa; đất mặn; đất phèn và đất cát
Bến Tre có tiềm năng đất đai đa dạng phong phú để phát triển sản xuất theo mô hình nông – lâm – ngư nghiệp đồng bộ và hợp lý Bến Tre lại có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế vườn (bao gồm vườn cây ăn trái, vườn cây công nghiệp (dừa, mía) Đất cù lao là đất phù sa màu mỡ nhất, con người có khả năng cải tạo vùng nê địa thành đất trồng trọt có đủ nước tưới quanh năm mà không sợ bị ngập úng Đồng thời một số vùng thấp cũng vẫn duy trì được sản xuất lương thực ở mức an toàn Đất lấn dần ra biển hàng năm, tạo điều kiện thuận lợi phát triển thủy sản, lâm nghiệp…
1.1.3- Khí hậu:
Vị trí địa lý quyết định tính chất của khí hậu Bến Tre có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo và chịu ảnh hưởng của biển Nhiệt độ trung bình từ 260C-270C, ảnh hưởng gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11 và gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, tạo nên 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô hạn
Độ ẩm trung bình từ 83% đến 90% trong mùa khô, số giờ nắng trung bình là 2.696 giờ Do có gió từ biển Đông thổi vào nên thời tiết vẫn dịu mát vào mùa nắng
Các số liệu cho ta thấy yếu tố khí hậu ở Bến Tre hiền hòa, thuận lợi, ít có những diễn biến đột ngột thất thường, tốt cho sức khỏe con người, thích hợp cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi nhờ vào ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm
Tuy nhiên, Bến Tre cũng gặp những khó khăn là do thời tiết nóng ẩm nên dễ bị phát sinh nạn sâu bệnh, dịch bệnh, nấm mốc quanh năm Khó khăn nữa là vào mùa gió chướng (tháng 12 – 4 năm sau) làm dâng mực nước triều, làm mặn xâm nhập sâu hơn vào nội địa, làm nhiễm mặn đồng ruộng nhất là các vùng gần biển, gây trở ngại đáng kể trong sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng
1.1.4- Hệ thống sông rạch:
Từ xưa Bến Tre có mạng lưới sông rạch chằng chịt nằm trong hệ thống các nhánh của sông Tiền: sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên
Ngoài ra Bến Tre còn có một mạng lưới sông nhỏ khác chằng chịt nối liền nhau như mạch máu, là yếu tố rất quan trọng trong việc tưới tiêu, giao thông đường thủy, khai thác nguồn thủy sản, cho sinh hoạt của con người và gia súc, tạo phong cảnh thiên nhiên xinh đẹp Sông rạch còn đóng vai trò bù đắp phù sa hàng năm cho đất, tạo nên sự trù phú đất đai ở một số vùng Hệ thống sông rạch dày đặc cũng gây trở ngại nhiều cho giao thông đường bộ
Trang 30nguồn do các nhánh sông Cửu Long đưa về, mà còn do thủy triều của biển Đông xâm nhập sâu vào trong đất liền theo các cửa sông
Bến Tre có chế độ triều biển Đông là chế độ bán nhật triều không đều, biên độ triều trong năm trung bình từ 2 đến 2,4m Thủy triều có vai trò rất lớn trong việc tưới tiêu, tháo chua rửa mặn trên đồng ruộng, đưa tàu thuyền có trọng tải lớn vào bến, chăn nuôi gia súc, gia cầm Sự truyền triều vào sông cũng tạo nguồn thủy sinh vật vùng cửa sông phong phú thêm Tuy nhiên, sự nhiễm mặn là một vấn đề phức tạp có ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, làm trở ngại cho giao thông đường bộ
Do là nơi giao lưu sông biển và chế độ thủy văn ấy nên ở vùng đất Bến Tre đặc điểm tự nhiên chia làm 3 vùng sinh thái: ngọt, lợ, mặn
Do đó, từ xưa nền sản xuất của vùng đất Bến Tre là đa dạng phong phú, có nhiều loại sản phẩm nông nghiệp chứ không chỉ độc canh cây lúa như một số nơi khác
1.2 Điều kiện hành chính – dân cư:
1.2.1- Điều kiện địa lý hành chính:
Bến Tre có đặc điểm vị trí địa lý khá đặc thù, là vùng giao lưu sông biển nên vùng đất Bến Tre có những lợi thế đồng thời cũng có những hạn chế so với các tỉnh trong đồng bằng sông Cửu Long
Vùng đất Bến Tre có một vị thế địa – chính trị, địa – văn hóa hội tụ hai đặc điểm: thứ nhất vùng đất cù lao này như một hòn đảo nằm trong một vùng đồng bằng châu thổ lớn Thứ hai lại có vị trí đầu cầu giáp biển án ngữ cửa sông, có thể xem vùng đất cù lao này là nơi cuối cùng của dòng sông Cửu Long chảy ngang qua trước khi đổ ra biển, đồng thời cũng là nơi đầu cầu từ biển đổ vào sông, để rồi chảy ngược lên xa hơn trong vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn Chính đặc điểm này sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển kinh tế cũng như kho tàng văn hóa Bến Tre, từ sự đan xen tới sắc thái riêng
Từ vị trí ba cù lao, Bến Tre có thể đến miền Tây, miền Đông Nam Bộ, ra miền Trung, miền Bắc và xuống vùng mũi Cà Mau bằng ghe thuyền đi sông đi biển, đi ngược lại người ta cũng sử dụng phương tiện tương tự, tàu bè từ Sài Gòn xưa đi về miền Tây và ngược lại đều qua đất Bến Tre
Với vị trí có điều kiện giao thông đường thủy thuận lợi với các vùng đất khác, người Bến Tre đã sớm mở rộng sự giao lưu với bên ngoài, việc buôn bán trao đổi sản phẩm phát triển sớm và khá nhộn nhịp Người dân vùng đất Bến Tre có điều kiện đi nhiều nơi, đó là một điều thuận lợi để tiếp xúc, học hỏi, buôn bán, trao đổi kinh nghiệm, giao lưu văn hóa làm giàu thêm kiến thức tạo nên sắc thái “văn minh miệt vườn” khá độc đáo không phải tự nhiên mà có được Nghề đóng ghe, nghề lưới rê, giàn đáy sông cầu, kỹ thuật đánh bắt tôm cá đạt năng suất cao của ngư dân miệt biển, nghề chiết cành ghép cây ở Cái Mơn (Chợ Lách), xây cất nhà cửa, dệt lụa, làm bánh mức, nấu ăn là những minh chứng cho điều đó Nhưng đó là sự sáng tạo chứ không hoàn toàn mô phỏng
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 31vụng về, cư dân ở vùng đất này đã chứng tỏ có đủ sinh lực để hấp thụ, tiếp thu, tiếp biến và sáng tạo
1.2.2- Các điều kiện về dân cư:
Đặc điểm địa lý – hành chính của Bến Tre có liên quan trực tiếp đến nguồn gốc
cư dân và quá trình khai phá những cù lao hoang vắng trở thành đất đai xóm làng trù phú Dân cư của Bến Tre là cộng đồng các tộc người (Việt, Hoa, Khơme), thời gian về sau, người Hoa, người Khơme chỉ còn lác đác Năm 1901, người Khơme chỉ còn 184 người ở vùng đất Bến Tre, năm 1945 trở đi người Khơme không còn nữa [59,54]
Bảng thống kê dân số vùng đất Bến Tre theo tài liệu Địa phương Chí tỉnh Bến
Tre, tài liệu dịch của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng
Năm
Dân số chung trong vùng (người)
Người Việt (người)
Người Minh Hương (người)
Người Hoa (người)
Ngoài những thành phần cư dân quan trọng này, còn có thêm 35 người Aán Độ và
165 người Pháp sống tập trung buôn bán nơi trung tâm
Theo số liệu thống kê trên, chúng ta biết được rằng trong thời gian 70 năm, từ năm 1859 dân số của tỉnh là 110.000 người đến năm 1929 là 315.000 người, có nghĩa là dân số ngày càng tăng theo quá trình khai phá xây dựng
Vùng đất Bến Tre là nơi đất lành chim đậu, là nơi cây xanh trái ngọt Những lưu dân trong quá trình đi tìm “mảnh đất lành” đã cùng nhau sinh tụ trên dải đất ba cù lao màu mỡ này Ba dân tộc Việt, Khơme, Hoa có quá trình đoàn kết lâu dài, chung sức chung lòng khai hoang mở đất, chống thiên tai ác thú và ngoại xâm, xây dựng cải tạo mảnh đất cù lao thành trù phú Họ sống xen kẽ nhau trong các làng xã, thôn xóm, việc cưới vợ lấy chồng giữa ba dân tộc là một tập quán bình thường Điều này có ý nghĩa quan trọng cho quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa, làm nên những sắc thái riêng của quá trình hình thành và phát triển bản sắc và truyền thống văn hóa địa phương Đây còn là cơ sở tạo nên sự đa dạng và phong phú về kiến thức, hoạt động sản xuất, kinh nghiệm phát triển nghề nghiệp, cách cư xử, cách ăn, ở, mặc, các phong tục tập quán…
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 32Người Bến Tre còn có truyền thống thông minh hiếu học, cần cù siêng năng, sáng tạo trong lao động sản xuất Chính do đặc điểm này mà trong vòng ba thế kỷ đã biến ba cù lao hoang vắng thành ruộng vườn xanh tươi Đây thật sự là một kỳ công lao động của các thế hệ đã nối tiếp nhau khai phá vùng đất Bến Tre
2 Tình hình chính trị:
2.1- Sự thay đổi cương vực hành chính từ 1757 – 1867:
Năm 1757, vùng đất Bến Tre đầu tiên được thành lập là tổng Tân An thuộc châu
Định Viễn, dinh Long Hồ, Phủ Gia Định, với khoảng gần một trăm thôn trại
Năm 1802, triều Nguyễn thời vua Gia Long đổi Gia Định Phủ thành Gia Định
Trấn, tổng Tân An thuộc Vĩnh Trấn Dinh của Gia Định Trấn
Đến năm 1808, Gia Long năm thứ 7, châu Định Viễn được thăng lên thành phủ
Định Viễn, tổng Tân An được đổi thành huyện Tân An thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh
Thanh Huyện Tân An có hai tổng: Tân Minh và An Bảo với 135 thôn
Đời vua Minh Mạng năm thứ 4 (1823), chia đất huyện Tân An làm hai huyện Tân Minh (cù lao Minh) và Bảo An (cù lao Bảo), đặt phủ Hoằng An cai quản 2 huyện này
Minh Mạng năm thứ 13 (1832), trấn Vĩnh Thanh đổi lại là tỉnh Vĩnh Long, phủ Hoằng An (phần đất Bến Tre) vẫn thuộc về tỉnh Vĩnh Long Lúc này tỉnh Vĩnh Long chia lập thành 3 phủ: phủ Định Viễn, phủ Hoằng An và phủ Lạc Hóa
Năm Minh Mạng thứ 18 (1837), phủ Hoằng An lại chia thành 2 phủ: Hoằng Đạo (cù lao Bảo) và Hoằng An (cù lao Minh) Phủ Hoằng Đạo có 2 huyện: Bảo Hựu và Bảo
An, phủ Hoằng An có 2 huyện: Tân Minh và Duy Minh
Đời Thiệu trị năm thứ 4 (1844) lại đổi tên phủ Hoằng Đạo thành phủ Hoằng Trị, phủ Hoằng An vẫn giữ y như cũ
Đến đời vua Tự Đức năm thứ 4 (1851), hai phủ hợp nhất thành một phủ lấy tên là phủ Hoằng Trị gồm cả 4 huyện, 152 thôn ở 2 cù lao Bảo và Minh trực thuộc tỉnh Vĩnh Long cho đến khi thực dân Pháp chiếm đóng (1867)
Về cù lao An Hóa (huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre sau này):
Cù lao An Hóa khi xưa là vùng đất phía cực Nam của tỉnh Định Tường, có địa giới giáp sông Ba Lai, về sau là một phần đất của Bến Tre, từ thế kỷ XVIII có sự thay đổi như sau:
Năm 1781, cù lao An Hóa thuộc tổng Kiến Hòa, huyện Kiến An, trấn Định Dinh Năm 1808, vùng này thuộc tổng Hoà Bình, huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, trấn Định Tường
Đến đời vua Minh Mạng thứ 13 (1832), trấn Định Tường đổi làm tỉnh Định Tường với 2 phủ và 4 huyện, huyện Kiến Hòa được giữ y như cũ, cù lao An Hóa với 2 tổng Hoà Quới và Hòa Thinh vẫn thuộc huyện này
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 33Sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ thì cù lao An Hóa vẫn còn là đất của tỉnh Định Tường Còn bên này sông Ba Lai, cù lao Bảo và Minh là vùng đất độc lập thuộc phủ Hoằng Trị tỉnh Vĩnh Long, một trong 3 tỉnh miền Tây còn dưới sự cai trị của triều đình nhà Nguyễn
Cù lao Minh và cù lao Bảo thuộc phủ Hoằng Trị tỉnh Vĩnh Long và cù lao An Hoá tỉnh Định Tường về sau là những bộ phận hợp thành tỉnh Bến Tre
2.2- Sự thay đổi cương vực hành chính từ 1867 về sau:
Sau khi chiếm được Nam Kỳ vào năm 1867, chính phủ Pháp tiến hành tổ chức bộ máy cai trị ở Nam Kỳ, biến Nam Kỳ thành đất thuộc địa
Năm 1867 tỉnh Vĩnh Long chia thành 3 địa hạt: hạt Vĩnh Long; hạt Lạc Hóa; hạt Hoằng Trị” [14,88]
Phủ Hoằng Trị (Bến Tre) của tỉnh Vĩnh Long đổi thành địa hạt Hoằng Trị với 26 tổng, 192 làng, có 4 huyện nằm trên địa bàn 2 cù lao Minh và cù lao Bảo dưới quyền cai trị trực tiếp của một viên tham biện hay còn gọi là thanh tra hành chính người Pháp (Inspecteur), lỵ sở đặt tại Bến Tre
Tháng 12/1867, hạt Hoằng Trị lại chia ra làm 2 sở tham biện Bến Tre và Mỏ Cày Người Pháp đặt hai sở tham biện tại làng An Hội và tại Mỏ Cày để cai trị phần đất hai cù lao Bảo và Minh hiện nay
Năm 1871, chính quyền của người Pháp lại quyết định sát nhập 2 sở tham biện Bến Tre và Mỏ Cày thành sở tham biện Bến tre Ngày 5/6/1871, chúng dời sở tham biện tại làng An Hội (Bến Tre) về Mỏ Cày và đến ngày 2/9/1871, chúng lại dời về làng An Hội (tức thị xã Bến Tre ngày nay) về phía cù lao An Hóa, người Pháp cũng sắp xếp lại các sở tham biện, khi ấy cù lao An Hóa thuộc về sở tham biện Mỹ Tho
Đến năm 1876, Pháp đã bãi bỏ hẳn cấp tỉnh cũ (dù lúc này chỉ còn là danh nghĩa tượng trưng) Ngày 5/1/1876, tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp tại Nam Kỳ ra nghị định phân chia Nam Kỳ thành vùng hành chính bao gồm 4 khu vực (Sài Gòn; Mỹ Tho; Vĩnh Long và Bát Xác Khu vực Vĩnh Long gồm có 4 hạt: Vĩnh Long; Bến Tre; Trà Vinh và Sa Đéc
Lỵ sở của hạt Bến Tre (Bến Tre) đặt tại hữu ngạn sông Bến Tre, nơi có Tòa Bố, Bưu Điện, trường Tiểu học và chợ Bến Tre Người Pháp lấy tên đất nơi đặt lỵ sở làm tên hạt và sau này là tên tỉnh: tỉnh Bến Tre, khi ấy cù lao An Hóa vẫn còn là vùng đất của Mỹ Tho với 2 tổng Hòa Thinh và Hòa Quới
Năm 1899, các hạt đổi thành tỉnh, toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh chia ra làm 20 tỉnh Vĩnh Long cũ thời triều Nguyễn nay là 3 tỉnh: Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh Việc đổi từ hạt lên thành lập tỉnh, do quyết định của nhà cầm quyền Đông Dương kể từ ngày 20/12/1899 và quyết định này có hiệu lực pháp lý bắt đầu từ ngày 1/1/1900.Như vậy, hạt Bến Tre gồm có 2 cù lao Minh và cù lao Bảo nay chính thức thành đơn vị hành chính cấp tỉnh bao gồm 21 tổng và 144 làng
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 34Từ năm 1899 đến năm 1945, Bến Tre là một tỉnh với hai cù lao Minh và cù lao Bảo, từ năm 1948 sát nhập cù lao An Hóa
Từ đây tỉnh Bến Tre bao gồm 3 cù lao: cù lao Minh, cù lao Bảo và cù lao An Hóa Như vậy, Bến Tre gồm ba dải cù lao nằm kẹp giữa các sông lớn của dòng sông Cửu Long
Ngày 30/4/1975, Bến Tre cùng cả nước độc lập Từ năm 1976 đến nay Bến Tre là một trong các tỉnh ở khu vực miền Tây Nam Bộ
Bảng tóm tắt địa danh – địa giới hành chính vùng đất Bến Tre
các thời kỳ lịch sử:
Năm Tên gọi vùng đất Bến Tre lúc ấy Đơn vị hành chính trực thuộc Ghi chú
1757
Đất Trà Vang (Trà Bến Tre) và Ba Thắc (Sóc Trăng – Bạc Liêu) sáp nhập vào bản đồ nước Nam
Vinh-Các chúa Nguyễn đã đặt xong cơ sở hành chính khắp địa bàn Nam Bộ
1779 Tổng Tân An
Châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định
Vị trí của hai cù lao Minh và Bảo
1808 Huyện Tân An Phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh, Gia
Định Thành
Gồm có 2 tổng: Tân Minh và An Bảo
1823 Phủ Hoằng An Trấn Vĩnh Thanh
Tổng thành huyện, có 2 huyện: Tân Minh, Bảo
1837 Phủ Hoằng An và phủ Hoằng Đạo Tỉnh Vĩnh Long
1844 Phủ Hoằng Trị và phủ Hoằng An Tỉnh Vĩnh Long
1851 Phủ Hoằng Trị Tỉnh Vĩnh Long Gồm 4 huyện: Bảo Hựu, Bảo An, Tân
Minh, Duy Minh gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 351867
Sở Tham Biện Bến Tre (Inspection) và sở Tham Biện Mỏ Cày
Trong số 24 Sở Tham Biện ở Nam Kỳ
Gồm 2 cù lao Minh và Bảo
1871 Sở Tham Biện Bến Tre Trong số 18 Sở Tham Biện ở Nam
Kỳ
Sở Tham Biện Mỏ Cày
bị bãi bỏ cùng 6 sở Tham Biện khác
1876 Hạt (arrondissement) Bến Tre
Thuộc hạt III, tức hạt Vĩnh Long (Criconscription)
1900 Tỉnh Bến Tre Cù lao An Hóa vẫn thuộc tỉnh Mỹ Tho
1945 - Trước CMT8, tỉnh Bến Tre
- Từ tháng 9, tỉnh Đồ Chiểu
- Nam Kỳ
- Nam Bộ
Cù lao An Hóa, 6 xã phía chót cù lao Minh nhập vào tỉnh Bến Tre
1956 - Tỉnh Kiến Hòa
- Tỉnh Bến Tre
- Nam phần (chính quyền Sài Gòn)
- Nam Bộ (cách mạng)
Tỉnh Bến Tre gồm cả 3 cù lao An Hóa, Minh và Bảo
1975 Tỉnh Bến Tre
Trong số 40 tỉnh thành cả nước, một trong các tỉnh ở miền Tây Nam Bộ
* Ở Trung ương: mỗi dinh có 3 ty:
- Ty xá sai: giữ việc giấy tờ, kiện cáo do đô tri và ký lục đứng đầu
- Ty tướng thần: coi việc thu thuế và phát lương bổng cho quan lại, quân lính các dinh do cai bạ đứng đầu
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 36- Ty lệnh sử: giữ việc tế tự, lễ tiết và phát lương cho quân lính ở chính dinh do Nha Úy đứng đầu
Đến đời Nguyễn Phúc Khoát, các ty được thay bằng các bộ: ty xá sai thành bộ Lại, bộ Hình, ty Lệnh Sử thành bộ Lễ, ty Tướng Thần thành bộ Hộ Thêm hai bộ mới là bộ Công và bộ Binh, còn cả một hệ thống quan lại chuyên việc thu thuế gọi là Bản Đường Quan
* Ở Địa phương: Đứng đầu dinh là trấn thủ, dưới là tri phủ, tri huyện ở các xã có hai loại quan: tướng thần và xã trưởng (tùy theo xã lớn hoặc nhỏ mà có số chức định tương ứng)
Các nhà sử học nhận xét: Bộ máy quan lại chưa phải là một tổ chức chính quyền đầy đủ mà chỉ mang ý nghĩa tài chính, tổ chức thu thuế cho chúa Nguyễn
Các chúa Nguyễn lần lượt bành trướng lãnh thổ xuống phía Nam, thôn tính Champa, xâm lấn Chân Lạp, tình hình cứ thế tiếp diễn cho đến 1757, cả vùng đất Thủy Chân Lạp hoàn toàn thuộc chúa Nguyễn Năm 1757, đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), vùng Bến Tre mới được sáp nhập vào dinh Long Hồ, tức vào bản đồ nước Nam
Thời bấy giờ, ở phía hữu ngạn rạch Bến Tre (thuộc cù lao Bảo, gần rạch Cá Lóc hiện nay), chúa Nguyễn cho quan địa phương cất cái trạm để thu thuế và kiểm soát thuyền bè qua lại trên sông Trạm này được gọi là “Bến Thuế” (hiện nay nơi này là Bến Lỡ tại chợ Bến Tre)
Hệ thống bản đường quan của bọn quan lại thu thuế được phép thu thêm một số tiền gạo để làm ngụ lộc Chính sách cấp bổng lộc của chúa Nguyễn như vậy càng thúc đẩy cho bọn quan lại các địa phương tha hồ đục khoét, sách nhiễu nhân dân
Năm 1732, đặt châu Định Viễn, lập dinh Long Hồ, năm 1756 đặt Mỹ Tho vào châu Định Viễn, năm 1757 đặt đạo Đông Khẩu, Tân Châu và Châu Đốc
“Tháng 10 mùa đông năm Kỷ Hợi (1779), Nguyễn Aùnh cho họa địa đồ chia cắt địa giới 3 dinh Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định) và Long Hồ (Vĩnh Long, An Giang) cho liên lạc nhau, nhân đó lấy địa bàn “tọa lạc tại xứ Mỹ Tho đặt làm dinh Trường Đồn, để lỵ sở Giồng Cai Yến [20,17] Bấy giờ Bến Tre là tổng Tân An, châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định, vị trí tổng Tân An là vị trí của hai cù lao Bảo và Minh sau này
Tiếp quản sự nghiệp dòng họ từ các chúa Nguyễn (từ 1558 đến 1776) Nguyễn Aùnh sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn đã lên ngôi hoàng đế năm 1802, niên hiệu là Gia Long, đánh dấu sự khôi phục nền thống trị của dòng họ Nguyễn Các vua Nguyễn xây dựng nhà nước theo thiết chế quân chủ chuyên chế, tập trung mọi quyền hành trong tay nhà vua Để thống nhất quyền hành từ triều đình xuống tới xã thôn, các vua Nguyễn tiến hành phân chia lại các khu vực hành chính khác hẳn trước, định lại bản đồ trong nước và tổ chức một hệ thống quan lại chằng chịt ở các địa phương, bằng cách dựa vào tầng lớp
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 37địa chủ phú hào ở nông thôn để tổ chức ra một hệ thống cai trị chặt chẽ hơn ở các xã thôn
Vua Nguyễn đặt chức tổng trấn và phó tổng trấn để cai trị mọi việc, trông coi cả năm trấn Ở các trấn thì đặt các quan lưu trần hay là quan trấn thủ, quan cai bạ và quan ký lục để cai trị trong trấn Trấn lại chia ra làm phủ, huyện đặt dưới quyền tri phủ, tri huyện Ba vị tổng trấn trong thời Gia Long mà chúng ta được biết qua các tài liệu lịch sử để lại đó là:
- Kinh môn quận công: Nguyễn Văn Nhân từ năm 1804 đến 1805
- Chưởng tả quân Lê Văn Duyệt từ 1805 – 1815
- Kiến chương quận công: Nguyễn Huỳnh Đức từ 1816 – 1819 [49,22]
Sang thời Minh Mạng, tính chất chuyên chế phát triển cao độ Bắc Thành và Gia Định thành bị bãi bỏ cả nước được chia làm 29 tỉnh (sau lại chia thêm thành 31 tỉnh), miền Nam Việt Nam có 6 tỉnh (lục tỉnh): Gia Định; Biên Hòa; Vĩnh Long (Vĩnh Thanh cũ); Định Tường; An Giang; Hà Tiên, từ đây Vĩnh Thanh được gọi là tỉnh Vĩnh Long
Đứng đầu mỗi tỉnh là một quan Tuần phủ, dưới quan Tuần phủ có Bố chánh, Aùn sát, Lãnh Binh Bố chánh sứ đảm nhiệm việc hộ, Án sát sứ là chức quan coi việc hình án kiêm cả việc trạm dịch, bưu tuyến, là việc chuyển giao thư tín công văn Phụ trách liên tỉnh (2-3 tỉnh) có một quan Tổng đốc Liên tỉnh Định Tường – Vĩnh Long có một vị quan tổng đốc quản trị (gọi là tổng đốc Long Trường)
Đến triều vua Tự Đức, tỉnh Vĩnh Long (trong đó có Bến Tre) ranh giới vẫn giữ như cũ, chỉ có vài thay đổi nhỏ không đáng kể so với thời vua Thiệu Trị
Năm 1850, vua Tự Đức đặt thêm chức Kinh lược đại sứ Nam Kỳ để quản lý các tỉnh thay mặt cho triều đình trông coi việc cai trị miền Nam, kiểm soát các Tổng đốc, Tuần phủ và tất cả các quan kiêm quyền Tổng đốc Gia Định – Biên Hòa và Tổng đốc Vĩnh Long – An Giang Đến năm 1851, Phan Thanh Giản được cử giữ chức quan Kinh lược phó sứ, làm phụ tá cho Nguyễn Tri Phương
Những quan chức đứng đầu tỉnh Vĩnh Long lúc đó là Tổng đốc Trương Văn Uyển, Bố Chánh Lê Đình Đức, Aùn Sát Võ Doãn Thanh, Lãnh Binh Tôn Thất Thoan… trong coi mọi việc trong tỉnh Đến tháng 9 năm 1865, Phan Thanh Giản được cử làm Kinh lược đại thần ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long – An Giang – Hà Tiên), trụ sở của Phan Thanh Giản đặt tại thành Vĩnh Long Quan Đốc học tỉnh Vĩnh Long lúc đó là Nguyễn Thông, người thân cận với Phan Thanh Giản và có quan hệ mật thiết với nhiều trí thức, sĩ phu yêu nước khác
Tóm lại, khi đến thời Minh Mạng, hệ thống chính trị của nhà Nguyễn là một thiết chế quân chủ chuyên chế hoàn chỉnh kiểu phương Đông Mọi quyền hành trong triều cho đến địa phương đều tập trung trong tay nhà vua
Năm 1867, Pháp chiếm Vĩnh Long, thực dân Pháp tiến hành việc sắp xếp tổ chức và triển khai điều tra nắm tình hình thực trạng của tỉnh để lập bộ máy cai trị Vĩnh Long
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 38lúc đó có 3 huyện: Vĩnh Long, Lạc Hóa, Hoằng Trị, huyện lỵ Hoằng Trị đặt tại Bến Tre, lúc đó có 26 tổng, 192 làng
Tháng 1 năm 1867, tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp là đô đốc Duperre, phân chia Nam Kỳ thành bốn khu vực hành chính lớn là: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Xác… khu vực Vĩnh Long gồm có 4 hạt: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh và Sa Đéc
Trên hết Pháp đặt là chức Thống Đốc, thứ là Thanh Tra hành chánh và chánh trị Hành chánh địa phương thì có: Tỉnh trưởng, quận trưởng, cai, phó tổng, ban hội tề (tức hội đồng hương chánh hay hội đồng xã)
Chính phủ Pháp đặt khu vực hành chính mới Tỉnh và Tham Biện Năm 1867, sở Tham Biện ở Bến Tre đầu tiên đặt tại tả ngạn rạch Bến Tre, sau đó dời qua hữu ngạn Trung úy hải quân Pháp tên De Champeaux là viên Tham Biện đầu tiên
Tháng 12 năm 1867, người Pháp chia sở Tham Biện Bến Tre làm hai: sở Tham Biện Bến Tre (ở cù lao Bảo), sở Tham Biện Mỏ Cày (ở cù lao Minh) Viên tham biện đầu tiên ở Mỏ Cày là trung úy hải quân tên Sylvestre
Năm 1871, chỉ còn một sở tham biện Mỏ Cày, chánh tham biện tên là Eymard Rapine, phó tên là Moty [76,35]
Nghị định ngày 2/9/1871 của Duperre dời hạt lỵ của Bến Tre – Mỏ Cày về Bến Tre vĩnh viễn Từ đây hạt lỵ Bến Tre đặt luôn tại Bến Tre (cù lao Bảo)
Năm 1876, Pháp bãi bỏ khung hành chính phủ huyện và thay bằng cấp địa hạt
“Hạt Bến Tre có lỵ sở đặt tại Bến Tre, nơi có tòa bố”, bưu điện, trường tiểu học, chợ chính [14,91]
Ngày 20 tháng 12 năm 1899, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, chính thức
đổi tiểu khu thành tỉnh, đồng thời thay chức chủ tham biện bằng chức quan chủ tỉnh và
phân chia Nam Kỳ lục tỉnh ra làm 20 tỉnh Theo đó 4 hạt của khu vực hành chính Vĩnh Long cũ được tách ra thành 4 tỉnh tương ứng: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre và Sa Đéc
Chính thức thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 “Hội đồng tiểu khu” cũng được đổi tên gọi là “Hội đồng hàng tỉnh” Ủy viên hội đồng hàng tỉnh là các tri huyện, tri phủ, đốc
phủ sứ, đứng đầu là quan chủ tỉnh Tỉnh trưởng Bến Tre (1897-1899) là người Pháp tên Bos
Như vậy, về chính trị, thực dân Pháp đã từng bước đặt sự nô dịch và chia cắt nước
ta, biến Nam Kỳ thành thuộc địa, chúng lấy Nam Kỳ làm bàn đạp để sau đó đánh chiếm cả nước Việt Nam ta Cầm đầu bộ máy cai trị đều là người Pháp, giai cấp địa chủ phong kiến không còn một mình thống trị xã hội nữa, mà nó đã biến thành một công cụ của chủ nghĩa tư bản thực dân
2.4- Tổ chức quân đội:
Trong việc bố trí lại dân cư, đẩy mạnh việc di dân khẩn hoang lập ấp, các chúa Nguyễn xem việc xây dựng lực lượng quân đội là điều quan trọng Việc đánh nhau với họ Trịnh đã tạo điều kiện cho chúa Nguyễn tập trung lực lượng củng cố địa bàn, mở rộng
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 39cát cứ xuống vùng đất phía Nam, các chúa Nguyễn rất chú trọng đóng giữ ở hai đầu cầu quan trọng nhất là Thuận Hóa và Gia Định
Theo Gia Định thành thông chí, đời Nguyễn Phúc Tần (1648-1686) đã cho xây
cất đồn dinh làm chỗ cho quan tổng tham mưu cư trú, lại đặt dinh Tân Thuận tức nay là Tân Thuận, có cất nha thự cho các quan giám quân, cai bộ và ký lục ở, lại có quân trại hộ vệ, ngăn ra từng khu rào, ngoài ra thì cho dân trưng chiếm chia lập làng xóm chợ phố [20,74], đồn này có quan tổng tham mưu, quan giám binh, nên có thể đây là đồn binh chính, nhằm chỉ huy các đồn dinh khác trên đất Gia Định tạo thành một hệ thống cứ điểm ổn định bảo vệ vùng đất nơi đây
Lập dinh Long Hồ ở Cái Bè, vùng Bình Đại của Bến Tre thuộc về châu Định Viễn Năm 1772, chúa Nguyễn lập đạo Trường Đồn ở vùng Mỹ Tho có chức Cai Cơ, thơ ký quản trị, sau đó thành Trấn Định Dinh Năm 1776, tại hai cửa biển cửa Tiểu, cửa Đại (thuộc Bình Đại Bến Tre) đều đã có sự kiểm soát của các đồn binh do chúa Nguyễn lập
Dưới triều vua Minh Mạng, chia Nam Bộ thành 6 tỉnh, thời gian này triều Nguyễn cho xây cất đồn binh ở cửa Đại và cửa Ba Lai Năm 1834, triều Nguyễn cho đắp đồn Thừa Đức, năm 1842 đắp đồn Phước Thuận, trong đồn có kho gạo, kho thuốc đạn, có trại quân và súng
Sau khi thực dân Pháp chiếm Nam Kỳ, năm 1867, với tham biện đầu tiên Palasme de Champeaux (tỉnh lỵ Bến Tre) Bến Tre có 100 lính mã tà [59,104]
Ngày 2/9/1871, hạt lỵ của Bến Tre – Mỏ Cày dời về hữu ngạn rạch Bến Tre (cù lao Bảo), người Pháp lập thêm đồn Tân Hương (cù lao Minh) để tăng cường việc phòng thủ Mỏ Cày, thời điểm đó toán hải quân bộ binh đóng ở Mỏ Cày được dời về cù lao Bảo tại Bến Tre
Tác giả Nguyễn Duy Oanh trong cuốn “Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam từ năm 1757 đến 1945” đã cho biết số lính địa phương trong ba năm như sau:
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf
Trang 40Năm 1878, Bến Tre có một đồn người Pháp và 7 đồn lính mã tà
Năm 1880, một trại lính tập (tirailleur) được cất lên tọa lạc tại làng Phú Khương (cù lao Bảo) hiện nay là phường Phú Khương, Thị xã Bến Tre, trong thời gian này lính tập được mộ trong dân địa phương
3 Tình hình kinh tế :
3.1- Kinh tế nông nghiệp:
Khi đặt chân đến nơi đây, những lưu dân xưa đã sớm phát hiện những thuận lợi, đồng thời tính chất khắc nghiệt của vùng cù lao còn ngập nước, nên người xưa đã biết tập trung khai phá theo phương thức: bám đất giồng, từ thế đứng trên đất giồng cư dân tiến hành khai hoang phá rừng mở ruộng cấy lúa, lập vườn, tiến xa hơn đi tới chinh phục các vùng rừng rậm còn đang ngập nước, kết hợp khai thác đất liền, bờ biển, cồn bãi theo ven rạch, triền sông, mở ra nhiều nghề trong nông nghiệp, từ rất sớm đã tạo ra một vùng trồng trọt đa canh, đa dạng, từng bước mở rộng lưu thông và trao đổi sản phẩm với những nơi khác
3.1.1- Nghề trồng lúa:
Trên mảnh đất khai phá được, người dân đã trồng nhiều loại cây khác nhau tùy theo điều kiện đất đai từng nơi trong vùng, trong các loại cây thì cây lúa là loại cây trồng chính
gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf