Nếu có một tài liệu học tập nhằm giúp cho HS hệ thống hoá vốn từ ngữ cá nhân, biết được những từ ngữ mới cùng với cách sử dụng chúng, dễ dàng tra cứu và phát triển được các kĩ năng lựa c
Trang 1Nguyễn Ngọc Diệu Hiền
XÂY DỰNG TRƯỜNG TỪ VỰNG
HỖ TRỢ DẠY HỌC VIẾT VĂN TẢ NGƯỜI
CHO HỌC SINH LỚP NĂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2022
Trang 2Nguyễn Ngọc Diệu Hiền
XÂY DỰNG TRƯỜNG TỪ VỰNG
HỖ TRỢ DẠY HỌC VIẾT VĂN TẢ NGƯỜI
CHO HỌC SINH LỚP NĂM
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục tiểu học)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ XUÂN YẾN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện theo yêu cầu học tập Các số liệu, kết quả và những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng
được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Ngọc Diệu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được công trình nghiên cứu “Xây dựng trường từ vựng
hỗ trợ dạy học viết văn tả người cho học sinh lớp năm”, tôi đã nhận được rất
nhiều sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và học sinh
Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm
ơn của mình đến TS Nguyễn Thị Xuân Yến, người đã tận tình chỉ dạy, giúp đỡ
và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn sự dạy dỗ, giúp đỡ của quý thầy cô giáo Khoa Giáo dục Tiểu học, Phòng Sau Đại học và tất cả quý thầy cô giáo của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong suốt hai năm qua, giúp tôi có được những kiến thức, kĩ năng, phương pháp nghiên cứu để có thể thực hiện được luận văn này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, thầy cô, học sinh trường Tiểu học Vinschool đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã quan tâm, chia sẻ, động viên tôi vượt qua nhiều khó khăn trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tác giả
Nguyễn Ngọc Diệu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG TRƯỜNG TỪ VỰNG HỖ TRỢ DẠY HỌC VIẾT VĂN TẢ NGƯỜI CHO HỌC SINH LỚP NĂM 7
1.1 Các khái niệm công cụ 7
1.1.1 Nghĩa và trường nghĩa 7
1.1.2 Trường từ vựng 9
1.1.3 Văn miêu tả 10
1.2 Lí luận dạy học văn miêu tả người 11
1.2.1 Hệ thống các kĩ năng làm văn 11
1.2.2 Vị trí, vai trò của văn miêu tả ở Tiểu học 16
1.2.3 Mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của việc dạy học viết văn
miêu tả 17
1.2.4 Nội dung, đặc điểm văn tả người 20
1.2.5 Phương pháp dạy học viết văn miêu tả 21
1.2.6 Cấu tạo bài văn tả người 23
1.3 Các cách giải thích nghĩa của từ 23
1.4 Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp năm với việc sử dụng từ 27
1.5 Yêu cầu cần đạt của kĩ năng viết văn theo Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn 2018 32
Trang 61.5.1 Yêu cầu cần đạt của kĩ năng viết văn cấp tiểu học 32
1.5.2 Yêu cầu cần đạt của kĩ năng viết văn của học sinh lớp năm 33
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG TRƯỜNG TỪ VỰNG HỖ TRỢ DẠY HỌC VIẾT VĂN TẢ NGƯỜI CHO HỌC SINH LỚP NĂM 36
2.1 Văn miêu tả người trong Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp năm hiện hành 36 2.1.1 Thời lượng 36
2.1.2 Nội dung 39
2.2.3 Vốn từ ngữ miêu tả người của học sinh lớp năm 40
2.2 Thực trạng việc sử dụng các trường từ vựng viết văn tả người của học sinh lớp năm 41
Tiểu kết chương 2 48
Chương 3: XÂY DỰNG TRƯỜNG TỪ VỰNG HỖ TRỢ DẠY HỌC VIẾT VĂN TẢ NGƯỜI CHO HỌC SINH LỚP NĂM 49
3.1 Mục đích, nguyên tắc thiết kế 49
3.1.1 Mục đích thiết kế 49
3.1.2 Các nguyên tắc thiết kế 49
3.2 Nội dung thiết kế 55
3.2.1 Cách thức xây dựng 55
3.2.2 Các trường từ vựng 60
3.3 Hướng dẫn sử dụng sản phẩm 115
3.3.1 Cách tra cứu từ ngữ 115
3.3.2 Gợi ý sử dụng sản phẩm 116
Tiểu kết chương 3 118
Chương 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 119
4.1 Khái quát về thực nghiệm 119
4.1.1 Mục đích, thời gian, phạm vi, đối tượng thực nghiệm 119
Trang 74.1.2 Nội dung thực nghiệm 120
4.1.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 122
4.1.4 Cách thức thực nghiệm 123
4.2 Nhận xét, đánh giá kết quả thực nghiệm 124
4.2.1 Kết quả thực nghiệm 124
4.2.2 Nhận xét, đánh giá kết quả thực nghiệm 125
4.2.3 Những kết luận rút ra từ thực nghiệm 133
Tiểu kết chương 4 135
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
ĐC : Đối chứng
GV : Giáo viên
SGK : Sách giáo khoa STT : Số thứ tự
TLV : Tập làm văn
Trang 92 Bảng 2.1 Thống kê các yêu cầu về Chuẩn kiến thức,
kĩ năng môn Tiếng Việt lớp năm có nội dung dạy học viết văn miêu tả người
36
2 Bảng 2.2 Bảng thống kê những khó khăn của GV
trong dạy học văn miêu tả
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU
1 Biểu đồ 4.1 Kết quả đánh giá bài văn tả người
bạn thân của lớp TN và ĐC
125
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ là đơn vị cơ bản, đơn vị trung tâm của ngôn ngữ, là loại vật liệu đặc biệt mà nếu thiếu nó thì không thể nói tới sự tồn tại của một ngôn ngữ Nắm được đơn vị này là nắm được chìa khoá để mở cánh cửa ngôn ngữ Tiếp cận với từ là để hiểu nghĩa của từ, nắm được cấu trúc từ, hệ thống hóa được vốn từ,
từ đó sử dụng từ hiệu quả Theo đó, việc tìm hiểu nghĩa của từ là rất cần thiết
Văn miêu tả là loại văn giúp cho người đọc, người nghe hình dung ra được những đặc điểm, tính chất, giá trị nổi bật của sự vật, hiện tượng,… một cách rõ nét qua việc quan sát, tưởng tượng, cảm nhận và tả lại của chúng Như vậy, có thể xem văn miêu tả là bức tranh về sự vật, hiện tượng và thế giới nội tâm của con người được vẽ bằng chất liệu ngôn ngữ Dạy văn miêu tả sẽ góp phần bồi dưỡng cho HS tình yêu quê hương, đất nước, làm tăng vốn sống, vốn ngôn ngữ và năng lực giao tiếp của HS Song, để tả đúng thực tế, để có bài văn hay, HS phải viết được đoạn văn hay, để có đoạn văn hay thì phải có câu văn hay Để viết được những câu văn hay, HS cần phải rèn luyện thành thạo các kĩ năng dùng từ, dùng chính xác từ và sử dụng các từ có giá trị biểu cảm cao, có sức gợi lớn (từ láy tượng hình, tượng thanh, nghệ thuật so sánh, nhân hoá,…) Dùng từ ngữ đúng và hợp lí có một vai trò vô cùng quan trọng trong viết văn miêu tả vì nó giúp người đọc hiểu và cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài văn Chính các từ ngữ, hình ảnh miêu tả ấy sẽ góp phần khắc hoạ thành công chân dung nhân vật với những nét tính cách riêng, cụ thể, sinh động và gây ấn tượng hơn
Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn 2018 nêu rõ: HS lớp năm bước đầu viết được bài văn ngắn hoàn chỉnh, chủ yếu là bài văn kể, tả và bài giới thiệu đơn giản Trong đó, đoạn và bài văn phải thể hiện được cảm xúc
và khả năng liên tưởng, tưởng tượng của người viết Văn miêu tả được đưa vào ngữ liệu dạy học và nội dung viết câu, đoạn, bài trong chương trình Tiếng Việt
Trang 12từ lớp một đến lớp năm Văn miêu tả là một thể loại văn có khả năng rất lớn trong việc tái hiện đời sống, nó giúp HS hình thành và phát triển trí tưởng tượng,
óc quan sát và khả năng đánh giá, nhận xét Các bài văn miêu tả giúp các em
có thể cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế, sâu sắc, làm cho tâm hồn, trí tuệ của các em thêm phong phú Một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của văn miêu tả là từ ngữ Văn miêu tả tả hiện thực qua từ ngữ Nhờ có
từ ngữ mà các đối tượng miêu tả được hiện lên một cách rõ nét, cụ thể, sinh động Do đó, bài văn trở nên riêng biệt và mới mẻ với người đọc Ngôn từ được dùng không chỉ đảm bảo tính thông báo thông tin mà còn mang tính nghệ thuật, thẩm mĩ và biểu đạt tình cảm
Khi tạo lập văn bản, việc lựa chọn từ ngữ để đặt câu, viết thành những câu văn có hình ảnh đòi hỏi HS phải hiểu và biết cách sử dụng từ kết hợp với các biện pháp nghệ thuật Tuy nhiên, HS gặp rất nhiều khó khăn khi viết văn miêu tả bởi các em thiếu kinh nghiệm sống và vốn từ ngữ Vì vốn từ còn hạn chế, có ít từ ngữ để lựa chọn khi viết nên bài văn tả người của HS thường rất chung chung, không lột tả được đối tượng miêu tả Ngoài ra, đa số các em chưa biết tích luỹ, hệ thống lại vốn từ ngữ đã có và thường viết văn theo mẫu
Nếu có một tài liệu học tập nhằm giúp cho HS hệ thống hoá vốn từ ngữ
cá nhân, biết được những từ ngữ mới cùng với cách sử dụng chúng, dễ dàng tra cứu và phát triển được các kĩ năng lựa chọn từ ngữ, dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn sẽ góp phần giải quyết được những khó khăn trên của HS lớp năm khi viết bài văn tả người
Là GV, người trực tiếp giảng dạy cho HS, người nghiên cứu mong muốn được tìm hiểu về vấn đề liên quan đến việc dạy học viết văn miêu tả cho HS Với những điều tìm hiểu được, người nghiên cứu hi vọng sẽ góp một phần thiết thực cho việc dạy học viết văn tả người cho HS
Trang 13Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Xây dựng trường
từ vựng hỗ trợ dạy học viết văn tả người cho học sinh lớp năm” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Xây dựng và hướng dẫn sử dụng các trường từ vựng để hỗ trợ HS có vốn
từ vựng một cách chủ động khi viết văn miêu tả người, từ đó góp phần phát triển vốn từ và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt của các em
3 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về trường từ vựng, lí luận dạy học văn tả người, cơ
- TN sư phạm để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của sản phẩm
4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận
Tiếp cận hệ thống: Các từ ngữ được xây dựng theo chương trình Tiếng Việt lớp
năm và được sắp xếp theo các trường từ vựng có sự tác động bổ trợ, liên quan mật thiết với nhau
Tiếp cận phát triển: Trong quá trình sử dụng, hệ thống các từ ngữ sẽ được cải
thiện, nâng cao phù hợp nhằm giúp HS dần phát triển các kĩ năng làm văn miêu tả
Tiếp cận nội dung: Hệ thống từ ngữ được xây dựng dựa theo nội dung tả người,
dễ dàng truyền thụ tri thức cho HS
Tiếp cận cá nhân: Trong quá trình nghiên cứu phải luôn chú trọng đến sự phát
triển của từng cá nhân HS Chúng ta phải quan tâm và ghi nhận lại sự thay đổi, tiến bộ của từng HS khi được sử dụng tài liệu hỗ trợ này trong dạy học viết văn
Trang 14tả người
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành qua việc phối hợp đồng bộ các phương pháp sau: Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:
Nhằm mục đích tổng quan cơ sở lí luận một cách khoa học, chúng tôi tiến hành thu thập, phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hoá những thông tin khoa học qua sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu để tổng quan vấn
đề nghiên cứu trên thế giới, ở Việt Nam Trên cơ sở đó, hệ thống hoá các khái niệm công cụ của đề tài như nghĩa và trường nghĩa, trường từ vựng, văn miêu tả; lí luận dạy học văn miêu tả người; các cách giải thích nghĩa của từ, đặc điểm ngôn ngữ của HS lớp năm Từ đó, chúng tôi xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp phỏng vấn được thực hiện nhằm mục
đích thu thập những thông tin về trường từ vựng trong dạy học văn miêu tả ở lớp năm
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Bảng hỏi dành cho đối tượng GV và
CBQL dạy lớp năm hoặc đã từng dạy lớp năm tại trường tiểu học Vinschool nhằm thu thập các thông tin liên quan đến khái niệm, đặc điểm, lợi ích của trường từ vựng trong dạy học Kết quả điều tra sẽ được tiến hành xử lí và phân tích nhằm thu được những thông tin cần thiết về thực trạng sử dụng trường từ vựng của HS lớp năm
TN sư phạm: Chúng tôi tiến hành thực nghiệm trường từ vựng thông qua dạy
học văn miêu tả để kiểm tra tính thực thi và hiệu quả của sản phẩm
Phương pháp xử lí số liệu: Đề tài sử dụng các phương pháp thống kê số liệu để
xử lí các số liệu nghiên cứu thu được từ phiếu điều tra, kết quả thực nghiệm và trình bày các số liệu dưới dạng bảng số liệu, biểu đồ
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
Trang 155.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xây dựng trường từ vựng
hỗ trợ dạy học viết văn miêu tả người cho HS lớp năm
được chọn lọc phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS lớp năm
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về lí luận: góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận của việc xây dựng trường từ vựng hỗ trợ dạy học viết văn miêu tả người cho HS lớp năm
- Về thực tiễn: giúp HS hệ thống hoá vốn từ ngữ cá nhân, biết được những từ ngữ mới cùng với cách sử dụng chúng và phát triển được các kĩ năng lựa chọn
từ ngữ, dùng từ, đặt câu, tìm ý, viết đoạn văn; giúp GV và HS có một nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình dùng từ, viết đoạn văn, văn bản; kết quả nghiên cứu sẽ gia tăng vốn từ, phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt cho HS
7 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu xây dựng được trường từ vựng hỗ trợ dạy học văn miêu tả người ở lớp năm có hiệu quả thì sẽ góp phần phát triển vốn từ, nâng cao năng lực viết văn miêu tả người và năng lực sử dụng tiếng Việt của HS
8 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục; phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Hệ thống hoá cơ sở lí luận của việc xây dựng trường từ vựng
hỗ trợ dạy học viết văn tả người cho học sinh lớp năm
Chương 2: Hệ thống hoá cơ sở thực tiễn của việc xây dựng trường từ
vựng hỗ trợ dạy học viết văn tả người cho học sinh lớp năm
Trang 16Chương 3: Xây dựng trường từ vựng hỗ trợ dạy học viết văn tả người
cho học sinh lớp năm
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG TRƯỜNG TỪ VỰNG HỖ TRỢ DẠY HỌC VIẾT VĂN TẢ NGƯỜI CHO HỌC SINH LỚP NĂM
1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Nghĩa và trường nghĩa
* Nghĩa
Nghĩa của mỗi từ được cộng đồng ngôn ngữ thừa nhận như một quy ước chung về quan hệ giữa vỏ âm thanh (cái biểu đạt) và nội dung biểu thị (cái được biểu đạt) của từ
Vũ Thị Ân (2015) đã chỉ ra: “Nghĩa của từ là nội dung biểu thị sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan bằng vỏ ngữ âm của từ Hay nghĩa của từ là mối quan hệ của từ với sự vật hay khái niệm, biểu tượng trong thực tế khách quan.” (trang 73)
Vậy trong luận văn này, chúng tôi hiểu nghĩa của từ là quy ước chung về quan hệ giữa vỏ âm thanh (cái biểu đạt) và nội dung biểu thị (cái được biểu đạt
- sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ,…) của từ
* Trường nghĩa
Lương Diễm Linh (2015) đã nghiên cứu về trường nghĩa và ứng dụng trường nghĩa để đưa ra một số biện pháp mở rộng vốn từ cho HS lớp bốn thông qua hoạt động dạy học môn Khoa học
Vũ Thị Ân (2015) đã nhấn mạnh: “Trường nghĩa là tập hợp các từ có nét chung về nghĩa Nói cách khác, một tập hợp từ theo tiêu chí về nghĩa gọi là một trường nghĩa.” (trang 111)
Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là trường nghĩa Đó là những tập
hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa F De Sausure trong “Giáo trình ngôn
ngữ học đại cương” đã chỉ ra hai dạng quan hệ chung nhất của ngôn ngữ: quan
hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hình)
Trang 18Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) được tạo nên bằng cách chọn một từ gốc rồi tìm tất cả các từ có thể kết hợp với nó thành chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) Khai thác lớp từ gần nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm của từ ngữ cũng là cách xem xét từ ngữ theo trường nghĩa tuyến tính Trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ cấu trúc ngữ nghĩa của
từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ Trường nghĩa dọc bao gồm hai trường nghĩa biểu vật và biểu niệm Trường nghĩa biểu vật bao gồm những từ ngữ được sắp xếp theo từng phạm vi sự vật, hiện tượng mà chúng biểu thị Một trường biểu vật là tập hợp những từ đồng nghĩa hay có nét nghĩa biểu vật với tên gọi danh từ khái quát phạm trù biểu vật Mặt khác, trường nghĩa biểu niệm là tập hợp các từ có cùng cấu trúc biểu niệm Ngoài trường nghĩa ngang và trường nghĩa dọc, trường liên tưởng ra đời
là sự bổ sung cho hệ thống khái niệm trường nghĩa trong từ vựng học Trường liên tưởng là cách phản ánh quan niệm từ không chỉ là một thể cấu trúc (quan điểm cấu trúc trong ngôn ngữ học) mà còn là một thực thể xã hội và cá nhân sống động Vì vậy, các trường liên tưởng thường không ổn định, nên ít có tác dụng phát hiện cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ và từ vựng Nhưng liên tưởng
có hiệu lực lớn trong việc giải thích sự dùng từ của cá nhân, sự ưa thích lựa chọn những từ nào đấy để nói, phong cách nói viết của từng người
Vậy, trong luận văn này, chúng tôi xây dựng trường từ vựng tả người nhìn
từ góc độ trường nghĩa dọc (cụ thể là trường nghĩa biểu vật) Chúng tôi dựa vào quan điểm của Đỗ Hữu Châu (1999) để trình bày về trường biểu vật này Trường nghĩa biểu vật là tập hợp các từ ngữ đồng nhất với nhau về nghĩa biểu vật (về phạm vi biểu vật) Để xác lập trường nghĩa biểu vật, người ta chọn một danh từ biểu thị sự vật làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có cùng phạm vi biểu vật với danh từ được chọn làm gốc đó Các danh từ này phải có tính khái quát cao gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật Như vậy, chúng
ta sẽ đưa một từ vào một trường biểu vật nào đó khi nét nghĩa biểu vật của nó
Trang 19trùng với tên gọi của danh từ trên Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ
có thể nằm trong nhiều trường nghĩa biểu vật khác nhau hay trong nhiều trường nhỏ khác nhau tuỳ theo số lượng các ý nghĩa biểu vật của nó
1.1.2 Trường từ vựng
Trường từ vựng là một trong những lí thuyết quan trọng của ngôn ngữ học, được các nhà nghiên cứu đề cập đến từ sớm Nghiên cứu về trường từ vựng không chỉ giúp phát hiện những mối quan hệ ngữ nghĩa của hệ thống từ vựng
mà còn cho thấy vẻ đẹp phong phú đa dạng của hệ thống từ ngữ
Thật vậy, Blachowicz và nnk (2006) đã chỉ ra rằng chúng ta cần tập trung vào các cách giúp HS sở hữu những từ mà chúng ta tin rằng chúng cần từng lĩnh vực nội dung Nghiên cứu cho thấy các nhà giáo dục tập trung vào bốn phương pháp thực hành giúp phát triển vốn từ, ngôn ngữ nói cho HS: Một là, phát triển khả năng nhận biết từ và yêu thích từ thông qua chơi chữ Một số chiến lược và hoạt động tập trung vào khía cạnh phát triển từ vựng thông qua trò chơi với các từ Hai là, xây dựng hướng dẫn rõ ràng, phong phú để xây dựng vốn từ vựng Blachowicz và Fisher đề xuất mô hình STAR vì nó cung cấp hướng dẫn từ vựng rõ ràng Ba là xây dựng chiến lược để phát triển độc lập của
HS Điều này giúp HS học cách hiểu từ vựng bằng cách sử dụng các gợi ý ngữ cảnh, các bộ phận của từ, có thể dẫn đến việc sở hữu từ GV cần giảng dạy một cách rõ ràng cho HS cách sử dụng các công cụ này để phát triển các kĩ năng cần thiết sử dụng các ngữ cảnh, trường từ vựng và từ điển Bốn là thu hút HS tương tác tích cực với nhiều loại sách Chúng ta cần cho HS tiếp xúc với nhiều dạng văn học theo nhiều cách khác nhau bao gồm cả vieehc đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm và giúp HS phát triển vốn từ vựng Về mục tiêu: Các chiến lược xây dựng trường từ vựng cho GV tập trung vào bốn phương pháp thục hành này để phát triển trường từ vựng cho HS tiểu học trong lớp học
Khái niệm trường (trường, trường từ vựng, trường từ vựng ngữ nghĩa) cho
đến nay vẫn chưa có sự thống nhất Trong bài viết về “Đặc điểm trường từ vựng
Trang 20– ngữ nghĩa” của “nước” và “lửa” trong tiếng Việt” (Phạm Thị Châu Pha,
Trần Thị Phương Lý, 2016), nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng Saussure với luận điểm “Giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố xung quanh quy định”
đã thúc đẩy một cách quyết định sự hình thành nên lí thuyết về trường Tvier
và Weisgerberg cho rằng, trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định
Đỗ Hữu Châu (1999), đã tiếp thu lí thuyết về trường của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và đưa ra quan niệm riêng của mình Thứ nhất, ông phân lập
từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường từ vựng ngữ nghĩa là để phát hiện
ra tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa, tức là để tìm ra và giải thích các cơ chế đồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị và hoạt động của chúng trong quá trình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp Thứ hai, đã phân biệt ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm thì cơ sở để phân lập trường là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của các từ Cho nên, có thể phân ra hai loại trường từ vựng ngữ nghĩa lớn là trường biểu vật và trường biểu niệm chứ không phải là trường sự vật và trường khái niệm Theo Đỗ Hữu Châu (1999), một loạt các từ được liên kết lại nhờ sự đồng nhất của một nét nghĩa gọi là trường từ vựng Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau một nét nào đó về nghĩa
1.1.3 Văn miêu tả
Miêu tả
Nguyễn Trí (2001) nhận định: Văn miêu tả vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con người… bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Văn miêu tả giúp người đọc nhìn rõ chúng, tưởng như mình đang xem tận mắt, bắt tận tay
Nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sát cuộc sống
Trang 21Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cho rằng: Miêu tả là làm cho sự
vật hiện ra, chuyển động, rực rỡ, có tình,… bằng từ ngữ
Văn miêu tả
Trong cuốn “Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở tiểu học”
(Nguyễn Trí, 1998), tác giả cho rằng văn miêu tả là vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con người bằng từ ngữ một cách sinh động, cụ thể Theo nhận định này, văn miêu tả là một bức tranh được vẽ lại, tái hiện lại bằng ngôn ngữ, bằng văn bản nghệ thuật từ kết quả của một quá trình quan sát chủ động, tích cực về các đặc điểm của sự vật, hiện tượng một cách chân thực, sinh động, tinh tế qua
sự tiếp cận trực tiếp bằng các giác quan, cảm xúc, ngôn ngữ, tri thức của người viết nhằm gửi đến người đọc, người nghe cái đẹp của cuộc sống
Từ đó, chúng ta có thể thấy rằng: Văn miêu tả sử dụng ngôn ngữ để làm
làm cho sự vật, sự việc, hiện tượng, con người hiện ra, chuyển động, rực rỡ, có tình,… thông qua quá trình quan sát, cảm nhận, đánh giá
1.2 Lí luận dạy học văn miêu tả người
1.2.1 Hệ thống các kĩ năng làm văn
Hoạt động lời nói là một cấu trúc động bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau: định hướng, lập chương trình, thực hiện hoá chương trình và kiểm tra Cấu trúc này đã được các tác giả phương pháp dạy học làm văn vận dụng triệt
để khi xây dựng hệ thống kĩ năng làm văn Có thể thấy mối quan hệ này trong
sơ đồ sau:
Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa cấu trúc lời nói và hệ thống kĩ năng làm văn Cấu trúc hoạt động lời nói Hệ thống kĩ năng làm văn
giới hạn đề bài bài viết (kĩ năng tìm hiểu đề)
Trang 222 Kĩ năng xác định tư tưởng cơ bản của bài viết
Lập chương trình nội dung biểu đạt 3 Kĩ năng tìm ý (thu thập tài liệu cho
bài viết)
4 Kĩ năng lập dàn ý (hệ thống hoá, lựa chọn tài liệu)
Hiện thực hoá chương trình 5 Kĩ năng diễn đạt (dùng từ đặt câu)
thể hiện chính xác, đúng đắn phong cách làm văn, tư tưởng bài văn
6 Kĩ năng viết đoạn, viết bài theo các phong cách khác nhau (miêu tả, kể chuyện, viết thư,…)
(phát hiện và sửa chữa lỗi)
Theo đó, mỗi đề bài làm văn đều xác định một nhiệm vụ giao tiếp, việc xác định nhiệm vụ giao tiếp (định hướng giao tiếp) sẽ được thực hiện dưới dạng tìm hiểu đề bài Việc tìm hiểu đề bài phải trả lời được câu hỏi nói (viết) để làm
gì (xác định mục tiêu nói năng), nói (viết) về cái gì (xác định nội dung nói năng), nói (viết) theo thể loại nào (hình thức nói năng), viết cho ai… (xác định vai nói, thái độ nói) Các đề làm văn phải có đủ thông tin để giúp HS xác định được những nội dung này
Ứng với giai đoạn lập chương trình là kĩ năng lập ý, tìm ý, xây dựng dàn
ý Việc làm này sẽ giúp HS trình bày bài nói (viết) một cách đầy đủ, mạch lạc,
có lôgic Khi lập dàn ý phải xác định được ý chủ đạo và sắp xếp ý theo một trình tự nhất định
Ứng với giai đoạn hiện thực hoá chương trình là kĩ năng nói (viết) thành đoạn, bài, nó gồm các kĩ năng bộ phận như dùng từ, đặt câu, viết đoạn, viết bài
Trang 23Ứng với giai đoạn kiểm tra kết quả là nhóm kĩ năng kiểm tra kết quả gồm
kĩ năng phát hiện lỗi – lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi đặt câu, lỗi dựng đoạn… và
kĩ năng chữa lỗi
Cụ thể:
Kĩ năng tìm hiểu đề bài là kĩ năng đầu tiên Đây là bước định hướng cho quá trình làm bài Bàn về vấn đề này, Hoàng Thị Tuyết (2016) đã chỉ ra tìm hiểu đề bài TLV là hoạt động trong đó mỗi HS nỗ lực chuyển hoá nội dung ý nghĩa của đề bài vào trong tâm trí mình sao cho đối tượng cần viết cùng những yếu tố cơ bản liên quan đến đối tượng ấy như hoàn cảnh, thời gian, cũng như một số phương diện cơ bản thuộc về đối tượng miêu tả Tìm hiểu đề có ý nghĩa quan trọng giúp HS xác định được yêu cầu, nội dung, giới hạn của đề bài Việc định hướng đúng hay sai sẽ quyết định bài làm có đi đúng trong tâm hay lạc đề
Kĩ năng quan sát, tìm ý và lựa chọn ý: Để có được một bài văn miêu tả hay, đi sâu vào lòng người, trước hết bài viết cần có những ý đặc sắc thu hút người đọc Muốn làm được điều này, người viết có thể nhờ vào việc đọc sách, báo, tài liệu, Nhưng phần lớn những ý này là do việc quan sát mà có Bàn về
kĩ năng quan sát trong văn miêu tả, Nguyễn Trí (2010) chỉ ra điều kiện cơ bản
và cũng là phương pháp cơ bản để làm tốt bài miêu tả là phải biết quan sát và chọn lọc những chi tiết quan sát được Mọi kết quả quan sát thể hiện trong bài miêu tả Quan sát tinh vi, thấu đáo, bài viết sẽ đặc sắc, hấp dẫn Quan sát hời hợt, phiến diện, bài viết sẽ khô khan, nông cạn Cũng giống như các kiểu bài miêu tả khác, văn tả người đòi hỏi người viết phải biết quan sát và dẫn ra được những nét tính cách đặc trưng, những hoạt động tiêu biểu nhất của đối tượng được miêu tả Để tả người, trước hết người viết phải tập trung quan sát trực tiếp người định tả rồi nhớ lại những gì đã quan sát được về người đó, hình dung những nhận xét về người định tả, tìm ý gắn với tìm lời (từ ngữ, hình ảnh, cách diễn đạt) để diễn tả điều quan sát được
Trang 24Kĩ năng lập dàn ý là kĩ năng giúp người viết huy động, chọn lọc kiến thức tích luỹ được rồi phác thảo trên giấy những nội dung cơ bản để triển khai trong bài viết hướng tới đích giao tiếp nhất định Đây là giai đoạn khá quan trọng giúp người viết bao quát bố cục của bài văn tránh tình trạng lặp ý, thiếu ý, lộn xộn ý, không cân đối giữa các luận cứ, luận điểm, Trong quá trình lập dàn ý, người viết cần chú ý dàn ý phải thể hiện sự hợp lí trong triển khai nội dung của bài viết, đáp ứng các yếu tố giao tiếp đã xác định, thể hiện được quan điểm của người viết về đối tượng miêu tả Đồng thời, các mục, ý trong dàn ý có cùng cấp
độ cần được sắp xếp theo một trình tự hợp lí và cân đối, hài hoà về bố cục làm sáng tỏ cho nội dung bài viết, tránh tình trạng lặp ý, thiếu ý, lộn xộn ý,…
Kĩ năng dùng từ là kĩ năng giúp người viết chú ý đến mục đích, chức năng của văn miêu tả, các nhân tố miêu tả để lựa chọn, sử dụng từ ngữ phù hợp nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất
Kĩ năng đặt câu là kĩ năng giúp người viết đảm bảo về mặt lôgic, ngữ pháp, ngữ nghĩa,… của câu và lưu ý đến sự kết hợp chặt chẽ về nội dung và hình thức của câu Ngoài ra, người viết cần chú ý đến mối quan hệ ý nghĩa giữa các câu trong văn bản miêu tả qua các kiểu quan hệ như liệt kê, quan hệ liên tưởng, Đồng thời, sử dụng các phương tiện liên kết câu như: phương thức lặp, phương thức thế, phương thức nối, phương thức liên tưởng,… để liên kết các câu với nhau Bên cạnh đó, câu được đặt phải phù hợp với phong cách văn bản mà người viết đang hướng đến để vừa tạo được những câu văn thể hiện ý đồ của người viết vừa thể hiện hiệu quả nội dung giao tiếp, từ đó hướng đến yêu cầu cao hơn chính là đặt câu hay, sinh động, gợi tả, gợi cảm
Kĩ năng viết đoạn văn và liên kết đoạn thành bài: Trong một đoạn văn, các câu phải liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và hình thức Trong quá trình giao tiếp, đoạn văn phải đảm bảo được tính hướng nội (quan hệ giữa các câu trong đoạn) và tính hướng ngoại (quan hệ giữa các đoạn trong văn bản) Vì vậy, muốn viết được một đoạn văn đạt yêu cầu, các câu trong đoạn cần phải cùng
Trang 25hướng về một nội dung để làm sáng tỏ ý đoạn Đồng thời, chúng cần được sắp xếp theo một trật tự hợp lí và có sự liên kết với các câu khác trong đoạn Đoạn văn cần thể hiện được phong cách chung của thể loại văn bản đó, mỗi đoạn được phân tách rõ ràng, đúng chỗ, có sự liên kết và chuyển ý phù hợp
Kĩ năng thể hiện cảm xúc: Qua bài làm của mình, các em cần biết gửi gắm, bộc lộ tình cảm của bản thân với những gì đang miêu tả Muốn vậy, phải luôn nuôi dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm lòng dễ xúc động và luôn hướng tới cái thiện Đồng thời, GV cần uốn nắn HS tránh những thái độ giả tạo, chống bệnh công thức, sáo rỗng, sao chép nguyên văn bài mẫu,…
Kĩ năng phát hiện lỗi và sửa lỗi có thể tiến hành luyện tập cùng với những
kĩ năng còn lại, giúp HS phát hiện lỗi sai, rút kinh nghiệm để bài làm được tốt hơn, tránh những lỗi sai không đáng có về bố cục, nội dung, diễn đạt,…
Kĩ năng hoàn thiện bài viết và đưa bài viết vào cuộc sống: Trong thực tế của việc rèn kĩ năng hoàn thiện bài viết và đưa bài viết vào cuộc sống, chúng ta không chỉ giúp HS biết chỉn chu bài làm của mình mà còn biết giới thiệu bài viết với mọi người xung quanh, từ đó giúp cho việc làm văn miêu tả ngày càng tốt hơn
Việc cung cấp cho HS một trường từ vựng giúp HS đạt được kĩ năng tìm
ý và lập dàn ý, kĩ năng diễn đạt là chủ yếu Cụ thể, trường từ vựng hỗ trợ dạy học viết văn tả người có một số trường từ vựng nhỏ giúp HS dễ quan sát đối tượng khi cần miêu tả, chẳng hạn: để tả hình dáng, chúng ta có thể quan sát má, mắt, mặt, mũi,… Ngoài ra, những hệ thống từ ngữ này còn giúp HS dễ dàng lựa chọn từ ngữ phù hợp với đối tượng miêu tả Bên cạnh đó, trường từ vựng như một công cụ tham khảo cho HS vì đây là những từ ngữ vừa được sắp xếp theo hệ thống và rất lôgic, giúp HS dễ dàng tra cứu theo thứ tự, ví dụ: tả ngoại hình, tả tính tình, tả hoạt động,… Mặc khác, HS có thể tham khảo, sử dụng những từ ngữ trong trường từ vựng để mở rộng vốn từ cho mình, có nhiều từ
Trang 26ngữ để lựa chọn trong việc dùng từ, viết câu, tạo lập văn bản HS có thể tạo ra những câu văn hay nhờ những từ ngữ sinh động, có giá trị biểu cảm cao
1.2.2 Vị trí, vai trò của văn miêu tả ở Tiểu học
Trong nhà trường tiểu học, đối tượng miêu tả chủ yếu là những sự vật có ích đối với đời sống Đó là những cảnh vật, con người, những cảnh sinh hoạt gần gũi, quen thuộc với các em Đó chính là những đối tượng để các em quan sát, bộc lộ những hiểu biết, những cảm xúc, tình cảm của mình Văn miêu tả được phân ra thành nhiều kiểu bài khác nhau: tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật,
tả cảnh, tả người
Vị trí của văn miêu tả ở Tiểu học
Hiện nay văn miêu tả được đưa vào chương trình phổ thông ngay từ các lớp đầu bậc Tiểu học Từ lớp hai, khi tập quan sát để trả lời câu hỏi, các em đã bắt đầu làm quen với văn miêu tả
Đưa vào nhà trường, miêu tả được học thành một loại văn HS học và làm những bài tập miêu tả hoàn chỉnh một văn bản Do yêu cầu giảng dạy, văn miêu
tả được chia thành nhiều kiểu căn cứ vào đối tượng miêu tả như văn tả đồ vật, văn tả người, văn tả vật,
Vai trò của văn miêu tả ở Tiểu học
Văn miêu tả là một trong những thể loại quen thuộc và phổ biến Đây là loại văn có tác dụng to lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh giá của con người Vì thế, những trang văn miêu tả thường gây ấn tượng sâu sắc, nâng tầm nhận thức
và chắp cánh tâm hồn
Văn miêu tả góp phần nuôi dưỡng mối quan hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh, trong đó quan trọng nhất là với thiên nhiên, góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, lòng yêu cái đẹp, góp phần phát triển ngôn ngữ ở trẻ… Học văn miêu tả, HS có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên,
Trang 27với xã hội, để khêu gợi ra những tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ cao thượng, đẹp đẽ… Xu-khôm-lin-xki, nhà giáo dục Xô viết cho rằng việc HS tiếp xúc với thiên nhiên, việc dạy các em miêu tả cảnh vật nhìn thấy, nghe thấy… là con đường có hiệu quả nhất để giáo dục các em và phát triển ngôn ngữ ở trẻ
1.2.3 Mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của việc dạy học viết văn miêu tả
Mục đích của việc dạy học viết văn miêu tả
Mục đích của việc dạy học viết văn miêu tả là hình thành cho HS hệ thống
kĩ năng sáng tạo văn bản Để làm được bài văn miêu tả, HS phải huy động vốn kiến thức nhiều mặt như các hiểu biết về cuộc sống, tri thức, về văn học, khoa học, xã hội,… HS lại còn phải sử dụng nhiều kĩ năng như dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, tạo văn bản, kĩ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý,… Vì vậy, thể loại văn miêu tả có tính chất thực hành toàn diện, tổng hợp Bài văn của HS là nơi bày tỏ con người của HS trước vấn đề của cuộc sống trong một hoàn cảnh, một điều kiện cụ thể Do đó, bài văn miêu tả mang đậm màu sắc cá nhân và là sản phẩm không lặp lại của mỗi HS Vì thế, văn miêu tả mang tính chất sáng tạo cao
Yêu cầu của việc dạy học viết văn miêu tả
Hoạt động TLV cần được tổ chức như một việc làm có mục đích đối với
HS, nghĩa là HS cảm nhận mình là người nói hoặc người viết Viết/nói là tạo ra những tương tác giữa chủ thể người viết/nói với hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp thông qua việc sử dụng ngôn ngữ Đối với nhiều HS tiểu học, nói, nhất là viết là một hoạt động khó và mất nhiều thời gian Vì vậy, điều quan trọng hơn
cả là không nên xem các hoạt động học làm văn đơn giản là những công việc bắt buộc thường ngày mà phải có vẻ như là những việc làm có mục đích đối với HS Nên làm cho HS có cảm nhận tự nhiên rằng chúng sẽ viết cho một đối tượng nào đó hoặc sẽ thể hiện những cảm nghĩ, những hiểu biết của mình với
ai đó
Trang 28Hoạt động TLV cần được thực hiện kết hợp một cách hệ thống với hoạt động ngôn ngữ khác như nói/viết, nghe và đọc sao cho mỗi HS có cơ hội nhúng sâu trong hoạt động làm văn
Tổ chức, tạo điều kiện cho HS tự lực suy nghĩ, bộc lộ ý nghĩ chân thực, rèn kĩ năng phát triển ý nghĩ theo trường liên tưởng – tưởng tượng một cách sáng tạo
Để tạo điều kiện cho HS tự lực suy nghĩ, bộc lộ ý nghĩ chân thực sáng tạo trong lúc nói hay viết, điều quan trọng cần làm trước hết trong mỗi tiết TLV là khơi gợi kinh nghiệm và kích thích hứng thú quan tâm của HS đối với vấn đề sắp nói hay viết Sáng tạo trong làm văn ở tiểu học không có nghĩa là có những phát kiến độc đáo mới lạ, mà là sự thể hiện nhu cầu tự nhiên vốn có của HS, không bị phụ thuộc vào một công thức, một lối mòn, một chiến lược có sẵn Tầm quan trọng của việc dạy học viết văn miêu tả
Luyện tập viết văn miêu tả giúp HS có thêm nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ năng chính: đọc, viết, nói và nghe Đó là các kĩ năng bộ phận như: phân tích
đề, tìm ý, lựa chọn ý, kĩ năng lập dàn ý, viết đoạn và liên kết đoạn, kĩ năng quan sát, thực hành,… giúp HS có khả năng viết văn hay hơn, thuần thục hơn Luyện tập văn miêu tả còn góp phần bổ sung kiến thức, rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho HS
Muốn viết bài văn miêu tả, dù chỉ một câu hay một đoạn, trước hết người viết phải biết rõ về đối tượng phản ánh Những kiến thức đó có thể đã được tích luỹ trong vốn sống của bản thân, do quan sát trực tiếp hoặc do học tập trong sách vở Khi làm bài, HS phải vận dụng những kiến thức đó, lựa chọn ý tưởng Làm bài văn miêu tả giúp HS ôn lại, hệ thống kiến thức và bổ sung kiến thức Mặt khác, với bất kì đối tượng phản ánh nào, mỗi HS đều có cách nhận xét, đánh giá của mình, đều có một thái độ yêu ghét, khen chê riêng Cho nên, bài văn trở thành nơi thể hiện con người của HS trước cuộc sống Qua đó, HS
sẽ được hình thành nhân cách rõ ràng
Trang 29Như vậy, việc cung cấp cho HS một trường từ vựng giúp HS tự do sử dụng từ ngữ trong việc viết đoạn văn, văn bản Ngoài ra, trường từ vựng còn tạo cơ hội cho HS tự tin thể hiện mình, tạo hứng thú và động lực viết văn để tạo nên những bài viết có cá tính riêng Hơn nữa, trường từ vựng còn giúp HS biết cảm nhận cái đẹp của ngôn từ, biết truyền những rung cảm của mình vào đối tượng miêu tả, biết sử dụng những từ ngữ có giá trị biểu cảm, những câu văn sáng rõ về nội dung, chân thật về tình cảm Mặt khác, trường từ vựng còn rèn luyện tư duy lôgic của HS thông qua các từ ngữ cùng trường, nâng cao vốn sống và sử dụng tiếng Việt hiệu quả trong học tập và giao tiếp
Một số cuốn sách khác cũng góp phần hữu ích cho việc dạy và học văn
miêu tả như Lí luận dạy học tiếng Việt ở tiểu học (Hoàng Thị Tuyết, 2016) tác
giả Hoàng Thị Tuyết đã cho thấy sự vận dụng những thành tựu lí luận dạy học trên thế giới đồng thời kế thừa các quan điểm dạy học đã được thừa nhận trong nước Phương pháp dạy học và các kĩ năng kiến thức tiếng Việt trong sách được triển khai theo hướng tiếp cận tích hợp, cách tiếp cận giao tiếp, kết hợp với một
số lí thuật học tập tiếng khác trên thế giới Điểm mới trong sách là tác giả đã
đưa ra được quá trình làm văn viết và nói cho HS; Hướng dẫn Tập làm văn 5
(Hoàng Đức Huy, 2006), tác giả Hoàng Đức Huy đã có những phương pháp giúp HS rèn luyện kĩ năng làm văn tả cảnh, tả người Nắm vững cách viết mở
bài, thân bài, kết bài và các đoạn văn; Văn miêu tả và kể chuyện (Vũ Tú Nam,
Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng, 2003) các tác giả cũng đã nêu những suy nghĩ, kinh nghiệm của bản thân khi viết văn miêu tả và văn kể chuyện Tác giả Phạm Hổ gián tiếp nói lên vai trò, vị trí của so sánh và nhân hoá trong văn miêu tả Trần Mạnh Hưởng, Phan Phương Dung, Nguyễn Văn Điệp, Phạm Thu
Hà, Trần Hoàng Tuý (2007) đã đề cập đến các kĩ năng dạy văn miêu tả cho HS lớp năm, hướng dẫn HS cách lập dàn ý và có nhiều bài tập phù hợp với đối
tượng; Hai tác giả là Lê Phương Nga và Đặng Kim Nga trình bày cuốn Phương
pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học (Lê Phương Nga và Đặng Kim Nga, 2007)
Trang 30Phần đầu cuốn sách bàn về những vấn đề chung của việc dạy tiếng Việt ở Tiểu học và sau đó đi sâu vào các phương pháp dạy học các phân môn cụ thể Công trình này cũng bàn nhiều về phương pháp dạy văn miêu tả, đề cập đến những
tồn tại và đưa ra những kiến nghị trong dạy học các kiểu bài văn miêu tả; Sách
giáo khoa Tiếng Việt (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2007) ngoài việc chú trọng đến
kĩ năng đọc, viết, nói và nghe, sách còn chú trọng đến kĩ năng quan sát, tìm ý, lập dàn ý cho HS Tuy nhiên chương trình chưa chú ý đến kĩ năng viết văn hay
và sáng tạo cho HS Cùng với nội dung chương trình SGK Tiếng Việt là sự ra
đời của một loạt sách tham khảo Có thể kể đến như Văn miêu tả trong nhà
trường phổ thông (Đỗ Ngọc Thống và Phạm Minh Diệu) Hai tác giả đã đề xuất
quy trình thực hiện một số kiểu bài văn miêu tả và đưa ra nhiều ví dụ để chứng
minh tầm quan trọng của biện pháp tu từ đối với văn miêu tả; Phương pháp dạy
học Tiếng Việt ở tiểu học của tác giả Lê Phương Nga và Nguyễn Trí, Những
cuốn sách và tài liệu này đã mang đến cho người đọc nguồn tư liệu phong phú phục vụ cho việc dạy và học văn miêu tả
Như vậy, văn miêu tả trong nhà trường tiểu học đã được nhiều nhà giáo, nhà khoa học giáo dục quan tâm Các tác giả đã tìm hiểu sâu về văn miêu tả và
đề ra được một số hướng dẫn về dạy học văn miêu tả Tuy nhiên, các tác giả còn đề cập chưa nhiều đến việc sử dụng trường từ vựng trong hỗ trợ dạy học văn miêu tả người
1.2.4 Nội dung, đặc điểm văn tả người
Nội dung văn tả người
Văn tả người thường hướng đến miêu tả ngoại hình, tính cách… để người đọc hình dung được đặc điểm của người đó Viết văn miêu tả người cũng có thể mở rộng qua hành động, lời nói, cách cư xử của người đó Văn miêu tả thường hướng đến chính những người thân yêu nhất xung quanh chúng ta Trong chương trình TLV lớp bốn, lớp năm, HS được trang bị kiến thức cần thiết về văn miêu tả, về kĩ năng viết đoạn văn, bài văn miêu tả Các kiến
Trang 31thức này được cung cấp qua các nội dung: Cấu tạo bài văn miêu tả, Luyện tập quan sát, Luyện tập lập dàn ý, Luyện tập xây dựng đoạn văn, Bài viết và trả bài viết Các nội dung này là một khuôn mẫu, được lặp lại ở các kiểu bài văn miêu tả: miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật, miêu tả cảnh, miêu tả người Đặc điểm văn tả người
Văn miêu tả là loại văn mang tính thông báo thẩm mĩ Đó là sự miêu tả thể hiện được cái mới mẻ, cái riêng trong cách quan sát, cách cảm nhận của người viết Trong văn miêu tả, cái mới, cái riêng phải gắn với cái chân thật Ngôn ngữ trong văn miêu tả giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu, âm thanh
Muốn miêu tả được, trước hết người ta phải biết quan sát, rồi từ đó nhận xét, liên tưởng, tưởng tượng, ví von, so sánh,… để làm nổi bật lên những đặc điểm tiêu biểu của sự vật
Tả người là ghi lại những riêng về hình dáng và tính tình của một người
mà em đã nhìn thấy Bài tả phải vừa gợi hình, vừa gợi cảm, phải đạt được những yêu cầu sau:
1.2.5 Phương pháp dạy học viết văn miêu tả
Trong “Dạy học phát triển năng lực môn Tiếng Việt tiểu học” (Đỗ Ngọc
Thống, Đỗ Xuân Thảo, Phan Thị Hồ Điệp, Lê Phương Nga, 2018), nhóm tác giả cho rằng muốn HS chủ động trong học tập, GV cần linh hoạt sử dụng các phương pháp: nêu vấn đề, so sánh, đàm thoại, thảo luận Trong đó, đặc biệt chú
ý đến phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sau:
Trang 32Phương pháp thực hành, luyện tập
Đó là việc hình thành cho HS kĩ năng diễn đạt thông qua các bài học, hình thành thói quen ứng xử trong giao tiếp hằng ngày với thầy cô, cha mẹ, bạn bè
và người xung quanh
GV tạo cho HS nhiều cơ hội thực hành, luyện tập, không quá nặng về lí thuyết như phương pháp dạy học truyền thống Do vậy, HS hào hứng tham gia vào các hoạt động học tập, tích cực, sáng tạo trong làm văn Việc hình thành và rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe cho HS thông qua làm văn nhờ đó
sẽ đạt hiệu quả tối ưu hơn
Việc cung cấp cho HS một trường từ vựng được sử dụng như một khuôn mẫu hay là những ví dụ cụ thể giúp HS nắm chắc từ ngữ và dễ dàng luyện tập, thực hành sử dụng từ ngữ trong việc viết câu, viết đoạn, ứng xử trong giao tiếp hằng ngày Đây là phương pháp có hiệu quả để mở rộng sự liên tưởng và phát triển các kĩ năng làm văn
Phương pháp thực hành theo nhóm và cá nhân
Dạy học nhằm phát huy tinh thần tự học và sáng tạo của HS là tập trung vào việc HS không phải chỉ tìm ra một câu trả lời có sẵn mà phải đưa ra được câu trả lời trên cơ sở suy nghĩ và hiểu biết của chính mình Quá trình tư duy đó đòi hỏi HS phải vận dụng những vốn tri thức, hiểu biết phù hợp với vấn đề đặt
ra trong câu hỏi; phân tích, sắp xếp những tri thức đưa ra trong câu trả lời, kết luận và chọn phương án trả lời tốt nhất Tóm lại, HS tự tìm ra câu trả lời qua việc thu thập, sàng lọc thông tin và phân tích dữ liệu
Việc cung cấp cho HS một trường từ vựng được sử dụng như một cuốn từ điển, trong đó là những tri thức, hiểu biết về từ ngữ Từ những tri thức này, HS
sẽ phân tích ngữ cảnh, sàng lọc chính xác từ ngữ theo ý muốn của mình và sử dụng từ ngữ phù hợp để diễn tả lại đối tượng được miêu tả
Phối hợp với hoạt động trải nghiệm
Trang 33Các hoạt động ngoại khoá giúp HS có những hiểu biết thực tế ngoài kiến thức được học trong chương trình chính khoá Do đó, việc phối hợp với các hoạt động ngoài giờ lên lớp là rất cần thiết Qua hoạt động ngoài giờ, HS được rèn luyện bằng nhiều hình thức khác nhau, có nội dung liên quan đến bài học của các em GV cần có sự phối hợp chặt chẽ với GV tổng phụ trách, thông qua các buổi chào cờ nói về gương người tốt việc tốt, tổ chức các hoạt động: thi búp măng non, thi ca hát, tập diễn các tiểu phẩm,… Hoặc thông qua buổi lễ khai giảng, HS có thể viết những cảm xúc, những kỉ niệm đẹp của các em về ngày đầu tiên đi học, về người bạn của mình
Vì vậy, nhà trường và GV cần tạo điều kiện để HS được trải nghiệm, gặp
gỡ nhiều đối tượng khác nhau để HS có cảm xúc, ghi nhớ thật kĩ và sâu sắc về đối tượng Từ đó, HS có cơ hội đối chiếu từ ngữ trong trường từ vựng, biết cách
sử dụng từ nào cho đối tượng nào và khắc sâu vốn từ cho HS, tạo điều kiện thuận lợi để HS hiểu từ và sử dụng từ vào các bài văn miêu tả
1.2.6 Cấu tạo bài văn tả người
Theo SGK Tiếng Việt 5, tập 1 (trang 120) hiện hành, bài văn tả người thường có ba phần:
1 Mở bài: Giới thiệu người định tả
3 Kết bài: Nêu cảm nghĩ về người được tả
1.3 Các cách giải thích nghĩa của từ
Hiểu ý nghĩa từ ngữ là một trong những yếu tố quan trọng giúp HS phát triển vốn từ Phần này sẽ trình bày những cách giảng dạy từ vựng thông thường nhất giúp HS nắm nghĩa từ vựng trong tình huống giảng dạy bình thường
Trang 34Một trong những nội dung dạy nghĩa từ là giải nghĩa từ
Kĩ thuật khai thác thị giác
+ Sử dụng hình ảnh
Các phương tiện hình ảnh bao gồm thẻ từ, ảnh chụp, hình vẽ trên bảng, vật thật, sơ đồ, biểu đồ Chúng được sử dụng rộng rãi để giúp HS nắm nghĩa của từ mới Các phương tiện này đặc biệt hữu ích đối với loại từ vựng thuộc những chủ đề cụ thể GV dễ dàng sử dụng các phương tiện này để tổ chức cho
+ Sử dụng các tình huống có minh hoạ (dưới dạng ngôn ngữ nói hoặc viết)
Đây là kĩ thuật hữu ích nhất khi lượng từ vựng HS học ngày càng trở nên trừu tượng Để đảm bảo cho HS hiểu, GV cần sử dụng hơn một tình huống hoặc hơn một ngữ cảnh để kiểm tra xem HS nắm nội dung ý nghĩa của từ chưa
+ Sử dụng đồng nghĩa hoặc định nghĩa
Với HS tiểu học lớp một, hai và ba, GV nên thường dùng đồng nghĩa (những từ HS đã biết) để giúp HS nắm nghĩa của từ Việc dùng từ đồng nghĩa giúp GV tránh được việc giảng giải dài và phức tạp Tuy nhiên, chỉ định nghĩa thôi chưa đủ là một phương tiện để chuyển tải nghĩa của từ Nhìn chung cần phải đưa ra những ví dụ ngữ cảnh hoá một cách rõ ràng để làm sáng tỏ giới hạn
sử dụng và nghĩa của từ đang tìm hiểu
+ Sử dụng từ trái nghĩa và tương phản
Trang 35Tương tự với kĩ thuật dùng từ đồng nghĩa, dùng từ trái nghĩa là một kĩ thuật mà HS có thể tự sử dụng thường bằng cách hỏi “Trái nghĩa của từ… là gì?” Tuy nhiên, khi sử dụng kĩ thuật này, điểu quan trọng là phải đưa ra các ngữ cảnh trong đó giới hạn nghĩa của từ trái nghĩa có thể rất khác nhau
+ Sử dụng thang mức độ
Một khi HS đã học những mục từ đối lập nhau hoặc những từ có liên quan với nhau và có thể xếp hạng thì sử dụng thang là một trong những cách hữu ích giúp các em ôn lại từ vựng và tiếp nhận thêm những từ mới
+ Đưa ví dụ của một kiểu loại
Để minh hoạ ý nghĩa của những từ thể hiện chủ đề như thể thao, giao thông,… tiến trình thông thường được thực hiện là cho chúng những ví dụ, chẳng hạn như xe hơi, tàu thuỷ, tàu điện, xe máy, xe đạp,… tất cả là phương tiện giao thông Có thể kết hợp kĩ thuật này với tranh ảnh để giúp HS nắm các
ví dụ của từ trong mỗi chủ đề
Bên cạnh đó, nhiều phát triển giáo dục gần đây nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trang bị cho HS những chiến lược cần thiết để thực hiện các hoạt động rèn kĩ năng Trong việc học từ vựng, có ba chiến lược giúp phát triển tự học: hỏi người khác, sử dụng từ điển, đoán nghĩa từ thông qua ngữ cảnh
Hỏi người khác: giúp HS kĩ năng rèn luyện khả năng hiểu nghĩa từ bằng cách “hỏi người khác” Hỏi trực tiếp: HS có thể đề nghị GV hoặc HS khác giải thích nghĩa của từ khó mà họ bắt gặp Hỏi bằng cách tạo một tình huống/ngữ cảnh: Có những dịp HS muốn sử dụng một từ cụ thể nào đó nhưng lại không biết nó là gì Chiến lược tốt nhất cho người học lúc này là tạo một ngữ cảnh đủ
rõ ràng để người nghe cung cấp đúng từ mà em đang tìm Hỏi bằng cách sử dụng một số mẫu câu hỏi được định sẵn: Trang bị cho HS một số cách diễn đạt
để giúp các em tìm ra được mình cần là một trong những giúp đỡ rất hữu ích
mà GV nên làm
Trang 36Sử dụng từ điển để tra cứu nghĩa từ mới là một trong những phương cách nắm nghĩa từ một cách độc lập nhất là khi HS không có GV hay bạn để hỏi Kĩ thuật dạy học này có thể áp dụng cho HS từ lớp ba trở lên Với kĩ thuật này, việc hướng dẫn HS chọn lựa chọn loại từ điển nào tốt và phù hợp là rất cần thiết Đồng thời, GV cần lưu ý giúp HS nhận ra những trường hợp giải nghĩa chung chung, tối nghĩa trong từ điển Tốt nhất là sau khi HS tra từ trong từ điển,
GV nên khuyến khích HS đưa ra ngữ cảnh sử dụng (đưa ra ví dụ câu, đưa ra tình huống…)
Từ điển là nguồn hỗ trợ giá trị cho HS Chúng cung cấp một “bản hỗ trợ”, bản dự trữ cho việc đoán nghĩa từ trong ngữ cảnh Việc một mục từ nào đó xuất hiện trong ngữ cảnh có vẻ mơ hồ là một điều bình thường Trong những trường hợp như thế, từ điển là nguồn tư liệu quan trọng để làm sáng tỏ sự chưa chắc chắn Hoặc trong những trường hợp văn bản không hề hé lộ manh mối ngữ cảnh
để người học có thể đoán nghĩa thì từ điển là phương tiện hỗ trợ duy nhất Đoán nghĩa từ thông qua ngữ cảnh: Kĩ thuật này liên quan đến việc vận dụng ngữ cảnh trong từ xuất hiện để rút ra ý tưởng về nghĩa của từ ấy, hoặc trong một vài trường hợp có thể đoán nghĩa từ chính từ đó bằng vốn kiến thức
về từ vựng tiếng Việt đã có trước
GV cũng cần hướng dẫn các em biết giải nghĩa từ theo nhiều cách, như giải nghĩa từ bằng trực quan (hành động, động tác, tranh ảnh, vật thật), bằng các từ đồng nghĩa/trái nghĩa (như dũng cảm là không nhút nhát, lộn xộn là không ngăn nắp, lười biếng là không chăm chỉ, hư là không ngoan…; mắc cỡ
là xấu hổ, biếu là cho, siêng năng là chăm chỉ, cần cù), Những nội dung giải nghĩa này có thể thực hiện trong giờ Tập đọc, Chính tả, TLV (các phân môn thuộc môn Tiếng Việt); hay trong giờ dạy học các môn Tự nhiên-Xã hội, Khoa học, Địa lí, Lịch sử, Đạo đức, (các môn học khác)…; hoặc qua các hoạt động ngoại khóa Chủ đề liên quan đến việc phát triển vốn từ ngày càng mở rộng: từ các chủ đề về cuộc sống hàng ngày: gia đình, trường học, bạn bè… đến các chủ
Trang 37đề: hòa bình, tổ quốc, công dân, bình đẳng giới (nam và nữ), Quá trình phát
triển ngôn ngữ của HS tiểu học ở phương diện từ ngữ như đã nói trên đây đi từ
đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó bằng việc tự học và sự hướng dẫn của GV
Như vậy, có rất nhiều cách giải thích nghĩa của từ, việc xây dựng hệ thống
trường từ vựng sẽ vận dụng linh hoạt các cách giải nghĩa này sao cho phần giải
thích nghĩa phù hợp với năng lực nhận thức của HS lớp năm Ví dụ: để giải
nghĩa từ mí (mắt hai mí) thì trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2010) cho
rằng mí là “nếp gấp của mắt”, do đó, mắt hai mí là mắt có một rãnh gấp nhỏ tại
vùng da mí trên, kéo dài từ đầu mắt tới đuôi mắt và không bị mất đi Nếu giải
thích như vậy thì HS có thể chưa hiểu chính xác nghĩa của từ do chưa hình dung
ra dáng mắt Để khắc phục tình trạng này, chúng tôi sẽ giải thích nghĩa của từ
“mắt hai mí” bằng cách sử dụng hình ảnh minh hoạ, HS có thể đã nhìn thấy mí
mắt như vậy nhưng chưa biết dùng từ ngữ thì qua hình ảnh này, các em sẽ hiểu
rõ hơn từ “mắt hai mí” để miểu tả dáng mắt ấy Mặt khác, để giải nghĩa từ “lanh
lợi” (đôi mắt lanh lợi) thì rất khó tìm hình ảnh minh hoạ chính xác về đôi mắt
này, thay vào đó là sử dụng từ đồng nghĩa hoặc định nghĩa phù hợp với nhận
thức của HS, lanh lợi là nhanh nhẹn, sắc sảo
1.4 Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp năm với việc sử dụng từ
Vốn từ ngữ miêu tả người của HS cuối năm lớp bốn
Vốn từ của cá nhân là toàn bộ các từ và các đơn vị tương đương từ của
ngôn ngữ được lưu giữ trong trí óc của cá nhân và được cá nhân sử dụng trong
hoạt động giao tiếp, được hình thành theo hai con đường: con đường tự nhiên -
vô thức và con đường có ý thức Cá nhân được coi là nắm được một từ khi cá
nhân đó phải nắm được hình thức ngữ âm cùng nội dung biểu đạt tương ứng
Vốn từ của cá nhân là hệ thống mở Ở trường học, nguồn cung cấp từ cho các
em chủ yếu là môn Tiếng Việt
Trang 38Vào năm cuối năm lớp bốn của bậc tiểu học, hầu hết trẻ có vốn từ khoảng 30.000 từ, sử dụng được nhiều cấu trúc câu phức tạp và có thể trình bày ý kiến của mình trong các cuộc hội thoại
Các văn bản trong sách Tiếng Việt tiểu học hiện hành được phân bố theo từng chủ đề rất thuận lợi cho việc làm giàu vốn từ theo quan điểm trường nghĩa Việc tiếp nhận các từ theo mỗi chủ đề, từng hệ thống dễ theo dõi, dễ nhận biết
và nhớ một cách bền vững Khi vận dụng, trẻ huy động nhanh hơn, dễ dàng hơn vốn từ ngữ đã được sắp xếp thành từng lớp trong bộ nhớ của mình Chẳng hạn, khi tả cái cây, các em huy động lớp từ ngữ thuộc về cây đã có sẵn trong một ô của bộ nhớ: các từ chỉ bộ phận cây (rễ, gốc, thân, cành, nhánh, lá, hoa, quả), các từ chỉ về đặc trưng thuộc tính của cây (cao, thấp, to, nhỏ, cổ thụ, tươi tốt, khô héo…), các từ chỉ về tác động của con người đến cây (trồng, ươm, chăm bón, tưới, tỉa, chặt, đốn, phá…); Hay khi cần huy động các từ biểu thị thái độ
và hành động tích cực của con người với môi trường tự nhiên, HS nhanh chóng tập hợp được các từ ngữ vốn đã được sắp xếp trong một ngăn của bộ nhớ như: trân trọng, bảo vệ, giữ gìn, phát triển, trồng, nuôi, thuần dưỡng, chăm sóc… Những chủ đề mà sách tiếng Việt tiểu học đề cập đã tập hợp một lượng lớn, một danh sách khá phong phú các từ ngữ biểu thị về thế giới xung quanh như gia đình, trường lớp, quê hương, đất nước; về tình cảm gia đình, tình thầy trò, tình bè bạn, tình yêu quê hương đất nước; về công việc của HS ở nhà, ở trường
và nơi sinh sống
Đặc điểm về ngôn ngữ của HS lớp năm
Bùi Văn Huệ, Phan Thị Hạnh Mai, Nguyễn Xuân Thức (2014) đã chỉ ra ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ tiếng nói để giao tiếp, để truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội – lịch sử hoặc kế hoạch hoá hoạt động của chính mình
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong quá trình nhận thức của trẻ Nhờ
có ngôn ngữ mà tri giác, tư duy, trí nhớ, tưởng tượng của trẻ cũng phát triển dễ
Trang 39dàng Ở đầu lứa tuổi tiểu học, các em có ngôn ngữ nói thành thạo và bắt đầu hình thành, phát triển về ngôn ngữ viết Đến lớp năm, HS đã thành thạo về ngôn ngữ viết, dần hoàn thiện và phát triển nhanh về cả mặt ngữ pháp, chính tả, ngữ
âm và từ vựng Khả năng mở rộng vốn từ tăng cao, vốn từ vựng phong phú, khả năng hiểu nghĩa từ cũng phát triển mạnh Tuy nhiên, việc vận dụng vào ngôn ngữ nói và viết ở trẻ còn hạn chế, đặc biệt là ngôn ngữ viết
Mỗi HS là một thế giới khác biệt, có một sở thích, một tính cách, sở trường khác nhau Do đó, sự cảm nhận cũng khác nhau trong từng suy nghĩ Mỗi bài văn mang một sắc thái riêng, đặc biệt là văn miêu tả sẽ có những hình ảnh mang đậm dấu ấn sáng tạo của HS đó Để có được những bài văn miêu tả hay, sinh động, chân thực thì cần hỗ trợ việc phát triển năng lực sáng tạo cho các em trong từng tiết học văn miêu tả
Các cách thức mở rộng vốn từ
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em nói chung và HS nói riêng là một quá trình liên tục Quá trình đó đi từ đơn giản đến phức tạp tuỳ thuộc vào nhận thức, vào hoàn cảnh sống, vào nhiệm vụ học tập của các em ở từng giai đoạn Sự lĩnh hội về từ vựng – một đơn vị ngôn ngữ nằm trong quy luật ấy Tác giả Vũ Thị
Ân trong bài báo “Mở rộng vốn từ và dạy học nghĩa từ cho học sinh tiểu học” (2015) cũng nêu lên tầm quan trọng của làm giàu vốn từ Làm giàu vốn từ là một trong những nội dung quan trọng của việc dạy từ ngữ cho HS ở mọi lứa tuổi và hơn hết là HS tiểu học Nhiệm vụ học tập, nhu cầu giao tiếp buộc cho
HS phải tăng cường vốn từ của mình Một đứa trẻ có vốn từ phong phú sẽ dễ dàng, tự tin hơn trong giao tiếp và tiếp thu bài giảng, giao tiếp xã hội Với vốn
từ phong phú, HS sẽ chủ động trong việc lựa chọn và sử dụng từ Ngược lại, nếu vốn từ nghèo nàn, lâu dần sinh ra mặc cảm, ngại giao tiếp và dễ ảnh hưởng tiêu cực đến việc học
Lê Phương Nga (2018) đã nêu lên một số cách làm giàu vốn từ cho HS và phát triển năng lực dùng từ đặt câu
Trang 40• Mở rộng vốn từ
Mục tiêu: Giúp HS biết phát triển số lượng từ
Cách làm: Dưới dạng các bài tập: mở rộng vốn từ qua tranh vẽ (tranh vẽ
có tác dụng trực quan, có tác dụng cho việc tìm từ, ví dụ: tìm từ ngữ về bộ phận
cơ thể người có hình ảnh mắt, mũi, miệng,…), mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo (ví dụ: tìm từ có tiếng “quốc” có nghĩa là “nước”), mở rộng theo quan
hệ ngữ nghĩa (ví dụ: tìm từ thể hiện vẻ ngoài của con người)
• Hệ thống hoá vốn từ
Mục tiêu: Dạy HS biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống trong trí nhớ để tích luỹ từ được nhanh chóng và tạo ra tính thường trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi Công việc này hình thành ở HS kĩ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng dọc của chúng, đặt từ trong
hệ thống liên tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo,… tức là kĩ năng liên tưởng để huy động vốn từ
Cách làm: Hệ thống hoá vốn từ theo cấu tạo (loại từ), hệ thống hoá vốn từ theo ngữ nghĩa (từ loại)
Ví dụ: Sắp xếp các từ cho dưới đây thành những nhóm từ đồng nghĩa: bao
la, lung linh, vắng vẻ, hiu quạnh, long lanh, lóng lánh, mênh mông, vắng teo, vắng ngắt, bát ngát, lấp loáng, lấp lánh, hiu hắt, thênh thang
• Dạy nghĩa từ
Mục tiêu: Làm cho HS nắm nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của
HS những từ ngữ và những nghĩa mới của từ đã biết, làm cho các em nắm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ Dạy từ ngữ phải hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mới chưa biết trong văn bản cần tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ, phát hiện ra những nghĩa mới của từ đã biết, làm
rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong những ngữ cảnh khác nhau