Câi nghỉo được Tú Xương thể hiện với nhiều giọng điệu khâc nhau: Van nợ lắm khi trao nude mat Chay ăn từng bữa mưới mồ hôi Than nghỉo vă: Vợ lêm lc ở vú Con tập tếnh đi bồi Than cùng Như
Trang 1BO GIAO DUC BAO TAO DAI HOC QUOC GIA THANH PHO HO CHI MINH
TRUONG DAI HOC SU PHAM
KHOA NGU VAN
Ngusi huing dén : Thay PHAM VAN PHUC
Sink vien thuc hign :RGUYER THI cdc
Thành Phố Hồ Chí Minh
tr› 1997 os
Trang 2
LỜI CẮM ON
7” T“—=‹< VY mm
1Khöa luận tot nghig pp đượa hoàn thành nhờ sụ hướng dân,
giáp do tan tink của Thay PHAM VAN PHUC, Ban chi
nhiệm khoa Ngz ‘Van va phong Vghien Citu Khoa Hoe Xa
Hoi Truong Dai Hoe Su Pham IP Hd Chi Mink cing
vdi tat ed cde Thay Co trong khoa
Em xin chan tha nh cam on
UP He Chi Mink, Ngay !5 thang 5 nam 1997
Trang 3Se,
NHAN XET CUA GIAO VIEN HUGNG DAN
NHAN XET CUA GIAO VIEN PHAN BIEN
Trang 4
DAN NHAP
A LY DO CHON DE TAL
Như ta đã biết, xã hội Việt Nam trong giai đoạn nữa cuối thế kỷ XIX
có những sự kiện hết sức dữ dội làm thay đổi toàn bộ mặt xã hội Những biến
cố sâu sắc ấy làm cho lịch sử dân tộc bước sang một trang mới, đồng thời nó
cũng đã kéo theo một bước chuyển mới cho văn học Ta thấy nổi bật lên những gương mặt liêu biểu làm nền diện mạo cho vẫn học ở giai đoạn này
với những phong cách rất đa dạng và phong phú Trong đó có nhà thơ Trần
Tế Xương Trần Tế Xương cùng với Nguyễn khuyến và hàng loạt các tấc giả
khác đã làm cho nền văn học dân tộc xuất hiện một khuynh hướng mới có
tính chất tố cáo xã hội bên cạnh Nguyễn Đình Chiểu - ngọn cờ đầu của văn học yêu nước chống Pháp Và cũng cùng Nguyễn Khuyến, Tú Xương là một
tác giả tiêu biểu cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam ở giai đoạn nữa
cuối thế kỷ XIX - Một giai đoạn văn học có vị trí đặc biệt trước khi văn học Việt Nam chuyến sang thời kỳ hiện đại Và Tú Xương đã có đóng góp đáng
kể trong quá trình chuyển tiếp ấy của văn học từ trung đại sang hiện đại
Trần Tế Xương được coi là một nhà thơ lớn của dân tộc và là một nhà thơ đầu tiên của đô thị phong kiến đang chuyển dần sang thành thị tư bản chủ nghĩa do sự có mặt của thực dân Pháp và lối sống tiêu thụ nó vừa du
nhập từ phương Tây tư sản vào Với quãng đời ba mươi bảy năm ngắn ngủi Trần Tế Xương đã để lại cho đời một số lượng tác phẩm tuy không lớn lắm nhưng hết sức có giá trị, Đó là một phong cách thơ rất đặc trưng mà khi tiếp cận, ta biết ngay là thơ của chính Trần Tế Xương chứ không là ai khác
Phong cách thơ của Tú Xương đã làm thành nền tảng cho sự định hình và
phát triển của một dòng thơ ở nước ta: Thơ trào phúng Hơn nữa ông còn mở
ra một môn phái thơ trào phúng riêng Hàng loạt những tên tuổi văn học nổi bật về sau của nền văn học Việt Nam đã tư nhận là một môn đồ của ông tổ
Tú Xương như Tú Mỡ, Cử Nạc, Tú Sụn và thêm chi phái Tú Poanh, Đồ Phồn Đặc biệt Tú Mỡ, một nhà thơ chỉ chuyên viết thơ trào phúng đã
khẳng khái và hãnh diện viết: *Ở Tú Xương tôi học tập lối châm biếm sâu
cay, chua chát, những ngọn roi quất vào mặt bọn rởm đời, lối tư trào hoá ra
chửi đời Có thể nói tôi đã được ảnh hưởng của Tú Xương nhiều nhất" Đó chính là niềm tư hào, vinh dự và chính điều đó đã khẳng định tầm cao giá trị của thơ văn Tú Xương trong nền văn học dân tộc
Vượt qua phán xét khắc nghiệt của thời gian từ bấy đến nay với nhiều thế hệ người thưởng thức, phẩm bình, thẩm định, thơ Tú Xương được xem là
' Eú Mở: *Kinh nghiệm lọc tấp và sáng tác thơ trào phúng” - Lạp chí Văn lọc 1960
|
Trang 5hiện tượng định hình chính thức cho phương pháp sáng tấc hiện thực chủ nghĩa theo lối hiện thực phê phán như một số nhà nghiên cứu đã nhận định
Qua ngòi bút Tú Xương, xã hội Việt Nam đương thời với những đường nét đa
dạng hiện ra bằng chính bộ mặt thật xù xì của nó Chỉ có qua thơ Tú Xương, chúng ta mới có dịp nhìn lại thời quá khứ xa xưa - Cái mốc lịch sử của một dân tộc biết coi trọng truyền thống, coi trọng thuần phong mỹ tục Đồng thời
chúng ta mới có thể thấy được một thời buổi xã hội hoàn toàn những rấc rưởi,
những tiêu cực xã hội thị thành thời ấy mà các thế hệ trước chúng ta vì kém may mắn đã phải chứng kiến, chấp nhận, trải qua Và chúng ta tiếp nhận để hiểu, thông cảm với họ
Thơ Tú Xương chính là nổi lòng của ông Thơ Tú Xương phản ánh hai tâm trạng tưởng chừng mâu thuẩn nhưng lại thống nhất hợp lý ưong một con
egw cười và nét mặt đăm chiêu Cái cười trong thơ Tú Xương lúc thì
như thöả mãn, lúc thì châm chọc, đả kích, có lúc lại thấm vị chua cay; và cạnh đó lại là nỗi buồn, nỗi đau và cả hai trạng thái trái ngược ấy lại cũng nổi ngay mồn một ngay trên bề mặt của thơ văn một Tú Xương Phải hiểu được bị kịch trong chính bản thân nhà thơ ta mới thấy được ông trong thơ của
ông
Rõ ràng mảng thơ trào phúng của Tú Xương là một đóng góp thực sự
có giá trị vào văn học Việt Nam Cho đến nay trải qua gần nữa thế kỷ nhưng chưa ai có thể sánh ngang với ông Chính những điều trình bày trên đây đã khiến người viết lao sâu vào để khám phá, tìm hiểu, phơi bày Và luận văn này muốn mở ra một lối đi khác trong hàng loạt những lối đi đã mở của
những bậc tiền bối đi trước Đó là việc đi sâu vào nhìn nhận điếng thơ ông Tú
ban ngày và tiếng thơ ông Tú ban đêm Mục đích là đi tìm hai mặt của một tâm hồn đang hiện diện trong một con người thơ Kết quả công việc sẽ góp phần làm rõ thêm một góc nhìn mới khác về phía thơ Tú Xương
Như ta biết văn học là nhân học Việc tìm hiểu nghiên cứu mội tác phẩm văn học không phải làm trong một ngày một bữa mà xong, có những tác phẩm văn học đã được thẩm định, phẩm bình bao thế kỷ mà vẫn còn nhiều bí ẩn hấp dẫn các nhà nghiên cứu, Có những ý kiến không giống nhau cùng nói về một tác phẩm mà nhiều khi vẫn đúng cả ;có khi công trình nghiên cứu của người này là sự thừa hưởng vấn đề đã được người đi trước mở
ra và nó lại làm hé mở một vấn đề khác cho những người nghiên cứu sau tiếp tục công việc Điều đó làm cho thế giới tác phẩm, tư tưởng tác giả càng được
mở rộng phong phú hơn và qua đó làm sáng rõ đần ra giá trị đích thực của
nó Ở văn chương Tú Xương cũng thể, việc tìm hiểu nghiên cứu thơ ông theo
hướng đi như tên của đề tài đã gơi ra trên đây cũng không nằm ngoài ý đồ
ấy
Trang 6Hưn nữa, như tác phẩm đã biết, thơ văn của Tú Xương đã được chọn
giảng thành những chuyên đề lớn trong các trường Đại học và ở nhà trường
[hổ thông, nhất là ở bãc phổ thông trung học Điều đó đã nói lên được tầm
quan trọng thực tế của thơ ông, Do đó, với đề tài này, người viết muốn nâng
cao bổ sung kiến thức của mình về một nhà thơ đặc trưng cho một giai đoạn
van học đặc biệt Mục đích là nhầm chuẩn bị tốt hơn công việc giảng day thd
văn Tú Xương ở trường Phổ thông sau này, Đề tài của luận văn là một bài
tập tốt nghiệp đồng thời đó là một cách thể hiện sự tâm đắc ngưỡng mộ và
ấp ủ của người viết đối với nhà thơ đáng ngưởng mô này
B LICH SU VAN DE :
Vấn đề mà người viết quan tâm cũng đã được các nhà nghiên cứu đặt
ra trước đây nhưng ở dạng những khía cạnh nhỏ 3o có một vị trí quan trọng
ương nền văn học nước nhà nên từ rất lâu nay, tác phẩm thơ của Tú Xương
đã được khá nhiều người tìm tòi nghiên cứu Bằng những phương pháp khác nhau và bằng chủ quan của từng người, thơ Tú Xương đã được phanh phui
mổ xẻ Trong khi đó bản thân đề tài đã yêu cầu phải bao quát toàn bộ tác phẩm tu của Tú Xương
Điểm gặp nhau đầu tiên của nhiều nhà nghiên cứu là ở sự thống nhất nhận định rằng Tú Xương có hai giọng thơ, hai lối thơ: Châm biếm đả kích
và nỗi buồn, nỗi đau, nỗi suy tư trầm ngâm Tương ứng, người viết muốn
phân chia thơ ông ra thành hai mảng gọi là tiếng thơ ban ngày và tiếng thơ ban đêm của Tú Xương Cổ nhiên, đó là ngoài những ý kiến khác nhau thậm chí trái ngược nhau một cách thường tình, nhất là về những hạn chế của nhà
thơ
Nhiều nhà nghiên cứu chia thơ Tú Xương ra làm hai mạch Một bên là
những giá trị thực sự của tác phẩm và bên kia là những tiêu cực cần vạch rõ, phê phán Trong đó về các hạn chế của Tú Xương còn có những nhận xét vội
vã Sự phê phán ở đây có căn cứ trên các câu chữ nhưng tác phẩm biết đó chỉ
là bề nổi, là cái vỏ bên ngoài của đối tương Cái quan trọng vẫn là cái bên trong - Cái phần chìm đằng sau những câu chữ Phải căn cứ vào đó thì mới có
cái nhìn chính xác, thấu đáo và khoa học
Với cuốn “Trông giòng sông VỊ"), Trần Thanh flai đã thể hiện được
điều ấy, Quả thực đây là một công trình nghiên cứu về thơ Tú Xương ta đời
từ rất sớm Vì thế cuốn sách cần được nhìn nhận trong điều kiện độc lập, sắng tạo của công việc sưu tầm phê bình, nghiên cứu Ở phần khẳng định thơ
Tú Xương, Trần Thanh mai cho rằng: * chúng ta có một nhà trào phúng
thâm thúy như Tú Xương that là một vinh dự cho quốc văn ”" Ông gọi Tú
Xương là một "thiên tài lông lẫy” Thế nhưng ông cũng rất thẳng thắn khi
(Se Thanh Mai - ‘Trin Thanh Dich ap hanh, Hud, 1945
3
Trang 7nêu hạn chế của Tú Xương Chẳng hạn về sự liều lĩnh, trụy lạc của Tú
Xương hoặc cho Tú Xương là một kẻ hàn nho suốt đời đau khổ mà cũng lấy giọng đài các, khẩu khí để rơi vào lối tầm thường, nói khoác làm mất phong
cách tự do cương trực vốn có của nhà thơ này Và Trần Thanh Mại cho rằng
văn chương Tú Xương có những cái sáo đặc, nhỏ nhen, đê hèn, tiểu nhân
Ở cuốn “Khảo luận về Trần Tế Xương'Ê) Doãn Quốc Sĩ và Việt Tử cũng có những ý kiến tương tự như thế Dĩ nhiên, những ý kiến ấy được các ông dẫn chứng lý lẽ nghe có vẻ thuyết phục nhưng thực chất đó là những nhận xét hết sức thiển cân, quá đáng, hấp tấp, tàn nhẫn để dẫn đến quan niệm sai lầm về thơ Tú Xương Cũng chính vì thế mà mấy mươi năm sau, Trần Thanh Mai đã cho ra đời quyển “Tú Xương con người và nhà thơ” với
mục đích đính chính lại ý kiến của mình nêu trong “Trông giòng sông Vị”
đồng thời chống lại những quan niệm sai fim của những người khác về thơ
Tú Xương Ở bài tiểu luân này Trần Thanh bàai đã đưa ra những lý giải bằng
những lý lẽ có khả năng thuyết phục hơn 6hằầm xác định lại vị trí về giá trị
thực chất của nội dung, tư tưởng thơ Tú Xương Đây là công trình có bề dày
về số trang cũng như công phu nghiên cứu
Có những nhà nghiên cứu chỉ một mặt đề cao thơ Tú Xương Bằng quan điểm riêng, họ một mực cho rằng thơ Tú Xương chỉ toàn những giá trị Trong khi đó, nhưng khuyết điểm trong tư tưởng tác phẩm lại được biện mình tất cả để cuối cùng không coi là khuyết điểm, là hạn chế nữa Hoặc những khuyết điểm ấy được phân tích ra để bỏ qua và cho rằng có thể chấp nhận được bằng những lý lẽ riêng của mỗi nhà nghiên cứu
Theo hướng này chúng ta có thể kể đến ý kiến của Xuân Tước trong cuốn “Thi ca Trần Tế Xương” của nhà xuất bản Sống Mới Sài Gòn năm (958 Xuân Tước đã một mặt đề cao những giá trị trong thơ Tú Xương Ông cho rằng Tú Xương là một con người yêu nước và văn chương Tú Xương là hoa gấm Xuân Tước đã phản đối sự xác định và phê phán về những mặt hạn
chế của thơ Tú Xương Xuân Tước cho rằng coi Tú Xương là kẻ ăn chơi đàng
điểm, sống buông thả là quá đáng vì cả tình lẫn ý thơ cho thấy ông chỉ là con người bấc đắc chí, Trong tư tưởng hay văn chương của Tú Xương không hề
có dấu vết gì gọi là trụy lạc Xuân Tước đã bênh vực: Ngày ấy còn bao nhiêu
sĩ phu khác cũng như Tú Xương, có lẽ tài học còn hơn ông mà không sao tạo
được một sự nghiệp muôn đời như ông thi tại sao lại trách ông Ở Xuân Tước,
cái nhìn về thơ Tú Xương còn sơ lược, chưa sâu sắc Tuy nhiên các “được ” của Xuân Tước là đã hệ thống được, phần ra thành từng mảng theo từng chủ mục cụ thể Bài viết của Xuân Tước còn “ø„uấø gọn * Nói chung, Xuân Tước chỉ nặng công sưu tầm sắp xếp thơ còn phần nghiên cứu chưa nêu bật được,
ÌNhà xuất bản Hồng Hà S 1959
Trang 8chưa thật sự đi sđu văo giâ trị của tâc phẩm Tóm lại, Xuđn Tước đê không
thoât khỏi câi nhìn một chiều
Đến Xuđn Diệu wong tiểu luận đầu sâch “Tkơ văn Trần Tế Xương")
tì Tú Xương vă thơ Tú Xương mới được đi sđu vă phđn tích, đề cao những
giâ trị trong nội dung ở một số băi thơ, đồng thời từ đó khâi quât lín tầm vóc
to lớn của nhă thơ Sông Vị Xuđn Diệu đê đặt Trần Tế Xương đứng văo vị trí thứ năm sau những thi hăo dđn tộc: Nguyễn Trêi, Nguyễn Du, Hồ Xuđn Hương, Đoăn Thị Điểm Ông ha bút: "Đó lă một giọng nói cất lín rất lă tđm
huyết, nó trăo phúng, nó đả kích cũng lă tđm huyết Nó trữ tình lại căng tđm huyết mă tđm huyết chứa đựng trong những lời thơ rất hay Đó chính lă vinh
quang của nhă thơ lớn Trần Tế Xương ”
Xuđn Diệu có đóng góp văo sư tìm hiểu sự nghiệp một nhă trăo phúng
của dđn tộc với giọng văn phí bình độc đâo, mang câ tính Tuy nhiín, băi
viết ấy chỉ nằm ở dạng tiểu luận Đọc ý kiến của xđy dưng tâc phẩm thấy hầu như ông chỉ viết theo cảm xúc, cảm hứng qua một số băi thơ cụ thể hoặc
những cđu chữ được coi lă đặc sắc, lă “ø#ể /”chứ không được ông nghiín cứu một câch thực sự có hệ thống, có tầm vóc hơn, chưa lăm thănh một hệ
thống khâi quât rõ răng cho toăn bộ thơ Tú Xương Câi hay của băi tiểu luận
năy lă đê có những ý kiến rất đặc sắc vă khâ xâc đâng giúp người đọc có một câi nhìn tích cực về phế thơ Tú Xương Thế nhưng nếu cứ đứng một phía như
thế thì sẽ trở nín một chiều, phiến diện Vă vì vậy không đi hết văo thơ Tú
Xương
Trín bâo văn nghệ thâng 5/1961, trong băi “Thời vă thơ Tú Xương”,
Nguyễn Tuđn đê có ý kiến: "Tú Xương lă một kho kinh nghiệm sâng tâc cho
ta học Nó còn lă một câi phần hương hỏa trong gia tăi tiếng nói Việt Nam”
Nói chung những ý kiến của câc nhă nghiín cứu trín rất hay nhưng
chưa đưa ra được một câi nhìn thật toăn diện khâi quât mă phần lớn lă sự
nuưỡng mộ những câi hay, câi đặc sắc của thơ Trần Tế Xương mă thôi
Riíng ở băi nghiín cứu của Nguyễn Đình Chú trong “Thơ văn Trần
Tế Xương" nhă xuất bản Giâo dục 1984 thưc sư thuyết phục người đọc ở câch phđn tích sđu sắc, mang đậm tính khoa học đê lăm nổi bật giâ trị từng
mảng, từng khía cạnh nội dung cũng như nghệ thuật của câc tâc phẩm thơ Tú
Xương Ở đđy Nguyễn Đình Chú đê đi văo phđn tích một câch khâ chi tiết, tỉ
mi về bức tranh hiện thực vă chất trữ tình với sự “ần thânh “trong bút phâp
thể hiện của Tú Xương Ông đê đề cao những giâ trị của thơ văn Tú Xương
tột câch xâc đâng, ngang tđm, đúng mức Vă những mặt trước đđy bị cho lă
hạn chế thì ông cố gắng biện giải Tuy nhiín, phần đề cập đến mặt năy cũng
it thoi
('2Nhă xuất bân Văn lloc MH 1970
Trang 9Riêng trong giáo trình lịch sử văn học Việt Nam do Phạm Văn Nhu biên soạn của trường Đại hoc Su Pham Thành Phố Hồ Chí Minh, người soạn
đã có sự tổng hợp, phân tích để đưa ra những nhân xét, khẳng định khách quan VỀ giá trị cũng như những điểm khuyết trong thơ Tú Xương, Rõ rằng với giáo trình này, tác giả đã đem đến cho sinh viên một cái nhìn đúng và toàn diện về thơ Tú Xương Tuy vậy dung lượng của chương trình viết trong giáo trình còn hạn chế và ý kiến của người soạn không nhiều mà chủ yếu
tổng hợp ý kiến từ các nhà phê bình nghiên cứu thành những nhận định được
sắp xếp hợp lý Nói chung, giáo trình vẫn quy về hai điểm: Giá trị và hạn chế Trong đó phần hạn chế được nhìn nhận đúng mức, không quá năng hoặc
quá nhẹ như những nhà nghiên cứu trên đã nói
Nhìn chung, bên cạnh những công trình còn chưa sâu sắc lắm về mặt nghiên cứu mà chỉ nặng công sưu tầm thơ là những công trình nghiên cứu
tương đối đã giúp ích ít nhiều cho người viết ở sự cảm thu đúng đắn về thơ
Tú Xương để cho khóa luận này đi đúng hướng Tiếp thu và kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước, ở đây, chúng tôi bước đầu sắp xếp, hệ thống lại và phân tích ra nhằm làm sáng tỏ yêu cầu của đề tài Những công trình nghiên cứu đã nếu chỉnh là những gợi ý rất quý báu và cần thiết cho
việc hình thành nêu luân vẫn này
Vấn đề mà đề tài yêu cầu giải quyết cũng đã được các nhà nghiên cứu
đề cập ít nhiều nhưng chỉ ở dang một vài gợi ý nhỏ và lẻ tẻ Vấn đề mà
người viết quan tâm thể hiện ở đây chưa hề đặt thành một vấn đề riêng để khảo sát cho thật thấu đáo Vì vậy, người viết có tham vong muốn giải quyết
vấn đề nhầm thể hiện một cái nhìn, một sự cảm thụ thơ Tú Xương, đồng thời
đó vừa như là một bài tập khoa học vừa như là một sự ngưỡng mộ quan tâm
sâu sắc
C GIỚI HẠN PHAM VI NGHIÊN CỨU ;
Thơ văn Tú Xương là một trường hợp “Vda hoc nằm ngoài những định
luật của băng boại Chỉ mình nó không thừa nhận cái chếf® Thơ Tú Xương
đã phản ánh xã hội đô thị Việt Nam buổi giao thời đầy rẫy những tiêu cực đồng thời cũng phản ánh những mâu thuẫn, bị kịch trong bản thân con người
nhà thơ Ngoài lượng lớn thơ tác trào phúng, Tú Xương còn để lại một số phú
và đối liễn văn tế rất có giá trị, Tuy nhiên do yêu cầu của đề tài nên ở đây
luận văn chỉ khảo sát phần thơ
Như chúng ta biết, hầu như toàn bộ sáng tác của Tú Xương không có
bản gốc thật sư nào Những tác phẩm mà hiện nay chúng ta dang tiếp cân sở
dĩ có được là do những nhà nghiên cứu sưu tầm từ trí nhớ của bạn bè, con cháu của nhà thơ, và đặc biệt là từ rộng rãi các tầng lớp nhân dân yêu thích
Satukop Sedrin - Nha vin Nya (1K26-1889)
6
Trang 10thơ Tú Xương rồi thuộc lòng hay chép tay Vì thế chuyện thất lạc là chuyện
chúng ta phải chấp nhận Hơn nữa trong xã hội cũ trước đây - thời thuộc
Pháp với những biến chuyển xã hôi gay gắt, dữ dội thì việc sưu tầm thơ văn
Tú Xương không phải là chuyên dễ và càng để lâu, và sự mất mát ấy càng lớn bởi những “văø bẩn sống ” đâu thể sống mãi để đợi chờ chúng ta Mặt khác ở thời Tú Xương có rất nhiêu nho sĩ ngưỡng mộ sâu sắc thơ ông cho nên
họ đã “ðấ/ chước “phong cách của ông trong sáng tác của họ Điều đó gây đã
gây ra không ít rắc rối khó khãn trong việc sàng lọc, xác định tác phẩm đích
thực của Tú Xương Vì thể trong các tập sách lưu hành trong cả nước, diện
mao tac phẩm được coi là của Tú Xương ở từng tập không thống nhất nhau
Do đó ta sẽ không nấm chắc thơ Tú Xương năm ở con số bao nhiêu vì nó
được sưu tầm bởi những người khác nhau, qua những thời gian, thời điểm rất khác nhau với những tiêu chí và lý do lưa chọn cũng khác nhau Cuốn *“ Thơ
văn Trân Tế Xương "* của nhóm Hoàng Ngọc Phách - Lê Thước - Đỗ Đức
Hiểu (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1957) in 133 bài Cuốn *'Tú Xương
con người và nhà thơ” của Trần Thanh Mại và Trần Tuấn Lộ (Nhà xuất bản Văn hóa, 1961) in 193 bài không kể 20 bài tồn nghi, Cuốn “Thơ văn Trần Tế
Xương " (Nhà xuất bản Văn Học, 1970) in 151 bài không kể 22 bài phụ chép
vì có ngờ và cần đính chính Cuốn "Thơ văn Trần Tế Xương” của Ty Văn hóa Nam Hà, 1970 in 100 bài Ngoài ra còn có bài sách này ¡in ở phần chính thức nhưng sách kia in ở phần tồn nghi Như vậy để thực hiện luận văn này, người viết sẽ tham khảo tất cả các tập sách nhưng quyển chọn làm tư liệu
nghiên cứu là "Thơ văn Trần Tế Xương” của Nguyễn Đình Chú - Lê Mai -
Nhà xuất bản Giáo dục 1984 Lý do là người viết nghĩ quyển này có độ tin
cây cao, sưu tầm có cân nhắc và đã có thử thách về thời gian
Cũng như tên của đề tài, phạm vi đề cập tương đối bao qual, dude chia
làm hai mảng chính bao trùm các tấc phẩm thơ của Tú Xương! tiếng thơ ban nuày và trếng thơ ban đêm
Qua vấn đề đáng quan tâm này, người viết chỉ dám khiêm tốn đóng
góp một vài ý kiến nhỏ đồng thời với một cái nhìn khác, chủ quan của bản
thân mình vào đấy Trong điều kiện thiếu thốn về tư liệu cũng như những hạn chế về trình độ của người viết,luận văn chắc sẽ không tránh khỏi những
hạn chế nhất định
U PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
I/ Phương pháp logic hệ thông, miều tả
2/ Phương pháp tổng hưp
3/ Kết hựp vận dụng phần lđu kiến thức về lịch sử, địa lý, dân tộc học
để hỗ trợ, làm nền soi sáng những vấn đề kiến giải
Trang 11i CAU TRUC CUA PHAN LUAN VAN:
DAN NHAP
A Lý do chọn đề tài
b Lịch sử vấn dé
C, Giới hạn phạm vì nghiên cửu
D Phương pháp nghiên cứu
Kk Cấu trúc của luận văn
NOI DUNG
CHƯƠNG MỘT: TIẾNG THƠ ÔNG TÚ BAN NGÀY
A Khái niệm chung
1/ Khái niệm về thơ trào phúng 2/ Khái quát về thơ trào phúng Tú Xương
l ĐỐI TƯỢNG THƠ TRÀO PHÚNG TÚ XƯƠNG
1/ Đối tượng thứ nhất: Xã hội đương thời 2/ Đối tượng thứ hai: Thân phận nhà thơ
CHƯƠNG HAI: TIẾNG THƠ ÔNG TÚ BAN ĐÊM
Á Tâm trạng Tú Xương
1/ Nỗi buồn và sự suy tư
2/ Hi kịch Tú Xương
B Nét đẹp nhân cách trong con người thơ Tú Xương
l/ Cái tâm trong thư ông Tú 2/ Nỗi u hoài của Tú Xương trước vận nước đổi thay
CHƯƠNG BA: TIẾNG THƠ BAN NGÀY VÀ TIẾNG THƠ
BẠN ĐÊM TRONG MỘT CHỈNH THỂ NGHỆ THUẬT:
THÊ GIỚI THƠ TÚ XƯƠNG
Á Sự dị biệt và thống nhất giữa hai loại nhân vật trữ tình
Trang 12NOI DUNG
CHƯƠNG MỘT: TIẾNG THƠ ÔNG TÚ BAN NGÀY
A Khai niém chung
1/ Khái niệm về thơ trào phúng
Như chúng ta đã biết, phần lớn các tác phẩm thơ của Tú Xương đều mang phong cách trào phúng Trào phúng trong Thơ Tú Xương được thể hiện
rất đa dạng và phong phú Sư thành công của “Lú Xương - điều làm cho sức
sống thơ của 'Fú Xương còn đến ngày hôm nay và hiên ngang khẳng định giá
trị chính bản thân nó là ở chỗ đó Vậy ta hiểu thể nào là trào phúng và giá trị
thực sự của nó nằm ở chỗ nào
Thơ trào phúng được quan niệm là loại đặc biệt của sáng tác văn học
Đồng thời nó cũng là một nguyên tic phản ánh nghệ thuật trong đó yếu tố tiếng cười mia mai, châm biếm đả kích, phóng đại, khoa trương, hài hước được sử dụng để chỉ trích, tố cáo, phản kháng những tiêu cực xấu xa, lỗi thời,
độc ác ở cuộc sống trong xã hôi
Trong thực tế đã tồn tại nhiều khái niệm cùng loại: Trào phúng, trào
lông, châm biếm, đả kích, hài hước, mia mai Những khái niệm này đôi khi
được dùng lẫn lộn, thay thế cho nhau trong khi chúng không hoàn toàn đồng
nghĩa, Trào phúng là khái niệm bao trùm cả lĩnh vực văn học tiếng cười còn
hài hước, châm biếm, đả kích chỉ là những bộ phận trong lĩnh vực ấy nếu xét
về đối tượng phản ánh, mức độ phản ánh
Cũng như châm biểm, hài hước nảy sinh trong quá trình lý giải một cách xúc cảm và khái quát các mâu thuẩn mang chất hài bên trong tính cách
xã hội của con người Chẳng hạn đó là “Sự không tương xứng giữa thực tại
trống rỗng và sư ảo tưởng về giá trị to lớn của chúng Nhưng các nhà hài hước nhìn mâu thuẫn ấy như là sự thiếu hut trong cuộc đời, còn nhà châm biển muốn xô thực tế ấy đi Bởi vây hài hước đôi khi chỉ là tiếng cười trước những mâu thuẫn buồn cười vô hại” So với châm biếm, đả kích có mức độ
mạnh mề hơn ưong việc phế phán các mâu thuẫn mang tính hài của con
người và xã hội Bằng nu cười, tác giả muốn lột trần những mâu thuẫn đang
cố tình che day ấy và kiên quyết xóa bỏ chúng đi Xong trong thực tế văn
học không phải bao giờ cũng có sự phân biệt rạch rồi giữa những sáng tác hài
ước - châm biếm - đả kích Cu thể ở trường hợp nhà thơ Trần Tế Xương,
bên cạnh những bài thơ châm biểm xã hội đương thời hết sức sắc xảo hoặc
đổi lúc tiếng thơ ông muốn thằng tay don dep cái xã hôi nhung nhúc tham
quan, ð lại là những bài cười cợt với vợ con và cả bản thân mình với nhiều
hii (Quang Huy: “The ca trio phúng Việt Nam”
Nhà xuất bia Dong Nai 1996
Ụ
Trang 13dư vị thật xót xa, cay đắng Tham chí ngay trong cùng một tác phẩm cũng có
sự phá lắn giọng điệu hài hước lẫn nua mai như những bài tự trào chẳng hạn
Bất cứ nhà trào phúng nào cũng tự hào hay nói cách khác thơ tư trào
không thể không có ở nhà thơ rào phúng Sự pha lẫn của nhiều giọng điệu
hat hước đả kích ở cùng một nhà thơ, một sáng tác làm thơ trào phúng phong
phú, đa nghĩa hơn Thơ ca trào phúng đã là một biểu hiện phong phú của đời sống dân tộc và sư phát triển của xã hội
Tiếng cười trong văn học trào phúng trở nên sâu sắc mạnh mẽ khi vạch trần mâu thuẫn mang tính hài của xã hội và hướng sự phê phán vào
tăng lớp trên khi chúng đang tỏ ra lạc hậu so với tiến uình phát ưiển của lịch
sử, quay lại đàn áp, bốc lột nhân dân Nhất là khi nguyên lý trữ tình đã thâm nhập vào thơ trào phúng và quan điểm của tác giả luôn được bộc lộ Hiệu lực của thơ trào phúng là ở sư sắc sảo hóm hỉnh và tính ngắn gọn Nó gây ra icny cười Tiếng cười trong thơ trào phúng khí sắc sảo mạnh mẽ, khi nhẹ
nhàng thâm thúy lúc chua cay nhưng bao giờ cũng nắm bắt những nét tiêu
biểu của đổi tượng cười nhạo để phát huy uy lực của tiếng cười
2/ Khái quát về thơ trào phúng Tú Xung
2.1 Chất hiện thực
Thơ Tú Xương thấm đậm chất hiện thực Nhà thơ đã vẽ nên một bức
tranh thời đại về xã hôi Thực dân nửa phong kiến buổi đầu vào những năm cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở thành Nam, tỉnh nam của Tú Xương nhưng vẫn có ý nghĩa điển hình chung cho cả nước Đó là một bức tranh xám xịt đau buôn đầy rẫẩy những tác rưỡi, tiêu cực của xã hội Ta biết thành nam
trước khi bị xâm lược là một trung tâm văn hóa phong kiến nhưng khi Thực
dân Pháp nhảy vào chiếm đoạt, từng bước bình định thì nó trở thành một thành phổ của ăn chơi:
Khăn là bác nọ to tầy rế;
Vay lĩnh cô kia quét sạch hè
(Năm mới) hay:
Chi cha chí chét khua giày dép,
Đen thủi đen thui cũng lượt là,
(Xuân)
Cái xã hội đó là sản phẩm quái gỡ của chủ nghĩa để quốc xâm lược Pháp Nề nếp truyền thống xã hội được nhân dân ta xây dưng từ bao lâu nay
đã bị đảo lên tất cả Một nên tảng xã hội cô kết từ hơn bốn ngần năm đã bi
suy sụp tân gốc rễ đã trở thành hỗn tạp bởi sự có mặt và thong Wi của bọn
thực dân xu lạ Chúng kết hựp với thế lực quan lại trong nước làm thành
những vòng dây trói vào cổ nhân dân với tất cả sự lố bịch và độc ác Ta thấy
10
Trang 14xuất hiện bên cạnh những “Trí phủ Xuân Trường”, “Trí huyện Vũ Tuân” là
những “Quan sứ”, "Mẹ đầm”
Thơ Tú Xương đã miều tả sâu sắc cảnh tượng điêu tàn của nho học dưới sư xâm nhập của chủ nghĩa thực dân và tình trạng tâm lý của tầng lớp người chống đối xã hội ấy Đó là những nho sĩ đang dan bi dao thai, bi vd
mộng công danh bằng con đường văn chương cũ Bởi vì họ không có khả
năng thích hợp với điều kiện mới do Hán học đã không còn địa vị như trước
nữa mà các môn như toán Pháp, chữ Quốc ngữ la lẫm đã xen vào
Nào có ra gì cái chữ nho
Ông Nghè ông Cống cũng nằm co
(Chữ nho) hoặc:
Đạo học ngày nay đã chán rồi,
Mười người đi học, chín người thôi,
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,
Thầy khóa tương tư nhấp nhổm ngồi
Si khi rut re gà phải cáo
Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi
(Than đạo học)
Ta còn thấy với sư xâm nhập của chủ nghĩa tư bản thực dân, những thuần phong mỹ tục cũ do dân tộc xây dựng từ lâu đời bị phá vỡ nhiều mảng Thay thế vào đó là những cái rỡm đời, những cái lố lăng, sa đọa
Về tôn giáo, tín ngưỡng, những mê tín dị đoan, hội hè đình đám với
mục đích ru ngu nhân dân dude dip “bung ra” Ngude lại, tình trạng vô đạo
đức ở chốn từ bị cửa Phật cũng được lên tiếng
Hiện thực gia đình bản thân nhà thơ cũng được thể hiện rất tự nhiên
Đó là cái nghèo và những suy tư, rộng ra là cái bị kịch của chính nhà thơ Cái
nghèo được Tú Xương thể hiện với nhiều giọng điệu khác nhau:
Van nợ lắm khi trao nude mat
Chay ăn từng bữa mưới mồ hôi
(Than nghèo) và:
I"hẩm chất cao đẹp của người phụ nữ mà đặc biệt được hiện thân, hiện diện
qua hình tương người vợ tảo tân của Tú Xương Thậm chí còn có cả hình ảnh
Trang 15con người sống hồn nhiên, thanh thản, tự do, phong lưu, sống bất cần đời, sdng theo ý thích mình nhưng không làm luy đến ai
uy nhiên bức tranh hiền thực ấy trong thơ Tú Xương chưa phải đã
toàn điện và hoàn chỉnh vì chưa phản ánh được một sổ mặt khác đang diễn ra
ngoài xã hội và nó rất nên được phản ánh Chẳng han như vấn đề cách mạng
đang diỄn ra trong giai đoạn này, Điều đó ta không thể trách Tú Xương bởi
vì ông còn mang những ràng buộc và han chế về tư tưởng của tầng lớp xuất thân, Ta biết ông là dòng dõi nhà nho thế thì việc tiếp thu những cái mới, những vấn đề nóng hổi của xã hôi đổi với ông không phải dễ, Và rõ ràng
mot điều nữa là ông đã quá năng nề vẻ phía mảng phê phán các phản diện thì mảng khẳng định cái chính diện đành phải bỏ hở Vả lại, thực ra làm sao
có thể " đòi hỏi” ai đó phải đây đủ toàn diện được? Mỗi người đều phu thuộc vào thời đại riêng của mình Đó là điều tất nhiên thôi
Nói chung thơ Tú Xương đã dựa vào cả hiện thực của xã hội đương
thời cũng như hiện thực của chính bản thân ông với đầy đủ những đường nét, những góc cạnh Đó là những tư liệu hết sức quý giá đồng thời khẳng định
ngòi bút tài hoa của ông Nó làm cho cái chất “hiện thực” càng thấm đượm
vào giá trị bản thân nó,
2.2 Chất trữ tình
Nguyễn Tuân có nhận xét về chất trữ tình ấy như sau: “Thơ Tú Xương
đi bằng cả hai chân hiện thực và trữ tình mà cái chân hiện thực ở người Tú
Xương chỉ là một cẳng chân trái Tú Xương lấy cái chân phải trữ tình mà
khiến cái chân tả thực Chủ đạo cho đà thơ là ở chân phải và Tú Xương đã
bãng được mình thơ tới chúng ta bằng bước lãng mạn trữ tình”
Ta biết Tú Xương là một nhà thơ trào phúng và cái chất trữ tình cũng không nằm ngoài lối trào phúng ấy Có nghĩa là trong trào phúng của ông vẫn đậm chất trữ tình Nhìn vào thơ Tú Xương, người đọc sẽ đặc biệt chú ý đến sự phong phú đa dạng và huyền diệu của thế giới tiếng cười Tú Xương
đã làm cho tiếng cười của ông trở thành đặc sắc vào bậc nhất trong thơ ca dân tộc Và chất trữ tình cũng nằm ngay trong tiếng cười nhiều cung bậc ấy
Trong cái tức tổi, nổi bức dọc của Tú Xương trước xã hội ta thấy ông như
muôn dẹp tan, muốn phủ nhận xã hội ấy bằng những bài thơ châm biếm, đả
kích bằng tiếng cười: Đó là lối cười cợt trực diện sâu cay như môi thứ vũ khí
vỗ vào mặt đối tượng Qua đó, thái đô của tác giả hiện ra rõ rệt
Trong tiếng cười hài hước của Tú Xương cũng vậy Ở những bài thơ này, đối tương không nhất thiết là kẻ đối nghịch, bởi có khi nhà thd mang cad
ban thân mình hoặc vư con ra làm đối tượng hài hước, Cấp độ tiếng cười
' Nguyễn Tuân: " {hút và tlàd [ú Xưởng”
Hao van nghe thing 5/1961
1?
Trang 16trong những bài hài hước thấp hơn, nhc nhàng hơn so với tiếng cười châm
biếm, đả kích, Tiếng cười hài hước có thể là cười vào những mâu thuẫn đáng
cười nhưng nhẹ nhàng, cốt yếu cười để cho vui, chứ không nhầm mục đích
đả phá nào khác
Thơ trào phúng Tú Xương là sự phát hiện và những suy ngẫm, suy tư
trăn trở để cất lên những tiếng cười như thế, Trong từng bài thơ trào phúng,
quan điểm của tác giả lộ ra rất rõ Ở những bài bản thân Tú Xương trở thành
nhân vật khách thể thì con người có tình cảm, có tâm sự biết buồn vui, biết cảm phẩn, trăn trở, lo ấu rõ rệt Hoặc nếu nhân vật trong thơ là một người
khác thì nhân vật rữ tình Tú Xương ẩn trong bài thơ vẫn lộ rõ tình cảm của
mình Tất cả những cái đó chính là chất giọng trữ tình thấm đượm trong
từng lời thơ, ý thơ như nước thấm trong từng thớ đất, nhựa thấm trong từng
trach gỗ
Sư phong phú, đa dạng của tiếng cười trong thơ Tú Xương có được là
du năng lực gây cười tỉnh nhạy của nhà thơ Hầu như nhìn vào sự vật, chỗ
nào Tú Xương cũng nhìn ra cái đáng cười Những thủ pháp gây cười trong
thơ Tú Xương vẫn là những thủ pháp quen thuộc trong thơ trào phúng nói chung như cách tạo ra tình huống ngược đời, cường điệu, phóng đại sự việc,
lợi dụng tính đa nghĩa, tính đồng âm khác nghĩa của ngôn ngữ; vờ vuốt ve
đối tượng để rồi quay lại đánh gục đổi tượng một cách bất ngờ, dùng gậy ông
đập lưng ông Nhưng Tú Xương đã sử dụng các thủ pháp đó một cách vô
cùng biến hóa và linh đông
B Đối tượng thơ trào phúng Tú Xương
1 Đối tượng thứ nhất: Xã hội đương thời
1.1 Ngoại cảnh hiện tại
Đó là một cuộc đời không như ý muốn của nhà thơ Nó không làm ông vừa lòng, thỏa mãn Nó đem đến cho ông những bế tất Ông không m thấy lối vươn lên bằng cách làm rạng danh như ông hằng ước mơ hoài bão với tư cách một nho sĩ Đó là do cảnh đời hiện tại Chính cái cảnh đời chung dy đã
trực tiếp khống chế, ảnh hưởng đến cuộc đời riêng của bản thân ông Ông
cảm thấy căm ghét và không có thiện chí hợp tác với cái xã hội ấy nhưng
phải đối diện, chứng kiến nó và thực tế ông đã bộc lộ thái độ của mình thông
qua sự quan sát tỉnh tế, nhanh nhạy phát hiện ra chất hài trong bản thân đời sống xã hội để lên tiếng Đó là cái cười châm biếm đả kích Đó chính là thái
độ bất chấp trước cảnh đời đáng nguyễn rủa, một kiểu “quay lưng” của riêng
Tú Xương, "quay lưng” nhưng mắt vẫn để lại nhìn đời, bám sắt đời, theo dõi đời một cách rất tỉnh táo Thái đô ấy của Tú Xương đối với cuộc đời là thái
đô mang quyết tâm phủ nhận xã hội Tiếng cười ấy có mục đích đập tan cái
xã hôi bấy giờ Ta biết rằng Tú Xương là một nhà nho thuốc tầng lớp nho sĩ
13
Trang 17với chữ nghĩa thánh hiền, với tư tưởng Khổng học với "Tam cương ngũ thường ”, với nền đạo đức phong kiến lâu đời Giờ đây phải đối mặt với sự phân hóa và suy đồi trên tất cả các mặt của xã hội nên ông khó có thể nào dung túng, chấp nhận, Thế nhưng thật sự đã bất lực trước sức mạnh của một
xã hội tứ bản khoa học, Tú Xương không phải là một trường hợp cá biệt Rõ
ràng ta thấy ở nhà nho Nguyễn Khuyến cũng vậy, đạo đức chân chính của nho giáo không cho phép lương tâm, tư cách một nho sĩ phải chấp nhận một cuộc sống với những việc trái đạo đức Mặc dù lời phản kháng của Nguyễn Khuyến còn c đè, nhẹ nhàng, bóng gió trong khi Tú Xương sôi nổi, thẳng thừng, kiên quyết,
Sự xâm nhập của lối sống Tư sản phương Tây vào xã hội phong kiến
đã làm lay động dữ dội bộ mặt xã hội, đồng thời nó cũng làm nên những cảnh đời oái oăm, độc ác, tàn nhẫn đập vào mắt nhà thơ Đồng tiền tư bản đã chen vào đời sống xã hội, mua rẻ lương tâm, phá hoại thuần phong mỹ tục, làm bang hoại những giá trị tính thần cao đẹp của dân tộc Biết bao điều lố lãng vô đạo đức từ đấy mà ra Và Tú Xương vừa là chứng nhân, vừa là nạn
nhân
I.2 Nhân thế với những gương mặt hài hước cụ thể
Sự xuất hiện của người Pháp với tư cách thống trị dã gặp ngay sự phản
đối, bất chấp của Tú Xương cũng như tầw lớp nho sĩ đương thời nhưng chúng
vẫn xuất hiện và thống trị Đó là cái nhục Và nhà thơ đã bộc lộ sự phản đối
qua ngòi bút Nhà thơ chỉ có độc thứ vũ khí ấy nhưng sắc bén và hiệu lực
Đó là cảnh toàn quyền Đumc cùng vợ và Công sứ Đaclơ trong buổi
xướng danh khoa thi Định Dậu 1897:
Long cắm rợp trời quan sứ đến
Váy lê quét đất mụ đầm ra
(Lễ xướng danh khoa Định lâu)
cũng như:
Trên ghế hà đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng
(Điều người thi đổ)
Xen vào cảnh long trọng, trang nghiêm của những sĩ tử là hình ảnh mu đầm
thô thiển rất đáng cười, đáng đả phá Mụ đầm với cái váy lê quét đất bệ vệ
ngôi trên, còn những cử nhân tân khoa quỳ lạy ở dưới, Tú Xương cho đó là
một sư hổ thẹn và nhục nhã cần “ngoảnh lai mà trông nổi nước nhà” Đó là
cảnh hết sức mia mái
Thực dân Pháp thực hiện chính sách khủng bố thí sinh nhằm mục đích
để phòng nổi loạn, chúng thiết quân luật:
Tám piỡ chuông đánh phải nằm có
l4
Trang 18Người quên mất thẻ âu trời cải
Chó chạy ra đường có chủ lo
hoặc phat vi cảnh những chuyện buồn cười:
Nựđ ngẵn đi xia may với được
Chuyến này chắc hẳn kiếm ăn to
(Ông Cò) Một chữ ăn mang hai nghĩa, hai cách hiểu làm cho hiệu lực lời đả kích đạt
mức tối đa và ngòi bút trào phúng thêm trữ tình, cái trữ tình của sự căm giận
và khinh bì,
Đặc biệt nhà thơ còn chỉ ra tội ác của chúng qua một số chính sách bốc
lột, thủ doan vơ vét làm cho cảnh sống của nhân dân cằng cay cực
Nói chung hình ảnh thế lực thực đân Pháp xuất hiện trong thơ châm biém da kích của Tú Xương không nhiều bởi vì nhà thơ đã gặp những hạn
chế nhất định Thời bấy giờ, như chúng ta biết, thực dân Pháp sử dụng chính
sách “Dùng người Việt trị người Việt” do đó sư xuất hiện của chúng trước mắt nhân dân ở thành Nam này không nhiều, không rộn rịp vì chúng đã trao quyền xét nét trực tiếp nhân dân cho bọn tay sai, còn chúng thì đứng ở trên
nữa Mặc khác ta biết Tú Xương là một nhà nho, một thâm nho chỉ sống tiếng rẺ trong gia đình, giao du không thật rộng rãi ngoài xã hội, cái xã hội
mà ông chán ghét ấy Cho nên hẳn ông ít có dịp may tiếp xúc với các “guý
quan ” Tây ấy Vì thế ngọn roi châm biếm hay đả kích của Tú Xương vung lên cho bon này chưa nhiều, chưa mạnh mẽ và nhiều khi nó chỉ thể hiện một
cách không trực tiếp
Nhưng ngọn roi ấy lai quất tới tấp vào một đối tượng khác Đó chính
là đám quan lại bán nước cũng như lũ tay sai cuj đầu nhục nhã làm công cụ
phục vụ chính sách cai trị của thực dân Chúng hiện lên với những gương mặt
méo mó khác nhau, đáng cười, đáng khinh, đáng sỉ vả, đáng vỗ những đòn đau điếng khác nhau Tự trong bản thân chúng chứa đầy những mâu thuẫn
Đó cũng là tiền đề để đòn đánh của Tú Xương phát huy hết tốc lực Tuy
nhiên chúng thường chỉ là loại quan nhỏ, bọn trực tiếp thống trị nhân dân Đó
là cái thứ do chính quyền đế quốc nặn ra, một thứ sản phẩm được hạ sinh bởi
bọn xâm lược Chức tước do chúng bỏ tiền ra mua hoặc do phản bội luồn cúi, hoặc do xu nịnh mà có, Những tên quan này là những kẻ ở sát kề nhà thơ hoặc là những kẻ mà ông quen mặt biết tên Tùy theo từng trường hợp mà ông có những thái độ tương ứng khác nhau Những tên tần độc hoặc lố bịch nhiều khi ông châm biếm, đả kích, những tên khác thì ông hài hước Tuy
nhiên ở mỗi trường hợp, đổi tượng bị trào phúng vẫn bị những “đòn” xứng
đăng khác nhau
Đa phân chúng đều dốt nát Nào là những ông quan đốc hoc thi “ed
bạc rong chơi rặt một màu” Nào là ông đồ mà thực ra là thằng bán sắt,
1S
Trang 19(Giễu ông đồ Bốn ở phố hàng sắt Những ông được gọi là tiến sĩ thì "nghe
văn mà gớm cho ông mãi, cờ biển vua ban cũng lạ đời!” (ông tiến sĩ mới)
Đó là những chuyện lạ đời, trái tự nhiên bởi vì đó là hành động “ phải chăng ”
của hợp đồng mua danh bán tước
Chúng tham ô, bòn rút đến tận xương tủy những lớp nhân dân nghèo
xơ xác, đói rách để sống nhởn nhơ hưởng thụ trên đầu trên cổ, trên thân tàn
ma dai của đám dân đen Đây là những Tri phủ:
Chữ y chữ chiểu không phê đến
Ông chỉ quen phê một chữ tiền
mình cách đục khoét nhân dân bang những biện pháp cụ thể “Đất nhị dễ thường lươn rút ở, lửa nồng nên chuột phải đùn ra”, có nghĩa là phải biết độc
ác, biết cách đục khoét thì dân mới chịu thòi tiền ra Ta biết Tú Xương là một
nhà nho suốt đời chịu cảnh nghèo thì làm gì biết được những mánh khoé đó
Có được cách nghĩ như thế là do ông đã hiểu được, chứng kiến được những
mánh khoé, thủ đoạn của chúng mà thôi Chúng đục khoét nhân dân để làm giàu nhưng dưới ngòi bút của Tú Xương, đó là hành động của kẻ ăn trộm,
nếu không khéo thì sẽ hại đến thân chết bỏ đời Vì thế nhà thơ lên tiếng
cảnh cáo chúng:
Nó rủ nhau đi hót của trời,
Đang khi trời ngủ của trời rơi
Hót mau kẻ nữa kinh trời dậy
Trời dậy thì bây chết bỏ đời
(Hót của trời)
Rõ ràng ta thấy nhà thơ đã thể hiện rất thực bộ mặt của bọn tham quan
õ lại dương thời với đầy đủ những tính cách xấu xa điển hình Chính những gương mặt với những đường nét khác nhau đó đã làm nên bộ mãt xã hội
đương thời - Đó là cái xã hội thực dân - phong kiến tàn nhẫn, mục nát đang
doa day nhân dân ta một cách không thương xót, Vì thế thơ Tú Xương là một hành đông đấu tranh, Đấu tranh bằng ngòi bút để chống lai cái xã hội con lai con hoang ấy - Kết quả của sự dan díu piữa phong kiến với chủ nghĩa tư bản
thực dân Ngọn roi mà nhà thơ quất xuống ở đây phải nói là đích đáng
Nhưng giá như Tú Xương vung cao ngọn roi ấy hơn nữa thì hiệu quả của nó
16
Trang 20chắc chấn sẽ còn cao hơn Ngòi bút ấy chưa nhắm lên tới những tên bán nước chóp bu tai to mặt lớn đang cầm đầu cả một guồng máy phản động
Và đặc biệt, sâu sắc, manh mc, và thấu đáo trong thơ Tú Xương phải
núi là vấn đề nho học và thi cử, Bởi vì nhà thơ là người trong cuộc cho nên
ông hiểu hơn ai hết Đánh và cười từ trong ra mới hiệu lực và thỏa mãn! Ấn
(ung ning n@ day cam thù, uất hận, nhục nhã được thể hiện nhiều nhất rong thơ Tú Xương là ấn tượng về ký thí Định Dau 1897, Để thị uy, chúng tổ
chức khủng bố, Dưới con mắt của Tú Xương, thi cử bấy giờ chỉ là một tấn
tuông sân khấu, tình trạng thi cử thì hổn loạn, lố lãng Nó mang không khí suy tàn của chế độ phong kiến và giai cấp phong kiến với đạo nho đã tiêu điều, tàn lui Cái sự thì bây giờ chẳng còn mang giá trị đích thực nên tao ra những tiêu cực đáng buồn và đáng cười Cái danh để vươn tới qua thi cử được bêu ra như một món hàng để gởi gấm, đút lót, mua bán Vì vậy không ít kẻ
đã ra sức chạy vay tận dụng tất cả những thế lực mình có thể đạt được:
Trí huyện lâu nay giá rẻ mà
Ví vào tay tớ quyết không tha
(Bởn ông Phó bảng)
Quản coi thí thì nể nang, gian dối Kẻ chấm thì là những kẻ tầm thường xằng bây Xuất thân từ nghề nấu rượu, sau trở nên giàu, mua chức phẩm hàm nhưng thực chất có tài năng gì!
Hàn lâm tu soạn kém gì ai
Đủ cả vung nồi, cả cóng chai
Ví phỏng quyển thi ông được chấm
Đù cha đù mẹ đứa riêng ai
(Đùa ông Hàn)
và đốt nát nên khi xem xong bài thi rồi cất, đến khi người ta đổi bài đi, ông cũng không biết là có sự gian dối (Chế ông huyện) Chính vì thế cuối cùng nuười giỏi bị gạt ra ngoài còn kẻ dốt lại được dùng
Nhà thơ mia mai lối đưa vào những môn học lạ vào phương Tây vì
ông cho đó là thứ trái thường, nhãng nhố và xa hơn còn là mục đích tuyển lựa tay sai đắc lực cho Pháp Ông cất tiếng cười chua chát , ảo nảo để nói về
sự lỗi thời, vô dung của chữ nho với thời thế mới này Những tiếng cười ấy
là một sự tống biệt đắng cay, đau đớn chữ nho vào quá khử
Ngòi bút nhà thơ còn chĩa thẳng vào bọn gái thanh lâu ma quái, sự loạn luân của những bà mẹ vợ, sự đàng điểm của những mệnh phụ phu nhân
lũ con gái đàn bà hư hỏng lấy nhan sắc để trao đổi, vụ lợi, làm những
chuyện vô đạo đức, vô liêm sĩ Hoặc những cô nàng giả vờ trong wang để
treo giá ngọc Nhà thơ rất chua cay khi châm biểm những théi Om Ờ, tầng tu
17
Trang 21phải nói rằng đây là những kẻ làm dơ bẩn xã hội, làm chướng mắt người đời
Lũ chúng thật rất đáng cười Đó là một lũ:
Ra đường đáng giá người trinh thực,
Trong dạ sao mà những gió trăng
Mới biết hồng nhan là thể thế,
Tram nim trăm tuổi lại trăm thằng
(Để vợ chơi nhãng)
Tú Xương ngoài ra cũng không tha những tên thầy chùa xằng bậy, đội lốt thầy tu để trục lợi hay bày ra những trò nhằm thỏa mãn duc tinh (“Vay su
không được” ; “Ông sư mà mấy ả lên đồng ”)
Ở trên ta đã tìm hiểu cái cười châm biếm đả kích vào những gương
mặt phần diện khác nhau, Điều làm cho thơ trào phúng Tú Xương phong
phú, đa dang thêm là ông còn đem vào thơ để cười cả những nhân vật chưa hẳn là phản diện Đó là tiếng cười hài hước, nhẹ nhàng, hóm hỉnh Thậm chí
tiếng cười vui dành cho những “Ông cử thứ năm” ; *Thi phúc” ; "Mừng chú lâm aha” ; “Ong lao”, Những người ấy hoặc may mắn hoặc "có phúc” mà
làm nên Hoặc những chuyện thường thật vui vui cốt yếu chỉ để cho vui
Rõ ràng tuy ông căm ghét, khinh khi, hần học nhưng rồi có lúc cũng
tươi vui thoải mái Những thái độ đó phù hợp với sự đa dạng của đối tượng cụ
thể, con người như thế mới đáng quý, đáng trân trọng Và thơ Tú Xương cũng như con người ông gần gũi với người đời là vì thế
2; Đối tượng thứ lai: Thân phận nhà thơ
Ta biết rằng ở những nhà thơ trào phúng sự xuất hiện những bài tự trào là điều thường thấy Tú Xương cũng thế, và trong toàn bộ sự nghiệp văn chương của ông, số lượng những bài tự trào không nhỏ Nó đủ sức dựng nên một Tú Xương đầy phong độ cương trực Mặc dù những bài thơ tự trào nhiều
khi không thật đúng với hoàn cảnh hiện tại, do dụng ý nghệ thuật, nhà thơ
cường điệu lên hoặc cố tình nói khác đi Chính điều ấy đã đem đến những quan điểm sai lầm cho thơ ông trước đây Do vây, bây giờ đọc thơ Tú Xương, chúng ta phải cẩn thận nghiêm túc lĩnh hội một cách đúng đắn để có một cái nhìn, một cách nghĩ khách quan Chỉ có thế mới thấy được hết những gì là
máu thịt, là linh hồn của Tú Xương
Tú Xương là người thuộc tầng lớp nho sĩ phong kiến lớp dưới đang có chiều hướng tiểu tư sản hóa Điều đó đã ảnh hưởng sâu đâm vào sáng tác của ông Đối với đối tượng này, tiếng cười Tứ Xương cất lên chua cay, xót xa
Tú Xương mang thân phân của một kẻ kém may mắn Ông sinh ra Ở thời điểm xã hôi Việt Nam lâm vào cảnh bỉ thương nhất và khi iđn lên chứng
kiến cái xã hôi giao thời nhố nhãng trái tay gay mất,
18
Trang 22Cái cười lâu nhất là tập trung vào cái nghèo của nhà thơ Không hiểu
lai sao, trong lịch sử văn học, bất cứ nhà nho nào cũng hay nói đến cái nghèo Phải chăng ảnh hưởng thuyết “vớ v/ “của Lão - Trang mà họ nói lên
cái nghèo nhằm đề cao cái trong sạch, thanh cao, sư phóng khoán, an nhàn
của bản thân họ liêng Tú Xương, cái nghèo của ông được diễn tả một cách
chân thành, tha thiết, đầy cảm đông và thuyết phục mặc dù cũng có khi ông
có tình cường điệu lên
Ông lâm cảnh nghèo vì sự thiếu thốn vật chất cứ bao kín đời:
Cái khó đeo nhau mãi thế thôi,
Có ai hay chỉ một mình tôi?
Bạc đâu ra miệng mà mong được?
Tiền chửa vào tay đã hết rồi,
Van nợ lắm khi trào nước mắt
Chay ăn từng bữa mướt mồ hôi
(Than nghèo) hay:
Chẳng khôn cũng biết một hai điều
Chẳng tội gì hơn cái tôi nghèo
và:
Vợ lãm le ở vú
Con tập tểnh đi bồi
(Than cùng)
Cái nghèo đã đến mức cùng cực, cực điểm như thế Và ông trở thành
gánh nặng cho người vợ tảo tần Ông đặt sức nặng cũng như địa vị của mình
ngang hàng với lũ con trên vai bà Tú, Có lúc ông tự cười mình là “Thai vO
tích”, là "nhờ vợ” ;đÝã không đem được sư no đủ cho vợ con còn để vợ lo
nuôi Thế nhưng vẫn đáng quý cái thành thật ấy của ông Ông nói thà như
thế còn hơn phải bán danh dự, bán lương tâm để đi theo thực dân đế quốc Ông luôn dần vắt lo âu về cảnh nghèo, chịu sự ghì siết của áo cơm Khổ là
thế mà giọng điệu vẫn mia mai một cách bình tính, vẫn hài hước những chỗ
đáng lẽ ra phải khóc Vẫn lên giọng đùa giổn với cái nghèo:
Lúc túng toan lên bán cả trời
Trời cười thằng bé nó hay chơi
(Tư cười mình) Ông vẫn cố tưởng tương ra sự giầu có của mình, cố cất lên giọng ta
đây phong lưu sang trọng chỉ dé cho vui Cái cười ấy cất lên nhằm khỏa lấp
cái buôn, sự khổ tâm,khổ thân xác
Tú Xương còn cất tiếng cười vào bản thân mình là kẻ không có công dunh sự nghiệp, luôn gặp thất bại chua cay trong thì cử Nợ lều chóng bám
tiết ông như một cái nợ đời thật nặng nề Đó là mối hân lớn của Tú Xương
|9
Trang 23Ông luôn chế giểu sự thất bại của mình, thi tám Íần vẫn không vượt khỏi cái
tú tài Điều đó làm ông khổ sở vì dở dở ương ương, quan không ra quan, dân không ra dân Ông cho rằng hỏng thị là cái “đệ nhất buồn" Ông giải thích lý
do hỏng thí của mình là *phạm trường quy” là “văn chương ngôai hạn quan không chấm” hoặc khi tức giân thì cho rằng mình là kẻ “dốt nát” Đã có lúc
ông đã từng quyết tâm;
Mở mặt quyết cho vua chúa biết
Đua danh kẻo nữa mẹ cha già
(Than thân chưa đạt)
thế nhưng khi gặp thất bại liên tiếp như thế ông đã có ý định:
Mai mà tớ hỏng tớ đi ngay
Giỏ tết từ đây nhớ lấy ngày
nam nhỉ Nguyễn Công Trứ đã chẳng nói “Đi không chẳng lẽ lại về không”!
Những nỗi buồn, tiếc thương mÏa mai bản thân đã đi đến mức độ sâu thẳm
chín mùi Và ở đây luôn có sự xâm nhập của giọng điệu trữ tình
Tiếng cười, lối tư trào còn hiện diện ở những tai họa bất thường, vô cd
cứ đến Từ đó nảy sinh ra cách nói ngông, nảy sinh những sắc thái cười cợt
chua cay khác nhau của kẻ bất cần đời Đó là việc nhà thơ nể bạn đi bảo lĩnh cho bạn vay tiền, người này không trả được, ông phải trả thay:
Nợ mướn van thay cũng chẳng xong,
Không vay mà trả một trăm đồng
Kìa người ăn ốc đà khôn chửa,
Để tớ đền gà có hại không
(Không vay mà trả)
Dù là trường hợp nào, cung bậc nào, cái cười của Tú Xương vẫn luôn
rất nghệ thuật Nó có giá trị đích thực, có tác dung rõ rằng chứ không là tiếng
cười sinh lý, cái cười suông sã Hoàn cảnh chung của xã hội tác động vào hoàn cảnh riêng không mấy thỏa mãn như thế đã làm bản thân Tú Xương
mất phương hướng [Dù sao ta cũng không nên dựa vào đó mà trách cứ ông
bởi vì ông là một con người bình thường Trong thơ ông, ta thấy khắc họa ra
một con người Tú Xương khắc với con người thật từ hình dáng đến cách
sông ; lối sống buông thả, quá đà để rôi đem đến những hối tiếc, những thất vụng Rõ ràng cái mïa mai, châm biếm như thế cũng là một cách nói, là một
20