1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ tú xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học việt nam

292 27 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thơ Tú Xương Trong Tiến Trình Hiện Đại Hóa Văn Học Việt Nam
Tác giả Đoàn Hồng Nguyên
Người hướng dẫn GS.TS. Mai Quốc Liên
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2003
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 292
Dung lượng 4,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI (6)
  • 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (8)
  • 3. MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU (23)
  • 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (24)
  • 5. ĐỐI TƢỢNG - PHẠM VI NGHIÊN CỨU (25)
  • 6. NHŨNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN (26)
  • 7. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN (27)
  • CHƯƠNG 1. NHŨNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ CỦA LUẬN ÁN (28)
    • 1.1. Những khái niệm cơ sở (28)
      • 1.1.1. Khái niệm qui phạm văn học và đặc trưng qui phạm hóa trong văn chương (28)
      • 1.1.2. Khái niệm hiện đại, văn học hiện đại, hiện đại hóa văn học và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam (32)
    • 1.2. Vấn đề văn bản thơ Tú Xương (41)
      • 1.2.1. Tình hình văn bản tác phẩm của Tú Xương (42)
        • 1.2.1.1. Những chép tay bằng chữ Nôm (42)
        • 1.2.1.2. Những bản bằng tiếng Việt (50)
      • 1.2.2. Nhìn lại tình hình văn bản và tiến trình nghiên cứu văn bản tác phẩm của Tú Xương (58)
      • 1.2.3. Những cơ sở và nguyên tắc để xác lập một văn bản mới về tác phẩm của Tú Xương (65)
      • 1.2.4. Đôi nét về văn bản tác phẩm Tú Xương vừa xác lập (68)
  • CHƯƠNG 2. CẢM HỨNG VỀ CON NGƯỜI THỊ DÂN VÀ THẾ GIỚI THỊ THÀNH (74)
    • 2.1. Cảm hứng về con người thị dân của Tú Xương (75)
      • 2.1.1. Cảm hứng về con người trong thơ ca nhà Nho trung đại (75)
      • 2.1.2. Cảm hứng thị dân và sự đa dạng độc đáo của kiểu hình con người thị dân trong thơ Tú Xương (81)
        • 2.1.2.1. Nhà nho thị dân: Kiểu hình tƣợng nhà nho thị dân và kiểu ngôn chí thị dân - (82)
        • 2.1.2.3. Kiểu hình tượng và sự thể hiện hình tượng người phụ nữ thị dân (98)
        • 2.1.2.4. Kiểu hình tượng con người phố phường và nét riêng trong sự thể hiện hình tượng con người phố phường (122)
    • 2.2. Cảm hướng về thế giới thị thành của Tú Xương (128)
      • 2.2.1. Không gian sinh hoạt: không gian cảnh phố và không gian cảnh trường thi (129)
        • 2.2.1.1. Không gian thơ Tú Xương đóng khung trong cảnh sinh hoạt đô thị (130)
        • 2.2.1.2. Không gian khoa cử và không gian trường thi (140)
      • 2.2.2. Cảm hứng về thời gian nghệ thuật (147)
  • CHƯƠNG 3. VỀ THỂ LOẠI, NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT VÀ PHƯƠNG THỨC TRỮ TÌNH QUA KIỂU TRÀO PHÚNG TỰ TRÀO (154)
    • 3.1. Về thể loại (154)
      • 3.1.1. Thơ Hát nói (154)
      • 3.1.2. Thơ lục bát (166)
      • 3.1.3. Thơ Nôm luật Đường (174)
    • 3.2. về ngôn từ nghệ thuật (192)
    • 3.3. Kiểu trào phúng tụ" trào (285)
  • KẾT LUẬN (220)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (226)
  • PHỤ LỤC (244)

Nội dung

LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cũng nhƣ hầu hết các tác giả thời trung đại, việc tìm hiểu và nghiên cứu tiếp nhận thơ

Trong thời gian gần đây, nghiên cứu về Tú Xương đã diễn ra chủ yếu trên hai lĩnh vực: văn bản và nghiên cứu tiếp nhận Phần nội dung luận án sẽ đề cập đến các vấn đề liên quan đến văn bản, trong khi ở đây, chúng tôi sẽ tập trung vào quá trình nghiên cứu tiếp nhận tác phẩm của Tú Xương.

Kể từ bài viết "Văn chương trong lối hát ả đào" của Phạm Quỳnh năm 1923 cho đến bài tổng kết "Một thế kỉ tiếp nhận thơ Tú Xương" của Nguyễn Hữu Sơn năm 2001, nghiên cứu về thơ Tú Xương đã trải qua gần tám mươi năm phát triển Tiến trình này gắn liền với những biến động của lịch sử Việt Nam hiện đại và có thể được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau.

2.1.1 Giai đoạn thứ nhất: trước 1945

Mười sáu năm sau khi Tú Xương qua đời và bảy năm sau khi thơ của ông được công bố rộng rãi, việc nghiên cứu và tiếp nhận thơ Tú Xương mới được chú trọng Phạm Quỳnh là người tiên phong trong công việc này.

Tú Xương đã khám phá sự độc đáo trong "cái ngông" và phong cách tự trào của bài hát nói "Câu đối tết" trong tác phẩm "Văn chương trong lối hát ả đào" Ông nhấn mạnh rằng lời văn tuy đơn giản như lời nói hàng ngày nhưng lại mang đến sức hấp dẫn riêng biệt.

Trong các báo Đông Pháp thời báo (1928), Thần chung (1929), và Phụ nữ tân văn (1929), Phan Khôi đã phân tích thơ Tú Xương với những đặc điểm nổi bật như "giọng khôi hài trào phúng" và "chí khí, có tư tưởng quốc gia." Ông cũng nhấn mạnh ý nghĩa sâu sắc trong từng câu thơ, thể hiện sự tự nhiên mà không cần phải nặn nọt từng lời chữ.

Trong lời giới thiệu quyển "Vị Xuyên thi văn tập", Sở Cuồng Lê Dƣ đã khẳng định mối quan hệ sâu sắc giữa con người và sự nghiệp của Tú Xương Ông nhận xét rằng thơ văn của Tú Xương mang đa dạng giọng điệu, từ trào phúng đến tự tình, điều này giúp tác phẩm của ông dễ dàng chạm đến trái tim độc giả Nhờ đó, tên tuổi Tú Xương đã được truyền lại qua nhiều thế hệ và ông đã khẳng định vị thế vững chắc trong thi phái cận đại.

Qua 12 chương của "Trông giòng sông Vị" - tập chuyên luận đầu tiên về Tú Xương

Nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại đã đưa ra nhiều vấn đề thú vị liên quan đến con người trong các chương từ 1 đến 7, đồng thời khám phá giá trị trong các chương 8 đến 11 Bên cạnh đó, ông cũng đề cập đến những hạn chế trong nghiên cứu của mình.

Tú Xương, một trong những nhà thơ nổi bật của Việt Nam, đã để lại một di sản văn chương quý báu, như Trần Thanh Mại đã khẳng định Với giọng điệu độc đáo và tính trào phúng, thơ của Tú Xương phản ánh tâm trạng của nhà thơ trước thời cuộc và hoàn cảnh sống Nghiên cứu về tác phẩm của ông không chỉ mở ra nhiều vấn đề định hướng mà còn góp phần làm phong phú thêm hiểu biết về văn hóa và lịch sử Việt Nam.

Tú Xương là một tác giả nổi bật, nhưng việc nghiên cứu và đánh giá thơ của ông gặp nhiều phức tạp do mối quan hệ giữa các văn bản thơ.

Tú Xương vổi nhà cách mạng Phan Bội Châu

Trong tác phẩm "Việt Nam văn học sử yếu", Dương Quảng Hàm đã phân loại Trần Tế Xương vào trào phúng, cùng với các thi sĩ nổi bật như Nguyễn Quí Tân, Nguyễn Văn Lạc và Nguyễn Khuyến.

Ngược lại với những ý kiến khác, Quang Phong trong bài "Thơ của Tú Xương" trên Tạp chí Đại Việt cho rằng thơ Tú Xương thiếu sự thanh nhã và giá trị nghệ thuật đối với nhân sinh Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận rằng Tú Xương đã chiếm được một vị trí khả quan trong nền văn học nước ta, đặc biệt là trong những thi phẩm bất tử.

2.1.2 Giai đoạn thứ hai: từ 1945 - 1954

Trong giai đoạn này, nghiên cứu về thở Tú Xương đã có những bước tiến đáng kể trong cả lĩnh vực giáo khoa và văn học sử Các nghiên cứu này không chỉ giúp làm sáng tỏ giá trị văn học của Tú Xương mà còn nâng cao hiểu biết về bối cảnh lịch sử và văn hóa của thời kỳ ông sống.

Trong "Thân thế thơ văn Tú Xương", Vũ Đăng Văn đã chỉ ra nét độc đáo của Tú

Tú Xương nổi bật trong làng văn học Việt Nam với phong cách trào phúng độc đáo, thể hiện tính thời sự và gần gũi với đời sống nhân dân Theo Vũ Đăng Văn, ông là người đầu tiên dám "liều mạng" sáng tác những tác phẩm cách mạng, tạo nên một cột mốc đặc biệt trong lịch sử văn học.

Theo Nghiêm Toản trong "Việt Nam văn học sử trích diễm" nhận định rằng thơ Tú Xương mang âm hưởng chua chát, mỉa mai, phản ánh tâm lý hàn nho và tình trạng xã hội giao thời Lời thơ giản dị, tự nhiên, thể hiện cảm xúc thiết tha, phóng túng và ngông cuồng, khiến tác phẩm của ông trở nên phổ thông Vì vậy, Tú Xương xứng đáng được coi là một trong những đàn anh của bình dân thi sĩ.

Nguyễn Tưởng Phượng và Bùi Hữu Sủng, tác giả của "Văn học sử Việt Nam hậu bán thế kỉ XIX", đã khám phá những đặc điểm độc đáo trong văn học, bao gồm tính cách ưu thời, tư tưởng hoài cổ, khuynh hướng trụy lạc, và đặc biệt là những phát hiện về thơ trào phúng.

MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu "Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam" xem xét những chuyển biến trong thơ Tú Xương theo xu hướng hiện đại hóa từ góc độ hệ thống và lịch sử phát sinh Mục tiêu chính của luận án là phân tích các yếu tố cách tân trong thơ Tú Xương, đặc biệt là những điểm bất quy phạm so với các đặc trưng quy phạm của văn chương Việt Nam thời trung đại Nghiên cứu này nhằm xác định vị trí của thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam và khám phá những tác động của nó đối với sự phát triển của quá trình này.

Nghiên cứu "Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam" mở ra một hướng tiếp cận mới về tác giả Tú Xương, giúp hiểu rõ hơn về vị trí và ảnh hưởng của ông trong bối cảnh văn học hiện đại.

Xương là một phần quan trọng trong quá trình hiện đại hóa văn học, phản ánh sự phát triển và thay đổi của tư duy nghệ thuật qua các thời kỳ Việc nghiên cứu và phân tích các tác phẩm văn học sẽ giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội và văn hóa, đồng thời đóng góp vào việc hoàn thiện luận văn tốt nghiệp.

Việt Nam, và rất có thể Tú Xương là điểm xuất phát hoặc gần điểm xuất phát nhất của tiến trình đó.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về thơ Tú Xương không chỉ tập trung vào các yếu tố đặc trưng của tác phẩm mà còn hướng đến việc thiết lập hệ thống văn bản cố định Để thực hiện điều này, cần áp dụng cả phương pháp nghiên cứu văn bản học và phương pháp nghiên cứu văn học, nhằm hiểu rõ hơn về hiện tượng văn học này trong bối cảnh lịch sử và đồng đại.

4.1 Những phương pháp nghiên cứu văn bản:

Chúng tôi sẽ áp dụng các phương pháp khảo sát, thống kê, miêu tả và phân loại để nghiên cứu và xây dựng một văn bản thơ Tú Xương hoàn chỉnh và ổn định Mục tiêu là tạo nền tảng vững chắc cho việc nghiên cứu tiếp nhận, đồng thời giảm thiểu sai sót do tư biện.

4.2 Những phương pháp nghiên cứu văn học:

Chúng tôi áp dụng ba phương pháp chính trong luận án này, bao gồm phương pháp nghiên cứu hệ thống, phương pháp nghiên cứu lịch sử - phát sinh và phương pháp nghiên cứu so sánh loại hình.

Phương pháp nghiên cứu hệ thống được áp dụng để phân tích các nguyên tắc nghệ thuật, qua đó thể hiện cảm nhận của Tú Xương về con người và thế giới, cũng như phản ánh những đặc trưng của văn chương trung đại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu lịch sử - phát sinh là yếu tố quan trọng trong việc phân tích "Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam" Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào chiều lịch đại mà còn chú trọng đến trục đồng đại, nhằm làm rõ vai trò của Tú Xương trong bối cảnh văn học hiện đại Việc áp dụng phương pháp này sẽ giúp làm nổi bật những ảnh hưởng và giá trị của tác phẩm trong việc phát triển văn học Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu so sánh - loại hình sẽ được áp dụng từ các cấp độ như nội dung trữ tình, phương thức trữ tình và loại thể, nhằm làm nổi bật sự độc đáo trong cách thể hiện hình tượng con người thị dân Qua đó, bài viết sẽ phân tích các thể loại thơ như Hát nói, thơ lục bát và thơ Nôm luật Đường, cùng với ngôn từ và các kiểu tả chân - phóng sự cũng như kiểu trào phúng.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã kết hợp các phương pháp đã nêu với các phương pháp thống kê, miêu tả, so sánh và phân tích mà không tách rời chúng.

ĐỐI TƢỢNG - PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án bao gồm 134 bài thơ Hát nói, thơ luật Đường, thơ lục bát, phú, văn tế và câu đối bằng chữ Nôm của Tú Xương Văn bản các tác phẩm này được xây dựng từ quá trình khảo cứu văn bản, với tinh thần tổng hợp, chọn lọc và hiệu đính các bản Nôm chép tay, đồng thời kế thừa thành tựu từ các bản in tiếng Việt về thơ Tú Xương.

Nghiên cứu luận án này tập trung vào những tác phẩm của các tác giả trước và sau Tú Xương, như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Tản Đà và Trần Tuấn Khải, nhằm làm nổi bật những nét tương đồng và đặc trưng thi pháp của Tú Xương.

Luận án sẽ nghiên cứu các đặc trưng độc đáo của thơ Tú Xương trong bối cảnh lịch đại và đồng đại, đồng thời xem xét sự phát triển của văn học trung đại Việt Nam Bên cạnh đó, tác phẩm cũng sẽ phân tích những đặc điểm phong cách của các tác giả khác có sự tương đồng, từ đó làm nổi bật những đặc trưng thi pháp đặc sắc của Tú Xương.

Luận án này tập trung vào việc khảo sát những đặc trưng độc đáo của thơ Tú Xương, nhằm làm nổi bật sự khác biệt so với thi pháp của văn học Việt Nam trung đại, mà không đi sâu vào nghiên cứu toàn bộ các vấn đề liên quan đến thơ của ông.

NHŨNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

Nghiên cứu trong luận án này sẽ đóng góp vào việc tìm hiểu thơ Tú Xương bằng cách áp dụng phương pháp nghiên cứu tiếp nhận mới, dựa trên hệ thống, lịch sử phát sinh và so sánh - loại hình.

Luận án về những đặc trưng của thơ Tú Xương, bao gồm nội dung trữ tình, phương thức trữ tình và hình thức thể hiện, sẽ khẳng định giá trị đặc biệt của ông trong nền văn học Việt Nam Những phát hiện này cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của Tú Xương trong việc thúc đẩy sự phát triển của văn học từ thời kỳ trung đại đến hiện đại.

Nghiên cứu tiếp nhận thơ Tú Xương trong luận án có thể tạo ra một chuyên đề giá trị, góp phần vào việc giảng dạy và nghiên cứu về thơ Tú Xương, đồng thời hỗ trợ quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam ở cấp trung học và đại học.

Kết quả khảo cứu về văn bản thơ Tú Xương sẽ đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu tiếp nhận thơ của ông trong tương lai Văn bản này được coi là một tài liệu đáng tin cậy, giúp nâng cao hiểu biết về phong cách và nội dung sáng tác của Tú Xương.

KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Luận án gồm 219 trang, bao gồm 22 trang tài liệu tham khảo và 22 trang phụ lục Nội dung chính của luận án được chia thành 3 chương, với phần Dẫn nhập dài 22 trang, phần Nội dung chính 192 trang, và phần Kết luận 5 trang.

Chương 1 Những vấn đề cơ sở của luận án (46 trang)

Trong phần khái niệm cơ sở, các khái niệm qui phạm và bất qui phạm, cùng với hiện đại và hiện đại hóa văn học, được xác lập nhằm tạo nền tảng cho việc nghiên cứu tiếp nhận thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.

Toàn bộ tác phẩm thơ Tú Xương sẽ được khảo sát bằng chữ Nôm và tiếng Việt, nhằm xây dựng một văn bản mới làm nền tảng cho nghiên cứu trong luận án.

Chương 2 Cảm hứng về con người thị dân và thế giới thị thành (80 trang)

Trong chương này, chúng tôi nghiên cứu sâu về sự khác biệt trong cách thể hiện con người và thế giới của Tú Xương, dựa trên khái niệm qui phạm hóa Phân tích này được thực hiện theo chiều lịch đại và trục đồng đại, nhằm làm nổi bật cảm hứng thị dân trong tác phẩm của ông.

Chương 3 Về thể loại, ngôn từ nghệ thuật và kiểu trào phúng tự trào (66 trang)

Bài viết khảo sát các đặc trưng của thể loại thơ như thơ Hát nói, thơ Lục bát, và thơ Nôm luật Đường Đồng thời, nó cũng phân tích ngôn từ nghệ thuật và phương thức trữ tình qua kiểu trào phúng tự trào Những yếu tố này góp phần làm phong phú thêm giá trị nghệ thuật của thơ ca Việt Nam.

NHŨNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ CỦA LUẬN ÁN

Những khái niệm cơ sở

1.1.1 Khái niệm qui phạm văn học và đặc trưng qui phạm hóa trong văn chương trung đại Việt Nam

Dựa trên khái niệm qui phạm trong văn học trung đại, bài viết sẽ khảo sát các yếu tố bất qui phạm trong thơ Tú Xương Nghiên cứu này không chỉ giúp đánh giá chính xác và khoa học về thơ Tú Xương mà còn chỉ ra vị trí và tác động của ông trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.

1.1.1.1 Theo nghĩa thông thƣòng: quy phạm (qui: cái khuôn tròn, là khuôn phép; phạm: khuôn khổ, khuôn mẫu) là khuôn thước để theo; là những phép tắc, nguyên tắc, nguyên lí, là những quy định chặt chẽ phải tuân theo

Qui phạm là những quy định cần thiết để duy trì tổ chức và nề nếp trong hoạt động, nhằm đạt hiệu quả cao Nó thể hiện văn minh và văn hóa của mỗi cá nhân trong cộng đồng, xã hội, đồng thời mang ý nghĩa đạo đức và chính trị sâu sắc.

Xã hội Việt Nam thời trung đại là xã hội phong kiến Nho giáo, xây dựng dựa trên nguyên tắc của chữ "Lễ" "Lễ" bao gồm các qui ước và điều ước, đảm bảo các quan hệ xã hội giữa con người Nó quy định mức độ, nghi thức và tiết tấu trong giao tiếp, giúp hành động diễn ra đúng chỗ, đúng lúc, không buông thả theo ý riêng Mọi hoạt động và chuẩn mực đạo đức trong xã hội đều được qui phạm hóa theo chữ "Lễ", thể hiện qua Tam cương (quân thần, phụ tử, phu phụ), Ngũ luân (quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu), và Ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) Theo Luận ngữ, "Kẻ quân tử học rộng rãi ở văn, ước thúc bằng lễ thì có thể sống không trái đạo nghĩa".

1.1.1.2 Đời sống được qui phạm hóa với lắm nghi lễ thì văn chương cũng sẽ dầy đặc những điển lệ mang tính qui phạm (điển phạm) Theo Lê Trí Viễn trong "Đặc trƣng văn học trung đại Việt Nam" [210, tr 227 - 270] và trong giáo trình "Văn học Việt Nam trung đại" [211, tr 33 - 38] qui phạm (điển phạm) là một đặc trung của văn học trung đại Việt Nam Qua cơ sở văn hóa và xã hội nhƣ vừa nêu ở trên thì tính qui phạm quả là "một đặc điểm nổi bật và bao trùm của văn học Việt Nam thời trung đại." [59, tr 65.]

Người trung đại cảm nhận thời gian theo chu kỳ, quay về quá khứ, trái ngược với cách nhìn tuyến tính, hướng về tương lai của người hiện đại Họ coi trọng quá khứ, coi xã hội lý tưởng là thời đại của Nghiêu, Thuấn Văn chương của các bậc thánh hiền được xem là chuẩn mực, như "khuôn vàng thước ngọc" Sáng tác văn chương nhằm tôn vinh đạo thánh hiền; theo Lê Quí Đôn trong "Vân đài loại ngữ", "Văn chương là góc to của việc lập thân, là việc lớn của sự sửa trị việc đời." Người quân tử học sách thánh hiền để làm thơ, thể hiện lòng tôn kính và noi gương người xưa.

"Ta ắt lòng mừng Văn Chính nữa, gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf

Vui xƣa chẳng quản đeo ấu."

(Nguyễn Trãi - Ngôn chí số 18) Văn chương trung đại, nhìn chung là văn chương chở đạo: văn dĩ tải đạo

"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà."

Nguyễn Đình Chiểu cho rằng, trong văn chương trung đại, thơ được sáng tác chủ yếu để "ngôn chí", "thuật hoài" và "tải đạo", do đó mang tính cao nhã Thơ ngôn chí và tư tưởng sùng cổ tạo nên tính chất phi ngã hóa của văn chương, với mọi lời nói của người xưa trở thành chuẩn mực Theo Nghiêm Vũ thời Tống, người học thơ cần có kiến thức vững vàng, lập chí cao và lấy các triều đại Hán, Nguy, Tấn, thịnh Đường làm thầy Quan niệm này phản ánh sự tôn trọng đối với lý tưởng thánh hiền trong sáng tác văn học.

Văn chương trung đại thường thiếu tính cá nhân và sự độc đáo, phản ánh quan niệm chung về nghệ thuật của thời kỳ này Mặc dù không hoàn toàn vắng bóng cái ngã, nhưng sự vận dụng các thi liệu và văn liệu thường trở nên khuôn sáo, coi trọng tính cổ điển hơn là khám phá đời sống nội tâm Các nhà thơ thể hiện cảm xúc qua những đề tài quy phạm như "Cảm, hứng, vịnh, ngâm, thuật, hoài, tặng, đề, tán, tống, tiễn, biệt ", cho thấy sự thù phụng trong cách sáng tác, nhưng cũng làm mất đi dấu ấn cá nhân trong tác phẩm.

Văn chương trung đại Việt Nam nổi bật với tính chất cao nhã và phi ngã hóa, thể hiện qua hệ thống đề tài phong phú Hình thức văn chương yêu cầu sự cách điệu cao, uyên bác và hàm súc trong biểu đạt, tạo nên sự đối xứng trong cách thể hiện Cách điệu hóa trong văn chương trung đại mang tính ước lệ và tượng trưng, hoàn toàn khác biệt so với bút pháp tả thực của văn chương hiện đại Điều này dẫn đến việc tạo ra những công thức trừu tượng trong việc miêu tả cảnh sắc, tình cảm và con người, thường là hình ảnh của ngư, tiều, canh, mục, và hình ảnh anh hùng tráng sĩ được khắc họa một cách đặc sắc.

Râu hùm, hàm én, mày ngài gắn liền với hình ảnh mài gươm, múa giáo, thể hiện vẻ đẹp của tài năng và phong cách Tao nhân mặc khách phải sở hữu phong tư tài mạo tuyệt vời, trong khi gái thuyền quyên cần có vóc hạc thanh thoát, tạo nên nét quyến rũ đặc trưng.

Cảnh vật trong thơ ca luôn mang tính biểu tượng, với những hình ảnh quen thuộc như tùng, trúc, cúc, mai, và sự chuyển mình của bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông Thiên nhiên không chỉ là bối cảnh mà còn là phương tiện để thể hiện tâm tư tình cảm con người, tạo nên sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên Những hình ảnh tinh tế và súc tích trong thơ ca phản ánh nỗi niềm sâu sắc, đòi hỏi ngôn từ phải hàm chứa nhiều ý nghĩa, để người đọc có thể cảm nhận được chiều sâu của tâm hồn.

Hồ Xuân Hương hay như của Tú Xương về sau này là hoàn toàn xa lạ với kiểu văn chương cao nhã, cách điệu hóa

Văn chương trung đại thể hiện rõ những quan niệm về thiên nhiên và vũ trụ như "thiên nhân nhất thể" và thời gian tuần hoàn, dẫn đến tính chất sùng cổ, phi ngã và giáo hóa trong nghệ thuật Những đặc điểm này đã quy phạm hóa nội dung và hình thức của văn chương, với hệ thống đề tài cao nhã và sự bộc lộ bản ngã Về hình thức, tính quy phạm tạo nên sự đối xứng trong câu văn, tính ước lệ và hàm súc của ngôn từ, từ đó hình thành lối viết cổ điển và sử dụng điển cố.

Trong sự phát triển của văn học và ý thức cá nhân, các yếu tố vượt ra khỏi khuôn khổ quy phạm đã xuất hiện trong tác phẩm của nhiều tác giả như Nguyễn Dữ, Phạm Thái, Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Gia Thiều Sự hiện diện này càng trở nên rõ nét hơn trong thơ của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến và Trần.

Té Xương Trong đó, sự đoạn tuyệt với những qui phạm của văn chương nhà Nho trong thơ

Tú Xương thể hiện rõ nét sự chuyển mình trong cảm nhận về con người và thế giới, từ cảm thức nhà nho phong kiến sang cảm thức nhà nho - thị dân.

1.1.2 Khái niệm hiện đại, văn học hiện đại, hiện đại hóa văn học và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam

Nghiên cứu thơ Tú Xương trong bối cảnh phát triển văn học Việt Nam hiện đại hóa đòi hỏi không chỉ xem xét các yếu tố bất qui phạm trong thi pháp của ông mà còn cần hiểu rõ các khái niệm về hiện đại và tiến trình hiện đại hóa văn học Theo nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà, việc không nhận thức đầy đủ về vấn đề này có thể dẫn đến sự thiên lệch trong đánh giá giá trị của các tác phẩm văn học hiện đại và hiện tượng văn học đương đại.

Vấn đề văn bản thơ Tú Xương

Nghiên cứu về văn bản thơ Tú Xương chủ yếu dựa vào hai nguồn lưu trữ chính: các bản chép tay bằng chữ Nôm trong kho sách Hán Nôm của thư viện và tài liệu bằng tiếng Việt từ các công trình khảo cứu Những tài liệu này được sưu tầm và chép lại qua vợ con, bạn bè và người thân của nhà thơ, góp phần làm phong phú thêm hiểu biết về tác phẩm của ông.

1.2.1 Tình hình văn bản tác phẩm của Tú Xương

1.2.1.1 Những chép tay bằng chữ Nôm

Theo khảo sát, hiện có 6 bản Nôm chép tay tác phẩm của Tú Xương được lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội Các bản bao gồm: Vị Thành giai cú tập biên (AB.194), Quốc văn tùng kí (AB 383), Việt túy tham khảo (AB 386), Nam âm thảo (VHV 2381), Thi văn tạp lục (VHv 2469) và Tiên đan gia bảo (VHV 2970).

Theo các tác giả của những ấn phẩm thơ Tú Xương bằng tiếng Việt, hiện tại chỉ có hai tập là "Vị Thành giai cú" và "Quốc văn tùng ký" được khai thác Ngoài ra, sách "Thơ văn Trần Tế Xương" do Bộ Giáo dục xuất bản tại Hà Nội cũng đã góp phần vào việc nghiên cứu và phổ biến tác phẩm của ông.

1957 là người đầu tiên công bố sử dụng Vị Thành giai cú tập biên và Quốc văn tùng kí)

[32] Nam âm thảo có đƣợc nhắc đến hai lần trong bài viết nhận xét về tuyển tập thơ Tú

Tác giả Trần Lê Sáng [158, tr 127] và Trần Nghĩa [133, 81 - 95] đã nghiên cứu về thơ Tú Xương Tuy nhiên, cả bản Nam âm thảo và các bản khác như Tiên đan gia bảo, Thi văn tạp lục, Việt tuy tham khảo đều chưa ghi nhận tác giả nào xuất bản về thơ Tú Xương.

Xương bằng tiếng Việt đề cập đến

* Về các bản đã khai thác:

Vị Thành giai cú tập biên (N1) kí hiệu AB 194 là một văn bản không rõ năm biên soạn, gồm 410 trang với kích thước 29x20 cm, chứa chữ Hán xen lẫn chữ Nôm trên giấy bản thường Mỗi trang có 9 dòng, mỗi dòng 19 chữ, với chữ viết chân phương, đẹp và dễ đọc Đặc biệt, văn bản được chấm câu bằng mực đỏ, không phải son theo lối cổ.

Tác phẩm "Tú Xương tác phẩm và giai thoại" là một tập hợp các tác phẩm của Tử Thịnh, tú tài Vị Xuyên Phượng Tường Trần Cao Xương, bao gồm ba phần Phần đầu tiên chứa 77 bài thơ, phú và câu đối, trong đó có một số tác phẩm của Nguyễn Khuyến và Từ Diễn Đồng Phần thứ hai là sưu tập ca dao và tục ngữ, nhưng không rõ người biên soạn Phần cuối cùng gồm các bài dịch thơ Trung Quốc, được ghi rõ là của Tú Xương.

Còn các tác giả "Di sản Hán Nôm Việt Nam - thƣ mục đề yếu" [212], Vị Thành giai cú tập biên có 4 phần

Bài viết đề cập đến bốn phần của tác phẩm văn học: Phần một là "Vị Thành giai cú tập biên" với 78 bài thơ Nôm do Trần Cao Xương soạn, dài 56 trang Phần hai gồm "Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm" với 83 bài thơ Đường, không xác định tác giả, dài 63 trang Phần ba, "Thiên Nam Hương sơn Quan Âm chân kinh tân dịch," dài 65 trang, chứa 22 đoạn thơ Nôm thể lục bát, kể về Phật tích Quan Âm chùa Hương Sơn, được cho là bản dịch của Kiều Oanh Mậu năm 1909 Cuối cùng, phần bốn là "Nam giao cổ kim lí hạng ca dao chú giải," dài 226 trang bằng chữ Hán, chú giải các câu ca dao, tục ngữ và câu đố phổ biến trong dân gian Việt Nam.

Theo khảo sát của chúng tôi, cả phần thứ nhất và phần thứ hai đều ghi rõ tác giả là Tú Xương Phần thứ nhất bao gồm các bài thơ Nôm của Tú Xương, được trích từ tờ la - 28b.

Tập thơ "Nam Định tú tài Phượng Tường Trần Cao Xương Tử Thịnh" bao gồm 89 bài, trong đó có 78 bài thơ, 1 bài phú, 2 bài hát nói và 6 câu đối Sau khi loại bỏ 3 bài không thuộc về tác giả, gồm "Buồn đêm dài", "Bỗng nghe gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf phép thi khoa Nhâm Tí" và "Bảo học trò đi thi" đã được ghi rõ là của Hồi Giang Tú tài Từ Công, cùng với 1 bài của cử nhân Nguyễn Nhữ Mai và 1 bài nghi là của quan Tam nguyên An Đổ Nguyễn Khuyến, tổng số bài còn lại được xác định là của Tú Xương là 84 bài.

Trong số 84 bài thơ còn lại, một số đã được xác định là của tác giả khác, như "Thanh bình tức sự", "Dặn thí sinh", "Xuân nhật tặng hữu", và "Xuân nhật ngẫu đề", đều xuất hiện trong ấn phẩm của Nguyễn Khuyến Theo Trần Nghĩa, các bài "Vãn hành", "Lo xa", "Bát nguyệt giấy tiến sĩ" của Từ Diễn Đồng, "Cười người phố cửa Đông" của Trần Tích Phiên, và "Lạc đường" của Đinh Dương Chương cũng bị xếp nhầm vào danh sách của Tú Xương, dẫn đến tổng cộng 13 bài thơ của các tác giả khác bị nhầm lẫn.

Ngày nay số bài còn được chấp nhận là của Tú Xương là 56 bài

Phần hai của bài viết tập trung vào việc dịch thơ Đường, bắt đầu từ tờ 29a đến 61a, trong đó có ghi rõ "Tú tài Trần Cao Xương Tử Thịnh diễn tập" Tại đây, Tú Xương đã dịch 83 bài ngũ ngôn luật của 29 nhà thơ từ thời Sơ Đường đến Vãn Đường.

2.1.1.2 Quốc văn tùng kí (N2) kí hiệu AB 383 Văn bản khổ 28x18, do Hải Châu Tử biên soạn có 448 trang viết tay, trên giấy bản thường; chữ viết chân phương dễ đọc, đã được chấm câu bằng mực đỏ (không phải bằng son theo lời xƣa) Mỗi tờ có 9 dòng, mỗi dòng có

20 chữ Văn bản này chép thơ của nhiều người, có bản kê tên tác giả

Quốc văn tùng kí (QVTK) là bản gốc giúp xác định thời gian chép thơ Tú Xương thông qua lai lịch của Hải Châu Tử Theo Trần Thị Băng Thanh, tác giả văn bản này là Nguyễn Văn San, người Đà Nẵng.

Ngưu, Văn Giang, Hải Hưng là những địa danh nổi bật trong khoảng thời gian trị vì của vua Tự Đức (1848 - 1883) Hiện nay, bản chép tay QVTK chỉ còn là bản sao Theo thông tin mà chúng tôi có, Hải Châu Tử đã qua đời vào năm

1883, lúc ấy Tú Xương mới 13 tuổi, nên rất có thể, phần thơ Tú Xương là do người đời sau chép thêm vào

Theo "Di sản Hán Nôm Việt Nam - thƣ mục đề yếu" [212], văn bản này chép thơ

Thơ Tú Xương bao gồm 99 bài, nhưng trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng tác phẩm của ông không được tập hợp thành một phần riêng biệt Thay vào đó, thơ của Tú Xương được ghi chép xen lẫn với các tác giả khác, và tất cả đều được ghi rõ tên tác giả là Tú Xương (Nam Định Vị Xuyên Tú tài Trần Kế Xương).

CẢM HỨNG VỀ CON NGƯỜI THỊ DÂN VÀ THẾ GIỚI THỊ THÀNH

VỀ THỂ LOẠI, NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT VÀ PHƯƠNG THỨC TRỮ TÌNH QUA KIỂU TRÀO PHÚNG TỰ TRÀO

Ngày đăng: 01/09/2023, 13:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Cao Xuân Dục biên soạn, Quốc triều Hương khoa lục, Nxb TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều Hương khoa lục
Tác giả: Cao Xuân Dục
Nhà XB: Nxb TpHCM
1. Nguyễn Đình Chú giới thiệu tuyển chọn (1993), Tản Đà niên biểu giản lƣợc, trong sách Thơ văn Tản Đà, nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 185 -187 Khác
3. Vũ Ngọc Khánh (1985), Tỉm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước 1945, nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
4. Trần Trọng Kim (1968), Việt Nam sử lƣợc, T.II, Trung tâm học liệu tái bản, Sài Gòn. 396 tr Khác
5. Vũ Ngọc Lí (1997), Thành Nam xƣa, Sở Văn hóa thông tin Nam Định, 328 tr Khác
6. Dương Kinh Quốc (1999), Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 -1918), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 479 tr Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm