1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng dạy học dựa trên dự án trong chuyên đề công nghệ enzyme và ứng dụng sinh học 10 chương trình giáo dục phổ thông 2018

87 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng dạy học dựa trên dự án trong chuyên đề công nghệ enzyme và ứng dụng sinh học 10 chương trình giáo dục phổ thông 2018
Tác giả Phạm Thành Vinh
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Ngọc Phương
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng sinh học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 49,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẠM THÀNH VINH VẬN DỤNG DẠY HỌC DỰA TRÊN DỰ ÁN TRONG CHUYÊN ĐỀ CÔNG NGHỆ ENZYME VÀ ỨNG DỤNG, SINH HỌC 10, CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PH

Trang 1

PHẠM THÀNH VINH

VẬN DỤNG DẠY HỌC DỰA TRÊN DỰ ÁN TRONG CHUYÊN ĐỀ CÔNG NGHỆ ENZYME

VÀ ỨNG DỤNG, SINH HỌC 10, CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM SINH HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2022

Trang 2

PHẠM THÀNH VINH

VẬN DỤNG DẠY HỌC DỰA TRÊN DỰ ÁN

TRONG CHUYÊN ĐỀ CÔNG NGHỆ ENZYME

VÀ ỨNG DỤNG, SINH HỌC 10, CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC ThS NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Ngọc Phương – người đã tận tình giúp

đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Đào tạo, các Thầy Cô trong Khoa Sinh học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường THTH Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và thầy Nguyễn Thiện Phú, cùng Ban giám hiệu và thầy Nguyễn Văn Quang đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho tôi trong quá trình nghiệm sư phạm dự án “Enzyme - Cậu làm gì đấy?”

Tôi xin chân thành cảm các Thầy Cô dạy môn Sinh học tại các Trường THPT ở các tỉnh, thành phố đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện khảo sát đề tài

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và các thầy cô đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện khóa luận này

Tp Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 05 năm 2022

SINH VIÊN

Phạm Thành Vinh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

III GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 3

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3

V PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

VI NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3

VII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

VIII ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 7

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 7

1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 9

1.2.1 Khái niệm dự án và dạy học dựa trên dự án 9

1.2.2 Các loại dự án học tập 10

1.2.3 Đặc điểm của dạy học dựa trên dự án 11

Trang 5

1.2.4 Mục tiêu của dạy học dựa trên dự án 13

1.2.5 Các giai đoạn của dạy học dựa trên dự án 13

1.2.6 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học dựa trên dự án 14

1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN 18

1.3.1 Thực trạng sử dụng các phương pháp giảng dạy trong dạy học Sinh học ở một số trường THPT 18

1.3.2 Thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học dựa trên dự án trong dạy học Sinh học ở một số trường THPT 20

1.3.3 Khảo sát giáo viên về việc tìm hiểu và vận dụng dạy học dựa trên dự án đối với chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, Sinh học 10, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 23

1.3.4 Khảo sát giáo viên về việc vận dụng dạy học dựa trên dự án phù hợp đáp ứng yêu cầu cần đạt của chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, Sinh học 10, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 25

1.3.5 Khảo sát giáo viên về những khó khăn có thể khi thực hiện dạy học dựa trên dự án đối với chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, Sinh học 10, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 26

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ kế hoạch bài dạy có vận dụng DẠY HỌC DỰA TRÊN DỰ ÁN cho CHUYÊN ĐỀ CÔNG NGHỆ ENZYME VÀ ỨNG DỤNG, SINH HỌC 10, CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 28

2.1 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC CHUYÊN ĐỀ CÔNG NGHỆ ENZYME VÀ ỨNG DỤNG, SINH HỌC 10, CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 28

2.2 THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI DẠY CÓ VẬN DỤNG DẠY HỌC DỰA TRÊN DỰ ÁN CHO CHUYÊN ĐỀ CÔNG NGHỆ ENZYME VÀ ỨNG DỤNG, SINH HỌC 10, CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 29

Trang 6

2.2.1 Xác định cấu trúc các chủ đề học tập trong chuyên đề Công nghệ

enzyme và ứng dụng, Sinh học 10, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 29

2.2.2 Quy trình thiết kế dạy học dựa trên dự án cho chủ đề “Ứng dụng của công nghệ enzyme” trong chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng 30

2.2.3 Xây dựng học liệu để sử dụng trong dạy học dựa trên dự án cho chủ đề “Ứng dụng của công nghệ enzyme” 31

2.2.4 Kế hoạch bài dạy cho chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, Sinh học 10, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 32

3.1 MỤC TIÊU THỰC NGHIỆM 48

3.2 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 48

3.3 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THỰC NGHIỆM 48

3.3.1 Thời gian thực nghiệm 48

3.3.2 Địa điểm thực nghiệm 49

3.4 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 49

3.4.1 Các bước thực nghiệm sư phạm 49

3.4.2 Phiếu đánh giá đầu vào - đầu ra (sau dự án) 50

3.4.3 Xử lí số liệu 52

3.5 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 52

3.6 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 52

3.6.1 Kết quả của phiếu đánh giá đầu vào - đầu ra của dự án 52

3.6.2 Kết quả đánh giá về năng lực 57

3.6.3 Sản phẩm dự án của học sinh 59

3.6.4 Đánh giá mức độ hứng thú của học sinh 60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả khảo sát giáo viên về mức độ sử dụng một số phương pháp dạy học trong dạy học môn Sinh học 20Bảng 1.2 Kết quả khảo sát giáo viên về việc vận dụng phương pháp dạy học dựa trên dự án trong dạy học Sinh học 21Bảng 1.3 Kết quả khảo sát giáo viên về việc tìm hiểu và vận dụng dạy học dựa trên dự án đối với chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng 23Bảng 1.4 Kết quả khảo sát giáo viên về việc vận dụng dạy học dựa trên dự án phù hợp với các yêu cầu cần đạt trong chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng 25Bảng 1.5 Kết quả khảo sát về những khó khăn có thể gặp phải khi thực hiện dạy học dựa trên dự án trong chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng 26Bảng 2.1 Nội dung và các yêu cầu cần đạt trong chuyên đề Công nghệ enzyme

và ứng dụng 28Bảng 2.2 Cấu trúc các chủ đề học tập trong trong chuyên đề Công nghệ enzyme

và ứng dụng 29Bảng 2.3 Ví dụ bảng kế hoạch thực hiện dự án tìm hiểu một loại enzyme 46Bảng 3.1 Kết quả phiếu đánh giá đầu vào của dự án 52Bảng 3.2 Kết quả phiếu đánh giá đầu ra của dự án 53Bảng 3.3 Kết quả phiếu đánh giá đầu vào của dự án theo mức độ của từng lớp thực nghiệm 53Bảng 3.4 Kết quả phiếu đánh giá đầu ra của dự án theo mức độ của từng lớp thực nghiệm 53Bảng 3.5 Kết quả phiếu đánh giá đầu vào và đầu ra của dự án theo mức độ tính theo phần trăm tất cả HS tham gia dự án 55

Trang 10

Bảng 3.6 Số lượng và phần trăm các nhóm tham gia dự án được đánh giá theo tiêu chí 1.4 – phiếu 1: “Rubric tiêu chí đánh giá sản phẩm powerpoint & sản phẩm học tập” 58Bảng 3.7 Khảo sát mức độ hứng thú của học sinh sau khi tham gia dự án 60

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ tỉ lệ các mức điểm của phiếu đánh giá đầu vào và đầu ra của lớp 10A13 548Hình 3.2 Biểu đồ tỉ lệ các mức điểm của phiếu đánh giá đầu vào và đầu ra của lớp 10A18 548Hình 3.3 Biểu đồ tỉ lệ các mức điểm của phiếu đánh giá đầu vào và đầu ra của lớp 10.2 49Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn kết quả phiếu đánh giá đầu vào và đầu ra của dự án theo mức độ tính theo phần trăm tất cả HS tham gia dự án 560Hình 3.5 Kết quả lựa chọn các lĩnh vực ứng dụng của enzyme trong phiếu đánh giá đầu vào 582Hình 3.6 Kết quả lựa chọn các lĩnh vực ứng dụng của enzyme trong phiếu đánh giá đầu ra 593

Trang 12

MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngày 04/11/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29 – NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Trong

đó đã nêu rõ quan điểm: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”

Ngày 26/12/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kí Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh; tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp học sinh (HS) phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, trở thành người học tích cực, tự tin, biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh các tri thức và kĩ năng nền tảng, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp

và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới

Ngày 18/12/2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành công văn số GDTrH với mục tiêu thực hiện các phương pháp dạy học (PPDH) và kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

5512/BGDĐT-Từ những dữ kiện trên cho thấy việc đổi mới PPDH ở Trung học phổ thông (THPT)

là điều rất cần thiết, trong đó việc sử dụng nhiều PPDH tích cực để giảng dạy nói chung hoặc giảng dạy môn Sinh học nói riêng là một trong các hướng trọng tâm hàng đầu Vận dụng đa dạng PPDH tích cực đối với nhiều nội dung trong chương trình môn Sinh học sẽ giúp HS cảm thấy có sự mới lạ, kích thích sự ham học, mong muốn tìm tòi về kiến thức Tùy thuộc vào từng nội dung bài học khác nhau mà giáo viên (GV) có thể lựa chọn các PPDH tích cực sao cho phù hợp Theo Trần Thị Hương thì có một số PPDH theo hướng tích cực hóa học tập như dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo nhóm nhỏ, dạy học theo tình huống, đóng vai, xemina, dạy học dựa trên dự án (Trần Thị Hương, 2012)

Trang 13

Theo Nguyễn Văn Cường và cộng sự thì dạy học dựa trên dự án có những ưu điểm: gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội; kích thích động

cơ, hứng thú học tập của người học; phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm; phát triển khả năng sáng tạo; rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp; rèn luyện tính bền

bỉ, kiên nhẫn; rèn luyện năng lực cộng tác làm việc; phát triển năng lực đánh giá (Nguyễn Văn Cường, Bern Meier, 2010) Bên cạnh đó, khi thực hiện dự án HS luôn trong tâm thế làm chủ, có thể thoải mái sáng tạo, vận dụng tư duy để gắn liền lí thuyết với thực hành, chủ động xử lí những tình huống khi tham gia làm dự án, biết hợp tác và giao tiếp với bạn

bè để làm việc, phát triển kĩ năng tìm kiếm thông tin, diễn đạt, thuyết trình,

Sinh học là một khoa học thực nghiệm nghiên cứu các đối tượng sống trong thiên nhiên (Nguyễn Phúc Chỉnh, 2013) Theo CTGDPT môn Sinh học (ban hành kèm Thông

tư số 32/2018/TT-BGDĐT) thì Sinh học là môn học được lựa chọn trong nhóm môn khoa học tự nhiên ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, vì vậy nội dung được xây dựng làm cơ sở cho các quy trình công nghệ gắn với các lĩnh vực ngành nghề Để thực hiện định hướng này, Chương trình môn Sinh học được thiết kế theo các chủ đề có tính khái quát và dành nhiều thời gian để tổ chức các hoạt động dạy học giúp học sinh khám phá khoa học, phát triển năng lực nhận thức, trong đó chú ý tổ chức các hoạt động trải nghiệm, thực hành, ứng dụng và tìm hiểu các ngành nghề liên quan

Trong CTGDPT môn Sinh học lớp 10, chuyên đề học tập10.2 “Công nghệ enzyme

và ứng dụng” có nội dung phát triển sâu hơn nội dung tế bào học theo hướng làm cơ sở cho ứng dụng công nghệ enzyme Học xong chuyên đề này, học sinh có thể: nêu được một

số thành tựu của công nghệ enzyme và triển vọng của lĩnh vực này; củng cố được kiến thức sinh hóa tế bào, enzyme với mục đích làm cơ sở cho công nghệ enzyme Trong chuyên đề này, học sinh cũng sẽ trình bày được một số ứng dụng của enzyme trong các lĩnh vực: công nghệ thực phẩm, y dược, kĩ thuật di truyền Đối chiếu với Chương trình môn Sinh học hiện hành thì chuyên đề “Công nghệ enzyme và ứng dụng” là mạch nội dung mới, được đưa vào với mục đích hướng đến nghề nghiệp trong tương lai của học sinh, có sử dụng nhiều

kĩ thuật, công nghệ cao, rất phù hợp với xu hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa mà xã hội đang hướng đến Ngoài ra trong chuyên đề “Công nghệ enzyme và ứng dụng” có yêu cầu cần đạt (YCCĐ) là thực hiện được dự án hoặc đề tài tìm hiểu về ứng dụng enzyme

Trang 14

Từ những lí do trên, đề tài: “Vận dụng dạy học dựa trên dự án trong chuyên đề

Công nghệ enzyme và ứng dụng, Sinh học 10, Chương trình giáo dục phổ thông 2018”

được thực hiện

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Vận dụng dạy học dựa trên dự án trong dạy học chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, Sinh học 10 (SH 10), CTGDPT 2018 để phát triển năng lực tìm hiểu thế giới sống của HS

III GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Sau khi thực hiện dự án trong chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, SH 10, CTGDPT 2018 HS có thể xây dựng được quy trình nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng enzyme trong thực tiễn

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

Đối tượng: Quy trình dạy học dựa trên dự án trong chuyên đề Công nghệ enzyme và

ứng dụng, SH 10, CTGDPT 2018

Khách thể: GV dạy Sinh học ở một số trường Trung học phổ thông (THPT) và HS

lớp 10 ở 2 trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM)

V PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Vận dụng dạy học dựa trên dự án cho chủ đề “Ứng dụng của công nghệ enzyme”

trong chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, SH 10, CTGDPT 2018

- Khảo sát một số GV dạy Sinh học đang công tác về vấn đề sử dụng PPDH dựa trên

dự án đối với chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng

- Tổ chức thực nghiệm dạy học dựa trên dự án cho chủ đề “Ứng dụng của công nghệ enzyme” trong chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng tại 2 trường THPT trên địa bàn

TP HCM

VI NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Nghiên cứu tài liệu về cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học dựa trên dự án

2 Khảo sát GV về việc vận dụng dạy học dựa trên dự án trong dạy học môn Sinh học

ở trường THPT

3 Xây dựng quy trình thiết kế và tổ chức dạy học cho chuyên đề Công nghệ enzyme

và ứng dụng, SH 10, CTGDPT 2018 có vận dụng dạy học dực trên dự án

Trang 15

4 Thực nghiệm sư phạm nội dung có vận dụng dạy học dựa trên dự án để kiểm tra

giả thuyết của đề tài

5 Xử lí và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

6 Viết báo cáo khóa luận tốt nghiệp

VII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

a Mục đích

Phân tích và tổng hợp tài liệu để làm rõ các vấn đề về cơ sở lí luận của đề tài

b Nội dung

- Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết, công văn của Đảng và nhà nước, Bộ Giáo dục

và Đào tạo về đổi mới PPDH và CTGDPT 2018

- Nghiên cứu tài liệu tham khảo, các bài báo và công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến dạy học dựa trên dự án

- Nghiên cứu lí luận về PPDH dựa trên dự án

- Nghiên cứu chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, SH 10, CTGDPT 2018

c Cách tiến hành

Sưu tầm, phân loại và nghiên cứu các tài liệu, văn bản, các bài báo khoa học, công trình nghiên cứu để thu thập, tổng hợp thông tin nhằm đưa ra ý tưởng cơ bản là cơ sở lí luận của đề tài

2 Phương pháp điều tra

Trang 16

c Cách tiến hành

Xây dựng phiếu khảo sát, xác định đối tượng khảo sát, phạm vi khảo sát và tiến hành khảo sát, sau đó thu thập các phiếu khảo sát, xử lí và phân tích kết quả để đánh giá thực trạng

3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

a Mục đích

Đánh giá hiệu quả quy trình thiết kế và vận dụng dạy học dựa trên dự án đối với chủ

đề đã lựa chọn trong chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, SH 10, CTGDPT 2018

b Nội dung

Thực nghiệm dạy học dựa trên dự án cho chủ đề “Ứng dụng của công nghệ enzyme” trong chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, SH 10, CTGDPT 2018

c Cách tiến hành

- Chọn đối tượng thực nghiệm: thực nghiệm ở 2 trường THPT trên địa bàn

TP HCM, mỗi trường thực nghiệm 2 lớp, mỗi lớp tối thiểu 30 HS

- Tiến hành thực nghiệm nhằm kiểm tra tính khả thi của giả thuyết khoa học, kiểm tra hiệu quả của việc vận dụng dạy học dựa trên dự án với chủ đề đã lựa chọn, cụ thể:

+ Xây dựng các bảng tiêu chí đánh giá (rubric) bao gồm các tiêu chí để đánh giá được mục tiêu đã đề ra

+ Tổ chức dạy thực nghiệm

+ Đánh giá kết quả: phân tích mức độ tiến bộ của HS sau khi thực nghiệm thông qua việc sử dụng các bảng tiêu chí đánh giá để so sánh kết quả đánh giá đầu vào và đầu ra của HS, kết hợp với phương pháp quan sát để đánh giá quá trình tham gia dự án của HS

Trang 17

VIII ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho GV trong quá trình dạy học chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, SH 10, CTGDPT 2018 nói riêng cũng như các chuyên đề học tập khác trong CTGDPT môn Sinh học nói chung

Trang 18

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo Michael Knoll, dạy học dự án là PPDH tiêu chuẩn được coi là một phương tiện qua đó người học có thể phát triển khả năng tự lập và trách nhiệm, khả năng thực hành các hoạt động xã hội và dân chủ (Knoll, 1997)

Theo tác giả Hans Jürgen Apel và Michael Knoll, vào thế kỉ XVIII, phương pháp dự

án có xuất phát điểm gắn liền với nghệ thuật và khoa học Phương pháp dự án xuất hiện đầu tiên ở châu Âu, ở các trường đại học kĩ thuật và sau đó lan rộng đến Mỹ vào giữa thế

kỷ XIX Ở Mỹ, phương pháp dự án đầu tiên xuất hiện ở các trường đại học kiến trúc và kĩ thuật, sau đó mới lan rộng sang các trường phổ thông, đặc biệt là các môn thủ công, nghệ thuật và công nghiệp (Apel, & Knoll, 2001)

Liu, M và Hsiao, Y.P đã có nghiên cứu bằng phương pháp tiếp cận học tập dựa trên

dự án, HS trung học sẽ trở thành nhà thiết kế đa phương tiện Thay vì HS chỉ học kĩ năng,

kĩ thuật tạo ra một dự án học tập thì HS phải quan tâm những vấn đề khác như quản lí nhóm, quản lí thời gian làm việc, nguồn nhân lực và công việc cần làm là lập kế hoạch, thiết kế, đánh giá và thảo luận Tính xác thực và tính phức tạp của các nhiệm vụ đề ra sẽ tạo ra môi trường học tập cho HS, qua đó có thể phát triển kĩ năng nhận thức cho HS Kết quả thu được cho thấy môi trường học tập có sự thu hút với HS trung học cơ sở, HS đã nâng cao sự hiểu biết về các kĩ năng nhận thức (Liu, & Hsiao, 2002)

Theo nghiên cứu của Husamah, học tập dựa trên dự án kết hợp hiệu quả để phát triển

và kích thích nhận thức siêu nhận thức của những sinh viên của ngành Sư phạm Sinh học, Đại học Muhammadiyah Malang (Husamah, 2015)

Susanti và các cộng sự đã nghiên cứu về vấn đề tạo ra mô-đun về việc học dựa trên

dự án của môn sinh học, giúp cho HS học cách thiết kế và tạo ra các phương tiện truyền thông tốt được sử dụng trong quá trình học tập (Susanti, Fitriani, & Sari, 2020)

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Về lĩnh vực giáo dục của nước ta, PPDH dựa trên dự án đã được nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn là lĩnh vực nghiên cứu chính để đưa ra nhiều đề tài hay, có giá trị về mặt ứng dụng cao trong dạy học

Trang 19

Năm 2003, PPDH dự án đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với công ty Intel Việt Nam thí điểm triển khai tại 20 trường thuộc 9 tỉnh trong cả nước trong chương trình

“Intel Teach to the Future” Chương trình tổ chức nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục trong các lĩnh vực Toán học, Khoa học và Công nghệ giúp HS phát triển kĩ năng tư duy cao hơn trong học tập Trong đó, chương trình cũng đã hướng dẫn GV cách sử dụng internet, thiết kế trang web và tổ chức dạy học dự án cho HS

Năm 2004, Nguyễn Thị Diệu Thảo và cộng sự đã có bài đăng trên tạp chí Giáo dục cho rằng: “Dạy học theo dự án một phương pháp, một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp, dạy học theo dự án góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc độc lập, sáng tạo giải quyết các vấn đề phức hợp Dạy học dự án là một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo GV, phương thức đào tạo theo hướng kết hợp giữa học tập và nghiên cứu.” (Nguyễn Thị Diệu Thảo, Nguyễn Văn Cường, 2004)

Năm 2009, Đặng Hòa Hiếu đã có nghiên cứu về “Tổ chức dạy học dự án trong chương trình Sinh học 11” và đã đưa ra kết luận “Dạy học dự án là PPDH phát huy tính tích cực, chủ động trong hoạt động nhận thức của HS Ngoài mục tiêu là giúp HS hình thành kiến

thức một cách chủ động, sáng tạo, thì Dạy học dự án còn nhằm rèn luyện và phát triển một

số kĩ năng (kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, kĩ năng thuyết trình, bảo vệ ý kiến trước tập thể, kĩ năng hợp tác ), đặc biệt là năng lực nghiên cứu khoa học cho người học.” (Đặng Hòa Hiếu, 2009)

Năm 2012, Nguyễn Thị Hường đã có nghiên cứu về “Tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh thái học Sinh học lớp 12” nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động của người học (Nguyễn Thị Hường, 2012)

Năm 2016, Nguyễn Thu Hiền đã có nghiên cứu về “Tổ chức dạy học dự án phần Di truyền học – Sinh học 12 – Trung học phổ thông” để tìm hiểu về cơ sở lý luận về tổ chức dạy học dự án phần Di truyền học nhằm phát triển năng lực học tập cho HS (Nguyễn Thu Hiền, 2016)

Năm 2016, Doãn Thị Thu đã có nghiên cứu về “Tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10)” và thấy hiệu quả dạy học phần Sinh học Vi sinh vật

Trang 20

được nâng lên đồng thời HS được hình thành và phát triển các năng lực như năng lực hợp tác, năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (Doãn Thị Thu, 2016)

Năm 2018, Lại Ngọc Ly đã có nghiên cứu về “Dạy học Sinh học theo dự án chủ đề Sinh trưởng và phát triển của thực vật góp phần nâng cao năng lực sáng tạo cho học sinh ” nhằm đánh giá mức độ hiệu quả của PPDH dự án trong việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho HS (Lại Ngọc Ly, 2018)

1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.2.1 Khái niệm dự án và dạy học dựa trên dự án

* Khái niệm dự án

Theo tác giả Nguyễn Văn Cường và Bern Meier thì thuật ngữ dự án trong tiếng Anh

là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội: trong sản xuất, doanh nghiệp, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong quản lý xã hội

Dự án là một dự định, một kế hoạch cần được thực hiện trong điều kiện thời gian, phương tiện tài chính, nhân lực, vật lực xác định nhằm đạt được mục đích đã đề ra Dự án

có tính phức hợp, tổng thể, được thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt Một dự án nói chung có những đặc điểm cơ bản sau:

- Có mục tiêu được xác định rõ ràng

- Có thời gian quy định cụ thể

- Có nguồn tài chính, vật chất, nhân lực giới hạn

- Mang tính duy nhất (phân biệt với các dự án khác)

- Mang tính phức hợp, tổng thể

- Được thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt

Quá trình thực hiện một dự án được phân chia thành các giai đoạn khác nhau Cách phân chia phổ biến bao gồm 4 giai đoạn cơ bản sau đây:

- Xác định mục tiêu dự án (giai đoạn chuẩn bị/giai đoạn khả thi)

- Lập kế hoạch dự án (lập kế hoạch và thiết kế dự án)

- Thực hiện dự án (thực hiện và kiểm tra)

- Kết thúc dự án (đánh giá)

Trang 21

* Khái niệm dạy học dựa trên dự án

Theo tác giả Nguyễn Văn Cường và Bern Meier thì khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp hay hình thức dạy học Khái niệm

“Project” được sử dụng trong các trường dạy kiến trúc - xây dựng ở Ý từ cuối thế kỷ 16

Từ đó tư tưởng dạy học theo dự án lan sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và

Mỹ, trước hết là trong các trường đại học và chuyên nghiệp

Ở Việt Nam, các đề án môn học, đề án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng trong đào tạo đại học, các hình thức này gần gũi với dạy học theo dự án Tuy vậy trong lĩnh vực

lý luận dạy học, PPDH này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thích đáng, nên việc

sử dụng chưa đạt hiệu quả cao Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học dựa trên dự án Ngày nay dạy học dựa trên dự án được nhiều tác giả coi là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự án, có nhiều PPDH cụ thể được sử dụng Tuy nhiên khi không phân biệt giữa hình thức và PPDH, người ta cũng gọi là phương pháp dự án, khi đó cần hiểu đó là PPDH theo nghĩa rộng, một PPDH phức hợp

Tác giả Nguyễn Văn Cường và Bern Meier đã đưa ra được khái niệm dạy học dựa trên dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập Làm việc nhóm là hình thức làm việc cơ bản của dạy học dựa trên dự án (Nguyễn Văn Cường, Bern Meier, 2010)

1.2.2 Các loại dự án học tập

Theo tác giả Nguyễn Văn Cường và Bern Meier thì dạy học dựa trên dự án có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Sau đây là một số cách phân loại dạy học theo dự án:

* Phân loại theo chuyên môn

- Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học

- Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau

- Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường

Trang 22

* Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân

Dự án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu, trong trường phổ thông còn

có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học

* Phân loại theo sự tham gia của GV: dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án

với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV

* Phân loại theo quỹ thời gian: K.Frey đề nghị cách phân chia như sau:

- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 - 6 giờ học

- Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học

- Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”) Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông Trong đào tạo đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn

* Phân loại theo nhiệm vụ

Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau:

- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng

- Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình

- Dự án thực hành (dự án kiến tạo sản phẩm): trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm

vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác

- Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên

Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng (Nguyễn Văn Cường, Bern Meier, 2010)

1.2.3 Đặc điểm của dạy học dựa trên dự án

Theo tác giả Nguyễn Văn Cường và cộng sự thì trong các tài liệu về dạy học dựa trên

dự án có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ XX khi xác lập

cơ sở lý thuyết cho PPDH này đã nêu ra 3 đặc điểm cốt lõi của dạy học dựa trên dự án:

Trang 23

định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm Có thể cụ thể hóa các đặc điểm của dạy học dựa trên dự án như sau:

- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học

- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án

- Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp

- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua

đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học

- Tính tự lực cao của người học: Trong dạy học dựa trên dự án, người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của

HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ

- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong

đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm Dạy học dựa trên dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội

- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành

Trang 24

Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu (Nguyễn Văn Cường, Bern Meier, 2010)

1.2.4 Mục tiêu của dạy học dựa trên dự án

Theo tác giả Nguyễn Thu Hiền thì dạy học dựa trên dự án nhằm đáp ứng các mục tiêu sau đây:

- Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội dung học với cuộc sống thực, tạo

ra một sản phẩm (Ví dụ: Tổ chức giới thiệu một sản phẩm phục vụ du lịch sinh thái; Tổ chức cuộc thi “ Hành trình Sinh học" trong trường )

- Thực hành nghiên cứu (Ví dụ: Động vật và phân loại; Dự án nghiên cứu về 16 rác và cách giảm bớt rác trong nhà trường; Nghiên cứu và so sánh cây phả hệ ) Giải quyết một vấn đề (Ví dụ: Tại sao loài khủng long lại biến mất; Video trong dạy học Sinh học)

- Rèn luyện, phát triển nhiều kĩ năng: kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kĩ năng tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, làm việc theo nhóm, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm (Nguyễn Thu Hiền, 2016)

1.2.5 Các giai đoạn của dạy học dựa trên dự án

Tác giả Nguyễn Văn Cường và cộng sự đã cho thấy khi dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta có thể chia tiến trình của dạy học dựa trên dự án làm nhiều giai đoạn khác nhau Sau đây trình bày một cách phân chia các giai đoạn của dạy học theo

dự án theo 5 giai đoạn:

* Giai đoạn 1: Xác định chủ đề và mục đích của dự án

GV và HS cùng nhau đề xuất ý tưởng, xác định chủ đề và mục đích của dự án Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Cần chú ý đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài GV có thể giới thiệu một số hướng đề tài để HS lựa chọn và cụ thể hóa Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định

đề tài có thể xuất phát từ phía HS Giai đoạn này còn được mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luận về sáng kiến

* Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện

Trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công

Trang 25

việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

* Giai đoạn 3: Thực hiện dự án

Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức lí thuyết, các phương

án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó sản phẩm của dự

án và thông tin mới được tạo ra

* Giai đoạn 4: Trình bày sản phẩm dự án

Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, bài báo Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm HS, có thể được giới thiệu trong nhà trường hay ngoài

xã hội

* Giai đoạn 5: Đánh giá dự án

GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được

Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo Kết quả của dự án cũng có thể được đánh giá từ bên ngoài (Nguyễn Văn Cường, Bern Meier, 2010)

1.2.6 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học dựa trên dự án

a Ưu điểm

Theo tác giả Doãn Thị Thu khi nghiên cứu dạy học dựa trên dự án của phần Vi sinh vật thuộc SH 10 thì tác giả đã đưa ra được những ưu điểm khi HS tham gia hoạt động học bằng dự án

* Dạy học theo dự án làm cho nội dung học tập trở nên có ý nghĩa hơn:

- Trong dạy học theo dự án, nội dung học tập trở nên có ý nghĩa hơn bởi vì nó được tích hợp với các vấn đề của đời sống thực, từ đó kích thích hứng thú học tập của người học

- Dạy học theo dự án gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường

và xã hội, giúp việc học tập trong nhà trường giống hơn với việc học tập trong thế giới thật

Trang 26

- Người học có cơ hội thực hành và phát triển khả năng của mình để hoạt động trong một môi trường phức tạp giống như sau này họ sẽ gặp phải trong cuộc sống

* Dạy học theo dự án góp phần đổi mới PPDH, thay đổi phương thức đào tạo

- Học tập dự án chuyển giảng dạy từ "giáo viên nói" thành "học sinh làm" Người học trở thành người giải quyết vấn đề, ra quyết định chứ không phải là người nghe thụ động Họ hợp tác theo nhóm, tổ chức hoạt động, tiến hành nghiên cứu, giải quyết vấn đề, tổng hợp thông tin, tổ chức thời gian và phản ánh về việc học của mình

- Dạy học theo dự án tạo điều kiện cho nhiều phong cách học tập khác nhau, sử dụng thông tin của những môn học khác nhau Nó giúp người học với cùng một nội dung nhưng có thể thực hiện theo những cách khác nhau

- Dạy học theo dự án yêu cầu HS sự tư duy tích cực để giải quyết vần đề, kích thích động cơ, hứng thú học tập

- Dạy học theo dự án khuyến khích việc sử dụng các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp cho người học hiểu biết sâu sắc hơn nội dung học tập

- Dạy học theo dự án là hình thức quan trọng để thực hiện phương thức đào tạo con người phát triển toàn diện, học đi đôi với hành, kết hợp giữa học tập và nghiên cứu khoa học

* Dạy học theo dự án tạo ra môi trường thuận lợi cho người học rèn luyện và phát triển:

- Dạy học theo dự án giúp HS học được nhiều hơn vì trong hầu hết các dự án, HS phải làm những bài tập liên quan đến nhiều lĩnh vực

- HS nào cũng có cơ hội để hoạt động vì nhiệm vụ học tập đến được với tất cả mọi người HS có cơ hội để thử các năng lực khác nhau của bản thân khi tham gia vào một dự

án

- HS được rèn khả năng tư duy, suy nghĩ sâu sắc khi gặp những vấn đề phức tạp

HS có điều kiện để khám phá, đánh giá, giải thích và tổng hợp thông tin

- HS được rèn khả năng vận dụng những gì đã học, đặc biệt các kiến thức về khoa học, công nghệ

Trang 27

- Khi lập đề cương cho dự án, người học phải tưởng tượng, phác họa những dự kiến, kế hoạch hành động, vì vậy trí tưởng tượng cùng với tính tích cực, sáng tạo của họ được rèn luyện và phát triển

* Dạy học theo dự án phát triển năng lực đánh giá Dạy học theo dự án đòi hỏi nhiều dạng đánh giá khác nhau và thường xuyên, bao gồm đánh giá của GV, đánh giá lẫn nhau của HS, tự đánh giá và phản hồi

* Dạy học theo dự án giúp HS có cơ hội lựa chọn và kiểm soát việc học của chính mình, cũng như cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp làm tăng hứng thú học tập

* Dạy học theo dự án giúp HS tự tin hơn khi ra trường do họ được phát triển những

kỹ năng sống cần thiết: khả năng đưa ra những quyết định chính xác; khả năng giải quyết những vấn đề phức tạp; khả năng làm việc tốt với người khác; sự chủ động, linh hoạt và sáng tạo

* Dạy học theo dự án phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học:

- Người học là trung tâm của dạy học theo dự án, từ vị trí thụ động chuyển sang chủ động, vì vậy dạy học dự án vừa tạo điều kiện, vừa buộc người học phải làm việc tích cực hơn

- Dạy học theo dự án cho phép người học tự chủ nhiều hơn trong công việc, từ xây dựng kế hoạch đến việc thực hiện dự án, tạo ra các sản phẩm Nhờ thế dạy học theo dự án phát huy tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề của người học

* Dạy học theo dự án giúp người học phát triển khả năng giao tiếp:

- Dạy học theo dự án không chỉ giúp gười học tiếp thu kiến thức, mà còn giúp họ nâng cao năng lực hợp tác, khả năng giao tiếp với người khác

- Dạy học theo dự án thúc đẩy sự cộng tác giữa các học viên và GV, giữa các học viên với nhau, nhiều khi mở rộng đến cộng đồng (Doãn Thị Thu, 2016)

* Tác giả Nguyễn Văn Cường và cộng sự đã tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của dạy học theo dự án:

- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội

- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học

Trang 28

- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm

- Phát triển khả năng sáng tạo

- Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp

- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn

- Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc

- Phát triển năng lực đánh giá (Nguyễn Văn Cường, Bern Meier, 2010)

dự án lại rất khó đi vào thực tiễn dạy học ở nước ta Không thể áp dụng dạy học dự án tràn lan mà chỉ có thể áp dụng với những nội dung nhất định trong những điều kiện cho phép Dạy học theo dự án không thể thay thế phương pháp thuyết trình trong việc truyền thụ những tri thức lý thuyết hay việc thông báo thông tin

- Dạy học theo dự án đòi hỏi có sự chuẩn bị và lên kế hoạch thật chu đáo thì mới lôi cuốn được người học tham gia một cách tích cực

- Hoạt động thực hành, thực tiễn khi thực hiện dạy học dự án đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp Dạy học theo dự án khó áp dụng ở cả bậc đại học cũng như trung học, tiểu học

Tác giả Doãn Thị Thu cũng cho thấy được những khó khăn khi tổ chức dạy học dựa trên dự án như sau:

- Người học thường gặp khó khăn khi: Xác định một dự án, thiết kế các hoạt động

và lựa chọn phương pháp thích hợp; Thiết lập mục tiêu rõ ràng cho các giai đoạn khác nhau của dự án; Tiến hành điều tra, tìm những câu hỏi để thu thập thông tin một cách khoa học; Quản lý thời gian, giữ đúng thời hạn cho từng công việc và khi kết thúc dự án Phối hợp

và hợp tác trong nhóm

- GV thường gặp khó khăn khi: Muốn hiểu đúng và đầy đủ về dạy học dự án; Thiết

kế một dự án vừa gắn với nội dung dạy học vừa gắn với thực tiễn đời sống; Tổ chức thực

Trang 29

hiện, theo dõi dự án, giảm sát tiến độ, quản lý lớp học; Đưa ra phản hồi và hỗ trợ khi cần thiết; Sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ dự án; Thiết kế các tiêu chí đánh giá cho một

- Dạy học dựa trên dự án đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp (Nguyễn Văn Cường, Bern Meier, 2010)

- Hiện nay môn Sinh học chưa thực sự được HS yêu thích (tỉ lệ phần trăm HS thích

và rất thích môn học này là 23%) Điều này có thể một phần do các hoạt động dạy học của

GV chưa thực sự lôi cuốn HS Các em chủ yếu được tham gia vào việc lên lớp nghe giảng

lý thuyết và làm bài tập (67%), các hoạt động thực hành, liên hệ kiến thức đã học với thực

tế còn hạn chế (8%) Điều này cho thấy việc thay đổi các hoạt động học tập trên lớp là một điều cần thiết để lôi cuốn sự chú ý của HS vào môn học này

- Trong quá trình học môn Sinh, thời lượng các em dành cho môn học này còn ít, có tới 10% HS không bao giờ học bộ môn này, năng lực tự học bộ môn này còn hạn chế (35%), kĩ năng hệ thống hóa kiến thức cũng như việc lập kế hoạch học tập còn ít

- Năng lực học tập của HS còn nhiều hạn chế Đa số các em chỉ nhận thấy mình được phát triển một số kĩ năng học tập như: tự học (47%), hình thành khái niệm (48%) Trong khi đó rất nhiều kĩ năng quan trọng khác như: kĩ năng tư duy tích cực và sáng tạo (32%),

kĩ năng lập kế hoạch học tập (21%), kĩ năng thu thập và xử lí thông tin (22%), kĩ năng trình

Trang 30

bày (chỉ có 8% HS được hỏi cảm thấy dễ dàng khi trình bày một vấn đề trước đám đông) lại chưa thực sự được chú ý phát triển Dựa vào kết quả khảo sát, phần lớn các em HS đều

có cảm nhận chung là việc học trên lớp phục vụ rất nhiều cho việc phát triển các kĩ năng

tư duy nhưng lại thiếu đi một phần quan trọng là các kĩ năng xã hội và kĩ năng làm việc, những kĩ năng sẽ giúp ích các em rất nhiều trong công việc sau này Từ các số liệu này,

GV cần phải tăng thêm các hoạt động trong lớp học để giúp các em hình thành và phát triển kĩ năng làm việc nhóm hay kĩ năng giao tiếp xã hội hơn nữa, giúp các em phát triển toàn diện

Điều này có thể do nhiều GV hiện nay chỉ chú trọng đến dạy kiến thức mà chưa quan tâm đến việc phát triển năng lực học tập cho HS Như vậy, cần có những phương pháp học tập để các em được làm việc nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn và trình bày quan điểm Các

em có thể ghi nhớ kiến thức ngay trên lớp và biết vận dụng kiến thức vào cuộc sống, từ đó các năng lực học tập sẽ được phát triển một cách toàn diện (Nguyễn Thu Hiền, 2016) Tuy nhiên, sau khi CTGDPT 2018 được ban hành, việc vận dụng các PPDH tích cực ngày càng được các GV quan tâm và sử dụng trong dạy học Dựa theo đề tài nghiên cứu của Doãn Thị Thu thì đề tài đã thiết lập bảng khảo sát về việc sử dụng một số PPDH tương

tự đề tài của Doãn Thị Thu và tiến hành khảo sát ngẫu nhiên 42 GV ở một số tỉnh thành Kết quả được thể hiện ở bảng 1.1

Qua bảng 1.1 cho thấy đối với các PPDH tích cực hầu như mức độ sử dụng của các

GV chỉ ở mức thỉnh thoảng sử dụng, điều này có thể lí giải rằng: các PPDH tích cực có sự

đa dạng nên tùy thuộc vào từng nội dung, từng bài học khác nhau mà GV có thể lựa chọn

cụ thể PPDH tích cực phù hợp Bảng 1.1 cũng cho thấy đa số các PPDH truyền thống như trực quan, vấn đáp, thuyết trình được các GV sử dụng ở mức thường xuyên trở lên chiếm

tỉ lệ khá cao, điều này cho thấy không phải đối với bất kì nội dung hay bài học nào cũng

có thể sử dụng PPDH tích cực để dạy học Vì vậy, việc vận dụng PPDH tích cực trong dạy học một bài học Sinh học có thể kết hợp song song với các PPDH truyền thống để đạt được hiệu quả nhất

Trang 31

Bảng 1.1 Kết quả khảo sát giáo viên về mức độ sử dụng một số

phương pháp dạy học trong dạy học môn Sinh học Câu 4 Trong quá trình giảng dạy tại trường THPT, thầy/cô đã sử dụng các phương

pháp dạy học bên dưới ở những mức độ nào?

Tên phương pháp

Mức độ sử dụng Luôn

luôn

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Hiếm khi

Chưa bao giờ

1.3.2 Thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học dựa trên dự án trong dạy học Sinh học ở một số trường THPT

Theo đề tài nghiên cứu của Doãn Thị Thu, tác giả đã cho rằng PPDH dựa trên dự án chưa được GV sử dụng rộng rãi trong dạy học Sinh học ở THPT (12% GV thường xuyên

sử dụng, 38% GV thỉnh thoảng sử dụng) Trong khi đó, một số PPDH truyền thống khác như thuyết trình, vấn đáp được sử dụng phổ biến Chính vì vậy việc triển khai đại trà các PPDH tích cực (trong đó có PPDH dựa trên dự án) là một yêu cầu cấp thiết hiện nay (Doãn Thị Thu, 2016)

Theo đề tài nghiên cứu của Nguyễn Thu Hiền, tác giả đã cho rằng HS có những biểu hiện khá tích cực với PPDH dựa trên dự án (60% HS đã được học theo PPDH dựa trên dự

Trang 32

án cảm thấy rất hứng thú khi học theo phương pháp này) Tuy nhiên, mức độ hiệu quả của các giờ học còn hạn chế (36% HS cảm thấy vất vả khi học theo dự án, 16% HS cảm thấy học theo dự án khó tiếp thu) Điều này có thể là do phương pháp này chưa được áp dụng rộng rãi và chưa được sử dụng thường xuyên (Nguyễn Thu Hiền, 2016)

PPDH dựa trên dự án là một trong những PPDH tích cực được sử dụng hiện nay Đề tài cũng đã dựa theo đề tài nghiên cứu của Doãn Thị Thu để xây dựng bảng khảo sát về việc vận dụng phương pháp này trong dạy học Sinh học và tiến hành khảo sát ngẫu nhiên

42 GV ở một số tỉnh thành Kết quả khảo sát thể hiện qua bảng 1.2

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát giáo viên về việc vận dụng phương pháp dạy học

dựa trên dự án trong dạy học Sinh học Câu 5 Thầy/Cô biết đến phương pháp dạy học dựa trên dự án từ đâu? (Thầy/Cô

có thể lựa chọn nhiều đáp án)

Phương án lựa chọn Kết quả lựa chọn

Từ những tài liệu hướng dẫn những chương trình cũ 31,0%

Câu 6 Mức độ quan tâm của thầy/cô về phương pháp dạy học dựa trên dự án

Phương án lựa chọn Kết quả lựa chọn

Trang 33

Câu 7 Theo thầy/cô, khi sử dụng phương pháp dạy học dựa trên dự án thì sẽ có

những thuận lợi và khó khăn như thế nào?

Nội dung

Mức độ thuận lợi Rất

thuận lợi

Thuận lợi

Bình thường

Khó khăn

Rất khó khăn

độ quan tâm của nhiều GV (đạt 81% mức quan tâm trở lên)

Kết quả bảng 1.2 ở câu 6 cũng cho thấy đa số GV khi vận dụng PPDH dựa trên dự án trong dạy học Sinh học đều thấy bình thường và thuận lợi, cụ thể ở câu 7 những nội dung trong dạy học dự án mà các GV cảm thấy đạt mức từ thuận lợi trở lên như: lựa chọn ý tưởng chủ đề chiếm 38,1%; HS báo cáo kết quả chiếm 38,1%; đánh giá dự án chiếm 42,9% Tuy nhiên, vẫn còn nhiều GV cảm thấy khó khăn ở một số nội dung trong dạy học dự án như: thiết kế dự án chiếm 28,6%; HS thực hiện dự án chiếm 33,3% Những khó khăn mà

GV gặp phải khi thực hiện dự án trong dạy học có thể từ nhiều lí do, trong số đó thì hệ

Trang 34

thống trang thiết bị, cơ sở vật chất ở một số trường THPT chưa đủ để đáp ứng cho việc thực hiện dự án học tập dẫn đến việc GV cảm thấy khó khăn khi thiết kế dự án Khó khăn

mà GV cảm thấy trong việc cho HS thực hiện dự án cũng có thể do HS không cảm thấy yêu thích môn Sinh học như đề tài của Nguyễn Thu Hiền đã khảo sát, HS phải học cùng lúc nhiều môn học khác nhau hoặc dự án rơi vào thời điểm HS phải kiểm tra nhiều môn học liên tục dẫn đến HS cảm thấy chán nản vì quá nhiều công việc phải thực hiện, từ đó ảnh hưởng đến quá trình làm dự án của môn Sinh học nói riêng cũng như quá trình học các môn học khác nói chung

1.3.3 Khảo sát giáo viên về việc tìm hiểu và vận dụng dạy học dựa trên dự án đối với chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, Sinh học 10, Chương trình giáo dục phổ thông 2018

Chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng là một trong những mạch nội dung học tập mới lạ so với chương trình dạy học môn Sinh học hiện hành Đề tài đã tiến hành khảo sát ngẫu nhiên 42 GV ở một số tỉnh thành về việc tìm hiểu và vận dụng PPDH dựa trên dự

án đối với chuyên đề này Kết quả được thể hiện ở bảng 1.3 và bảng 1.4

Bảng 1.3 Kết quả khảo sát giáo viên về việc tìm hiểu và vận dụng dạy học dựa trên dự án đối với chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng

Câu 8 Thầy/Cô đã tìm hiểu chuyên đề 10.2: Công nghệ enzyme và ứng dụng,

Sinh học 10, Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 ở mức độ như thế nào?

Phương án lựa chọn Kết quả lựa chọn

Đã tìm hiểu rất kĩ và có định hướng dạy chuyên đề này trong

Đã tìm hiểu nhưng chưa có định hướng dạy chuyên đề này trong

Chưa tìm hiểu nhưng sẽ bắt đầu tìm hiểu trong thời gian gần nhất 11,9%

Không có ý định tìm hiểu trong thời gian gần nhất 2,4%

Câu 9 Theo thầy/cô, việc vận dụng dạy học dựa trên dự án đối với chuyên đề này

có phù hợp không?

Trang 35

Phương án lựa chọn Kết quả lựa chọn

đa số GV đang cần một định hướng cụ thể cho việc dạy học chuyên đề học tập này hoặc cần một kế hoạch bài dạy cụ thể cho chuyên đề 10.2 làm tài liệu tham khảo trong quá trình dạy học CTGDPT môn Sinh học lớp 10

Kết quả bảng 1.3 ở câu 2 cũng cho thấy đối với nội dung của chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng thì có đến 92,8% GV tham gia khảo sát cho rằng việc lựa chọn PPDH dựa trên dự án trong chuyên đề này là phù hợp Điều này chứng tỏ việc xây dựng kế hoạch bài dạy có vận dụng PPDH dựa trên dự án cho chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng đáp ứng và phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay

Trang 36

1.3.4 Khảo sát giáo viên về việc vận dụng dạy học dựa trên dự án phù hợp đáp ứng

yêu cầu cần đạt của chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, Sinh học 10, Chương trình giáo dục phổ thông 2018

Theo CTGDPT 2018 môn Sinh học hình thành và phát triển ở HS năng lực sinh học, biểu hiện của năng lực khoa học tự nhiên, bao gồm các thành phần năng lực: nhận thức sinh học; tìm hiểu thế giới sống; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Trên cơ sở đó những biểu hiện cụ thể năng lực sinh học của HS sau khi học chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng đã được xác định qua các YCCĐ được trình bày ở bảng 2.1 bên dưới Nhằm có

cơ sở định hướng cho việc lựa chọn PPDH dự án phù hợp để góp phần hình thành năng lực sinh học cho HS, đề tài đã khảo sát ngẫu nhiên 42 GV ở một số tỉnh thành Kết quả được trình bày ở bảng 1.4

Bảng 1.4 Kết quả khảo sát giáo viên về việc vận dụng dạy học dựa trên dự án phù hợp với các yêu cầu cần đạt trong chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng Câu 10 Trong các yêu cầu cần đạt của chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng,

theo thầy/cô thì phương pháp dạy học dựa trên dự án phù hợp với yêu cầu cần đạt nào?

Yêu cầu cần đạt

Mức độ phù hợp Rất

phù hợp Phù hợp

Bình thường

Ít phù hợp

Không phù hợp YCCĐ 1 19,0% 64,3% 16,7% 0% 0%

Trang 37

Tuy nhiên, việc sử dụng PPDH dựa trên dự án cho tất cả YCCĐ của chuyên đề 10.2 chiếm thời lượng là 10 tiết có thể sẽ gây tâm lí quá tải, ảnh hưởng đến sự hứng thú học tập của HS đối với môn Sinh học và từ đó có thể ảnh hưởng đến chất lượng của dự án thực hiện Vì vậy, đề tài xác định đối với một chuyên đề học tập 10 tiết có nhiều YCCĐ thì việc chia nhỏ mạch nội dung thành các chủ đề, từ đó kết hợp đa dạng các PPDH sẽ đạt hiệu quả hơn trong việc đáp ứng đủ các YCCĐ của chuyên đề này Kết hợp với bảng 2.1 thì YCCĐ

6 là “Thực hiện được dự án hoặc đề tài tìm hiểu về ứng dụng của enzyme” nên đề tài đã lựa chọn chủ đề tương ứng với YCCĐ 6 để vận dụng PPDH dựa trên dự án cho quá trình dạy học

1.3.5 Khảo sát giáo viên về những khó khăn có thể khi thực hiện dạy học dựa trên

dự án đối với chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng, Sinh học 10, Chương trình giáo dục phổ thông 2018

Qua kết quả của bảng 1.2 khảo sát về những khó khăn mà GV nhận thấy khi thực hiện dự án thì việc ứng dụng PPDH dựa trên dự án trong chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng cũng không tránh khỏi những khó khăn trong quá trình thực hiện Đề tài đã khảo sát ngẫu nhiên 42 GV từ nhiều tỉnh thành về việc dự đoán những khó khăn có thể gặp phải trong lúc làm dự án đối với chuyên đề này Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 1.5

Bảng 1.5 Kết quả khảo sát về những khó khăn có thể gặp phải khi thực hiện dạy học dựa trên dự án trong chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng

Câu 11 Theo thầy/cô việc vận dụng dạy học dự trên dự án đối với chuyên đề

công nghệ enzyme và ứng dụng có thể gặp những khó khăn gì?

Khó khăn từ bước xác định chủ đề, mục đích của dự án 38,1%

Khó khăn về mặt sắp xếp thời gian để thực hiện dự án 81,0%

Khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu phục vụ cho dự án 31,0%

Khó khăn trong việc quản lí và theo dõi học sinh trong lúc làm dự án 76,2%

Trang 38

Khó khăn trong việc đánh giá dự án 31,0%

Qua bảng 1.5 cho thấy các GV tham gia khảo sát đều dự đoán gặp khó khăn khi thực hiện dạy học dựa trên dự án đối với chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng Trong đó, khó khăn phần lớn mà GV gặp phải chiếm tỉ lệ 61,9% khi xây dựng kế hoạch cho dự án, 81% khi sắp xếp thời gian để thực hiện dự án, 76,2% quản lí và theo dõi học sinh trong lúc làm dự án Từ kết quả này, đề tài xác định thiết kế kế hoạch bài dạy sao cho hạn chế hoặc làm giảm những khó khăn được dự đoán có thể xảy ra trong quá trình dạy học chuyên đề 10.2

Trang 39

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI DẠY CÓ VẬN DỤNG DẠY HỌC DỰA TRÊN DỰ ÁN CHO CHUYÊN ĐỀ CÔNG NGHỆ ENZYME VÀ ỨNG DỤNG,

SINH HỌC 10, CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

2.1 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC CHUYÊN ĐỀ CÔNG NGHỆ ENZYME VÀ ỨNG DỤNG, SINH HỌC 10, CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

Trong CTGDPT môn Sinh học, bên cạnh nội dung giáo dục cốt lõi còn có hệ thống các chuyên đề học tập môn Sinh học chủ yếu được phát triển từ nội dung các chủ đề sinh học ứng với chương trình mỗi lớp 10, 11, 12 Các chuyên đề học tập nhằm mở rộng, nâng cao kiến thức, rèn luyện kĩ năng thực hành, tìm hiểu ngành nghề để trực tiếp định hướng, làm cơ sở cho các quy trình kĩ thuật, công nghệ thuộc các ngành nghề liên quan đến Sinh học

Chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng (Chuyên đề 10.2) là một trong 3 chuyên

đề học tập trong CTGDPT môn Sinh học lớp 10 Chuyên đề này có nội dung phát triển sâu hơn nội dung tế bào học theo hướng làm cơ sở cho ứng dụng công nghệ enzyme Học xong chuyên đề này, HS có thể: nêu được một số thành tựu của công nghệ enzyme và triển vọng của lĩnh vực này; củng cố được kiến thức sinh hóa tế bào, enzyme với mục đích làm cơ sở cho công nghệ enzyme Trong chuyên đề này, HS cũng sẽ trình bày được một số ứng dụng của enzyme trong các lĩnh vực: công nghệ thực phẩm, y dược, kĩ thuật di truyền Cụ thể như sau:

Bảng 2.1 Nội dung và các yêu cầu cần đạt trong chuyên đề

Công nghệ enzyme và ứng dụng Nội dung Yêu cầu cần đạt (Mã hóa)

Trang 40

- Trình bày được một số ứng dụng của enzyme trong các lĩnh vực: công nghệ thực phẩm, y dược, kĩ thuật di truyền (YCCĐ 4)

- Phân tích được triển vọng công nghệ enzyme trong tương lai (YCCĐ 5)

- Thực hiện được dự án hoặc đề tài tìm hiểu về ứng dụng enzyme (YCCĐ 6)

2.2 THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI DẠY CÓ VẬN DỤNG DẠY HỌC DỰA TRÊN

DỰ ÁN CHO CHUYÊN ĐỀ CÔNG NGHỆ ENZYME VÀ ỨNG DỤNG, SINH HỌC 10, CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

2.2.1 Xác định cấu trúc các chủ đề học tập trong chuyên đề Công nghệ enzyme

và ứng dụng, Sinh học 10, Chương trình giáo dục phổ thông 2018

Từ kết quả phân tích ở cơ sở thực tiễn đề tài đã thiết kế các chủ đề học tập tương ứng với các nội dụng và YCCĐ trong chuyên đề Công nghệ enzyme và ứng dụng tương ứng được trình bày qua bảng 2.4

Bảng 2.2 Cấu trúc các chủ đề học tập trong trong chuyên đề

Công nghệ enzyme và ứng dụng STT Tên chủ đề Nội dung Yêu cầu cần đạt Số tiết

YCCĐ 5

Ngày đăng: 31/08/2023, 16:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w