Thực hiện đề tài Vai trò của người trần thuật trong tiểu thuyết hiện đại – Trường hợp Miền hoang của Sương Nguyệt Minh, chúng tôi mong muốn đề tài này sẽ làm s ng trò được những c ch t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Ngân
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI TRẦN THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Trường hợp Miền hoang của Sương Nguyệt Minh
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Ngân
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI TRẦN THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Trường hợp Miền hoang của Sương Nguyệt Minh
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 8220120
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THÀNH THI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Người thực hiện
Nguyễn Thị Ngân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè cùng những người thân trong gia đình Với lòng biết ơn, kính trọng sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
PGS TS Nguyễn Thành Thi, người hướng dẫn hoa học, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn
Gia đình, bạn bè đã luôn ở cạnh bên, động viên tôi học tập, cố gắng không ngừng để có thể hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất
Trân trọng!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày …… tháng… năm 2021
Người thực hiện
Nguyễn Thị Ngân
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 11
1.1 Cơ sở lí luận 11
1.1.1 Tự sự học và việc nghiên cứu tiểu thuyết 11
1.1.2 Tự sự học và quan niệm về người trần thuật trong tiểu thuyết 14
1.1.3 Tự sự học và quan niệm về mối quan hệ giữa người trần thuật với nhân vật; diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết 20
1.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1 Tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh trong dòng chảy của tiểu thuyết đương đại Việt Nam viết về chiến tranh 24
1.2.2 Người trần thuật và thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Miền hoang 31
1.2.3 Tính khả thi trong việc ứng dụng tự sự học để nghiên cứu đối tượng 35
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 NGƯỜI TRẦN THUẬT VÀ PHƯƠNG THỨC DỰNG NHÂN VẬT TRONG MIỀN HOANG CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH 39
2.1 Người trần thuật 39
2.1.1 Người trần thuật hiển lộ 41
2.1.2 Người trần thuật ngầm ẩn 47
2.2 Phương thức xây dựng nhân vật 59
Trang 62.2.1 Người trần thuật x c đ nh trực tiếp về nhân vật 59
2.2.2 Người trần thuật trình bày gi n tiếp về nhân vật 69
2.2.3 Người trần thuật sử dụng phương thức củng cố loại suy về nhân vật 78
Tiểu kết chương 2 83
Chương 3 NGƯỜI TRẦN THUẬT VÀ CÁC KIỂU DIỄN NGÔN TRONG MIỀN HOANG CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH 84
3.1 Lời của người trần thuật và việc kiến tạo diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết 84
3.1.1 Giới thuyết chung về diễn ngôn 84
3.1.2 Diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết 88
3.2 Ngôn ngữ người trần thuật 98
3.2.1 Các kiểu lời phát ngôn của người trần thuật trong Miền hoang 98
3.2.2 Sự xâm lấn của ngôn ngữ đời sống hiện đại vào lời người trần thuật 107
3.3 Vai trò của người trần thuật trong việc kiến tạo các kiểu diễn ngôn tự sự trong Miền hoang 112
3.3.1 Diễn ngôn trực tiếp 112
3.3.2 Diễn ngôn gián tiếp tự do 116
3.3.3 Diễn ngôn gián tiếp 120
Tiểu kết chương 3 124
KẾT LUẬN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tự sự học là một ngành nghiên cứu mới mẻ, được đ nh hình ở Ph p từ
khoảng những năm 1960-1970 Ngày nay, tự sự học đã trở thành một trong những lĩnh vực học thuật được quan tâm trên thế giới Nói như Trần Đình Sử,
thì: “Đối tượng của tự sự học ngày nay không chỉ ngữ pháp tự sự nói chung
mà còn là thi pháp tự sự của các tác phẩm cụ thể, ngôn ngữ tự sự của các thể loại tự sự, các loại hình tự sự, mô hình tự sự của các thể loại của các giai đoạn phát triển văn học, sự tiếp nhận tự sự và cách tác động đến người đọc của tự sự (Trần Đình Sử và Lã Nhâm Thìn và Lê Lưu Oanh, 2015, tr.7) Ở
Việt Nam, trong những năm gần đây, tự sự học đã thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu nhờ vào vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu văn
chương dưới một hệ hình mới, bởi tự sự học: “Tìm hiểu rõ nội hàm, nguồn
gốc và diễn biến của các khái niệm tự sự học, vận dụng linh hoạt và sáng tạo vào phân tích các tài liệu cụ thể, chúng ta tin chắc rằng sẽ hiểu thêm về bản chất, phương thức, lịch sử và các bí ẩn của nghệ thuật tự sự” (Trần Đình Sử
al et., 2015, tr.17) Việc ứng dụng lý thuyết tự sự học để nghiên cứu nghệ thuật trần thuật là một hướng tiếp cận mới mẻ để kh m ph cấu trúc văn bản – đặc biệt là cấu trúc thể loại tiểu thuyết trong văn học hiện đại
Năm 1986 là một dấu mốc đổi mới mạnh mẽ trên mọi phương diện của đời sống: chính tr – kinh tế – văn ho – xã hội,… Trước hiện thực mới, văn
học nói chung cũng có những chuyển d ch mới mẻ để phù hợp với “cái
đương đại chưa hoàn thành” (M Bakhtin, 2003) Bàn về sự vận động của
văn chương thời kì mới, nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn đã bày tỏ ý kiến:
“Trong đời sống văn chương, bên cạnh mỹ học thời chiến còn có mỹ học của ngày thường muôn thuở” và “Lịch sử văn học bao giờ cũng là cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi của các thế hệ văn học Mỗi chặng lớn luôn có sự góp mặt của nhiều thế hệ khác nhau” (Chu Văn Sơn, 2016) Và tiểu thuyết, thể loại
Trang 82
với vai trò là “máy cái”, là “nhân vật chính trong đời sống văn học học hiện
đại” (M Bakhtin, 2003) đã có những nỗ lực đổi mới tư duy nghệ thuật C c
thế hệ nhà văn tham gia vào cuộc hành trình nhọc nhằn kh m ph và dấn thân trải nghiệm về nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết đã có những c ch tân trên c c phương diện như Cấu trúc cốt truyện (Narrative), Nội dung câu chuyện (Story) và Hành động kể chuyện (Narration)
Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam đã phản nh rất tự nhiên và sinh động chặng đường ph t triển của l ch sử dân tộc Bản thân đề tài đó đã từng bước trưởng thành qua mỗi chặng đường ph t triển Với mỗi chặng đường ph t triển kh c nhau của l ch sử, chiến tranh được phản nh và tiếp cận với những phương thức, góc nhìn và cảm hứng kh c nhau Tiếp tục dòng mạch văn xuôi c ch mạng, từ sau năm 1986, đề tài chiến tranh vẫn thu hút sự quan tâm của những người cầm bút Có thể kể đến một số t c phẩm tiêu biểu
như: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh, 1990), Bến không chồng (Dương Hướng, 1990), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai, 1991), Hoang Tâm (Nguyễn Đình
Tú, 2013), Xác phàm (Nguyễn Đình Tú, 2014), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh, 2018), Mưa đỏ (Chu Lai, 2019), Mùa xa nhà (Nguyễn Thành Nhân, 2019),
Mình và họ (Nguyễn Bình Phương, 2019),
Trong điều kiện xã hội và dòng chảy văn học đầy biến động của giai
đoạn này, nhà văn Sương Nguyệt Minh với tiểu thuyết Miền hoang đã có
những thử nghiệm mới mẻ trên một đề tài truyền thống đó Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới năm 1979 của Việt Nam thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nước bạn Campuchia tho t khỏi nạn diệt chủng của đội quân Pol Pot đã được Sương Nguyệt Minh chắp bút dựa trên chính những trải nghiệm của mình kết hợp cùng với c i nhìn mới, tư duy mới của t c giả sau độ lùi hơn 40 năm của
l ch sử đã mang đến những cảm hứng tiếp nhận mới mẻ trong thế hệ độc giả hôm nay Đã có những hội thảo, bài b o, luận văn, s ch nghiên cứu về tiểu thuyết hiện đại nhưng nghiên cứu tính hiện đại của tiểu thuyết từ nghệ thuật
Trang 93 trần thuật – đặc biệt là vai trò của người trần thuật trong tiểu thuyết hiện đại
qua một tiểu thuyết tiêu biểu như Miền hoang thì vẫn là một khoảng trống.
Thực hiện đề tài Vai trò của người trần thuật trong tiểu thuyết hiện đại
– Trường hợp Miền hoang của Sương Nguyệt Minh, chúng tôi mong muốn đề
tài này sẽ làm s ng trò được những c ch tân nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện đại ở mảng đề tài viết về chiến tranh nói chung và vai trò của người trần thuật
của tiểu thuyết Miền hoang nói riêng Từ đó góp phần kh i qu t được một bức
tranh đa chiều về nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sương Nguyệt Minh là một cây bút văn xuôi đương đại nổi tiếng trong làng văn Việt Nam Với gần 30 năm cầm bút và lao động miệt mài, c i tên Sương Nguyệt Minh không hề xa lạ với đông đảo bạn đọc Việt Nam Ngay từ những t c phẩm đầu tiên, t c phẩm của ông đã nhận được nhiều sự quan tâm, giới thiệu, c c ý kiến trao đổi, bình luận, nghiên cứu, Điều đó chứng tỏ được sức hút đặc biệt từ những trang văn của Sương Nguyệt Minh – sức hút
đó không phải chỉ nằm ở đề tài, thể loại mà là còn ở chính phong c ch viết trau chuốt của ông
Ngay từ truyện ngắn đầu tay – Nỗi đau dòng họ, nhà văn Sương Nguyệt
Minh đã bộc lộ thiên hướng viết của mình, nói như nhà văn Hồ Phương thì:
“có mùi có vị, truyện đầu tay nhưng đã cảm thấy rõ hình hài, cốt cách của
người viết trong đó” (Nguyễn Thế Hùng, 2014) Đến Mười ba bến nước và Dị hương, Sương Nguyệt Minh được đ nh gi , giống như “người lữ hành để lại dấu chân trên chặng đường đầy gió bụi” và “Sương Nguyệt Minh cũng đã để lại những dấu ấn của anh trong đời sống văn học hiện đại” (Nguyễn Hoàng,
2006) bởi những c ch tân trong thể loại và ph vỡ motip chủ đề, tạo ra sự đa thanh trong t c phẩm của mình
Không chỉ dừng lại ở thể loại truyện ngắn, trong một mạch văn đã ổn
đ nh và người cầm bút đã tích lũy được vốn kinh nghiệm dày dặn, Sương
Trang 104 Nguyệt Minh đã thử sức với tiểu thuyết Năm 2014, Sương Nguyệt Minh đã
ra mắt tiểu thuyết đầu tay mang tên Miền hoang (Nhà xuất bản Trẻ ấn hành)
Ngay từ khi mới xuất bản, cuốn s ch đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của c c nhà nghiên cứu, phê bình văn học, c c nhà văn, nhà b o cùng với nhiều bài viết giới thiệu, phân tích, bình luận xung quanh t c phẩm này Cuốn
s ch đã đạt giải s ch hay năm 2015
Nhân d p kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam, ngày 17/12/2014, tại Hà Nội, Trường Đại học Văn ho và NXB Trẻ đã phối hợp tổ
chức cuộc tọa đàm “Nhà văn Sương Nguyệt Minh với tiểu thuyết Miền
hoang” Cuộc tọa đàm đã thu hút hơn 120 t c giả văn chương, nhà b o, sinh
viên đến dự, trong đó phải kể đến c c cây bút nổi tiếng như: Văn Gi , Nguyễn Việt Chiến, Văn Chinh, Lê Minh Khuê, Nguyễn Trọng Tạo Ngoài ra, cuộc tọa đàm còn có sự tham gia của c c nhà sử học Vũ Văn Quân, Trần Viết Nghĩa, Nguyễn Hoài Phương, Vũ Minh Nguyệt, cũng tham dự với tư c ch
là những người làm sử tham chiếu tiểu thuyết Miền hoang Trong buổi tọa đàm, c c nhà văn, nhà phê bình đã ph t biểu về Miền hoang như sau:
Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên kh ng đ nh về gi tr đề tài
của t c phẩm: “Miền hoang là cuốn tiểu thuyết được viết tâm huyết, công phu,
độc đáo về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và cuộc chiến ở chiến trường Campuchia, ”.
Người “đỡ đầu” cho tiểu thuyết Miền hoang nhà thơ Phạm Sĩ S u, biên
tập của NXB Trẻ bày tỏ về tính chân thực trong t c phẩm đã t i hiện lại chiến tranh khốc liệt và gợi lên được cảm xúc trong bạn đọc khi được hiểu hơn về
cuộc chiến đã qua thông qua những trang văn của Miền hoang: “Tôi từng có
gần 10 năm sống, chiến đấu ở Campuchia và hồi ức về những năm tháng đã qua ấy đã sống lại trong tôi với sự dẫn dắt từ những trang viết của “Miền hoang”
Nhà văn Nguyễn Văn Thọ và tâm đắc với việc sử dụng chi tiết chắt lọc,
Trang 115
kỹ thuật xâu chuỗi c c chi tiết vốn là thế mạnh của Sương Nguyệt Minh trong thể loại truyện ngắn đã được p dụng vào t c phẩm có dung lượng đồ sộ này Nhà văn Nguyễn Bích Thúy trong buổi tọa đàm đã tự nhận thấy mình là một
người phụ nữ dùng cảm khi đọc tiểu thuyết Miền hoang bởi tính chất tàn bạo,
man rợ ngoài sức tưởng tượng của bản thân về một cuộc chiến đã được t c giả phơi trần
Nhà văn, nhà phê bình Nguyễn Việt Chiến đã chia sẻ cảm nhận về tầm vóc và ý nghĩa l ch sử của tiểu thuyết Miền hoang trong đề tài viết về chiến
tranh nói chung và cuộc chiến tranh ở Campuchia nói riêng: “Cuộc chiến diệt
chủng đẫm máu ở Campuchia là vết thương lớn trong tâm hồn nhân loại, đặc biệt là đối với người dân ở bán đảo Đông Dương, trong đó có Việt Nam Vết thương lớn ấy cùng những di chứng chiến tranh man rợ, tàn bạo của chế độ Khmer Đỏ đã làm cả thế giới phẫn nộ và không bao giờ ký ức nhân loại lãng quên”.
Nhà phê bình Nguyễn Hoàng Đức đã không giấu được sự khâm phục
với cuốn tiểu thuyết: “Cuốn sách làm sao có mặt nếu nó không được tích tụ
bao suy tư, cảm xúc, trải nghiệm và lao động của tác giả? Rút cục Sương Nguyệt Minh đã làm được cái việc đau đáu theo đuổi bấy lâu nay Tôi ít gặp một cây bút nào yêu văn học máu thịt như anh”.
Bên cạnh đó, nhà phê bình Mai Anh Tuấn mong muốn nhà văn Sương Nguyệt Minh sẽ viết tốc độc hơn, cô nén hơn, gợi nhiều hơn tả thực Theo Mai Anh Tuấn thì đường đi của một t c phẩm lớn viết về chiến tranh là t c phẩm đó phải được viết bằng tâm thế trí thức thay vì tâm thế của người trực tiếp can dự, và từ một cuộc chiến cụ thể phải nâng lên thành phạm trù mang tính phổ qu t, mang tầm nhân loại
Ngoài ra, cuốn tiểu thuyết cũng nhận được sự quan tâm của đông đảo
dư luận và công chúng với c c bài viết như: Miền hoang – thắp sáng niềm tin
lẽ sống, khát vọng của con người (Ngọc Hiên, b o Đất Việt); Miền hoang như
Trang 126
nén hương tưởng nhớ, tri ân những người hi sinh vì Tổ Quốc (Tr nh Phương,
b o Đất Việt); Chiến tranh qua mắt người lính (Báo PetroTimes); Viết về
chiến tranh như thế nào? ( B o Lao Động); Miền Hoang – những ám ảnh chiến tranh (Phong Huế); Tiểu thuyết Miền hoang – Góc nhìn khác về chiến tranh (Nguyễn Văn Thọ, b o Tuổi trẻ cuối tuần); Đôi khi nhân vật bướng bỉnh trước nhà văn (Phạm Xuân Trường, b o Ph p luật Thành phố Hồ Chí
Minh),…
Nhà văn Sương Nguyệt Minh cũng bày tỏ:
Tôi muốn nói đến sự tàn khốc, hủy diệt của chiến tranh đối với cả hai
phía Đọc Miền hoang, bạn đọc sẽ nhận thấy chiến tranh hiện nguyên
hình là “con thú dữ” và sẽ sợ chiến tranh, lìa xa chiến tranh Đồng thời tôi còn muốn cắt nghĩa: khi con người b đẩy vào sự khốc liệt, khốn cùng, sự mong manh giữa c i sống và c i chết ở nơi hoang dã thì buộc phải nghĩ c ch để tồn tại Họ phải sống đã, sau đó làm gì mới làm, nhưng
để tồn tại trong điều kiện nghiệt ngã thì tất phải trở nên hoang dại, c i đói
kh t đ nh quỵ, họ buộc phải ăn cả th t người để sống cũng là điều không lạ Qua tiểu thuyết, tôi cũng có tham vọng tố c o sự man rợ, phi nhân tính của quân Pol Pot, và phần nào có tham vọng cắt nghĩa vấn đề: Tại sao một đất nước có nền văn minh Ăng-ko qu rực rỡ như thế, nhưng lại huynh đệ tương tàn trong biển m u và những c nh đồng chết trắng xương với c c c ch giết người man rợ?
Trang 13Đề tài Tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh từ góc nhìn
trần thuật học [Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Th Hường, năm 2016, mã số
60.22.01.20, Đại học Sư phạm Hà Nội 2] Luận văn đã khảo s t về người trần thuật ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, đặc biệt lưu ý tới kĩ thuật tổ chức điểm nhìn từ người kể chuyện sang nhân vật, giữa c c nhân vật với nhau và đi đến kết luận mối quan hệ giữa người kể chuyện và nhân vật được tiệm cận, khoảng c ch được rút ngắn, tính tự sự của cấu trúc lời nói b ph vỡ
Ngoài ra, còn có hai luận văn kh c cũng để cập tới người trần thuật
trong tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh là: Đặc điểm nghệ
thuật tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh [Luận văn Thạc sĩ của
Trương Văn Cả, năm 2016, mã số 60.22.01.21, Đại học Đà Nẵng] và Kết cấu
nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh [Luận văn
Thạc sĩ của Bùi Th Thu Hiền, năm 2017, mã số 60.22.01.21, trường Đại học Văn Hiến] Có thể thấy Sương Nguyệt Minh là nhà văn thành danh từ truyện
ngắn, Miền hoang mới chỉ là tiểu thuyết đầu tay, ra đời từ năm 2014 tới nay
nhưng t c phẩm đã nhận được sự chú ý của những nhà nghiên cứu ở trên c c phương diện kh c nhau của nghệ thuật trần thuật
Như vậy, đặt trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại, Miền
hoang là một tiểu thuyết đã phản nh được góc nhìn về chiến tranh và độ lùi
hơn 40 năm trong việc t i hiện chiến tranh, c ch thức viết về chiến tranh hôm nay cũng như triển vọng của đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam hiện đại T c phẩm tuy nhận được những đ nh gi cao từ giới chuyên môn cũng như sự tiếp nhận từ bạn đọc nhưng vẫn chưa có một công trình nào nghiên
Trang 148
cứu một c ch hệ thống về vai trò của người trần thuật của cuốn s ch này
Trên tinh thần tham khảo và học hỏi ý kiến của những người đi trước, với đề tài này chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu một c ch đầy đủ và chi tiết những
gi tr đặc sắc về vai trò của người trần thuật trong Miền hoang Từ đó, kh ng
đ nh v thế của t c giả, t c phẩm trong nền văn học đương đại Việt Nam
3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu, khảo s t, phân tích tiểu thuyết Miền hoang của
Sương Nguyệt Minh, luận văn nhằm kh ng đ nh:
– Vai trò, v trí, thành tựu của nhà văn Sương Nguyệt Minh bên cạnh những nhà văn viết về chiến tranh và c c nhà văn tiểu thuyết đương đại
– Tìm hiểu, kh m ph có hệ thống vai trò của người trần thuật trong
tiểu thuyết Miền hoang của của nhà văn Sương Nguyệt Minh.
3.2 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về vai trò của người trần thuật trong tiểu thuyết
hiện đại thông qua t c phẩm Miền hoang của nhà văn Sương Nguyệt Minh.
3.3 Phạm vi nghiên cứu
T c phẩm Miền hoang của nhà văn Sương Nguyệt Minh (do Nhà xuất
bản Trẻ ấn hành năm 2014)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra hai nhiệm vụ cơ bản:
Thứ nhất: Từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, phân tích vai trò của
người trần thuật và phương thức dựng nhân vật của Sương Nguyệt Minh trong
tiểu thuyết Miền hoang.
Thứ hai: Phân tích ngôn ngữ của người trần thuật và việc kiến tạo diễn
ngôn tự sự của Sương Nguyệt Minh trong tiểu thuyết Miền hoang
Trang 159
5 Phương pháp nghiên cứu
Về phương ph p nghiên cứu: Luận văn tiếp cận đề tài từ c c quan điểm, phương ph p luận sau đây:
5.1 Quan điểm hệ thống: Xem văn bản tiểu thuyết là một cấu trúc
chỉnh thể
5.2 Phương pháp thống kê: Hệ thống ho những chi tiết tự sự thuộc về
những người trần thuật kh c nhau trong hệ thống kết cấu tiểu thuyết Miền
hoang.
5.3 Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Luận văn vận dụng phương
ph p này làm căn cứ lý luận để phân tích, chứng minh cụ thể thi ph p tiểu thuyết với c c đặc trưng thể loại của nó, từ đó soi chiếu những s ng tạo của Sương Nguyệt Minh trong việc xây dựng vai trò của người trần thuật trong
tiểu thuyết Miền hoang.
5.4 Phương pháp tiếp cận tự sự học: Luận văn vận dụng lí thuyết này
để khảo s t, xây dựng những luận điểm về vai trò của người trần thuật trong phương thức dựng nhân vật, người trần thuật trong việc kiến tạo c c diễn
ngôn trong tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh
5.5 Phương pháp tiểu sử học: Luận văn vận dụng khai th c những yếu
tố tiểu sử trong cuộc đời của nhà văn Sương Nguyệt Minh trong mối liên hệ
hình thành quan điểm s ng t c t c phẩm Miền hoang.
Ngoài ra, luận văn còn kết hợp với c c thao t c: phân tích, tổng hợp,
đ nh gi ,… Qua đó đặt s ng t c trong mối quan hệ với sự vận động l ch sử –
xã hội và đời sống văn học
6 Dự kiến đóng góp của đề tài
Trên cơ sở kế thừa những thành quả của c c công trình nghiên cứu trước đó, chúng tôi mong muốn luận văn sẽ góp phần bổ sung vào c c kết quả nghiên cứu về những s ng tạo trong việc xây dựng người trần thuật trong tiểu
thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh nói riêng và tiểu thuyết viết về đề
Trang 1610 tài chiến tranh sau 1986 nói chung
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn triển khai thành ba chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài
Trình bày cơ sở lý luận và cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đề tài Luận
văn đã đặt t c phẩm Miền hoang của Sương Nguyệt Minh trong dòng chảy
chung của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đ nh v t c phẩm trong dòng chảy
ấy Sơ bộ khảo s t vai trò của người trần thuật trong việc kiến tạo thế giới nhân vật, kiến tạo diễn ngôn của t c giả trong t c phẩm tiểu thuyết này Từ
đó, kh ng đ nh tiềm năng và tính khả thi của việc thực hiện luận văn
Chương 2: Người trần thuật và phương thức dựng nhân vật trong Miền
hoang của Sương Nguyệt Minh: Luận văn nghiên cứu sâu sắc về người trần
thuật (đan xen nhiều điểm nhìn trần thuật) và phương thức dựng nhân vật (Người trần thuật x c đ nh trực tiếp về nhân vật; Người trần thuật x c đ nh
gi n tiếp về nhân vật; Người trần thuật sử dụng phương thức củng cố loại suy
về nhân vật) là hai phương diện thể hiện rõ nét những nỗ lực c ch tân của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói chung và trong chính những trải nghiệm s ng
t c tiểu thuyết Miền hoang của nhà văn Sương Nguyệt Minh nói riêng
Chương 3: Người trần thuật và c c kiểu diễn ngôn trong Miền hoang
của Sương Nguyệt Minh: Ở chương 3, luận văn đã trình bày bốn đặc điểm của diễn ngôn trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam đó là: Sự chuyển hướng diễn ngôn, tính đa ngữ, tính đối thoại và tính bất nh phân Ứng dụng vào nghiên
cứu t c phẩm, có thể nhận thấy tiểu thuyết Miền hoang đã biểu hiện rõ những
đặc điểm diễn ngôn này
Trang 1711
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Tự sự học và việc nghiên cứu tiểu thuyết
1.1.1.1 Đôi nét về Tự sự học trên thế giới và Việt Nam
Trình bày về sự ph t triển của tự sự học trên thế giới, Trần Đình Sử
trong Tự sự học – một môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng (Trần Đình
Sử, Nguyễn Đăng Suyền, Lê Lưu Oanh, 2004) đã kh i qu t l ch sử ra đời và
ph t triển của tự sự học từ khi ra đời cho đến ngày nay Theo đó, tự sự học có thể tóm tắt chia làm ba thời kì: Tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc; Tự sự học cấu trúc chủ nghĩa; Tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa Mỗi thời kì đều có những kh m ph , kế thừa và s ng tạo riêng biệt của c c nhà lý thuyết và
nghiên cứu Thời kì đầu tiên của Tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc, tự sự
học nghiên cứu c c thành phần và chức năng của tự sự C c nhà nghiên cứu
mở đường như: B Tomasepxki, V Shklovski, V Propp, M Bakhtin, Percy
Lubbock,… Thời kì thứ hai của lí thuyết tự sự là chủ nghĩa cấu trúc chủ yếu
đi tìm mô hình cho hình thức tự sự Giai đoạn này gắn liền với tên tuổi của
c c nhà nghiên cứu như: Todorov xem nhân vật như danh từ, tình tiết là động
từ A.J.Greimas vận dụng đối lập trục liên kết G Genette thì cho rằng mỗi câu chuyện là sự mở rộng của một câu R Barthes cũng t n thành quan điểm
đó Thời kì thứ ba của tự sự học là gắn liền với kí hiệu học, coi hình thức tự
sự là phương tiện biểu đạt ý nghĩa của t c phẩm Nội dung của khoa học tự sự
là nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan Lý thuyết tự
sự học hiện đại lần đầu tiên cho người ta thấy sự phức tạp của cấu trúc tự sự Nghiên cứu tự sự học mở ra khả năng nghiên cứu tự sự trong mỗi nền văn học
Trang 1812 Ứng dụng nghiên cứu tự sự học ở Việt Nam, Trần Đình Sử cho rằng:
Văn học Việt Nam có l ch sử lâu đời nhưng “việc nghiên cứu văn học dân tộc
cho đến nay vẫn nặng về miêu tả các dữ kiện bề ngoài” và“nếu thiếu đi sự phân tích cấu trúc tự sự bên trong, sự vận động có qui luật của các yếu tố thì chúng ta có thể vẫn chưa hiểu lịch sử văn học với tư cách là lịch sử nghệ thuật ngôn từ và lịch sử văn hoá, văn học của chính dân tộc ta” Vậy nên,
“cần vừa giới thiệu lý thuyết tự sự đủ mọi phương diện và của mọi trường
phái trên thế giới, vừa tìm hiểu truyền thống tự sự nước ngoài, vừa bước đầu nhìn vào thăm dò thi pháp tự sự văn học Việt Nam” (Trần Đình Sử et al.,
2004, tr.12)
1.1.1.2 Việc ứng dụng Tự sự học vào nghiên cứu tiểu thuyết
M Bakhtin cho rằng sự kiến giải về tính c ch trong tiểu thuyết biển
hiện ở chỗ: “trong tiểu thuyết “con người không hóa thân đến cũng vào cái
thân xác xã hội lịch sử thực tồn” Cho nên, một trong những đề tài nội tại căn bản của tiểu thuyết chính là đề tài về việc nhân vật không tương hợp với số phận và vị thế của nó Con người hoặc là cao lớn hơn số phận mình, hoặc là nhỏ bé hơn tính người của mình” (M Bakhtin, 1992, tr.396).
Huỳnh Như Phương trong Tác phẩm và thể loại văn học đã chỉ ra s u đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại Thứ nhất: Tiểu thuyết là hình thức tổng hợp của văn xuôi hư cấu Thứ hai: Tiểu thuyết được xây dựng trên nhiều sự kiện,
biến cố, cảnh ngộ, mối xung đột Đó là văn bản phi tập trung ho , có sự đa dạng về điểm nhìn và nhân vật, gồm đủ mọi hạng người, mọi tính c ch, tạo
nên những mối quan hệ chồng chéo với những diễn biến tâm lí đa dạng Thứ
ba: Tiểu thuyết mở rộng những chiều kích của không gian và thời gian, dẫn
dắt nhân vật đi qua nhiều đ a điểm, hoàn cảnh, môi trường, làm sống lại những giai đoạn l ch sử lâu dài Không b giới hạn trong dung lượng phản
nh, tiểu thuyết có khả năng dựng lên những bức tranh hoành tr ng về mặt xã
hội Thứ tư: Nhà viết tiểu thuyết thường dùng kỹ thuật làm cho hành động
Trang 19Thân Đan (Trung Quốc) đề xướng nghiên cứu Tự sự học kết hợp với
nghiên cứu cứu văn thể Với công trình Tự sự học và nghiên cứu văn thể học
tiểu thuyết, bà chỉ ra: “Giữa “ngôn từ” và “văn thể” có hai phương diện trùng hợp quan trọng: Điểm nhìn trần thuật và phương thực khác nhau trong biểu đạt lời nói của nhân vật” (Đỗ Văn Hiếu, 2017).
Đỗ Văn Hiếu trong bài viết Vận dụng lí thuyết tự sự học vào nghiên
cứu hình thái thể loại tiểu thuyết đã chỉ ra rằng trần thuật trở thành đặc trưng
bản thể của tiểu thuyết, bao gồm phương thức biểu đạt thông tin và phương thức vận dụng ngôn ngữ Chính trần thuật đã khiến những t c phẩm có cùng
một cốt truyện có thể trở nên kh c nhau Từ góc độ hình thức mà nói, “tiểu
thuyết chính là lịch sử thiên biến vạn hoá của phương thức trần thuật Văn bản tiểu thuyết là câu chuyện được kể hay chính bản thân hành vi kể sẽ thể hiện quá trình từ đơn giản tới phức tạp của phương thức trần thuật” (Trần
Đình Sử et al., 2015, tr.209 – 221)
Dương Tinh Ánh trong Hình thái thể loại tiểu thuyết Trung Quốc và
phương Tây đã xuất ph t từ phương thức tự sự và thể thức ngôn ngữ để tiến
hành nghiên cứu thể loại tiểu thuyết Nhà nghiên cứu đã “khái quát bản chất
của tiểu thuyết, chỉ ra hình thái đồng đại, hình thái bản thể, kết cấu tương đối
cố định của nó Từ vấn đề quan hệ giữa người trần thuật và cốt truyện, không gian và thời gian có thể chỉ ra đặc trưng của tiểu thuyết” (Trần Đình Sử et el.,
2015, tr.210)
Nhà phê bình văn học Trần Đình Sử đã kh ng đ nh tất cả c c trường
Trang 2014
phái nghiên cứu đều quan tâm tới vấn đề trần thuật trong tiểu thuyết: “Từ chủ
nghĩa hình thức Nga, ngôn ngữ học Saussure, trường phái Praha, trường phái tân Aristotle, triết học phân tích, kí hiệu học, hậu cấu trúc, chủ nghĩa,… không trường phái nào là không quan tâm tới vấn đề trần thuật trong tiểu thuyết” (Trần Đình Sử et al., 2004, tr.12).
Tiếp nối Trần Đình Sử, Lê Thời Tân trong nghiên cứu Tự sự học: Tên
gọi, lược sử và một số vấn đề lí thuyết cũng thống nhất dùng thuật ngữ tự sự
học trong nghiên cứu bởi: “đối tượng của trường phái, khuynh hướng học
thuật này không chỉ là nghiên cứu văn học tự sự (trần thuật bằng/ thông qua chất liệu ngôn từ) mà là gần như hầu hết các dạng thức tồn tại của giao tiếp nghệ thuật chất liệu khác” (Trần Đình Sử et al., 2015, tr.60).
Với lợi thế thể loại, tiểu thuyết đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu trong việc ứng dụng c c lý thuyết tự sự học vào tìm hiểu, làm rõ từ kết cấu cho tới nội dung trần thuật ở trên cả ba khía cạnh: Hành động kể chuyện (narration) – Cấu trúc cốt truyện (Narrative) và Nội dung câu chuyện (Story)
1.1.2 Tự sự học và quan niệm về người trần thuật trong tiểu thuyết
Từ điển thuật ngữ văn học đã đ nh nghĩa về người trần thuật và c c chức
năng của người trần thuật trong t c phẩm:
Người trần thuật (narrator) là một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành Trong khi kể miệng, người trần thuật là một người sống linh động Trong trần thuật viết phi văn học, người trần thuật nói chung đồng nhất với t c giả Nhưng trong t c phẩm trần thuật mang tính chất văn học thì người trần thuật lại kh c, nó b trừu tượng ho đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong t c phẩm tự sự (…) người trần thuật trở thành một nhân vật trong t c phẩm, tuy là nhân vật đặc thù, nhưng giống như mọi nhân
Trang 2115
vật kh c, chỉ là nhân vật “trên giấy”, thực hiện một chức năng trong tự
sự Do đó, người trần thuật là người đưa tin được g lắp trong nội bộ một hành vi ngôn ngữ kh c
Người trần thuật nói chung thực hiện năm chức năng:
1 Chức năng kể chuyện, trần thuật
2 Chức năng truyền đạt, đóng vai một yếu tố của tổ chức tự sự
3 Chức năng chỉ dẫn, thuộc phương ph p trần thuật
4 Chức năng bình luận
5 Chức năng nhân vật ho
(Lê B H n và Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi, 2007, tr.221)Trần Đình Sử đã đưa ra đ nh nghĩa về người trần thuật dựa trên mối liên hệ với ngôi kể:
Người trần thuật trong t c phẩm văn học là kẻ được s ng tạo ra để mang lời kể Và hành vi trần thuật là hành vi của người trần thuật đó mà sản phẩm là văn bản tự sự Người trần thuật trong văn bản văn học là một hiện tượng nghệ thuật phức tạp nhất, mà ngôi kể chỉ là một hình thức biểu hiện ước lệ Người trần thuật vốn không có gì là ngôi kể mà chỉ là chủ thể kể Sự kh c biệt “ngôi thứ nhất” với “ngôi thứ ba” chỉ là kh c nhau về mức độ bộc lộ và ẩn giấu của người trần thuật mà thôi Sự ẩn giấu của ngôi kể thứ ba làm cho nó gần như là vô nhân xưng.
(Trần Đình Sử et al., 2004, tr.17)Theo Huỳnh Như Phương thì người trần thuật (chính là người kể chuyện) là:
Thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò chủ thể của lời kể chuyện, là người
Trang 2216
đứng ra kể trong t c phẩm văn học Chủ thể này có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức kh c nhau Người kể chuyện không đồng nhất với t c giả ngay cả khi t c giả xưng “tôi” và hoàn toàn đứng ngoài sự vận động của các sự kiện, c c tình tiết Nhà văn có thể nhập vào vai người kể chuyện
này kh c để biểu hiện những tư tưởng, cảm xúc của mình, nhưng người
kể chuyện ấy không hoàn toàn là chính t c giả.
(Huỳnh Như Phương, 2017, tr.72) Trong tự sự học, người trần thuật là một t c nhân tự sự không thể thiếu Người trần thuật – tùy vào mức độ tham gia trong c c tự sự kh c nhau – mà đóng những vai trò kh c nhau trong tự sự Dựa trên những mô hình phân loại
kh c nhau, chúng ta có c c dạng thức người trần thuật kh c nhau Phân chia
theo cấp độ tự sự có hai dạng người trần thuật tương ứng là: Nội thuật (intradiegetic) và Ngoại thuật (extradiegetic) Phân chia theo mức độ can dự
vào câu chuyện (nghĩa là anh ta có mặt hay vắng mặt trong câu chuyện) là D
thuật (heterodiegetic) và Đồng thuật (homodiegetic) Phân chia dựa trên sự
hiểu biết của người trần thuật trong văn bản, có thể phân chia là Người trần
thuật khả tín (reliable narrator) và Người trần thuật bất khả tín (unreliable narrator),…
Ở Việt Nam, những năm cuối thế kỉ XX, lí thuyết tự sự của c c nhà nghiên cứu văn học nước ngoài đã được d ch và giới thiệu Trong đó, tiêu biểu có những bài viết, công trình nghiên cứu về người trần thuật từ quan điểm Tự sự học như sau:
Trần Đình Sử đã đề cập và cũng chính là một trong những người đầu
tiên đưa Tự sự học vào Việt Nam Trong bài viết Tự sự học – Một bộ môn
nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng đã kh i qu t Tự sự học trong mối liên
hệ với tiểu thuyết: “Tự sự học không đóng khung trong tiểu thuyết mà vận
Trang 2317
dụng cả vào các hình thức tự sự khác nữa… Tự sự không còn giản đơn là việc
kể chuyện, mà là một phương pháp không thể thiếu để giải thích, lí giải quá khứ, có nguyên lí riêng” (Trần Đình Sử et al., 2004, tr.12).
Đỗ Hải Phong trong bài nghiên cứu Vấn đề người kể chuyện trong thi
pháp tự sự hiện đại đã đề cập tới c c quan điểm còn tồn tại xung quanh vấn
đề người kể chuyện (người trần thuật) Như là ý kiến của M.Bakhtin: “người
trần thuật trong mối liên hệ với người đọc giả định, vấn đề “điểm nhìn”, các loại hình, cấp độ và tình huống trần thuật” R.Veiman lại đặt câu hỏi về vấn
đề ý thức hệ của điểm nhìn cần chú trọng: “Trên thực tế “điểm nhìn” chỉ có
thể được hiểu đúng trong quá trình biến chuyển lịch sử của nó như sự thể hiện trong mạch trần thuật thái độ không bất biến của nhà văn đối với xã hội như chất liệu sáng tác” Từ đó, t c giả đi tới kết luận: “Người kể chuyện là một trong những hình thức thể hiện quan điểm tác giả trong tác phẩm” (Trần
Đình Sử et al, 2015, tr.120) Tuy nhiên, cần phải xem xét tương quan giữa c i chủ quan và c i kh ch quan trong người trần thuật có liên quan tới vấn đề tạo khoảng c ch giữa t c giả và thế giới được miêu tả nảy sinh cùng với sự ph t triển của loại hình tự sự trong văn chương
Đặng Anh Đào trong Sự phát triển nghệ thuật tự sự ở Việt Nam – một
vài hiện tượng đáng lưu ý đã đề cập tới sự xuất hiện, hình thành và ph t triển
một vài hình thức tự sự ở Việt Nam Đặng Anh Đào kết luận: “Sự xuất hiện
của tiểu thuyết hiện đại là sự gặt hái của một quá trình dịch thuật, song nó không còn là sự cải biên, phóng tác, biến đổi các tác phẩm dịch thuật, như ta từng thấy lặp lại ở truyện thơ của Việt Nam” (Trần Đình Sử et al., 2004,
Trang 2418
Giọng điệu kể chuyện của tiểu thuyết cũng có phần hấp dẫn, kh ch quan
và đa thanh hơn Thay vì lối kể chuyện truyền thống của một nhân vật trung gian, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới thường có hai nhân vật kể chuyện Điểm nhìn nghệ thuật không chỉ được gia tăng mà còn thường xuyên xê
d ch, đổi ngôi Nhờ đó nó ph vỡ được lối kể lể đơn điệu, nhuốm màu sắc chủ quan của tiểu thuyết truyền thống Cũng nhờ đó mà nó bớt đi tính
gi o huấn p đặt một chiều, tạo điều kiện thuận lợi cho tinh thần đối thoại và tự đối thoại cởi mở, dân chủ của tư duy tiểu thuyết mới.
(Lý Hoài Thu, 2009) Phạm Xuân Thạch đã đề cập tới vấn đề người trần thuật ngôi thứ nhất
và ngôi thứ ba trong tiểu thuyết:
Tính phức tạp của c c kỹ thuật tiểu thuyết đương đại còn được gia cố thêm bằng sự linh hoạt trong việc luân chuyển giữa trần thuật từ ngôi thứ nhất và trần thuật từ ngôi thứ ba Điều này kéo theo sự đa dạng về giọng trần thuật với sự hiện diện đồng thời của c c loại lời của người trần thuật, nhân vật và lời gi n tiếp tự do – sự pha trộn giữa lời của người trần thuật
và lời nhân vật Không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật, điều này liên quan đến những nguyên tắc xây dựng hình tượng nhân vật
Trang 2519
thuyết đa thanh, phức hợp” (Nguyễn Thành, 2017).
Một số bài nghiên cứu, tiểu luận đã ứng dụng lý thuyết người trần thuật vào c c tiểu thuyết Cụ thể:
Nguyễn Văn Hùng trong Nghệ thuật tự sự của Nguyễn Bình Phương
trong tiểu thuyết “Mình và họ” bình luận:
Gia tăng, gấp bội và d ch chuyển điểm nhìn là biểu hiện độc đ o, sinh động trong nỗ lực kh m ph , luận giải hiện thực và con người có chiều sâu của Nguyễn Bình Phương Đó là hình thức phối hợp, đan xen nhiều điểm nhìn/quan điểm trần thuật trên nguyên tắc đối thoại Chính điều này
đã giúp Mình và họ vượt tho t tính đơn thanh, độc thoại một chiều của
mô hình tự sự truyền thống; đan cài nhiều tiếng nói, thi triển liên tục những trường đối thoại, tạo dựng tính đa âm cho tiểu thuyết.
(Nguyễn Văn Hùng, 2017)
Cao Kim Lan trong Người kể chuyện tự ý thức trong Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh đã đề cập tới một kh i niệm ra hình tượng người kể
chuyện tự ý thức:
Để có thể chuyển tải được tư tưởng của người nghệ sĩ thông qua mô hình cấu trúc này, t c giả đã s ng tạo ra một hình tượng người kể chuyện đặc thù: Người kể chuyện tự ý thức Không chỉ xuất hiện như một người có vai trò chỉ dẫn về hoàn cảnh và diễn hóa hoàn cảnh: giới thiệu, miêu tả, trần thuật sự việc, con người (bao gồm cả lời dẫn thoại và bình luận hay
còn gọi là trữ tình ngoại đề), người kể chuyện trong Nỗi buồn chiến tranh
còn bộc lộ ở khả năng thâm nhập vào đời sống tinh thần của nhân vật, suy ngẫm và đối thoại với nhiều tiếng nói kh c trong thế giới nghệ thuật văn
Trang 2620
bản t c phẩm Tiếng nói tự ý thức về bản thân mình, về nhân vật và hiện thực chiến tranh với những góc nhìn khủng khiếp, về tình yêu với đủ c c cung bậc huyền ảo và mê muội đến mức hoang đường của tiểu thuyết tạo
ra một kênh giao tiếp riêng trong thế giới nghệ thuật của Bảo Ninh.
(Cao Kim Lan, 2014).Phạm Th Thùy Trang cũng có những bình luận xoay quanh t c phẩm
Ăn mày dĩ vãng:
T c phẩm liên tục chuyển điểm nhìn, có người trần thuật xưng “tôi” – Hai Hùng kể về mình với c i nhìn tự trào, có nhân vật người trần thuật ngôi thứ ba kể về “tôi” – Hai Hùng Cuối t c phẩm, người trần thuật ngôi thứ nhất lại trao quyền kể chuyện cho nhân vật đại úy Tường kể lại toàn
bộ câu chuyện về cuộc đời của Ba Sương (trong qu khứ) và bà gi m đốc
Tư Lan (trong hiện tại) mà “tôi” – người kể chuyện chính hoàn toàn không biết.
(Phạm Th Thùy Trang, 2016)
1.1.3 Tự sự học và quan niệm về mối quan hệ giữa người trần thuật với nhân vật; diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết
1.1.3.1 Mối quan hệ giữa người trần thuật với nhân vật trong tiểu thuyết
Khi nghiên cứu một tiểu thuyết, người nghiên cứu cần x c đ nh rõ ràng:
Ai là người trần thuật (t c giả ẩn tàng hay nhân vật – chủ thể của điểm nhìn trần thuật) và kể theo tiêu điểm nào (tiêu điểm nội tại hay tiêu điểm ngoại tại) Việc tiếp cận nhân vật ở cấp độ tổ chức cốt truyện (dựng nhân vật) sẽ là một phương hướng mới mẻ để khai th c chiều sâu văn bản tiểu thuyết
Dựng nhân vật là: “hệ thống tổ chức những chỉ dấu trong văn bản mà
người viết từng bước tạo nên hình tượng nhân vật Vì vậy, khái niệm dựng
Trang 2721
nhân vật thuộc về cấp độ narrative – cốt truyện” (Phạm Ngọc Lan, 2019,
tr.78) Một số dạng chỉ dấu rất đặc trưng thường được sử dụng trong dựng
nhân vật đó là Thứ nhất: Người trần thuật x c đ nh trực tiếp về nhân vật; Thứ
hai: Người trần thuật trình bày gi n tiếp về nhân vật (thông qua hành động,
lời nói, ngoại hình, môi trường); Thứ ba: Người trần thuật sử dụng phương
thức củng cố qua loại suy (loại suy danh tính, loại suy khung cảnh, loại suy nhân vật)
Định tiêu điểm là thuật ngữ do Genette ph t triển Thuật ngữ này đã
tách góc nhìn và dung lượng thông tin ra khỏi người trần thuật Có thể thấy, thuật ngữ này không đề cập đến chủ thể của giọng nói trần thuật, nó đề cập
đến chủ thể nhận thức và cung cấp thông tin trong văn học Trong Tự sự học:
tên gọi, lược sử và một số vấn đề lí thuyết, Phương Lựu đã khảo s t c c quan
điểm tự sự học về góc nhìn trần thuật (điểm nhìn) của c c nhà nghiên cứu như: ý kiến của Brooks và Warren (Hoa Kỳ), ý kiến của Greimas (Ph p), ý kiến của Pouillon, Friedman, Uspenski Đến ý kiến của Genette đã thay đổi
thuật ngữ thành tiêu điểm: “trả lời thẳng vào vấn đề tiên quyết là câu chuyện
do ai và đứng ở đâu để kể, tất nhiên có khía cạnh góc nhìn” Tổng hợp lại có
thể tạm đưa ra một “hệ thống tiêu điểm tự sự” như sau:
1 Phi tiêu điểm: Người trần thuật ở bên ngoài, biết hết mọi chuyện, diện nhìn rộng hơn so với c c nhân vật trong truyện Sự “biết hết” này có thể gồm năm tiểu loại.
2 Nội tiêu điểm: Người trần thuật vốn là nhân vật trong truyện, cho nên diện nhìn là đồng nhất với c c nhân vật, bao gồm c c tiểu loại cố đ nh, bất đ nh,
đa thức,…
3 Ngoại tiêu điểm: Người trần thuật đứng bên ngoài với diện nhìn nhỏ hơn, và chỉ thiên về mô tả kh ch quan nhưng thảng hoặc cũng có biểu hiện chủ quan của mình.
(Trần Đình Sử et al., 2015)
Trang 2822 Huỳnh Như Phương bàn về người trần thuật trong mối quan hệ với
nhân vật cần có sự phân đ nh rạch ròi: “Khi người kể chuyện được hiển lộ
trong văn bản, cần phải giả định sự hiện hữu tác động đến hành vi kể chuyện
và trong bất cứ trường hợp nào cũng không được lẫn lộn với thân nhân của tác giả bằng xương bằng thịt” (Huỳnh Như Phương, 2017, tr.72) Nhà nghiên
cứu bình luận chi tiết hơn về qu trình ứng dụng lí thuyết tự sự về nhân vật (dựng nhân vật và đ nh tiêu điểm ở cấp độ tổ chức cốt truyện) vào phân tích
tiểu thuyết: “Ngay cả trong tiểu thuyết hiện đại cũng không thể giản lược
nhân vật vào cái nhìn của nó về thế giới chung quanh cùng với những thủ pháp có liên quan với cái nhìn đó Sở dĩ như vậy là vì sự hiện hữu của nhân vật trong văn bản được xác định không chỉ bởi điểm nhìn mà còn bởi một loạt các yếu tố khác: tên nhân vật, cơ chế, vóc dáng, y phục, chân dung, tâm lý…”
(Huỳnh Như Phương, 2017, tr.72)
Phạm Th Thùy Trang cũng có những bình luận về sự liên hệ giữa
chính người trần thuật với nhân vật trong t c phẩm văn học:
Nhưng dù người trần thuật công khai hay không công khai, hiểu biết hay không, có khả năng tự nhận thức như thế nào, đ ng tin hay không thì anh
ta có thể chỉ là người đứng ngoài thế giới của những tình huống, sự kiện
và nhân vật đang được trình bày trong truyện kể, hoặc anh ta có thể là một phần của thế giới ấy Khi đó, người trần thuật có thể đồng thời là một nhân vật trong truyện kể hoặc không phải Trong trường hợp người trần thuật đồng thời là nhân vật, anh ta thường có chức năng hoặc như một nhân vật trung tâm trong những sự kiện được kể lại Nhưng anh ta cũng có thể xuất hiện như một nhân vật thứ yếu hoặc chỉ đơn thuần là người quan s t.
(Phạm Th Thùy Trang, 2016)
Trang 2923
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa người trần thuật với diễn ngôn
G.N.Pospelov đã bàn về lời trần thuật trong tiểu thuyết trong việc kiến tạo những diễn ngôn tự sự:
Ngôn từ trong tiểu thuyết là một hiện tượng rất phong phú Lời trần thuật trong tiểu thuyết mang tính chất đối thoại, nó có nhiều hình thức đa giọng đa thanh như lời văn nhại, lời mỉa mai, lời văn nửa trực tiếp, Trong tiểu thuyết, ngôn từ trở thành đối tượng miêu tả của nhà văn Nhà văn miêu tả ngôn từ của nhân vật như những sản phẩm c thể ho cao độ, phù hợp với đặc điểm c nhân của từng nhân vật, ứng với nhu cầu miêu
tả c tính của nhân vật.
(G.N.Pospelov, 1998, tr.309)
Vì tiếng nói hoặc suy nghĩ của nhân vật trong tự sự được trình bày qua lời của người trần thuật, cho nên, vấn đề trung tâm của biểu đạt ý thức là quan
hệ giữa t c nhân biểu đạt (người trần thuật) và đối tượng được biểu đạt (nhân
vật) Trong Những vấn đề cơ bản của tự sự học cấu trúc đã trình bày tóm
lược c c mô hình diễn ngôn Theo mô hình diễn ngôn tự sự truyền thống phương Tây, lấy nền tảng từ hai cực mô phỏng và tường thuật, giới học thuật phương Tây đã ph t triển mô hình dạng tam phân nhằm kh i qu t những hình thức khả hữu để biểu đạt diễn ngôn nhân vật trong diễn ngôn của người trần
thuật bao gồm: Diễn ngôn trực tiếp, Diễn ngôn gián tiếp tự do, Diễn ngôn
gián tiếp Mô hình bảy loại diễn ngôn của Brian McHale, gồm: Tóm lược tường thuật, Tóm lược bán tường thuật, Diễn tả nội dung gián tiếp, Diễn ngôn gián tiếp bán mô phỏng, Diễn ngôn gián tiếp tự do, Diễn ngôn trực tiếp, Diễn ngôn trực tiếp tự do (Phạm Ngọc Lan, 2019).
Đặng Anh Đào trong Sự phát triển nghệ thuật tự sự ở Việt Nam – một
vài hiện tượng đáng lưu ý đã kh ng đ nh rằng: “Sự phát triển nghệ thuật tự sự
Trang 3024
ở Việt Nam xoanh quanh vấn đề đặc điểm của diễn ngôn tự sự” (Trần Đình
Sử et al., 2004, tr.178)
Trên cơ sở tiếp thu, vận dụng những quan niệm của c c nhà nghiên cứu
đi trước, Nguyễn Th Hải Phương trong Thao tác phân tích diễn ngôn văn học
đã bước đầu đưa ra một số thao t c cơ bản để phân tích diễn ngôn văn học
như sau: Thứ nhất – Nhận diện sự thay đổi trật tự diễn ngôn trong đời sống văn học Thứ hai – Phân tích “trường tri thức” chi phối sự hình thành và vận hành của diễn ngôn văn học Thứ ba – Phân tích nội hàm tư tưởng của c c yếu
tố trong cấu trúc diễn ngôn văn học (Nguyễn Th Hải Phương, 2016).
Những ý kiến phong phú trên về diễn ngôn cho thấy cơ sở lý luận của diễn ngôn đang từng bước được quan tâm và ứng dụng ở Việt Nam Từ l ch
sử nghiên cứu kh i niệm này cho thấy diễn ngôn đã xâm nhập vào tất cả c c loại hình nghệ thuật và chính trong đời sống hàng ngày Việc ứng dụng diễn ngôn vào phân tích, tìm hiểu tiểu thuyết sẽ góp phần giải mã những thông điệp đa chiều của t c phẩm
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh trong dòng
chảy của tiểu thuyết đương đại Việt Nam viết về chiến tranh
Chiến tranh dù đã lùi xa nhưng đề tài chiến tranh vẫn có vai trò quan
trọng trong nền văn học đương đại Theo Ngô Vĩnh Bình, “mảng văn học về
đề tài chiến tranh, đội ngũ những người viết văn trong quân đội giữ một vị trí rất quan trọng cả về số lượng và chất lượng, góp phần chủ yếu xác định diện mạo và thành tựu, tác dụng xã hội và tính đặc thù của cả giai đoạn văn học nửa sau thế kỉ XX” (Ngô Vĩnh Bình, 1998, tr.96) Những thay đổi trong hệ
hình tư duy nghệ thuật của nền văn học đương đại có thể khởi nguyên từ thể loại truyện ngắn nhưng để có thể đạt được những thành tựu bước ngoặt thì không thể không kể đến sự góp sức của thể loại tiểu thuyết Bên cạnh những
đề tài viết về người nông dân, viết về đô th , viết về cuộc sống mới thì mảng
Trang 3125
đề tài chiến tranh chiếm một dung lượng s ng t c lớn Những trang viết về chiến tranh sau chiến tranh đã được khai th c trên nhiều chiều kích kh c nhau, góp phần ph c họa đa chiều hơn khuôn mặt của chiến tranh Có thể kh ng
đ nh rằng văn xuôi viết về chiến tranh là một bộ phận quan trọng của văn học Việt Nam từ sau 1986 tới nay và đã đạt được thành tựu ở trên cả ba thế loại:
kí, truyện ngắn, tiểu thuyết
Với thể loại tiểu thuyết, hiện thực cuộc sống được mô tả một c ch sôi động và đa dạng Nhà văn dõi theo c c nhân vật trong cuộc hành trình kh m
ph hiện thực cuộc sống một c ch chi tiết Mỗi t c phẩm lại đề cập tới những
câu hỏi mang tính triết học mà đỗi nhân sinh: Nỗi buồn chiến tranh của Bảo
Ninh trăn trở: Những người lính – họ đã đi qua những cuộc chiến đầy bom đạn thời chiến tranh, nhưng sống giữa thời bình, liệu họ có dễ dàng đối mặt
với cuộc chiến thực sự ở trong tâm hồn mình? Chim én bay của Nguyễn Trí
Huân chảy dài trong những đắn đo của tâm lý nhân vật: Con người thời hậu chiến sẽ ứng xử như thế nào với qu khứ của chính mình và của người kh c
trong một trang sử kh c của đất nước Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai lại là hình
trình mà những người lính – những người anh hùng trong chiến tranh chật vật
x c đ nh danh tính của mình ở cuộc sống thời hiện tại, những vết sẹo trong
tâm hồn của người lính có dễ dàng quên đi như chúng ta vẫn tưởng Lạc rừng
của Trung Trung Đỉnh lại là sự kh m ph , vượt lên những đ nh kiến, những nghi ngờ về con người và sự hòa tan bản sắc của con người trong một cuộc sống kh c,… Hơi thở của cuộc sống đương đại ùa vào trong từng trang tiểu thuyết, đặt con người trong v trí đối s nh giữa qu khứ và hiện tại, gợi mở những chân trời tương lai C c nhà văn nới rộng những chân trời s ng tạo của mình Tuy nhiên, không thể phủ đ nh rằng, thể loại này cũng th ch thức độ cứng của những người cầm bút Một đề tài quen thuộc trong nhiều thập kỷ, nhà văn sẽ thể hiện c i “tôi” mới như thế nào? Một thể loại đặc sắc như tiểu thuyết có thể dễ dàng bộc lộ quan niệm nhân sinh nhưng cũng đồng thời đòi
Trang 3226 hỏi nhà văn phải chắt lọc trong từng chi tiết.
Nguyễn Th Bình trong Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong
văn xuôi nước ta từ sau năm 1975 đã bàn về sự đổi mới ý thức nghệ thuật
trong văn học: “Biến cố lịch sử trở thành đường viền của số phận cá nhân
hoặc là cái cớ ban đầu để nhà văn khảo sát hành trình tự ý thức của con người Nếu ở văn học giai đoạn trước, con người là phương tiện để biểu đạt
“cái lịch sử” thì bây giờ lịch sử lại trở thành phương tiện để biểu đạt con người” (Nguyễn Th Bình, 2003) Ý kiến trên có những điểm gặp nhau với
quan niệm của M Bakhtin về người viết tiểu thuyết Đó là nhà tiểu thuyết
bằng c i nhìn đối thoại, đa chiều, “có thể xuất hiện trong trường miêu tả ở bất
cứ tư thế tác giả nào, có thể miêu tả những sự việc có thật trong đời mình hoặc nói ám chỉ đến chúng, có thể can thiệp vào cuộc trò chuyện giữa các nhân vật, có thể bút chiến công khai với các địch thủ văn học của mình” (M
Bakhtin, 1993, tr.57)
Nhà văn đương đại, giờ đây vẫn có thể viết tiếp về chiến tranh, nhưng
cả nội dung lẫn hình thức đều có sự đổi mới Đặc biệt là sự đổi mới về quan niệm tức là c i nhìn, c ch nhìn của tiểu thuyết về chiến tranh Ch ng hạn sự đổi mới trong sự “nhìn lại” cuộc chiến và con người trong chiến tranh, sau chiến tranh đã mang lại những nội dung tự sự mới
Thứ nhất: Nhìn lại cuộc chiến một c ch đa diện
Nhìn nhận về cuộc chiến đã qua sau những độ lùi thời gian là một nhu cầu cấp thiết của chính người cầm bút và của nền văn học Những khoảng trống thời gian, thêm những kinh nghiệm sống và cầm bút, lại t ch mình ra ngoài một cuộc chiến đã qua giúp cho nhà văn có những nhãn quan mới về đề
tài này Đúng như Nguyễn Minh Châu từng ph t biểu: “Viết về chiến tranh
mấy tiếng ấy không chỉ đơn thuần là chuyện một đề tài văn chương, mà còn
có gì đây? Có máu thịt của mình Kẻ sống và người chết, có kỉ niệm, tình đồng đội, đồng chí mình Có cuộc đời mình và cuộc đời dân tộc” (Nguyễn
Trang 3327
Minh Châu, 1994, tr.50) Như vậy, đối với nhiều nhà văn đã từng tham gia
chiến trường, thì viết cũng là một c ch để họ tri ân qu khứ, trả một món nợ
mà cả cuộc đời họ ch ng thể nào quên Nhà văn kéo gần qu khứ lại thông qua văn chương để những thế hệ sinh ra và lớn lên trong những ngày th ng hòa bình của đất nước Đó cũng là một nhu cầu xã hội của c c độc giả:
“Người viết phải đáp ứng cho được, thỏa mãn cho được mỹ cảm nghệ thuật,
bao hàm nhận thức cái đẹp từ trong phẩm chất, đức hi sinh và tâm hồn nhân văn của con người hôm qua” (Thanh Giang, 1993, tr.94).
Trong những t c phẩm văn học giai đoạn này, mỗi nhà văn lại thể hiện
một cảm quan riêng, những số phận con người riêng Trong Mình và họ,
người lính không gắn liền với hình tượng người anh hùng trong chiến đấu và lạc quan giữa đời thường mà Nguyễn Bình Phương còn thấy ở trong họ những tình cảm, những hồi ức khó giải tỏa:
Trông anh tỉnh t o hơn Mình cùng anh bơi thi ra gần giữa sông rồi quay lại Anh vẫn bơi nhanh hơn mình như hồi xưa Trong nước, anh linh hoạt
h n, hò hét, vẫy vùng, vung hai tay đập ùm ùm làm bắn tóe lên những vụn trắng xóa Khi ấy, trông anh như một con thuồng luồng mắc lưới, dũng mãnh, qu i đản Mệt lử, cả hai lên bờ nằm dài ra cổ Bầu trời đổ ập vào mắt mình và c i linh hồn bé nhỏ, mờ nhạt đã trôi dạt tận đẩu tận đâu Thấy im im, mình tò mò nhổm dậy, ph t hiện ra mặt anh đầm đìa, mắt đỏ hoe Anh khóc, nấc lên từng chập, lật sấp người xuống, giãy đành đạch như c b vứt lên cạn.
(Nguyễn Bình Phương, 2019, tr.173).Nhân vật “anh” trong mắt của “tôi” và rất nhiều người kh c là một người lính đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ của tuổi trẻ đối với Tổ quốc Anh trở về nhà, là một con người bình thường trong mắt mọi người nhưng thực ra
Trang 3428 lại là một người bất thường trong dòng ký ức Nhân vật “anh” đã khóc trong
những khoảnh khắc khi kí ức cũ đổ về: “ – Tao từng khóc ở thung lũng oan
khuất” bởi “Thung lũng oan khuất là nơi đại đội của anh gần như bị xoá sổ ở đó” (Nguyễn Bình Phương, 2019, tr.174) Một cuộc chiến đã đi qua, một cuộc
chiến tranh đã kết thúc, nhưng những dư âm của nó thì còn tồn tại, đôi khi là mãi mãi, khiến cho người lính xoay sở đi kiếm tìm những câu hỏi về gi tr của sự sống trong chính thời bình
Trong Nỗi buồn chiến tranh, nhân vật Kiên từ người chiến sĩ trong
quân đội, trở về thời bình là một nhà văn của khu phố Nhu cầu được cầm cây
bút viết của Kiên là để “trả cái nợ của những đồng đội chưa hề được biết
đến” mà trong đó “nhiều người đã chết để gỡ cho tính mạng Kiên Nhiều người hi sinh bởi lỗi lầm của anh” (Bảo Ninh, 2019, tr.225) Và rồi, chính
nhân vật trải qua qu trình phản tư đã đi tới kết luận rằng: “Thực ra thì trong
chiến tranh Kiên được hưởng nhiều may mắn hơn là trong thời bình, bởi vì trong chiến tranh anh đã được sống, chiến đấu, trưởng thành lên bên những người đồng chí thật tốt” (Bảo Ninh, 2019, tr.225).
Sự tàn khốc trong chiến tranh được thể hiện qua trong Miền hoang qua
lời kể của những người lính bên kia chiến tuyến Nhân vật Ông Lớn đã kể về cuộc thảm s t ở Ba Chúc, An Giang bằng một giọng dửng dưng:
Tưng bừng là phải như c i c ch bọn tao tàn s t dân Doul ở vùng Ba Chúc – An Giang ấy Mấy nghìn sinh mạng lìa đời nhé Suốt một tuần: sựt sựt ch t ch t, rắc rắc… uỵch uỵch, tằng tằng… Thằng Rô, m y biết
âm thanh gì không? Không à! Là tiếng cuốc bổ vỡ sọ, tiếng tay thước lim
đ nh vào g y, tiếng dao quắm chém dọc thân người, tiếng súng bắn vào ngực già trẻ g i trai dân Doul đấy…
(Sương Nguyệt Minh, 2014, tr.35)
Khi đó, nhân vật Tùng chỉ có thể thốt lên rằng: “Ông Lớn- tên đồ tể giết
Trang 3529
người là đây” Một con người mà có thể nói viết việc giết người một c ch
thản nhiên, thậm chí là khoe khoang thì đó là một dấu hiệu cho thấy phần
“người” đã mất đi
Như vậy, c c nhà văn thông qua nhân vật để thể hiện tư tưởng chiến tranh là một hiện thực đa chiều cần nhận thức lại Đúng như Chu Lai từng
nhận đ nh về bản chất của chiến tranh: “Bằng những kiểm nghiệm bản thân,
tôi hiểu ra rằng chiến tranh quả thật không vui vẻ gì, đối với bất cứ dân tộc nào, dù là tự vệ hay xâm lược, chiến tranh đều mang ý nghĩa bi kịch” (Chu
Lai, 1987, tr.115)
Thứ hai: Sự quan tâm đến số phận và cảm thức con người c nhân
Thái Phan Vàng Anh trong Con người chấn thương trong tiểu thuyết đề
tài chiến tranh và hậu chiến đã bình luận về chiến tranh t c động tới số phận
con người: “Chiến tranh khiến con người phải sống trong một số phận có khi
vốn không là số phận của chính họ Nói đúng hơn, số phận của con người trong chiến tranh là số phận đã bị nhào nặn lại, ở đó những chấn thương, bi kịch cá nhân đều ít nhiều in hằn dấu vết của những chấn thương, bi kịch của thế hệ, của thời đại và của dân tộc” (Th i Phan Vàng Anh, 2017).
Số phận và cảm thức con người c nhân được thể hiện không phải chỉ ở trong cuộc chiến mà còn ở th i độ ứng xử của nhân vật sau cuộc chiến, bi k ch của con người và những vấn đề của đời sống thế sự thời hậu chiến
Trong Chim én bay, Quy là nhân vật nữ chính Cô là một điểm tựa tư tưởng cho người kh c khi nói về cuộc chiến đã qua: “Sao lại hối hận, anh!
Nếu phải làm lại em cũng sẽ không làm khác vì cách mạng khi đó đòi hỏi em phải làm như vậy” Nhưng chính nhân vật này lại sống giữa những dằn vặt, tự
vấn, m ảnh trong mớ hồi ức về c i chết của Dũng, mùi m u tanh trong một trận diệt c từ năm nào đó vẫn theo đuổi cô tới tận hôm nay Đó chính là nguồn cơn gây nên những nhức buốt, những xót xa, những ân hận trong lòng
cô: “Hình như chiến tranh buộc con người phải sống nhanh hơn, gấp hơn
Trang 3630
những gì còn lâu họ mới có Hình như chính bọn ác ôn trong nhà giam hội đồng xã đã biến chị thành một cô gái quá sớm, để vĩnh viễn không bao giờ chị còn được làm một người phụ nữ bình thường nữa” (Nguyễn Trí Huân, 2007,
Viết về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, đã có nhiều t c phẩm với thể tài phong phú đã hòa chung vào dòng mạch văn xuôi viết về chiến tranh sau 1986 của Việt Nam
Ký sự Về từ hành tinh ký ức của Võ Diệu Thanh là tập hợp những câu
chuyện của những chứng nhân vụ thảm s t Ba Chúc kinh hoàng Trên 100 hộ
b chúng giết sạch không người sống sót, hơn 200 người chết và b thương, cụt tay chân do đạp nhầm mìn và lựu đạn của quân Pol Pot gài lại Chỉ có ba người sống sót sau vụ thảm s t! Tội c kinh hoàng của đội quân Pol Pot được
t i hiện qua những lời kể:
Sau cuộc chiến, cả xã không còn đứa trẻ sơ sinh nào hết Tôi may mắn còn sót lại đứa con bốn tuổi Bên vồ Đ Dựng còn thê thảm hơn, để cứu
72 người, anh Trần Văn Tỏ phải nén đau thương bóp mũi đứa con trai năm tuổi, ông Khế và ông Đức cũng quặn lòng lần lượt giết ba đứa ch u nội của mình Chỉ là chứng kiến thôi tôi còn đau như vậy Chỉ là sợ qu
ôm con vào lòng cho khỏi nghe tiếng khóc của nó, rồi ngột qu nó ra đi
mà vợ tôi còn hãi hùng như vậy Bóp mũi con, tôi nghĩ là phải bầm gan tím ruột, tôi nghĩ là mình đã chết trước khi nó chết Chết là c i chắc Tôi nghĩ vậy
(Võ Diệu Thanh, 2018, tr.162)
Trang 3731
Miền hoang chọn một bối cảnh là cuộc chiến mới lùi xa, chưa có nhiều
t c giả khai th c cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, lại ở một thể loại như
tiểu thuyết Miền hoang là một tiểu thuyết tiêu biểu cho những c ch tân nghệ
thuật trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam sau 1986 trên c c phương diện: hành động kể chuyện, cấu trúc cốt truyện và nội dung câu chuyện T c phẩm giống như một mảnh đất màu mỡ, đầy hứa hẹn trong việc ứng dụng nghiên cứu tiểu thuyết hiện đại, đặc biệt là tiểu thuyết viết về đề tại chiến tranh Th i Phan Vàng Anh bình luận về t c phẩm:
Cuộc lạc rừng giữa bốn con người thuộc hai phía trong cuộc chiến ở Campuchia được lột tả từ nhiều chiều kích, trở thành c i cớ để phô bày những sự thật khốc liệt của chiến tranh, của hiện sinh kiếp người
“Những c i tôi (tao, ta) b chấn thương” lên tiếng bất kể phe đ ch – phe
ta lên tiếng, phơi bày một nội tâm rối loạn bên trong một thân x c tàn phế hoặc b tổn thương Phản nh những vấn đề đa dạng, phức tạp của cuộc sống, của số phận con người qua câu chuyện về chiến tranh, Miền hoang chính là một vệt lạ trong diện mạo tiểu thuyết Việt Nam nhờ nghệ thuật trần thuật độc đ o Sự đổi mới về kỹ thuật ở Miền hoang cũng như nhiều tiểu thuyết đề tài chiến tranh kh c chính là những tiền đề quan trọng để nhận diện kiểu con người chấn thương trong văn học.
(Thái Phan Vàng Anh, 2017)
1.2.2 Người trần thuật và thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Miền hoang
Dù đóng nhiều vai trò quan trọng kh c nhau nhưng nội dung trung tâm của phản nh trong văn học vẫn là con người, con người trong mối liên hệ đa dạng với cuộc sống Hình tượng con người được kh i qu t trong t c phẩm
bằng c c nhân vật văn học Theo Hà Minh Đức thì “nhân vật văn học là khái
Trang 3832
niệm dùng để chỉ các cá thể con người trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” (Hà Minh Đức, 1995, tr.114)
150 thuật ngữ văn học đã đưa ra đ nh nghĩa về nhân vật:
Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là c c con vật,
c c loài cây, c c sinh thể hoang đường được g n cho những đặc điểm giống với con người… C c thành tố tạo nên nhân vật gồm: hạt nhân tinh thần của c nhân, tư tưởng, c c lợi ích đời sống, thế giới xúc cảm, ý chí,
c c hình thức ý thức và hành động.… Nhân vật văn học là một đơn v nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể b đồng nhất với con người
có thật, ngay khi t c giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người; nó có thể được xây dựng chỉ dựa trên cơ
sở quan niệm ấy.
(Lại Nguyên Ân, 2017, tr.303).Dựa trên những tiêu chí kh c nhau, tự sự học đã có những phân loại
nhân vật Dựa vào vị trí, vai trò của nhân vật trong tổ chức t c phẩm: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm Dựa vào phương pháp sáng tác: nhân vật cổ điển, nhân vật lãng mạn, nhân vật hiện thực Dựa theo thể loại
văn học: nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình, nhân vật k ch Dựa vào phương thức xây dựng nhân vật: nhân vật tính c ch, nhân vật tư tưởng, nhân vật loại
hình, nhân vật chức năng Dựa trên nội dung, tư tưởng, căn cứ vào phẩm chất
nhân vật: nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân vật trung gian,… Sự
Trang 3933 phân loại này chỉ mang tính chất tương đối bởi nhân vật trong những s ng t c văn học với nghệ thuật xây dựng của t c giả mang tính chất phức tạp, một nhân vật có thể mang trong mình sự đa dạng, pha trộn của nhiều kiểu hình
nhân vật kh c nhau Nhân vật đóng vai trò quan trọng bởi “nhân vật then chốt
của cốt truyện, giữ vị trí trung tâm trong việc thể hiện chủ đề, đề tài và tư tưởng của tác phẩm” (Lê Bá Hán và Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi,
2007, tr.226) Mỗi nhân vật góp phần mang đến một cảm quan thế giới riêng
đối với bạn đọc
Mỗi t c giả khi xây dựng một nhân vật trong t c phẩm của mình đều là
quá trình lựa chọn kỹ càng và là một ý đồ nghệ thuật Bởi vì “định một nhân
vật, ta phải để ý tới bốn thứ: tính tình, cử chỉ, lời nói, hình dáng Vậy là một tiểu thuyết gia, ta phải để ý quan sát con người và diễn tả cả bề ngoài lẫn bề trong thế nào cho những nhân vật đó đúng sự thực, có vẻ sống, linh động, không giống hẳn nhau như những tượng đúc một khuôn mà cũng không lờ mờ” (Bùi Việt Thắng, 2000, tr.170) Nhân vật là con người được miêu tả Mỗi
nhân vật văn học sẽ tự thể hiện mình qua những chỉ dấu riêng, như: tên gọi, ngoại hình, tính c ch, ngôn ngữ, giọng điệu, nội tâm, tiểu sử,… Ngay cả việc những nhân vật b khuyết thiếu c c chỉ dấu đó cũng là một ý đồ nghệ thuật của t c giả C c nhân vật được đặt trong một chỉnh thể tương t c: những biến
cố, những xung đột với nhân vật kh c, những đấu tranh bên trong và bên ngoài nội tâm của nhân vật, những th i độ, ứng xử
Nhân vật trong tiểu thuyết là những số phận con người được t i hiện không hề xa lạ với cuộc sống đương thời Đây là đối tượng để t c giả gửi gắm những quan s t, chiêm nghiệm về cuộc sống Độc giả tiếp nhận những vấn đề văn học trong tầm đón nhận và mỗi độc giả sẽ có một phương thức giải mã những thông điệp đó riêng Cũng cần chú ý rằng, không thể đồng nhất nhân
vật văn học với t c giả, “nhân vật chỉ quan tâm đến cuộc sống của chính nó,
còn tác giả quan tâm phân tích nhân vật cho nên có định hướng riêng”
Trang 4034 (G.N.Pospelov, 1998, tr.105) Những tư tưởng, những th i độ của nhân vật trong t c phẩm là của nhân vật đó Nó không hề trùng khít với tư tưởng và
th i độ của nhà văn Ngoài ra, cũng không thể đồng nhất nhân vật văn học với con người hiện thực ngoài đời sống Nhân vật bước từ trang văn ra cuộc đời hay từ hiện thực bước vào trang văn chỉ mang ý “hình tượng đại diện” mà thôi Bởi mỗi nhân vật trong t c phẩm văn chương đều đã được lọc qua lăng kính thế giới quan của t c giả, là sự nhào nặn, s ng t c, hư cấu của nhà văn:
“các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những bản
chất dập khuôn của con người đời sống, mà là những hình tượng được khắc học phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả” (M Bakhtin, 1993, tr.210) Từ một nhân vật, có thể kh i qu t ho được hình ảnh và số phận của cả một lớp người, một thời đại, một xã hội Bởi vậy nên phân tích nhân vật trở thành con đường quan trọng nhất để x c đ nh gi tr của t c phẩm, để nhận ra lí tưởng thẩm mĩ cùng tài năng, phong c ch nghệ thuật của nhà văn Từ góc độ lý luận văn học thì có thể kh ng đ nh rằng nhân vật chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong phương thức tự sự của tiểu thuyết Việc tìm hiểu nhân vật sẽ mở ra sự liên đới nghiên cứu về hành động kể chuyện, cấu trúc cốt truyện và nội dung câu chuyện
Thế giới nhân vật trong Miền hoang hiện lên đa dạng và phức tạp, có
sự pha trộn giữa những yếu tố thông tin rõ ràng lẫn những điểm mù mờ cố tình b che giấu đi, nhân vật được thể hiện ở cả bên ngoài lẫn nội tâm bên trong Nhân vật được đặt trong mối quan hệ đa chiều và soi chiếu ở nhiều điểm nhìn kh c nhau: Nhân vật tự bộc lộ mình – nhân vật từ góc nhìn của những nhân vật kh c – nhân vật trong sự hiểu của độc giả
Dựa vào v trí, vai trò của nhân vật trong tổ chức t c phẩm, hệ thống
nhân vật trong Miền hoang phân chia thành: nhân vật chính (Tùng, Saly, Ông
Lớn, Rô) và nhân vật phụ (Dã nhân, anh Du, Quân) mà không hề có nhân vật trung tâm Cả bốn nhân vật trong t c phẩm đều tham gia vào qu trình tự sự,