Ở góc độ xã hội, việc nghiên cứu phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái sẽ khiến nhân loại chú ý hơn đến mối quan hệ nội tại giữa hai vấn đề nguy cơ sinh thái và sự phân biệt
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HOÀNG LÊ ANH LY
“TỰ NHIÊN” VÀ “NỮ GIỚI”
TRONG VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
NHÌN TỪ NỮ QUYỀN LUẬN SINH THÁI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HOÀNG LÊ ANH LY
“TỰ NHIÊN” VÀ “NỮ GIỚI”
TRONG VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
NHÌN TỪ NỮ QUYỀN LUẬN SINH THÁI
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THÀNH THI
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, kết
quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công
trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Hoàng Lê Anh Ly
Trang 4
MỤC LỤC
Lời cam đoan 1
Mục lục 2
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
7 Cấu trúc đề tài 4
CHƯƠNG 1 NỮ QUYỀN SINH THÁI VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NỮ QUYỀN SINH THÁI TRONG VĂN HỌC NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 6
1.1 Nữ quyền sinh thái và tiềm năng của phê bình nữ quyền sinh thái trong nghiên cứu văn học 6
1.1.1 Thuật ngữ nữ quyền sinh thái và chủ nghĩa nữ quyền sinh thái 6
1.1.2 Các trường phái của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái 8
1.1.3 Đặc trưng của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái 10
1.1.4 Tiềm năng của phê bình nữ quyền sinh thái trong nghiên cứu văn học 22
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu văn xuôi nữ Việt Nam đương đại từ nữ quyền luận sinh thái 30
1.2.1 Về mặt du nhập lý thuyết 30
1.2.2 Về thực hành phê bình nữ quyền sinh thái 36
Tiểu kết 40
CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ “NỮ QUYỀN” VÀ VẤN ĐỀ “SINH THÁI” TRONG SÁNG TÁC CỦA TÁC GIẢ NỮ VIỆT NAM: MỘT CÁI NHÌN LỊCH ĐẠI 42
2.1 Vấn đề “nữ quyền” trong sáng tác của tác giả nữ Việt Nam: một cái nhìn lịch đại 42
Trang 52.1.1 Sự manh nha và xác lập ý thức “nữ quyền” trong văn học nữ Việt Nam
đầu thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX 42
2.1.2 Vấn đề “nữ quyền” trong văn học nữ Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1975 47
2.1.3 Vấn đề “nữ quyền” trong văn học nữ Việt Nam từ năm 1975 đến nay 55
2.2 Vấn đề “sinh thái” trong sáng tác của các tác giả nữ Việt Nam - một cái nhìn lịch đại 63
2.2.1 Sự hình thành ý thức “sinh thái” trong văn học nữ Việt Nam trung đại 63
2.2.2 Vấn đề “sinh thái” trong văn học nữ Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1975 65
2.2.3 Vấn đề “sinh thái” trong văn học nữ Việt Nam từ năm 1975 đến nay 70
2.3 Xu hướng lồng kết vấn đề “sinh thái” với vấn đề “nữ quyền” 71
2.3.1 Xuất phát từ sự “khúc xạ” lý thuyết nữ quyền sinh thái ở phương Tây 71
2.3.2 Xuất phát từ bản chất nội tại của nữ giới 77
2.4 Sự hình thành diễn ngôn nữ quyền sinh thái trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại 80
2.4.1 Từ “vấn đề” trong văn học đến “diễn ngôn” trong văn học 80
2.4.2 Điều kiện hình thành diễn ngôn nữ quyền sinh thái trong văn xuôi nữ Việt Nam 86
2.4.3 Thành tựu bước đầu và những hạn chế 89
CHƯƠNG 3 “TỰ NHIÊN” VÀ “NỮ GIỚI” QUA Ý THỨC NGHỆ THUẬT VÀ GÓC NHÌN CỦA CHỦ THỂ NỮ TRONG VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 92
3.1 Vấn đề “Ý thức nghệ thuật”, “góc nhìn”/“điểm nhìn” của “chủ thể nữ” 92
3.1.1 Sự trỗi dậy “ý thức nghệ thuật” của chủ thể nữ 92
3.1.2 Sự thay đổi “góc nhìn”/“điểm nhìn” của “chủ thể nữ” 94
3.2 Nét tương đồng về vẻ đẹp của “tự nhiên” và “nữ giới” qua điểm nhìn của chủ thể nữ 97
3.2.1 Vẻ đẹp phồn thực 97
3.2.2 Vẻ đẹp thiên tính mẫu 102
Trang 63.3 Sự tương hợp giữa tự nhiên và “giới thứ hai” về vị thế “ngoại biên” 107
3.3.1 Thuật ngữ “ngoại biên” 107
3.3.2 Hình tượng nam quyền “trung tâm” 109
3.3.3 Nữ giới và tự nhiên – hiện thân cho sự nô lệ và vị trí “ngoại biên” 117
3.3.4 Sự chia sẻ, thấu hiểu của “nữ giới” và “tự nhiên” từ vị thế ngoại biên 139
3.3.5 Bản lĩnh và sức đề kháng của “tự nhiên” và “nữ giới” 146
CHƯƠNG 4 “TỰ NHIÊN” VÀ “NỮ GIỚI” QUA PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC TRẦN THUẬT TRONG VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 155
4.1 Diễn ngôn trần thuật nữ – phương tiện thể hiện ý thức nữ quyền sinh thái trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại 155
4.1.1 Diễn ngôn trần thuật nữ 155
4.1.2 Đặc trưng của diễn ngôn trần thuật nữ 155
4.2 Tự thuật như một hình thức kỹ thuật tự sự phổ biến 157
4.2.1 Quan niệm về tự thuật 158
4.2.2 Tự thuật “kiểu nữ giới” – một phương thức tự sự đặc trưng 162
4.2.3 Tự thuật nhìn từ phương thức thể hiện 173
4.3 Phong cách hòa phối diễn ngôn của “giới thứ hai” 177
4.3.1 Hòa phối giữa diễn ngôn độc thoại và đối thoại 177
4.3.2 Hòa phối giữa diễn ngôn kể, tả của người kể chuyện và diễn ngôn của nhân vật 181
4.4 Cách tạo sinh “ký hiệu quyển” và biểu tượng về tự nhiên và “giới thứ hai” 186
4.4.1 Ký hiệu quyển về “giới thứ hai” như là nạn nhân của mã không gian đô thị 187
4.4.2 Thiên nhiên và những biểu tượng mang dấu vết cổ mẫu 191
KẾT LUẬN 200
TÀI LIỆU THAM KHẢO 203
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 217
PHỤ LỤC i
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi môi trường sinh thái trên trái đất ngày càng bị đe dọa nghiêm trọng, sự nóng lên toàn cầu tiếp tục ảnh hưởng đến khắp hành tinh thì quan điểm của chúng ta về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên bắt đầu phát triển đa chiều và toàn diện hơn Sự
ra đời của lý thuyết nữ quyền sinh thái là một sự bổ sung cho tư duy sinh thái và tổ chức xã hội, bởi sự thống trị phụ nữ và thiên nhiên về cơ bản xuất phát từ một hệ tư tưởng Để giải phóng cả hai, việc cơ cấu và đánh giá lại các giá trị gia trưởng và cấu trúc văn hóa
là việc làm cần thiết nhằm thúc đẩy sự bình đẳng, không đối ngẫu và các hình thức tổ chức không phân cấp để đưa ra các hình thức xã hội mới
Phê bình nữ quyền sinh thái ra đời vào thập niên 90 của thế kỷ XX, khi mà nhân loại đang phải đối mặt với những vấn nạn bức thiết: sự hủy hoại môi sinh trên trái đất và tình trạng bất bình đẳng giới vẫn diễn ra âm ỉ, kéo dài Là bước phát triển của chủ nghĩa
nữ quyền sinh thái, phê bình nữ quyền sinh thái trong văn học xuất hiện cùng với sự diễn ra rầm rộ của làn sóng nữ quyền thứ ba, mở ra một hướng mới cho việc giải quyết
nguy cơ sinh thái và vấn đề bất bình đẳng giới Ở Việt Nam, phê bình nữ quyền sinh
thái, văn học nữ quyền sinh thái là kết quả của chuỗi “phản ứng muộn màng” và chưa thực sự phát triển sâu rộng, sôi nổi so với thế giới Tuy nhiên, vì tính nhân văn và tiến
bộ, phê bình nữ quyền sinh thái có ảnh hưởng lớn đến quan điểm thẩm mỹ, hứng thú thẩm mỹ và ý thức thẩm mỹ của tác giả văn học Việt Nam đương đại Với số lượng tác phẩm đáng kể, các nhà văn nữ Việt Nam đương đại như: Quế Hương, Dạ Ngân, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Thuận, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Đỗ Bích Thúy đã thể hiện được sự nhạy bén của mình trong việc tri nhận những vấn đề thời sự mang tính nhân loại
Nghiên cứu văn xuôi nữ Việt Nam đương đại nhìn từ lý thuyết nữ quyền sinh thái
là một hướng triển khai thiết thực và quan trọng Điều này cho thấy, các nhà văn, nhà phê bình đã bắt đầu nắm bắt được xu hướng của thời đại trong bối cảnh toàn cầu hóa Việc nghiên cứu phê bình văn học nữ quyền sinh thái sẽ làm phát triển, phong phú thêm
lý luận phê bình văn học, từ đó giúp các nhà văn đúc kết được kinh nghiệm sáng tác, nâng cao trình độ sáng tác, thúc đẩy sự phát triển của văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái Ở góc độ xã hội, việc nghiên cứu phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái sẽ khiến nhân loại chú ý hơn đến mối quan hệ nội tại giữa hai vấn đề nguy cơ sinh thái và sự phân biệt giới, có ý thức đối xử hài hòa, bình đẳng đối với tự nhiên và phụ nữ
Trang 8Điều này hứa hẹn mở ra một thế giới hòa hợp giữa con người – tự nhiên – nam giới – nữ giới đồng thời mang đến sự giải phóng ý thức nghệ thuật của chủ thể nữ văn xuôi đương đại
Từ việc mong muốn khám phá đặc trưng, sự tương đồng giữa hình tượng “nữ giới” và “tự nhiên” trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại, phản tư cách hành xử phiến diện, định kiến với tự nhiên và thân phận người phụ nữ của tư tưởng nam quyền trung tâm đang diễn ra âm thầm, dai dẳng và đầy yếu tố phi tự nhiên, chúng tôi chọn đề tài:
“Tự nhiên” và “nữ giới” trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại nhìn từ nữ quyền luận sinh thái” để thực hiện luận án Hướng nghiên cứu này sẽ góp phần thúc đẩy sự
chú ý tới những vấn đề mang tính thời sự, có ý nghĩa thời đại, đồng thời lấp đầy thêm mảng trống của phê bình nữ quyền sinh thái trong văn học Việt Nam đương đại
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu, ứng dụng lý thuyết nữ quyền - sinh thái để soi chiếu, khảo sát trên sáng tác của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại, chỉ ra sự tồn tại song song và tương quan giữa hình tượng “nữ giới” và “tự nhiên” về vẻ đẹp, sức sống, sức đề kháng, vị thế từ đó khẳng định vai trò, vị trí của “tự nhiên” và “nữ giới” qua ý thức nghệ thuật, góc nhìn của chủ thể nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại Đồng thời, thông qua diễn ngôn trần thuật đậm thiên tính nữ của các nhà văn nữ đương đại, chúng tôi tìm hiểu phong cách hòa phối cũng như kiến tạo diễn ngôn của các nhà văn nữ, từ đó góp phần nâng cao nhận thức
về giới cũng như cảnh tỉnh cách hành xử của con người với môi trường sinh thái và nữ giới
3 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, thuật ngữ văn xuôi nữ Việt Nam đương đại được dùng với ý nghĩa là đời sống văn học của các tác giả nữ Việt Nam đang diễn ra hiện nay và được bắt đầu từ khoảng những năm 80 của thế kỷ XX để khu biệt với văn học Việt Nam hiện đại Xác định nội hàm “đương đại” như vậy cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, không phải ở trạng thái “tĩnh” mà đang trong quá trình định hình và phát triển, có những biến động sâu sắc, nhanh, mạnh, phức tạp của văn học Việt Nam trong hơn 40 năm qua và kể cả những thử nghiệm mới chưa đi tới đích
Từ việc xác định nội hàm của văn xuôi nữ Việt Nam đương đại như trên, đối tượng nghiên cứu của luận án là “tự nhiên” và “nữ giới” trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại nhìn từ hệ hình lý thuyết nữ quyền sinh thái Cụ thể luận án tập trung nghiên cứu những phương diện biểu hiện của nữ quyền sinh thái qua ý thức nghệ thuật, góc
Trang 9nhìn của chủ thể nữ (các nhà văn nữ) và phương thức tổ chức trần thuật trong văn xuôi
nữ Việt Nam đương đại Đối tượng khảo sát trong luận án bao gồm các tác giả và tác
này (xem phụ lục 1)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dưới ánh sáng của lý thuyết nữ quyền sinh thái với hướng tiếp cận liên ngành nhằm xác định những lý thuyết tương quan đồng đẳng với nhau trong một chỉnh thể thống nhất, nhằm minh giải cho các phương diện của nữ quyền sinh thái Bên cạnh đó chúng tôi cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu dưới đây:
- Phương pháp xã hội – lịch sử : Nhằm tìm hiểu nguồn gốc xuất hiện, quá trình
phát triển và biểu hiện của ý thức nữ quyền sinh thái trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Nhằm định hình những đặc trưng cơ bản của
lý thuyết nữ quyền sinh thái và phê bình nữ quyền sinh thái trong hệ thống những quan điểm đa dạng thậm chí đối nghịch nhau
- Phương pháp so sánh – loại hình: Nhằm so sánh, đối chiếu văn học giữa các giai đoạn, văn học giữa các dân tộc và giữa các tác phẩm của nhà văn nam với nhà văn nữ…
từ đó tìm hiểu hoàn cảnh xã hội, nền tảng văn hoá, giai đoạn lịch sử đã tác động như thế nào đến văn học trong phạm vi biểu hiện của ý thức nữ quyền luận sinh thái trong sáng tác của một số tác giả nữ tiêu biểu Bên cạnh đó vận dụng phương pháp loại hình nhằm tìm ra những phạm trù chung, có tính tương đồng hàm chứa trong các hiện tượng văn học nữ quyền sinh thái từ đó khái quát những tiêu chí, đặc trưng riêng cũng như hiệu quả thẩm mỹ của dòng văn học này
- Phương pháp phê bình cổ mẫu: Vận dụng phương pháp này để đi tìm và phân tích các biểu tượng tự nhiên mang tính cổ mẫu có hàm lượng ý nghĩa biểu đạt bền vững, phổ quát bắt nguồn từ văn hóa, tôn giáo, lịch sử của dân tộc
Trang 10Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số thao tác sau để bổ trợ cho các phương pháp nghiên cứu trên:
- Thao tác phân tích, tổng hợp: Nhằm phân tích những đặc điểm tương hợp về thân phận nữ giới và tự nhiên trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại từ đó khái quát thành những đặc trưng làm nên diện mạo chung diễn ngôn nữ quyền sinh thái
- Thao tác thống kê: Sẽ dùng để thống kê một số biểu tượng, hình ảnh, chi tiết nghệ thuật quan trọng xuất hiện trong các tác phẩm nhằm làm rõ những biểu hiện của diễn ngôn nữ quyền sinh thái trong sáng tác của từng tác giả cụ thể
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Về lý luận: Từ sau năm 1986 đến nay, văn học Việt Nam đã hòa mình trong xu
thế toàn cầu hóa, không ngừng giao lưu, tiếp nhận những lý thuyết phê bình mới mẻ, nhân văn và ứng dụng tinh chọn có hiệu quả như: thi pháp học, tự sự học, hậu hiện đại, hậu thực dân, nữ quyền luận, sinh thái học Tuy nhiên, phê bình nữ quyền sinh thái vẫn còn là mảng đề tài còn khuyết thiếu Đề tài sẽ góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận và phê bình nữ quyền sinh thái như nguồn gốc, đặc trưng và sự ảnh hưởng của nó đến diễn ngôn văn học ở Việt Nam
- Về mặt thực tiễn: Vận dụng lý thuyết phê bình nữ quyền sinh thái chúng tôi
kiến giải những đặc trưng tiêu biểu trong văn xuôi nữ đương đại Việt Nam qua những biểu hiện:
+ Sự tương đồng giữa “nữ giới” và “tự nhiên” về vẻ đẹp, sức sống, sức đề kháng,
vị thế của “tự nhiên” và “nữ giới” trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại
+ Tái thiết quan niệm mới về tự nhiên, mối quan hệ giữa “tự nhiên” và “nữ giới” thông qua giải cấu trúc “nhân loại trung tâm” từ đó xác lập chuẩn tắc đạo đức mới của con người đối với tự nhiên và của nam giới đối với nữ giới
+ Khẳng định vai trò quan trọng của văn bản nghệ thuật đối với sự thức tỉnh của con người trong việc tàn phá, xâm lấn môi sinh, tình trạng bất bình đẳng giới cũng như
sự sinh tồn và phát triển của nhân loại
7 Cấu trúc đề tài
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận
án gồm 4 chương chính: Chương 1 Nữ quyền sinh thái và vấn đề nghiên cứu nữ
quyền sinh thái trong văn học nữ Việt Nam đương đại : Chương này nhằm giới thiệu
quá trình hình thành cũng như những đặc trưng của nữ quyền sinh thái Qua đó, dẫn nhập phê bình nữ quyền sinh thái như là một cách tiếp cận mới, có tính hậu hiện đại đối
Trang 11với văn học bởi khả năng tham dự vào câu chuyện mang tính toàn cầu của nó qua việc
nó khơi gợi cảm giác tổn thương của nữ giới và tự nhiên, từ đó đánh thức khát vọng tái lập một thế giới sinh tồn hài hòa và phát triển bền vững
Chương 2 Vấn đề “nữ quyền” và vấn đề “sinh thái” trong sáng tác của tác giả nữ Việt Nam: một cái nhìn lịch đại: Chương này nhằm nghiên cứu vấn đề “nữ
quyền” và vấn đề “sinh thái” trong sáng tác của tác giả nữ Việt Nam được từ góc nhìn lịch đại nhằm làm cơ sở để chúng tôi đánh giá, nhìn nhận ý thức nữ quyền sinh thái trong văn học Việt Nam đương đại được triển khai ở các chương sau
Chương 3 “Tự nhiên” và “nữ giới” qua ý thức nghệ thuật và góc nhìn của chủ thể nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại: Chương này nhằm khảo cứu
những tác phẩm văn xuôi nữ Việt Nam thời kỳ đương đại, từ đó tiến hành định giá các phương diện biểu hiện của nữ quyền sinh thái qua mối quan hệ của “nữ giới” và “tự nhiên”
Chương 4 “Tự nhiên” và “nữ giới” qua phương thức tổ chức trần thuật trong văn xuôi Việt Nam đương đại: Chương này nhằm tìm hiểu cách biểu đạt thế giới
của các nhà văn nữ đương đại, hay cách tổ chức ngôn ngữ, giọng điệu của họ để tạo lập cho mình một phương thức chuyển tải cảm quan nữ quyền sinh thái riêng biệt
Trang 12CHƯƠNG 1
NỮ QUYỀN SINH THÁI VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
NỮ QUYỀN SINH THÁI TRONG VĂN HỌC NỮ
VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Nữ quyền sinh thái và tiềm năng của phê bình nữ quyền sinh thái trong nghiên cứu văn học
1.1.1 Thuật ngữ nữ quyền sinh thái và chủ nghĩa nữ quyền sinh thái
Sự ra đời của nữ quyền sinh thái được xem là bước ngoặt lớn của chủ nghĩa nữ quyền Phong trào chính trị – xã hội này ra đời ở phương Tây cuối thập niên 70, nở rộ mạnh mẽ từ khoảng những năm 80 và phát triển thành cao trào vào thập niên 90 của thế
kỷ XX Nội dung trào lưu đề cập đến sự liên kết nữ quyền với những vấn đề sinh thái tự nhiên, đặc biệt là cặp quan hệ thống trị và bị trị song song: nam giới – nữ giới, văn hoá –
tự nhiên
Thuật ngữ nữ quyền sinh thái (ecofeminism) là một thuật ngữ được kết hợp giữa
nữ quyền luận (feminism) và sinh thái học (ecology) được viết một cách đầy đủ là
"ecological feminism” Sinh thái học nghiên cứu về sự phụ thuộc lẫn nhau và kết nối của tất cả các chuỗi sự sống trên trái đất Nữ quyền là một phong trào đấu tranh chính trị – xã hội và bình đẳng giáo dục của phụ nữ với nam giới Sinh thái lo sợ về những hoạt động của con người đang phá hủy khả năng tồn tại của hệ sinh thái toàn cầu Nữ quyền
lo lắng với cách mà phụ nữ đã và đang phụ thuộc vào đàn ông Thuyết nữ quyền sinh thái cho rằng hai vấn đề này về bản chất là tương đồng và kết nối với nhau Nữ quyền sinh thái như tên gọi của nó chỉ đơn giản là sản phẩm kết hợp của phong trào giải phóng phụ nữ và phong trào bảo vệ sinh thái Nữ quyền sinh thái có thể được định nghĩa là một
hệ thống giá trị, một phong trào xã hội, nhận thức và thực tiễn xem chủ nghĩa môi trường và mối quan hệ giữa phụ nữ và tự nhiên là nền tảng cho sự phân tích và ý nghĩa thực tiễn của nó
Thuật ngữ này đã được Francoise d'Eaubonne giới thiệu trong cuốn sách của bà
viết vào năm 1974 – Chủ nghĩa nữ quyền hay là chết (Le Féminisme ou la Mort, Paris: P
Horay, 1974) nhằm mô tả các phong trào và triết lý liên kết nữ quyền với sinh thái Sự liên kết này nhằm xoá bỏ mọi hình thức bất công xã hội đặc biệt là sự bất công đối với phụ nữ và môi trường Việc giới thiệu thuật ngữ nữ quyền sinh thái như là một cách để
Trang 13Francoise d'Eaubonne gây chú ý đến tiềm năng của phụ nữ trong cuộc cách mạng sinh thái
Không giống như các lý thuyết hậu hiện đại, thuyết nữ quyền sinh thái không bắt nguồn từ một công thức lý thuyết đơn lẻ nào, thuật ngữ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái được các nhà nữ quyền sinh thái sử dụng như tên của một loạt các quan điểm khác nhau
để khám phá các kết nối phụ nữ và để phát triển các triết lý nữ quyền và môi trường dựa trên những hiểu biết này Các kết nối này thực sự cần thiết cho chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa môi trường Cheryll Glotfelty cho rằng chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là một diễn
ngôn lý thuyết “nối kết sự áp bức phụ nữ và sự thống trị thiên nhiên” (Glotfelty, C., 1996) “Nữ quyền sinh thái là một nhánh của nữ quyền khảo sát các kết nối giữa phụ nữ
và thiên nhiên” (Miles, K., 2012)
Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái có hai cách gọi: Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (The feminism of ecology) hoặc sinh thái học chủ nghĩa nữ quyền (The ecology of feminism)
Nó vừa là một thuật ngữ chỉ một trào lưu chính trị – xã hội (Phong trào biểu tình của nữ giới ở những thập niên 70, 80 chống lại thảm họa môi trường và sự hủy hoại sinh thái đang tái diễn, xuất hiện đồng thời với làn sóng nữ quyền thứ hai) vừa để chỉ một học thuật, một triết lý về những nguyên lý cơ bản của sự bình đẳng giới nên nó vừa mang
tính chất lý thuyết vừa mang tính thực hành: “Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là một
phong trào hoạt động và học thuật nhìn thấy mối liên hệ quan trọng giữa sự thống trị tự nhiên và sự bóc lột phụ nữ” (Eaton, H., and Lorentzen, A L., 2003); “Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là một phong trào nhìn thấy mối liên hệ giữa sự bóc lột và suy thoái của thế giới tự nhiên và sự phụ thuộc và áp bức của phụ nữ Nó xuất hiện vào giữa những năm 1970 cùng với chủ nghĩa nữ quyền ở làn sóng thứ hai và phong trào xanh” (Mellor,
M., 1997) Như vậy, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là sự kết nối của lý thuyết (các diễn ngôn về phụ nữ và diễn ngôn về môi trường) và kết nối thực hành (phong trào đấu tranh bình đẳng giới và phòng trào đấu tranh bảo vệ mội trường), đó điều là những hoạt động chống lại các dạng bất công trong xã hội
Các nhà nữ quyền sinh thái đều cho rằng mối quan hệ về sự thống trị giữa con người và thiên nhiên (được hình thành bởi khoa học hiện đại từ thế kỷ 16) và mối quan
hệ bóc lột giữa đàn ông và phụ nữ là những mối quan hệ chiếm ưu thế trong hầu hết các xã hội gia trưởng, ngay cả những xã hội công nghiệp hiện đại và có mối liên quan chặt chẽ với nhau Nó là hệ quả của chủ nghĩa nhân loại trung tâm và tư tưởng nhị nguyên Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái sử dụng các nguyên lý nữ quyền cơ bản của sự bình đẳng
Trang 14giữa các giới, giải cấu trúc chủ nghĩa nhân loại trung tâm dựa trên quan điểm tôn trọng
sự phát triển tự nhiên, và kết nối toàn diện, hợp tác và bình đẳng: “Chủ nghĩa nữ quyền
sinh thái lập luận rằng cuộc chiến cho sự sống còn của sinh thái về bản chất hòa quyện với cuộc chiến giải phóng phụ nữ và giành những hình thái công bằng xã hội khác”
(Thornber, K., 2011)
Qua một số luận điểm nêu trên ta thấy rằng chủ nghĩa nữ quyền sinh thái được
hiểu khái quát là hệ thống các quan điểm về mối liên hệ mật thiết và sự tương đồng giữa
sự thống trị phụ nữ với sự thống trị thiên nhiên – kết quả của nền văn hoá phụ quyền hình thành từ thời nguyên thuỷ và phát triển đến đỉnh cao trong chủ nghĩa nhị nguyên,
nỗ lực xây dựng một cơ cấu xã hội công bằng, phản đối các hình thức phân biệt Đang trong quá trình hoàn thiện và chưa có sự thống nhất về hệ thống lý thuyết, nhưng nó đã làm dấy lên những trào lưu chính trị – xã hội góp phần lật đổ những giá trị truyền thống của nhân loại về sự chinh phục cũng như thống trị tự nhiên và nữ giới từ trước đến nay Cân bằng tự nhiên cũng đảm bảo cho cân bằng xã hội nên sự tích hợp giữa vấn đề môi trường sinh thái và vấn đề nữ quyền là sự tất yếu xuất phát từ mối liên hệ nội tại giữa giới nữ và giới tự nhiên Tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là phê phán chủ nghĩa nhị nguyên, chủ nghĩa nhân loại trung tâm, chủ nghĩa nam giới trung tâm, khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc duy trì sự phát triển bền vững, cải thiện môi trường và giảm áp lực khai thác lên môi trường tự nhiên Từ đó lý thuyết này phản tỉnh về nguy cơ sinh thái cũng như những áp lực của giới nữ trong bối cảnh đương đại, thúc đẩy sự công bằng không chỉ với tự nhiên mà còn với cả những người đang nâng đỡ bảo vệ cho tự nhiên Đó là sự kết hợp tương tác không tách rời nhau giữa tự nhiên và nữ giới để nhân loại bền vững và ổn định
1.1.2 Các trường phái của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái
1.1.2.1 Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái văn hóa (Cultural Ecofeminism)
Đây là một nhánh của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái, với các đại diện tiêu biểu như: Starhawk, Riane Eisler và Carol J Adams Trong lịch sử, chuỗi đầu tiên của chủ nghĩa sinh thái là chủ nghĩa nữ quyền văn hóa (đôi khi được gọi là chủ nghĩa nữ quyền triệt để hoặc tâm linh), được phát triển vào đầu những năm 1970 Một số nhà nữ quyền sinh thái văn hóa cho rằng phụ nữ gần gũi với thiên nhiên hơn nam giới Sự gắn kết giữa phụ nữ và môi trường được lý giải từ vai trò giới (ví dụ: người nuôi dưỡng, chăm sóc gia đình, người có vai trò cung cấp thực phẩm) và sinh học của họ (ví dụ: kinh nguyệt, mang thai và cho con bú) Họ tin rằng vai trò giới cũng như sự đặc biệt trong cấu trúc
Trang 15sinh học, cho phép phụ nữ nhạy cảm hơn với sự tôn nghiêm và suy thoái của môi trường
và sự mẫn cảm này cần được xã hội đánh giá cao khi nó thiết lập một kết nối trực tiếp với thế giới tự nhiên mà con người phải cùng tồn tại
1.1.2.2 Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái xã hội (social ecofeminism)
Guttman đã chỉ ra chủ nghĩa nữ quyền sinh thái xã hội được coi là phiên bản
“chân thực nhất” của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái vì “sự bác bỏ tính phân đôi tự nhiên
– văn hóa” (Guttman, N., 2002, tr.42) Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái xã hội đi ngược lại
với các quan điểm của các nhà nữ quyền sinh thái văn hóa Họ đặc biệt chỉ trích và phê phán những gì được coi bản chất luận (essentialism) tức là thuộc tính có sẵn ở sự vật nào
đó Việc quan niệm mọi thực thể đều có một tập hợp các thuộc tính cần thiết cho danh tính và chức năng của nó của chủ nghĩa thiết yếu thực sự nguy hiểm vì nó tập hợp tất cả phụ nữ vào một loại và thực thi các quy tắc xã hội mà nữ quyền đang cố gắng phá vỡ và quan điểm này cũng đánh đồng phụ nữ với thiên nhiên Chính vì thế, quan điểm thiết yếu của một số nhà nữ quyền sinh thái như là sự củng cố và gia tăng sự thống trị và chuẩn mực gia trưởng Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái xã hội cũng phê phán tính chất phổ quát (universality) trong những tuyên bố trước đây về phụ nữ và tự nhiên Các nhà nữ quyền sinh thái xã hội cho rằng không có bản chất thiết yếu (sinh học, tự nhiên, bẩm sinh) của phụ nữ, thay vào đó, bản sắc của phụ nữ được đánh giá theo cấu trúc lịch sử – xã hội thông qua sự tương tác của đa dạng chủng tộc/sắc tộc, giai cấp, khuynh hướng tình dục, tuổi tác, khả năng, tình trạng hôn nhân và các yếu tố địa lý (kiến tạo xã hội)
1.1.2.3 Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái duy vật (Materialist Ecofeminism)
Các nhà nữ quyền sinh thái duy vật có quan điểm kết nối một số thể chế như lao động, quyền lực và tài sản là nguồn gốc của sự thống trị đối với phụ nữ và thiên nhiên Có những kết nối được thực hiện giữa các chủ thể này vì các giá trị của sản xuất
và tái sản xuất Quan điểm này của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái duy vật cũng có thể được xem như là chủ nghĩa nữ quyền sinh thái xã hội (social feminism); Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái xã hội chủ nghĩa (socialist ecofeminism); Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái mácxít (Marxist ecofeminism) Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái duy vật tìm cách loại bỏ hệ thống phân cấp xã hội có lợi cho việc sản xuất hàng hóa (do nam giới thống trị), Carolyn
Merchant cho rằng: “chủ nghĩa nữ quyền sinh thái xã hội chủ trương giải phóng phụ nữ
thông qua các hệ thống phân cấp kinh tế và xã hội biến mọi khía cạnh của cuộc sống thành một xã hội thị trường” (Merchant, C., 2005, tr.193) Một số nhà nữ quyền sinh
thái xã hội duy vật cũng cho rằng các mối quan hệ tự nhiên của phụ nữ vừa được xây
Trang 16dựng về mặt xã hội vừa có khuynh hướng sinh học: “sinh học của phụ nữ (cơ thể, khả
năng sinh sản) đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử áp bức phụ nữ nhưng nó không phải là định mệnh Thay vào đó, chúng ta nên thấy được tầm quan trọng của mối quan hệ xã hội và chính trị dẫn đến sự áp bức phụ nữ và thiên nhiên” (Buckingham, S.,
2015) Vì vậy, có thể nói chủ nghĩa nữ quyền sinh thái duy vật là một nhánh trung gian giữa nữ quyền sinh thái văn hóa và nữ quyền sinh thái xã hội
1.1.2.4 Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái cấp tiến (Radical Ecofeminism)
Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái cấp tiến có nguồn gốc từ chủ nghĩa nữ quyền cấp tiến Các nhà sinh thái nữ quyền cấp tiến cho rằng xã hội gia trưởng thống trị đánh đồng thiên nhiên và phụ nữ để làm mất giá trị của cả hai Họ cũng chủ trương mô tả sự vượt trội của chức năng sinh sản, tập trung vào mối quan hệ, chăm sóc và yêu văn hóa của phụ nữ Họ sử dụng khái niệm gia trưởng để giải thích các vấn đề của phụ nữ và chế độ phụ hệ đó cũng là công cụ phân tích lý thuyết quan trọng nhất của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái, mặt khác họ quan niệm xã hội loài người không phải là trung tâm, mà chỉ là một yếu tố của một cộng đồng sống lớn hơn với các yếu tố tự nhiên, động vật, thực vật,
hệ sinh thái, cảnh quan, hành tinh nói chung, có các quyền tương tự để phát triển như con người
Ngoài ra, còn nhiều phân nhánh khác của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái như: chủ nghĩa nữ quyền sinh thái ăn chay, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái đồng tính, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái thổ dân, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái tinh thần Dù có nhiều trường phái tư tưởng và nhiều xu hướng khác nhau, cũng có sự tương phản và đụng độ luôn xuất hiện giữa những nhà nữ quyền sinh thái, nhưng chủ nghĩa nữ quyền sinh thái vẫn không ngừng phát triển và nó luôn mang một giá trị cốt lõi đó là sự cứu rỗi hiệu quả của
hệ sinh thái theo quan điểm của người phụ nữ Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là sử dụng khái niệm gia trưởng (patriarchy) để giải thích các vấn đề của phụ
nữ và chế độ phụ hệ Nó phê phán chế độ phụ quyền, ca ngợi bản chất nữ tính (nhưng không theo chủ nghĩa bản chất), phản đối các quan niệm dẫn đến sự bóc lột, thống trị, bất công Đối với các nhà sinh thái học, sự thống trị phụ nữ và thiên nhiên về cơ bản được gắn vào hệ tư tưởng Để khắc phục điều này, người ta cần cơ cấu lại và đánh giá lại các giá trị văn hóa gia trưởng chính, thúc đẩy sự bình đẳng, không đối ngẫu và các hình thức tổ chức không phân cấp để đưa ra các hình thức xã hội mới
1.1.3 Đặc trưng của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái
1.1.3.1 Đặc trưng kết nối giữa nữ giới và tự nhiên
Trang 17Mặc dù có sự khác biệt, song sinh thái học và nữ quyền luận có sự kết nối với nhau Mối tương quan giữa tự nhiên và phụ nữ này được coi là xương sống của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: “Có những mối liên hệ quan trọng giữa sự thống trị phụ nữ và
sự thống trị tự nhiên, một sự hiểu biết về vấn đề nữ quyền, chủ nghĩa môi trường và triết học môi trường” (Warren, K J., 1987), trù hoạch chính của nó là vạch ra những yếu tố kết nối giữa thiên nhiên và phụ nữ đồng thời phá hủy những yếu tố có hại cho cả hai Dưới đây, chúng tôi phân tích một số kết nối có tính chất kết hợp, bổ sung hoặc hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phân tích bản chất thống trị song hành phụ nữ và tự nhiên Việc vạch rõ những kết nối này giúp xác định phạm vi và sự đa dạng của các mối quan hệ sinh thái đối với nữ quyền
Kết nối các hình thức thống trị (Experiential Connections)
Xã hội phương Tây được cấu trúc bởi một mối quan hệ thống trị, việc áp bức phụ
nữ cũng như cưỡng đoạt tự nhiên đều dựa trên logic chung của sự thống trị này Nếu sự thống trị tự nhiên đề cập đến sự phụ thuộc phi lý của thế giới phi nhân loại vào con người thì sự thống trị phụ nữ đề cập đến sự phụ thuộc vô lý của nữ giới vào nam giới Ở cấp độ khái niệm, tư duy phân cấp giá trị và thuyết nhị nguyên đã tạo nên sự vượt trội của văn hóa so với tự nhiên, của con người so với động vật cũng như sự vượt trội của đàn ông so với phụ nữ Các nhà nữ quyền sinh thái tin rằng sự thống trị tự nhiên đã dẫn đến một loạt các vấn đề về khủng hoảng môi trường, tuyệt chủng loài, sự biến mất của môi trường sống, phá rừng, sa mạc hóa, ô nhiễm không khí, nước, cạn kiệt tài nguyên, khí hậu và thay đổi khí quyển họ cũng đồng ý rằng mối quan hệ thống trị của nam giới đối với nữ giới là một đặc điểm xã hội thể hiện ở nhiều lĩnh vực và theo những đặc trưng văn hóa đã dẫn đến các hệ quả như: bạo lực gia đình, hiếp dâm, bất bình đẳng pháp lý, bất bình đẳng kinh tế Từ đó khẳng định có mối liên kết giữa các hệ thống thống trị khác nhau này:
Có thể chứng minh rằng chủ nghĩa phân biệt giới tính (sexism), phân biệt chủng tộc (racism), và chủ nghĩa tự nhiên hay sự áp bức của tự nhiên (naturism) có mối quan hệ với nhau và chúng đều củng cố hệ thống áp bức Thay vì là một phong trào, "một vấn đề", chủ nghĩa nữ quyền sinh thái quan niệm rằng việc giải phóng tất cả các nhóm bị áp bức phải được giải quyết đồng thời (Gaard, G., 1993, tr.5)
Grate Gaard cũng mô tả chủ nghĩa nữ quyền sinh thái không chỉ dựa vào sự nhận biết các mối liên hệ giữa việc lợi dụng tự nhiên và đè nén phụ nữ trong những xã hội nam quyền mà cả trong nhận thức rằng hai hình thức thống trị này được gắn với bóc lột giai cấp, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thực dân mới
Trang 18Trên thực tế, tất cả các hệ thống thống trị bao gồm chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa phân biệt giới tính, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa thực dân, đều dựa trên cùng một logic thống trị xuất phát từ tư tưởng nhị nguyên và chủ nghĩa
nhân loại trung tâm: “Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái không chỉ dựa vào sự nhận biết các
mối liên hệ giữa việc lợi dụng tự nhiên và việc đè nén phụ nữ trong những xã hội nam quyền mà cả trong nhận thức rằng hai hình thái thống trị này được gắn với bóc lột giai cấp, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thực dân mới”
(Gaard, G., tr.1) Daniel Pérez Marina trong Anthropocentrism and Androcentrism – An
Ecofeminist Connection đồng ý quan điểm về sự kết nối giữa hình thức thống trị nữ giới
và tự nhiên bằng các luận điểm dưới đây:
(1) Tồn tại một hệ thống áp bức áp đặt sự thống trị lên tự nhiên
(2) Tồn tại một hệ thống áp bức áp đặt sự thống trị lên nữ giới
(3) Sự thống trị tự nhiên và sự thống trị nữ giới có mối liên hệ với nhau
(4) Sự thống trị tự nhiên và sự thống trị nữ giới là không chính đáng và phải chấm dứt
(Marina, D P., 2009, tr.1) Như vậy, trải nghiệm cá nhân về sự thống trị thúc đẩy nữ giới cảm nhận sâu sắc
về vị trí của kẻ bị áp bức từ đó đồng cảm hơn với tự nhiên và các thực thể phi nhân Trong khi đó, nam giới không thể dễ dàng kết nối với các đối tượng mà họ thống trị, khả năng đồng cảm cũng như mối liên hệ với tự nhiên bị hạn chế Nếu muốn thực hiện nữ quyền nhằm mục đích chấm dứt chủ nghĩa phân biệt giới tính, các nhà nữ quyền phải tính đến tất cả các yếu tố liên quan ảnh hưởng chứ không phải chỉ riêng vấn đề giới và ngược lại muốn thực hiện sinh thái triệt để thì cần phải bác bỏ logic của sự thống trị này
vì chủ nghĩa tự nhiên cũng dựa vào logic của sự thống trị, nên nữ quyền cũng nhằm mục đích chấm dứt chủ nghĩa tự nhiên
Kết nối thực nghiệm (Experiential Connections)
Là sự kết nối giữa nữ giới và tự nhiên được thể hiện qua những bằng chứng thực nghiệm Đây là mối liên kết thiết thực và sống động nhất về quá trình ảnh hưởng lẫn nhau trong việc cưỡng đoạt môi trường và áp bức phụ nữ Các nhà nữ quyền sinh thái tìm thấy những bằng chứng cụ thể để chứng minh rằng sự thống trị tự nhiên, cụ thể là hủy hoại môi trường, ảnh hưởng như thế nào đối với phụ nữ (và các nhóm trực thuộc khác) nghiêm trọng hơn ảnh hưởng đến nam giới Chẳng hạn, ở Thế giới Thứ ba, việc thiếu nước vệ sinh là mối quan tâm đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em vì họ là người cung cấp nước chính trong gia đình, họ cũng trực tiếp đối mặt với những tình trạng sức
Trang 19khỏe cao hơn khi không có nước vệ sinh hoặc rủi ro về sức khỏe mà các nhóm khác nhau như trẻ em, phụ nữ, dân tộc thiểu số và người nghèo phải hứng chịu từ việc nhiễm phóng xạ ở mức độ thấp, thuốc trừ sâu, chất độc và các chất gây ô nhiễm được gây ra
bởi chính sách phát triển của Thế giới Thứ nhất Warren khẳng định rằng: “Trong
những người chịu thiệt hại do những phá hủy môi trường, như người da trắng, người da màu, người nghèo, trẻ em, người già, người thuộc địa, dân Thế giới Thứ ba và các nhóm người Khác thì phụ nữ thường gặp những hiểm nguy với mức độ cao một cách không cân xứng so với đàn ông” (Warren, K J., 2000) Việc phơi bày những bằng chứng thực
nghiệm này nhằm mục đích ghi lại những mối liên hệ thực tế, những cảm nhận sống động giữa sự thống trị phụ nữ và tự nhiên từ đó thúc đẩy nhu cầu kết hợp phân tích nữ quyền và các mối quan tâm về môi trường
Kết nối tượng trưng (Symbolic Connections)
Kết nối tượng trưng giữa phụ nữ và thiên nhiên có thể nhìn thấy trong nghệ thuật, thần học, tôn giáo và văn học Chẳng hạn thần học sinh thái nữ quyền xem đất mẹ Gaia
là nữ thần, đưa ra quan niệm “Tâm linh Gaia” Một số nhà nữ quyền sinh thái dựa vào văn học, đặc biệt là tác phẩm viết về tự nhiên (nature writing) của người Pháp, để giải mã bản chất của các mối liên hệ biểu tượng tự nhiên của phụ nữ Họ chú ý tới vai trò của ngôn ngữ trong tổ chức và duy trì sự thống trị tự nhiên cũng như sự thống trị phụ nữ qua mối liên hệ mang tính biểu tượng giới tính và tự nhiên Trong một số ngữ cảnh, ngôn ngữ góp phần làm mất giá trị của phụ nữ với các thuật ngữ mô tả họ gắn với động vật như (bò, cáo, gà, rắn, chó cái ) Ngược lại, thiên nhiên thường được mô tả với các thuật ngữ tính dục như: thiên nhiên bị hãm hiếp, làm chủ, chinh phục, kiểm soát, khai thác Khám phá sự liên kết tượng trưng và sự mất giá của phụ nữ và thiên nhiên xuất hiện trong tôn giáo, thần học, nghệ thuật và văn học là một phần không thể thiếu trong
dự án của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái để giải quyết vấn đề giải phóng, khẳng định cuộc sống và thuyết tâm linh trên thế giới
Kết nối lịch sử (Historical connections)
Trong lịch sử phương Tây đã có một số thời kỳ được coi là nguồn gốc và có các yếu tố cơ bản mang lại mối liên hệ giữa sự thống trị của tự nhiên và phụ nữ Các nhà nữ quyền sinh thái đưa ra một số sự kiện được cho là quan trọng dẫn đến logic thống trị như: Cuộc cách mạng khoa học của thế kỷ XVI và thế kỷ XVII; Triết học cổ điển Hy Lạp, sự ra đời của chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa nhị nguyên Merchant cũng dựa vào cuộc cách mạng khoa học của nhân loại để giải thích cho sự biến mất của một trật tự thế
Trang 20giới cũ với đặc trưng là sự hợp tác giữa con người và thiên nhiên của thuyết hữu cơ và
sự thay thế bằng thuyết cơ giới của khoa học hiện đại đã dẫn đến việc khai thác tự nhiên không kiểm soát, nền thương mại công nghiệp được mở rộng và sự phụ thuộc của phụ nữ
Kết nối chính trị (Political Connections)
Phong trào nữ quyền cũng như những phong trào bảo vệ môi trường đều là những phong trào đấu tranh chính trị – xã hội và bình đẳng Mục đích của Francoise
d'Eaubonne khi giới thiệu thuật ngữ ecofeminism vào năm 1974 là để khẳng định tiềm
năng phụ nữ trong cuộc cách mạng sinh thái, kêu gọi phụ nữ tham gia cuộc cách mạng này để giữ gìn trái đất, xây dựng một mối quan hệ bình đẳng hài hòa giữa con người và
tự nhiên, nam giới và nữ giới Từ khi hình thành đến nay, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái luôn là một phong trào chính trị được thúc đẩy từ mối quan tâm của nhân loại đến các vấn đề thiết thực từ vấn đề sức khỏe phụ nữ, môi trường, sự phát triển của khoa học, công nghệ, đến các vấn đề hòa bình, chống hạt nhân, hoạt động chống độc tài Các quan điểm của các nhà sinh nữ quyền thái về môi trường được coi là một nỗ lực để thực hiện nghiêm túc các hoạt động chính trị và các mối quan tâm chính trị
Kết nối nữ tính (Feminine Connections)
Mối liên hệ giữa tự nhiên và nữ giới trong nữ quyền sinh thái không đơn giản chỉ dựa trên một nguyên nhân gốc rễ chung của sự thống trị cả hai, mặc dù thực tế có một mối liên hệ giữa phụ nữ và thiên nhiên theo cách mà họ từng bị áp bức trong lịch sử Nếu các nhà nữ quyền sinh thái xã hội nhấn mạnh rằng bất kỳ mối liên hệ nào giữa nữ giới và tự nhiên hoàn toàn là kết quả của quá trình xây dựng xã hội, thì một số nhà nữ quyền sinh thái tinh thần cho rằng mối liên hệ này còn sâu sắc hơn mối tương đồng về
áp bức, nghĩa là không nhất thiết phải là nguồn gốc của sự áp bức, hoặc được xây dựng
về mặt xã hội mà sự kết nối giữa nữ giới và tự nhiên là vốn có và mang tính bản chất luận hay còn gọi đó là kết nối vô thức (unconscious connection), đó chính là mối liên hệ
và sự tương đồng về thuộc tính giữa tự nhiên và nữ giới (naturalizing women and feminization of nature) Họ cho rằng phụ nữ và tự nhiên là khởi điểm của nguồn sống:
“Tạo hóa đã truyền khả năng ban sự sống từ Mẹ Trái đất cho phụ nữ” (Wilson, K.,
2005) Cảm giác tôn kính đối với thiên nhiên bắt nguồn từ nữ tính, từ khả năng mang lại
sự sống, điều này giúp nữ giới kết nối sâu sắc hơn với thiên nhiên: “Các nhà sinh thái
học tinh thần nhấn mạnh rằng con người có liên hệ bản chất với thiên nhiên, và mối liên
hệ này mạnh mẽ nhất đối với phụ nữ” (Wilson, K., 2005) Cơ thể của phụ nữ cũng bị
Trang 21ảnh hưởng bởi tự nhiên nhiều hơn nam giới (chẳng hạn sự liên quan của chù kì kinh nguyệt với mặt trăng) Bản chất nữ tính này còn thể hiện ở một mối quan hệ lý tưởng mang đặc trưng mẫu tính không dựa trên tương tác xã hội Đó là một mối quan hệ đặc trưng bởi sự cho và nhận không cân bằng Người mẹ thường được coi là người không ngừng cho đi mà không mong nhận lại điều gì, trong khi đó người nhận lại là người chiếm ưu thế trong mối quan hệ Điều này có thể sẽ gây phản ứng ngược vì nếu coi thiên nhiên là mẹ và giống như nữ tính sẽ khiến chúng ta thoải mái hơn trong việc tận dụng các nguồn tài nguyên của trái đất mà không quan tâm nhiều đến những đều có hại cho cả phụ nữ và phong trào môi trường Thuật ngữ “mẹ thiên nhiên” dường như là một gợi ý cho sự lợi dụng và coi thường Khi so sánh trái đất với mẹ của chúng ta, con người đang tạo ra một mối quan hệ mà trong đó chúng ta không cảm thấy tội lỗi khi sử dụng quá mức các nguồn lực sẵn có Xem tự nhiên như một thực thể yêu thương vô hạn và ban tặng không ngừng khiến chúng ta sẽ nhầm lẫn rằng hành tinh trái đất tồn tại vì lợi ích của chúng ta, chúng ta có thể tận dụng những gì nó cung cấp và cũng khiến ta tin rằng chúng ta có quyền nhận, lấy mà không có hậu quả Thực tế, mẹ thiên nhiên sẵn sàng kết thúc cuộc sống của những sinh vật mà bà tạo ra mà không hối hận Mặt khác, nếu coi nữ tính là gần với thiên nhiên thì lại hạ thấp giá trị của phụ nữ, khi cho rằng họ thuộc về những gì hoang dã, và thiếu kiểm soát Nhiều nhà sinh thái học lo ngại rằng việc ghi nhận trái đất với những đặc điểm của người mẹ sẽ tiếp tục duy trì tư duy thứ bậc có hại
(Wilson, K., 2005) bởi “Sự liên hệ giữa phụ nữ và tự nhiên là một công cụ chính được
sử dụng để áp bức họ” (Plumwood, V., 1993, tr.19) (xem phụ lục 8)
1.1.3.2 Đặc trưng giải cấu trúc
Giải cấu trúc chủ nghĩa nhị nguyên (Dualism)
Khái niệm nhị nguyên được dùng cho bất cứ một lý thuyết nào xác định sự phân
ly không thể thu hẹp được giữa hai loại sự vật Sự vận hành của những cặp nhị phân được thiết lập theo nguyên tắc chính/phụ như: văn hóa/thiên nhiên, lý do/điên rồ (vô lý),
đô thị (thành phố)/nông thôn, nam/nữ, văn minh/nguyên thủy, nam tính/nữ tính, con người/động vật, lý trí/cảm xúc, phổ quát/cụ thể, da trắng/da màu, thượng lưu/hạ lưu,
Từ sự phân chia này Plumwood cho rằng các thuật ngữ bên trái được hình thành để tạo thành một thế trung tâm, trong khi các thuật ngữ bên phải đóng góp cho sự hình thành này bị từ chối Sự khác biệt, phân cực giữa hai cõi này được thể hiện là một bên giá trị, bên mất giá trị trong đó bên chính – giá trị thuộc về đàn ông và bên phụ – mất giá trị thuộc về đàn bà Helenne Cixous đã dựa trên thuyết độc tôn dương vật để vạch trần
Trang 22nguyên nhân của việc phân chia thế giới làm hai trục chính phụ là do các nhà triết học luôn chứng minh đàn ông đứng vào vị trí trung tâm của toàn bộ hệ thống ngôn ngữ (đàn ông là người sáng tạo ra ngôn ngữ), nên toàn bộ hệ thống ngôn ngữ của loài người dựa trên sự thiết lập của hệ thống ngôn ngữ/triết học nam giới Đàn ông bao giờ cũng là nhân
tố tiên phong, có vai trò dẫn dắt, chỉ đạo và áp đặt lên mọi hoạt động của nữ giới, hệ thống quan điểm có đặc điểm chính phụ cũng được thiết lập từ đó Trong đó trục chính thuộc về đàn ông trục phụ thuộc về đàn bà Trục chính thuộc về sự quyền uy cao quý (Đàn ông –Trước – Văn minh – Trắng – Ánh sáng – Tốt – Thiện), trục phụ thuộc về vị trí kém cỏi (Đàn bà – Sau – Hoang dã – Đen – Bóng tối – Xấu – Ác)
Sự xuất hiện và trật tự trước sau của những cặp nhị phân này hàm chứa những tương quan quyền lực giữa cái chiếm ưu thế quyền lực và cái yếu thế bị trấn áp Trong
vế phụ/bị yếu thế và trấn áp có một sự tương đồng trong cách thức người phụ nữ và tự nhiên bị chiếm đoạt và nô dịch bởi đàn ông và loài người Các nhà nữ quyền sinh thái cho rằng chính sự phân cấp thế giới mang tính nhị nguyên là nguyên nhân của sự thống trị Người ta luôn coi trọng phía cao hơn: lý trí hơn bản năng, con người hơn động vật; nam giới hơn nữ giới Do vậy, nhân loại luôn đặt ở vị thế trung tâm so với thế giới phi nhân, phụ nữ luôn thấp hơn so với đàn ông Sự logic này dẫn đến sự thống trị của nam
giới với giới tự nhiên và nữ giới Karen Thornber cho rằng: “Diễn ngôn của nữ quyền
sinh thái nói chung thường lập luận rằng việc khai thác thiên nhiên và phụ nữ có mối quan hệ mật thiết” (Thornber, K., 2011) Cheryll Glotfelty cũng nhận ra sự tương đồng
trong cách thức người phụ nữ và tự nhiên bị chiếm đoạt, nô dịch bởi đàn ông và loài người Sự phân chia thế giới theo quan điểm nhị nguyên này xuất phát từ phương Tây nhưng đã trở thành diễn ngôn chủ đạo trên thế giới, nó biện hộ cho vị thế thống trị của con người với tự nhiên và của nam giới với nữ giới mà chúng ta gọi đó là chủ nghĩa nhân loại trung tâm hay chủ nghĩa nam quyền trung tâm mà chúng ta sẽ bàn đến ở phần sau Phản tư lại quan niệm này các nhà nữ quyền sinh thái đã tái định giá lại mối quan
hệ giữa nature và human cũng như là women và man Không phải là ở vị thế đối nghịch giữa thuộc tính văn minh, tinh thần khai sáng, nhân tính và sức mạnh, thuộc tính hoang dã, tăm tối, thú tính, bất kham nữa, giải cấu trúc nhị nguyên, các nhà nữ quyền sinh thái đã hình thành một diễn ngôn mới về vị thế của con người đối với tự nhiên, nam giới với
nữ giới để loài người nhận thức rõ sự tha hóa, tàn nhẫn của mình và tô đậm sự thuần khiết tự do bao dung của thiên nhiên
Trang 23Giải cấu trúc chủ nghĩa nhân loại trung tâm (Anthropocentrism)
Chủ nghĩa nhân loại trung tâm là quan điểm lấy con người làm trung tâm của vũ trụ, coi con người có vị trí tách biệt và cao hơn tự nhiên, cuộc sống của con người có giá trị nhất trong sự tồn tại của vũ trụ còn những thực thể khác thuộc giới tự nhiên hữu sinh hay vô sinh chỉ là tài nguyên để con người khai thác và phục vụ cho lợi ích của mình:
“Con người được tôn vinh với sức mạnh khổng lồ, cả về thể lực lẫn trí lực, với khả năng
và khát vọng khám phá, chinh phục tự nhiên, làm chủ và thống trị tự nhiên” (Nguyễn
Thị Tịnh Thy, 2017, tr.57) Nguồn gốc của chủ nghĩa nhân loại trung tâm xuất phát trước tiên từ chủ nghĩa nhân bản Hi Lạp cổ đại “coi con người là thước đo vạn vật”, thứ hai là từ chủ nghĩa duy lý thế kỉ XVII – XVIII coi con người là chủ nghĩa nhân văn là chúa tể của giới tự nhiên và thứ ba là từ Thiên chúa giáo coi con người mang bản chất thần thánh của Chúa thiêng liêng và có quyền thống trị tự nhiên
Tinh thần duy lý của chủ nghĩa nhân loại trung tâm thúc đẩy sức mạnh trí tuệ con người tạo ra những thành tựu rực rỡ với tất cả các lĩnh vực đặc biệt là văn minh công nghiệp Tuy nhiên, nó cũng được cho là nguyên nhân cơ bản của khủng hoảng sinh thái, quá tải dân số và sự tuyệt chủng của nhiều loài không phải con người Mặt trái của nền văn minh công nghiệp khiến môi trường bị ô nhiễm, sinh thái bị phá vỡ, đe dọa sự sống toàn cầu Trong đó, nữ giới là người gánh chịu hệ lụy nặng nề nhất từ nguy cơ này, chính vì vậy chủ nghĩa nhân loại trung tâm chịu sự lên án của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái
Chủ nghĩa nam giới trung tâm được coi là sự phái sinh của chủ nghĩa nhân loại trung tâm bởi đặc tính thống trị được xã hội cho phép, chấp nhận ở nam giới nhưng không khuyến khích nó cho người phụ nữ Sự tương đồng ở đặc trưng thống trị của chủ nghĩa nhân loại trung tâm và chủ nghĩa nam giới trung tâm khiến những thuật ngữ này được sử dụng như từ đồng nghĩa trong những công trình nghiên cứu về môi trường Daniel Pérez Marina phân tích cách mà con người được cho là chiếm vị trí đặc quyền của vũ trụ từ mô hình giải cấu trúc chủ nghĩa nhân loại trung tâm của Val Plumwood Plumwood định nghĩa chủ nghĩa nhân loại trung tâm là một cấu trúc phổ biến và là nền tảng các hình thức áp bức khác nhau như chủ nghĩa thực dân, phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính Vai trò của cấu trúc này là để tạo ra một trung tâm (centre) và ngoại vi (periphery), một kẻ áp bức (oppressor) và bị áp bức (oppressed), một trung tâm (centre)
và khác (the other) Daniel Pérez Marina đã mô tả lại những đặc trưng của chủ nghĩa
nhân loại trung tâm của Val Plumwood với những đặc trưng sau: (xem thêm phụ lục 7)
Trang 241 Loại trừ triệt để (Radical exclusion): Những người ở trung tâm được coi là hoàn toàn tách biệt và vượt trội so với người khác Trung tâm được thể hiện là không mang các phẩm tính thấp kém của cái khác và cái khác thiếu các phẩm tính xác định của trung tâm Sự khác biệt đó được nhấn mạnh đến mức ngăn chặn hoặc hủy bỏ bất kỳ ý nghĩa nào về sự kết nối tương đồng giữa chúng
2 Đồng nhất hóa (Homogenization): Những người ở ngoại biên được coi là như nhau và có thể thay thế nhau Điểm tương đồng được phóng đại và sự khác biệt bị coi nhẹ trong nhóm đó "Cái khác không phải là một cá nhân mà có liên quan đến như một thành viên của một nhóm có thể hoán đổi cho nhau vật phẩm Sự khác biệt chỉ được thừa nhận khi chúng ảnh hưởng hoặc được coi là có liên quan đến mong muốn và hạnh phúc của những người ở trung tâm” (Marina, D P., 2009, tr.11)
3 Phủ nhận (Denial): Cái khác được biết đến là không cần thiết Những người ở trung tâm phủ nhận những phụ thuộc vào những người ở ngoại biên
4 Sát nhập (Incorporation): Những người trung tâm không thừa nhận quyền tự chủ của người khác Cái khác được miêu tả như là một chức năng của giá trị trung tâm Cái khác là sự phủ định của những phẩm chất đặc trưng cho những người ở trung tâm,
đó là những phẩm tính được trân trọng và quý trọng nhất về mặt xã hội và văn hóa
5 Chủ nghĩa công cụ (Instrumentalism): Những người ở trung tâm phủ nhận sự độc lập của cái khác Cái khác trở thành một phương tiện hoặc tài nguyên mà trung tâm
có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu của chính mình và được đánh giá phù hợp cho tính hữu ích mà trung tâm có thể tìm thấy trong đó
Mô hình chủ nghĩa nhân loại trung tâm này có thể giúp chúng ta làm sáng tỏ con người như thế nào trong mối quan hệ với tự nhiên và hiểu rõ những sai lệch trong mối quan hệ này 1/Loại trừ triệt để: Con người được thể hiện như tách biệt hoàn toàn với thiên nhiên Bản sắc con người thực tế bị giảm xuống những đặc điểm làm cho nhân loại trở nên khác biệt từ thiên nhiên, phủ nhận những cái mà cả hai cùng chia sẻ Thiên nhiên được diễn tả là thiếu những đặc tính xác định của con người Những trải nghiệm của con người cũng không có sự kết nối hoặc sự gắn bó nào với thiên nhiên, đức tính của họ thường được xác định với những đặc điểm được phân loại là duy nhất ở con người 2/ Đồng nhất hóa: Thiên nhiên được coi là một hệ thống các bộ phận có thể thay thế cho nhau được, sự khác biệt chỉ thừa nhận khi chúng được cho là ảnh hưởng đến ham muốn
và hạnh phúc của con người và các giá trị của nó bị đánh giá thấp nghiêm trọng 3/Từ chối: Thiên nhiên được diễn tả là không cần thiết, nó chỉ là phông nền, là bóng tối phía
Trang 25sau cuộc sống của con người Con người xem thường những tác dụng hay ràng buộc với thiên nhiên Họ không thừa nhận sự phụ thuộc của họ vào nó 4/Sát nhập: Con người không thừa nhận quyền tự chủ của tự nhiên đồng thời không công nhận những phẩm chất đặc trưng, riêng biệt của tự nhiên Tự nhiên được gán cho bản chất là hoang dã và không có trật tự, theo đó con người sẽ áp đặt, thống trị thiên nhiên bằng trật tự và lý trí 5/ Chủ nghĩa công cụ: Thiên nhiên trở thành một phương tiện hoặc một tài nguyên mà con người có thể tận dụng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, nó chỉ được coi trọng khi con người tìm thấy sự hữu ích trong đó
Daniel Pérez Marina đã dựa vào mô hình chủ nghĩa trung tâm trên của Val Plumwood để áp dụng cho mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới Cấu trúc chủ nghĩa trung tâm này cho thấy một trung tâm - nam tính và cái khác - nữ tính với những yếu tố sau:
1 Loại trừ triệt để (Radical exclusion): Đàn ông được xem là hoàn toàn tách biệt
và vượt trội so với đàn bà Bản sắc đàn ông của họ thực tế bị giảm xuống những đặc điểm được cho là khiến đàn ông khác với phụ nữ Đặc tính nam tính là kết quả của việc loại trừ những đặc điểm đó – những đặc điểm đã được phân loại và chỉ có phụ nữ độc quyền Phụ nữ được cho là thiếu các đặc tính nam tính đó Tất cả điều này làm giảm đi những trải nghiệm của người đàn ông hoặc quan hệ tương đồng với phụ nữ
2 Đồng nhất hóa (Homogenization): Tất cả phụ nữ được hình dung là như nhau
Họ được cho là chia sẻ một tính đồng nhất và không thể thay đổi Sự khác biệt giữa họ chỉ được thừa nhận ở khả năng làm ảnh hưởng đến dục vọng, hạnh phúc của đàn ông và tất nhiên sự đa dạng cá nhân của nữ giới bị đánh giá thấp nghiêm trọng
3 Phủ nhận (Denial): Phụ nữ được nhìn nhận là không cần thiết, họ chỉ đứng sau cuộc sống của đàn ông Công việc và đóng góp của họ bị coi thường hoặc mất giá Họ chỉ được ghi nhận như những người chăm sóc cho trẻ em, người bệnh và người già, các công việc nội trợ, tình yêu và thân tình mà họ mang lại, còn những đóng góp của họ cho văn hóa, nghệ thuật và lịch sử bị đánh giá thấp hoặc bị phớt lờ
4 Sát nhập (Incorporation): Phụ nữ được định danh trong mối quan hệ với nam giới Họ được hình dung như là sự bất toàn hoặc là sự phủ định những phẩm chất được hiểu là đặc trưng nam giới
5 Chủ nghĩa công cụ (Instrumentalism): Phụ nữ bị tước bỏ mọi sự độc lập Họ trở thành một phương tiện hoặc một nguồn lực mà đàn ông có thể tận dụng để thỏa mãn nhu cầu và sở thích của chính họ Giá trị vì sự hữu ích của họ được ghi nhận thông qua
Trang 26cách mà người đàn ông đánh giá chứ không phải theo ý muốn và quyền lợi của họ Họ được ghi nhận ở vai trò là một người vợ tốt và người mẹ tốt Ví dụ, theo Rousseau, nhiệm vụ của người phụ nữ là người được lòng anh ta, để có được sự tôn trọng và tình yêu của anh ta, để dạy dỗ anh ta thời thơ ấu, để chăm sóc anh ấy trong tuổi trưởng thành,
để hỗ trợ và để làm cho cuộc sống của anh ấy dễ chịu và hạnh phúc (Marina, D P., 2009)
Dựa vào sự phân tích của Daniel Pérez Marina, chúng tôi đưa ra bảng đối chiếu dưới đây giữa chủ nghĩa nam quyền trung tâm và chủ nghĩa nhân loại trung tâm:
Chủ nghĩa nam quyền trung tâm
(Androcentrism)
Chủ nghĩa nhân loại trung tâm (Anthropocentrism)
(1) Tư duy nam giới trung tâm, cho rằng
nam giới có sự vượt trội so với phụ nữ
(1) Tư duy lấy con người làm trung tâm, khẳng định sự vượt trội của con người so với tự nhiên
(2) Sắp xếp, điều đình hệ thống cấu trúc
thống trị của nam giới
(2) Chỉ có con người là có luân lý và thế lực
(3) Phủ nhận hoặc bỏ qua những giá trị
(5) Xuất phát từ tư duy phân cấp giá trị
bao gồm các thứ bậc sau: đàn ông/phụ nữ,
văn hóa/bản năng, linh hồn/thể xác, lý trí/
cảm xúc, công nghệ/lao động
(5) Xuất phát từ tư duy phân cấp giá trị bao gồm các thứ bậc sau: con người/thiên nhiên, văn hóa/tự nhiên, linh hồn/thể xác,
(7) Đàn ông thực thi quyền lực đối với
phụ nữ
(7) Con người thực thi quyền lực đối với thế giới tự nhiên
(8) Đặc quyền của đàn ông là công việc
địa vị, bạo lực và quyền hạn
(8) Đặc quyền của con người là luân lý, chủ động, tính toàn vẹn và quyền lực
Qua bảng này chúng ta có thể thấy chủ nghĩa nhân loại trung tâm và chủ nghĩa nam quyền trung tâm có sự liên kết với nhau thông qua một sự logic của cơ chế thống trị
và một khung khái niệm áp bức Xuất phát từ cấu trúc trên, nhân vị đàn bà đã bị suy
Trang 27giảm giá trị nghiêm trọng, họ và tự nhiên cùng nằm trên một tuyến và đều chịu sự áp
bức thống trị của nam giới Sự tương đồng dễ dàng nhận thấy ở thuyết nhân loại trung tâm và thuyết nam giới trung tâm là những thực thể hợp lý và lý trí trái ngược với tính thể xác, đa cảm, vật chất, vụn vặt, không chắc chắn và chủ quan Cả tự nhiên và nữ giới đều kết hợp những đặc điểm xấu xa này, nhân loại trung tâm và đàn ông trung tâm được
kỳ vọng sẽ vượt qua thiên nhiên và đàn bà
Từ việc tìm thấy điểm tương đồng giữa nhân loại (con người)/đàn ông và nữ giới/tự nhiên chúng ta có thể khẳng định sự liên quan, tính kết nối của chủ nghĩa sinh thái và chủ nghĩa nữ quyền ở đặc tính giải cấu trúc nhị phân Các nhà nữ quyền sinh thái nhận ra sai lầm nghiêm trọng trong nội hàm của chủ nghĩa nhân loại trung tâm và chủ nghĩa nam giới trung tâm đã dẫn đến những nguyên nhân của nguy cơ sinh thái, bất bình đẳng giới Val Plumwood cho rằng chủ nghĩa nhân loại trung tâm và nam quyền trung tâm về cơ bản đã tạo ra vô số ảo tưởng trong niềm tin và nhận thức của con người Những ảo tưởng của chủ nghĩa nhân loại trung tâm mang lại là thiên nhiên bị hạ cấp, vô dụng, bị từ chối, vô trật tự và thụ động Thì chủ nghĩa nam quyền trung tâm đã tạo ta những “kịch bản” cho nam tính và nữ tính Sự thật, không phải tất cả nam giới cũng như
là tất cả nữ giới đều giống hệt như nhau, cả nam giới lẫn nữ giới đều không theo một nguyên bản được gán cho giới tính riêng của họ một cách mù quáng Họ có thể vượt qua rào cản giới tính đó Chủ nghĩa nam giới trung tâm che giấu sự thật rằng mọi người thực
sự độc lập, kết nối một cách hợp lý và tình cảm Đàn ông và phụ nữ bị ngăn cản phát huy hết khả năng của họ như con người Đàn ông và phụ nữ phải kìm nén những năng lực nguyên thủy vốn có để phù hợp với kịch bản của chính họ Chẳng hạn, bản sắc và đức tính của nam giới là đối lập với cảm xúc và những đặc tính của nữ tính Chính vì lẽ
đó các nhà nữ quyền sinh thái chủ trương giải cấu trúc triệt để chủ nghĩa nhân loại trung tâm để giảm nguy hại đối với giới tự nhiên và những tổn thương đối với nữ giới Không chỉ phê phán chủ nghĩa nhân loại trung tâm, các nhà nữ quyền sinh thái cũng lên án chủ nghĩa nam giới trung tâm bởi đây là sự phái sinh của chủ nghĩa nhân loại trung tâm Họ cho rằng điểm giống nhau trong cơ sở triết học của hai lý thuyết này là đều lấy sự đối lập nhị nguyên của con người và tự nhiên, chủ thể và khách thể, thể xác và tâm hồn, tình cảm và lý trí làm lý luận triết học và phương thức tư duy Ngược lại, lý luận của chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái và chủ nghĩa nữ quyền sinh thái đều lấy việc xóa bỏ sự đối lập nhị nguyên làm cơ sở triết học:
Trang 28Từ việc phơi bày sự giống nhau của logic áp bức đối với tự nhiên và phụ nữ của
tư tưởng chủ nghĩa nhân loại trung tâm, thế giới quan nam tính và tư tưởng nhị nguyên luận, trào lưu này phản đối chủ nghĩa nhân loại trung tâm và chủ nghĩa nam giới trung tâm, chủ trương thay đổi tư tưởng con người thống trị tự nhiên Nó phê phán chế độ phụ quyền; phản đối các quan niệm dẫn đến sự bóc lột, thống trị, tấn công; ca ngợi bản chất
nữ tính (nhưng không theo chủ nghĩa bản chất), mục tiêu là xây dựng một tư tưởng mới theo nguyên tắc của chủ nghĩa sinh thái và chủ nghĩa nữ quyền (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017b)
Các nhà phê bình nữ quyền sinh thái đều cho rằng: “nhân loại” trong chủ nghĩa nhân loại trung tâm không hẳn là “tất cả mọi người”, mà chỉ là “đàn ông”, đặc biệt là
“đàn ông da trắng”; còn phụ nữ, người da màu, giai cấp công nhân, người dân của những nước nghèo nàn lạc hậu thuộc thế giới thứ ba và những dân tộc nhỏ khác đều là nạn nhân trực tiếp của nguy cơ sinh thái và văn hóa phụ quyền Vì thế, chính xác hơn, nên gọi nguồn gốc của nguy cơ sinh thái là chủ nghĩa nam giới trung tâm thay cho chủ nghĩa nhân loại trung tâm Cần nói thêm, các nhà nữ quyền sinh thái chủ trương đối lập với xu hướng nhân loại trung tâm, nam giới trung tâm nhưng không chủ trương lấy nữ
giới trung tâm bởi: “Chúng ta không thể thoát khỏi điểm nhìn của con người và không
thể di chuyển vào điểm nhìn khác, nhưng chúng ta có thể trở nên quan tâm đối với sự tồn tại của những cái nhìn khác, ít nhất là một động tác trong tưởng tượng, đặt hệ thống sinh thái, chứ không phải là con người vào trung tâm” (Kerridge, R., 1998), họ đề cao
nguyên tắc “lệch tâm” nguyên tắc “tản quyền” Các nhà nữ quyền sinh thái hoài nghi và phản đối quyết liệt nguyên tắc “hướng tâm” “tập quyền” của thuyết nhân loại trung tâm,
họ chỉ ra những sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa nhân loại trung tâm trong nội hàm của chủ nghĩa hiện đại đã dẫn đến nguyên nhân của nguy cơ sinh thái và bất bình đẳng giới Vì vậy, chỉ có thể thông qua giải cấu trúc triệt để chủ nghĩa nhân loại trung tâm mới làm giảm đi sự nguy hại đối với tự nhiên và nữ giới
1.1.4 Tiềm năng của phê bình nữ quyền sinh thái trong nghiên cứu văn học
1.1.4.1 Phê bình nữ quyền sinh thái (ecofeminist criticism)
Phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (ecofeminist literatury criticism) ra đời vào thập niên 90 của thế kỷ XX và là bước phát triển của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái Nếu phê bình sinh thái nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên, phê bình nữ quyền xem xét ngôn ngữ và văn học từ góc độ giới tính thì phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là một góc nhìn mới mẻ cho việc giải quyết nguy cơ sinh thái và vấn đề bất bình đẳng giới Từ vấn đề con người – tự nhiên,
Trang 29phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái còn mở rộng tầm nhìn đến các vấn đề khác như giới tính, chủng tộc, giai cấp, công bằng, môi trường Ngoài ra, lý thuyết này còn xây dựng các điển hình nam tính và nữ tính phản truyền thống có trí tuệ sinh thái (ecological wisdom) và cảm quan sinh thái (ecological sensibility) Vì vậy, phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là một bước khai phá và phát triển sâu hơn, cao hơn so với phê bình nữ quyền và phê bình sinh thái
Trong quá trình phát triển, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái và lý luận văn học cùng
hỗ trợ và tương tác lẫn nhau để cung cấp nền tảng cần thiết biến phương pháp phê bình
nữ quyền và phê bình sinh thái thành một một lý thuyết phê phán áp dụng cho cả mối
quan hệ giữa tự nhiên và nữ giới Phê bình văn học nữ quyền sinh thái đã thu hút một
loạt các phương pháp tiếp cận liên ngành như: Phê bình nữ quyền (Feminist), Phê bình sinh thái (Ecocricism), Luân lý học trái đất (The land ethic), Thuyết giải phóng động vật (Animal liberation), tạo một cơ sở lý luận và quan niệm cho việc xây dựng mối quan
hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên Lý thuyết đã chín muồi cộng với bối cảnh môi trường sinh thái trên trái đất này bị suy thoái nghiêm trọng, phong trào nữ quyền phát triển mạnh mẽ, các nhà nữ quyền sinh thái tiến hành kết hợp vấn đề môi trường và vấn
đề phân biệt giới trong nghiên cứu văn học Từ đó, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái ở Mỹ
bắt đầu xâm nhập vào lĩnh vực văn học Naomi Guttman trong tiểu luận Chủ nghĩa nữ
quyền trong nghiên cứu văn học (Ecofeminism in Literary Studies) đã đưa ra khái niệm
về phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái như sau:
Phê bình văn học từ nữ quyền sinh thái khai quật các quan điểm của chủ nghĩa
nữ quyền sinh thái trong tác phẩm văn học, nhất là tác phẩm viết về tự nhiên; từ góc nhìn của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái để đọc tác phẩm văn học, chủ yếu là tác phẩm văn học nữ quyền; định giá lại các sáng tác của văn học nữ và sáng tác tự nhiên vốn bị xếp vào thể tài văn học bên lề; thông qua việc vận dụng lý luận văn học nữ quyền sinh thái để đưa sáng tác tự nhiên vào hàng ngũ văn học kinh điển truyền thống; tham khảo thêm về phê bình nữ quyền, từng bước xây dựng lý luận phê bình văn học từ chủ nghĩa
nữ quyền sinh thái (Guttman, N., 2002, tr 41)
Ở Việt Nam, phê bình nữ quyền sinh thái là một khuynh hướng nghiên cứu văn học mới được giới thiệu, hơn nữa, bản thân nó cũng là một khuynh hướng nghiên cứu văn học chưa hoàn toàn định hình, còn đang trong quá trình điều chỉnh, hoàn thiện Cơ
sở lý luận của phê bình nữ quyền sinh thái là sự hài hòa, bình đẳng giữa con người và tự nhiên, nam giới và nữ giới, vừa đảm bảo lợi ích của con người, vừa đảm bảo lợi ích sinh thái Phê bình sinh thái vận dụng các phương pháp nghiên cứu của phê bình nữ quyền và
Trang 30phê bình sinh thái để xử lý văn bản văn học, vừa đảm bảo tính thực tiễn, vừa đảm bảo tính thẩm mỹ Phạm Ngọc Lan bước đầu đã đưa ra khả năng ứng dụng của phê bình nữ quyền sinh thái trong nghiên cứu văn học và khẳng định tính liên ngành cũng như đặc trưng cơ bản của của nó:
“Các nhà phê bình nữ quyền sinh thái tập trung nghiên cứu nhiều vấn đề, từ nhân văn đến hậu nhân văn, từ khai phóng đến cấp tiến, từ bản chất luận đến kiến tạo luận Tuy nhiên nền tảng chung cơ bản của họ là khẳng định rằng các cấu trúc phụ quyền biện
hộ cho sự thống trị của mình thông qua các đối lập lưỡng phân, bao gồm nam/ nữ, trí tuệ/cơ thể, người/động vật, tinh thần/ vật chất, văn hoá/ tự nhiên, logic/ hỗn mang, da trắng/ da màu, v.v ” (Phạm Ngọc Lan, 2016)
Nguyễn Thị Tịnh Thy cũng đã xác lập cơ sở lý luận của khuynh hướng nghiên cứu này, đồng thời thử tìm ra hướng thao tác nghiên cứu để có thể vận dụng vào thực tiễn văn học nước nhà Tác giả định nghĩa phê bình nữ quyền sinh thái theo nghĩa rộng như sau:
Phê bình văn học chủ nghĩa nữ quyền sinh thái hiểu theo nghĩa rộng là một diễn ngôn gắn với chính trị, phân tích những kết nối mang tính khái niệm giữa việc đối xử với phụ nữ và thế giới phi nhân, vừa là sự mở rộng của phê bình sinh thái qua lĩnh vực nghiên cứu về giới, vừa là một trào lưu thời đại do phong trào môi trường và phong trào
nữ quyền hợp thành (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017b)
Vấn đề cốt lõi của phê bình nữ quyền sinh thái là cái nhìn phản tư thuyết nhị nguyên cho rằng: đàn ông và nam tính gắn liền với văn hóa và văn hóa có giá trị, trong khi phụ nữ và nữ tính gắn liền với thiên nhiên và cả hai đều bị mất giá Những định giá được liên kết này dẫn đến hệ thống phân cấp, sau đó được sử dụng để biện minh cho sự thống trị của phụ nữ, tự nhiên và tất cả những người có liên quan Phơi bày những mối liên kết khái niệm này trong văn học và văn hóa cũng như tư tưởng chính trị, truyền thông, giáo dục và các khía cạnh khác của xã hội là một thành phần quan trọng của phê bình nữ quyền sinh thái
Tóm lại, phê bình nữ quyền sinh thái là sự tích hợp giữa phê bình sinh thái và phê bình nữ quyền để đưa ra những kiến nghị về vấn nạn sinh thái và bất bình đẳng giới Phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái lại là một kiểu phê bình sinh thái vì nó hoài nghi, giải cấu trúc, lật đổ chủ nghĩa nhân loại trung tâm - gốc rễ của những nguy cơ sinh thái Nó hướng con người trở về với cái chân, với thiên tính tự nhiên, xây dựng sinh thái tinh thần của con người, khôi phục thế giới quan “thiên nhân hợp nhất” Nó nhấn mạnh mối quan hệ thống nhất giữa con người và tự nhiên, giải cấu trúc phương thức tư
Trang 31duy đối lập nhị nguyên giữa nam giới/nữ giới, văn hóa/tự nhiên, tinh thần/thể xác, lý trí/tình cảm trong văn hóa truyền thống; xác lập phương thức tư duy phi nhị nguyên và quan niệm phi đẳng cấp Phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái lại là một kiểu phê bình nữ quyền, nó hoài nghi, giải cấu trúc, lật đổ văn hóa của chế độ phụ quyền trung tâm vốn đặt phụ nữ ở vị trí “bên lề”, “kẻ khác” để khống chế, thống trị và áp bức phụ nữ Khuynh hướng phê bình này công kích vào thế giới quan chủ nghĩa nam giới trung tâm, phơi bày và phê phán sự áp bức song trùng đối với tự nhiên và phụ nữ, đào sâu giá trị sinh thái, đặc trưng văn học và nội hàm thẩm mỹ của lối viết tự nhiên nữ tính,
so sánh sự khác biệt giữa lối viết tự nhiên của hai giới nam và nữ để từ đó hình thành một khuynh hướng phê bình văn học mới Sự kết hợp giữa phê bình sinh thái và phê bình nữ quyền là bởi sự tương đồng về vận mệnh của nữ giới và tự nhiên, đàn ông nô dịch phụ nữ bắt đầu từ việc nô dịch tự nhiên Sự nô dịch này được thực hiện toàn diện, triệt để trong xã hội tư bản thời đại công nghiệp hóa Mặt khác bản chất của hai lý thuyết này đều là đặc tính giải cấu trúc Phê bình sinh thái chống lại chủ nghĩa nhân loại trung tâm cực đoan hẹp hòi, còn phê bình nữ quyền chống lại phê phán chủ nghĩa nam quyền trung tâm, giải phóng phụ nữ, xóa bỏ đối lập nhị nguyên nam – nữ Như vậy, phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái tích hợp trong nó sự đa dạng của nhiều lý thuyết có liên quan đến nhau Nó sử dụng điểm nhìn đa trùng vừa tự nhiên, môi trường
và giới tính để tiến hành phê bình văn học đồng thời liên kết các nhân tố đó lại với nhau
để làm nên một nguồn nội lực phản tư, giải cấu trúc quan niệm đối lập nhị nguyên, phê phán chủ nghĩa nhân loại trung tâm và văn hóa chế độ phụ quyền trung tâm từ đó giải phóng vị trí “kẻ khác” và “bên lề” của tự nhiên và nữ giới, thức tỉnh ý thức chỉnh thể sinh thái và ý thức nam nữ bình đẳng của mọi người, xây dựng một xã hội bình đẳng, hài hòa giữa nam và nữ, giữa các giống loài, giữa xã hội loài người với vạn vật trong tự nhiên, một thế giới rực rỡ phồn vinh với đa dạng văn hóa, đa dạng sinh vật
1.1.4.2 Đặc trưng của phê bình nữ quyền sinh thái trong nghiên cứu văn học
Phê bình nữ quyền sinh thái hấp thu các tiền đề lý luận của nhiều ngành khoa học khác nhau kết hợp với phương thức nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu riêng biệt để tạo nên những đặc trưng của mình cụ thể như sau:
- Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa nữ giới và tự nhiên, khám phá những cách mà những mối quan hệ này được hình thành và miêu tả trong văn bản văn học Chẳng hạn, đào sâu những nội dung phong phú về hình tượng kép người mẹ – trái đất (như giả
Trang 32thuyết Gaia) trong tác phẩm văn học, miêu tả và phân tích những tồn tại bản chất của nữ giới Một số nhà phê bình nữ quyền sinh thái dựa vào văn học, đặc biệt là văn bản sử dụng lối viết tự nhiên (nature writing) để giải mã hệ thống ký hiệu quyển của biểu tượng ngôn ngữ tự nhiên và phụ nữ Họ cũng tập trung vào ngôn ngữ, đặc biệt là các mối liên
hệ mang tính biểu tượng về nữ giới và tự nhiên Mặt khác, việc xem xét lại việc mô tả
về tự nhiên và nữ giới bằng một hệ thống ngôn ngữ chung còn để làm rõ đó là mối quan
hệ tương đồng hay là chỉ tô đậm thêm sự mất mát giá trị của nữ giới Từ đó, chú ý tới việc không duy trì ngôn ngữ theo chủ nghĩa phân biệt giới tính và quyền lực của diễn ngôn thống trị cũng là một mục tiêu của phê bình nữ quyền sinh thái
- Phê phán các hình thức phân cấp và thống trị như: chủ nghĩa nhị nguyên, chủ nghĩa nhân loại trung tâm, chủ nghĩa nam giới trung tâm, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dị tính ủng hộ tính trung tâm của đa dạng xã hội và đa dạng sinh học tồn tại trên hành tinh này Nhấn mạnh sự phát triển hài hòa bình đẳng giữa con người và tự nhiên, nam giới và nữ giới, coi đó là tiền đề và cơ sở để con người có thể tiếp tục duy trì
đề nữ quyền và vấn đề tự nhiên, ngoài ra còn có mối quan hệ với sinh thái học chiều sâu
và chủ nghĩa Mác:
Không giống như các lý thuyết về môi trường nói chung và sinh thái học chiều sâu nói riêng, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái không theo đuổi đối tượng của nó bằng một phương pháp phê bình tuyến tính đơn giản Nó có nghĩa vụ tham gia vào một quá trình biện chứng zig-zag giữa (a) nhiệm vụ nữ quyền là thiết lập quyền có tiếng nói chính trị của phụ nữ; (b) nhiệm vụ sinh thái là phá vỡ đặc tính gia trưởng trong hệ thống chính trị bằng cách tháo gỡ mối quan hệ thống trị của con người với tự nhiên; và (c) nhiệm vụ
nữ quyền sinh thái là chứng minh cách sống khác biệt của phụ nữ trong mối quan hệ với thiên nhiên (Salleh, A., 1992, tr.197)
- Nhấn mạnh tính cấp bách của vấn đề chuyển đổi tư tưởng trong nguy cơ môi trường và bất bình đẳng giới vì những nguy cơ mà tự nhiên và phụ nữ hiện đang gặp phải không đáng sợ bằng hệ thống tư tưởng dẫn đến những nguy cơ ấy Vậy nên, cần
Trang 33phải chữa lành các cá nhân, văn hóa và hệ thống bị tha hóa, thông qua các thực hành tâm linh, tâm lý, văn học, nông nghiệp, kinh tế, chính trị, tháo gỡ các thể chế áp bức và xây dựng các mạng lưới bình đẳng, nhân văn, nhìn nhận lại văn hóa nhân loại Văn học là một kênh quan trọng trong việc góp phần chuyển đổi hệ tư tưởng này Phát triển một
thực tiễn văn học theo chủ nghĩa nữ quyền sinh thái giúp “hình thành và phát triển một
khuôn khổ cụ thể dành cho những sáng tác của nữ giới” (Guttman, 2002, tr.44), hơn
thế, còn động viên phụ nữ tích cực tham gia các phong trào sinh thái và các phong trào nhằm bảo vệ quyền lợi cho chính mình
- Đối tượng của phê bình nữ quyền sinh thái không chỉ là những tác phẩm đương đại mà nó còn hướng đến những tác phẩm văn học truyền thống, từ đó khơi dậy những giá trị nhân văn trong mối quan hệ giữa tự nhiên và nữ giới từng bị chôn vùi
- Nội hàm của phê bình nữ quyền sinh thái mang đặc trưng kết nối đa nguyên Phê bình nữ quyền sinh thái là sự tích hợp giữa phê bình nữ quyền và phê bình sinh thái Mục đích cơ bản của phê bình nữ quyền là phủ định sự thống trị và áp bức của nam giới đối với nữ giới Mục đích cơ bản của phê bình sinh thái cũng là phủ định nguyên tắc lý tính của chủ nghĩa hiện đại – một nguyên tắc đề cao tính hiện đại biểu hiện ở tập quyền hóa, quan liêu hóa, khoa học kỹ thuật hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa, cơ giới hóa Từ logic của sự thống trị, phê bình nữ quyền sinh thái cũng cần đặt trong sự kết nối với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa kinh điển, định kiến và phân biệt đối xử với ngưới khuyết tật, định kiến và phân biệt tuổi tác, chủ nghĩa độc tôn dị tính, chủ nghĩa do thái
và chủ nghĩa thực dân , bởi vì việc tìm hiểu chúng giúp con người hiểu được tình trạng
lệ thuộc của phụ nữ Greta Gaard cũng cho rằng: “Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái không
chỉ dựa vào sự nhận biết các mối liên hệ giữa việc lợi dụng tự nhiên và việc đè nén phụ
nữ trong những xã hội nam quyền mà cả trong nhận thức rằng hai hình thái thống trị này được gắn với bóc lột giai cấp, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thực dân mới” (Gaard, G., tr.1) Như vậy, luôn phải bóc tách vấn đề nữ quyền
sinh thái trong nhưng mối quan hệ tác động qua lại là cách tiếp cận mà các nhà nữ quyền sinh thái phải làm bởi “việc bóc lột tự nhiên bao giờ cùng đi kèm với sự áp bức xã hội” Phê bình nữ quyền sinh thái còn tích hợp với kiến thức của nhiều ngành bởi sự ra đời của nó phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh tự nhiên, xã hội, liên quan đến sự xuống cấp của môi trường và những giá trị đạo đức tinh thần Vậy nên, nữ quyền sinh thái cần sự tích hợp của các kiến thức ngành khoa học khác như sinh học, tâm lý học, nhân loại học,
Trang 34triết học, lịch sử học Rõ ràng việc giải phóng nữ giới được xem như một phần song hành không thể tách rời của việc giải phóng tự nhiên
1.1.4.3 Tính khả dụng của nữ quyền luận sinh thái trong nghiên cứu văn học
Phê bình nữ quyền sinh thái đang dần trở thành một trào lưu phát triển bởi sự kết hợp của việc bảo vệ môi trường và dần nâng cao, khẳng định vai trò của giới nữ trong xã hội Không chỉ có ý nghĩa xã hội sâu sắc vì khiến cho nhân loại chú ý hơn đến mối quan
hệ nội tại giữa hai vấn đề nguy cơ sinh thái và sự phân biệt giới, có ý thức đối xử hài hòa bình đẳng với phụ nữ và tự nhiên mà lý thuyết này còn góp phần làm phong phú và phát triển thêm nền lý luận và phê bình văn học, cũng như nâng cao trình độ sáng tác của các nhà văn
Tính khả dụng của phương pháp tiếp cận theo nữ quyền sinh thái xuất phát từ sự cởi mở so với cách tiếp cận theo chủ nghĩa sinh thái truyền thống Trong khi nữ quyền sinh thái có thể được áp dụng cho các phong trào chính trị, kinh tế và văn hóa nói chung, thì chủ nghĩa sinh thái chủ yếu giới hạn trong phân tích các tác phẩm văn học và văn hóa Tính mở của nữ quyền sinh thái cũng được phản ánh trong nội hàm phê bình văn học của nó, là dựa trên những ý tưởng nữ quyền, và sinh thái để khám phá tầm nhìn của
nữ quyền sinh thái trong văn học nói chung nhưng đặc biệt là trong sáng tác tự nhiên (nature writing)
Ở Việt Nam, lý thuyết này du nhập và được các học giả hưởng ứng những năm gần đây nên không khỏi bộc lộ những thiếu sót và hạn chế về mặt lý luận Nó không có một hệ thống lý thuyết hoàn thiện mà dung hợp nhiều hệ hình, nhiều tư tưởng khác nhau Nó cũng chưa xây dựng được lý luận đa ngành về phê bình văn học gồm sự giao thoa giữa sinh thái – nữ quyền – sáng tác – phê bình nên ứng dụng thực tiễn của lý thuyết này còn chưa được phổ biến rộng rãi Nguyễn Văn Dân đề cập trong bài viết
“Các lý thuyết nghiên cứu văn học và tính khả dụng” về sự “gượng ép” khi chúng ta cố
ứng dụng những lý thuyết vốn thuộc lĩnh vực xã hội vào trong văn học: Chúng ta có vấn
đề nữ quyền trong một số lĩnh vực xã hội, nhưng trong văn học thì như thế nào? Chúng
ta sẽ giải quyết vấn đề gì? Nếu không xác định được vấn đề thì việc nghiên cứu nữ quyền trong văn học cũng chỉ là gắn một cái nhãn mới cho những công việc vẫn làm lâu nay, hoặc là du nhập vấn đề nữ quyền của phương Tây vào nước ta một cách gượng ép Ngay cả lý thuyết phê bình sinh thái cũng bị nhiều chuyên gia hồ nghi rằng đó chỉ là một phong trào hoạt động xã hội nhằm bảo vệ môi trường, về sau phát triển thành lý
Trang 35thuyết trong lý luận văn học, không mang giá trị cách tân và đột phá Một phần cũng bởi nhiều học giả cho rằng đây là một lý thuyết “gượng ép”, đánh đồng phê bình sinh thái như một ngành thuộc sinh thái học, một phong trào văn hóa – xã hội bảo vệ môi trường Nhưng rồi, ý nghĩa thực tiễn cùng những tác động tích cực mà phê bình nữ quyền sinh thái mang lại trong nhận thức và tư tưởng của nhiều người đã khiến các nhà nghiên cứu phải định giá lại vai trò, sức ảnh hưởng và sự đóng góp của lý thuyết này Ở giới hạn nghiên cứu của mình, chúng tôi nhận thấy phê bình nữ quyền sinh thái trong nghiên cứu văn học có những tiềm năng sau:
- Nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp của phê bình nữ quyền sinh thái
để đọc văn bản của các tác phẩm văn học, bằng cách đọc lại các tác phẩm văn học kinh điển, khai quật những tư tưởng nữ quyền sinh thái bị lãng quên và chôn vùi, phản tư tưởng trung tâm gia trưởng, ca ngợi vẻ đẹp thiên tính từ đó hướng dẫn các tác giả và độc giả thiết lập ý thức bình đẳng và ý thức sinh thái
- Dựa trên các phương pháp phê bình nữ quyền và phê bình sinh thái, phê bình nữ quyền sinh thái đã đặt phê bình văn học trong những vấn đề nóng của toàn cầu đó là phân biệt giới tính và khủng hoảng sinh thái, phản ánh sự quan tâm tối đa đối với khủng hoảng môi trường và triển vọng sinh tồn của con người từ quan điểm phụ nữ Phê bình
nữ quyền sinh thái cung cấp một cái nhìn nâng cao và toàn diện hơn cho tư duy sinh thái
và tổ chức xã hội từ sự cộng sinh hài hòa và sự phát triển bền vững của đàn ông và phụ
nữ, con người và con người, con người và thiên nhiên Chính điều này đã mở ra một không gian rộng lớn, truyền cảm hứng và cung cấp một quan điểm mới cho sáng tạo và nghiên cứu văn học
- Phê bình nữ quyền sinh thái trong văn học cho thấy một sự tương tác đa dạng của sinh thái/nữ quyền/văn học/sáng tạo/phê bình, hơn thế còn mở rộng sự kết nối của mình với các ngành khoa học khác như: văn hóa, tự nhiên, sinh học, dân tộc học, chính trị Không chỉ khác với phê bình nữ quyền cấp tiến, vượt ra ngoài phê bình sinh thái, phê bình nữ quyền sinh thái đã mang lại những quan điểm mới có giá trị, những ý tưởng mới và những khám phá mới cho phê bình diễn ngôn, phê bình văn hóa và phê bình văn học
- Phê bình văn học kết hợp với nữ quyền sinh thái là cơ sở tạo nên những tác phẩm văn xuôi trong văn học Việt Nam có dấu ấn về giá trị nhân văn và ý nghĩa giáo dục sâu sắc, là hướng đi mới nhằm giáo dục nhận thức về bình đẳng giới Phê bình nữ quyền sinh thái là nguồn cảm hứng cho việc chuyển tải những chiều hướng phức tạp của
Trang 36con người và tự nhiên, cũng như quan hệ tương tác giữa nữ giới và tự nhiên, phơi bày, phê phán sự áp bức song trùng lên tự nhiên và phụ nữ, đào sâu những giá trị sinh thái và xây dựng lối viết tự nhiên nữ tính
Qua những công trình ứng dụng của thuyết phê bình nữ quyền sinh thái trong văn học đương đại Việt Nam nói trên chúng tôi thấy rằng, việc dẫn nhập, ứng dụng lý thuyết này mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu Trong những công trình nghiên cứu của Trần Thị Ánh Nguyệt – Lê Lưu Oanh và Nguyễn Thị Tịnh Thy, lý thuyết cũng như tính ứng dụng của phê bình nữ quyền sinh thái chỉ được đề cập như là một phần cần nói thêm của phê bình sinh thái chứ chưa thực sự có một nghiên cứu chuyên sâu và vẫn thiếu một cái nhìn hệ thống và tường giải Xuất bản, nghiên cứu tương đối chuyên sâu, có hệ thống về phê bình nữ quyền sinh thái ở nước ta vẫn còn đơn biệt so với mặt bằng chung của thế giới Tuy mới nằm ở những ngưỡng ban đầu, với thao tác chủ yếu là mô tả mối quan hệ tương
hỗ của nữ giới và tự nhiên, hành trình phản tư của diễn ngôn giới nữ cũng như đánh thức tiếng nói của tự nhiên, diễn tả những bất bình của nữ giới về sự, chiếm đoạt dẫn đến sự biến mất, thiếu vắng thiên nhiên Nhưng trong tương lai nó đòi hỏi việc xây dựng lý luận và hoàn thiện thi pháp nữ quyền sinh thái bởi sự cấp bách và thiết thực của nó đối với những nguy cơ mà trái đất đang đối mặt
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu văn xuôi nữ Việt Nam đương đại từ nữ quyền luận sinh thái
1.2.1 Về mặt du nhập lý thuyết
Những công trình giới thiệu và dịch thuật về nhà đấu tranh cho nữ quyền người Pháp Simone de Beauvoir trong đời sống lý luận phê bình văn học miền Nam giai đoạn
1954 – 1975 có đóng góp rất lớn vào lĩnh vực phê bình nữ quyền và phê bình nữ quyền
sinh thái ở Việt Nam Có thể kể đến: Năm 1967, Tạp chí Văn có một số công trình dịch thuật về Simone de Beauvoir như: Thân thế và và tác phẩm của Simone de Beauvoir – Pierre de Boisdeffre (Vũ Đình Lưu dịch); Simone de Beauvoir nói về văn nghệ dấn thân
và tiểu thuyết mới (Trần Thiện Đạo trích dịch); Madeleine Chapsal phỏng vấn Simone
de Beauvoir (Nhã Điền dịch); Simone de Beauvoir để xây dựng một đạo đức học căn cứ trên tình trạng mơ hồ của đời sống (Vũ Đình Lưu dịch) Năm 1970, tạp chí Văn còn ra
số đặc biệt về Simone de Beauvoir trong đó có nhiều bài tiểu luận đặc sắc về tư tưởng
nữ quyền của Simone de Beauvoir như: Hành trình của Simone de Beauvoir – Huỳnh Phan Anh; Những cuộc nỗi loạn của Simone de Beauvoir và hiện hữu tha nhân – Jean
Trang 37Béguier (Nguyễn Thu Hồng dịch); Nói chuyện với Simone de Beauvoir – Madeleine
Gobeil (Phan Ngọc Tần dịch)
Năm 1996, dịch giả Nguyễn Trọng Định, Đoàn Ngọc Thanh đã dịch cuốn Giới
nữ của Simone de Beauvoir của nữ văn sĩ người Pháp Đây được coi là công trình dịch
bài bản nhất về tư tưởng nữ quyền của Simone de Beauvoir và là cuốn sách gối đầu giường của các nhà phê bình nữ quyền Bằng những dữ kiện có cơ sở khoa học như sinh học, triết học, lịch sử, dân tộc học đến tư duy huyền thoại, bà đã phân tích địa vị của
người phụ nữ trong xã hội qua từng thời đại lịch sử từ đó khẳng định: “đàn ông, đàn bà,
hai nửa của nhân loài, cấu tạo tính cách có khác nhau, song đều hoàn chỉnh, đều quan trọng cần thiết như nhau, không hề có chuyện cao quý và thấp hèn, chủ động và thụ động như nhiều người vẫn nói Quan hệ của hai nửa là hòa hợp, tương hỗ, bổ sung cho nhau, không hề có chuyện áp chế, kìm hãm, thôn tính bên kia” (Beauvoir, S D., 1996,
tr.6) Trong quá trình phân tích vị trí của nữ giới trong xã hội, bà chứng minh rằng giữa
nữ giới và tự nhiên có sự tương đồng về số phận bị phụ thuộc: “số phận người đàn bà là
phục tùng, là bị chiếm hữu, bị khai thác như giới Tự nhiên mà mình là hiện thân của sự phì nhiêu huyền diệu bị khai thác” (Beauvoir, S D., Nguyễn Trọng Định dịch, 1996,
tr.98) Bà cũng đã lý giải quyền lực thống trị của đàn ông lên phụ nữ cũng như giới tự nhiên trong suốt toàn bộ chế độ cũ Lịch sử đã cho thấy đàn ông luôn chiếm giữ những quyền lực cụ thể Họ luôn tìm cách đưa ra những luật lệ để giữ phụ nữ trong trạng thái tùy thuộc và đối xử với phụ nữ như là người khác, việc này giống như việc người đàn ông bắt gặp thiên nhiên, tác động đến thiên nhiên và tìm cách chiếm đoạt thiên nhiên Mặc dù đây là công trình phê bình nữ quyền nhưng nó đã đưa ra nhiều sự tương quan và kết nối giữa nữ giới và tự nhiên Điều này góp phần lý giải mối quan hệ tương hỗ giữa
nữ giới và tự nhiên cho thuyết phê bình nữ quyền sinh thái sau này Năm 2008, Trịnh Y
Thư dịch cuốn Căn phòng riêng của Virginia Woolf, cuốn sách này tập hợp những
thuyết giảng của bà xung quanh vấn đề nhà văn nữ và nghề cầm bút Cuốn sách không chỉ mô tả tình thế của các nhà văn nữ ở thời kỳ mà phụ nữ phải chấp nhận nhiều sự bất bình đẳng xã hội mà còn đánh giá lại vị trí của các nhà văn nữ với vấn đề then chốt:
“Liệu các nhà văn nữ có thể sáng tạo nên những tác phẩm tầm vóc như của Shakespeare hay không?” Công trình này được xem như là nền móng của phê bình nữ
quyền và cũng là một bước đệm quan trọng trong việc lan tỏa và phát triển nữ quyền
sinh thái bởi nó thực sự “Mở ra một không gian xã hội rộng lớn hơn để phụ nữ được
Trang 38can dự, định nghĩa lại phụ nữ, giải cấu trúc những biểu tượng định kiến về phụ nữ”
(Woolf, V., Trịnh Y Thư dịch, 2009, tr 8)
Năm 2011, Lê Hồng Sâm đã dịch cuốn Sự thống trị của nam giới của Pierre
Bourdieu, góp phần tạo ra cuộc cách mạng trong nhận thức lại về trật tự vận hành của thế giới Từ việc phân tích các mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới, xuất phát từ việc nghiên cứu dân tộc học xã hội của người Berbères tại Kabylie, Pierre Bourdieu tìm hiểu những cấu trúc tượng trưng của vô thức lấy nam giới làm trung tâm, hiện vẫn tồn tại ở
nam giới và nữ giới ngày nay mà tác giả gọi đó là “nghịch lý của dư luận” (paradoxe de
la doxa) Tác giả cho rằng những trật tự được thiết lập với những quan hệ thống trị của
nó, những luật pháp và những điều phi pháp của nó, những đặc quyền và những sự bất công của nó, rốt cuộc cứ vĩnh tồn một cách dễ dàng, tự nhiên, và thậm chí thường xuyên được chấp nhận Pierre Bourdieu cũng đề cập đến sự phục tùng và chịu đựng đầy nghịch
lý đó là bởi cách thức thống trị bằng bạo lực tượng trưng, bạo lực êm ái, khó cảm nhận, không nhìn thấy được ngay đối với các nạn nhân của nó, thứ bạo lực thi hành chủ yếu bằng những con đường thuần túy tượng trưng của sự giao tiếp và sự hiểu biết hoặc chính xác hơn là sự không hiểu biết, của sự thừa nhận hoặc, ở giả thuyết tột cùng, của tình cảm Việc cần làm một cuộc cách mạng trong nhận thức luôn phải đương đầu với cái
“Doxa” mà Pierre đề cập bởi nó chính là biểu trưng của quyền lực văn hóa thống trị, của sức mạnh che giấu, biến mọi tồn tại lịch sử trở thành phi lịch sử, và làm cho mọi kiến tạo xã hội trở nên mang tính tự nhiên và nó mặc định về một thân phận bị trị dành cho người phụ nữ, mà đi kèm với nó là những chuẩn mực, luật pháp, điều kiện,… được xã hội quy định sao cho phù hợp với địa vị nô lệ của chính họ Công trình này của Pierre Bourdieu đã làm rõ nhiệm vụ của các nhà nữ quyền về việc tra vấn “bản chất ngụy tạo của văn hóa” và giải cấu trúc những trật tự được thiết lập với những quan hệ thống trị của nó, những luật pháp và những điều phi pháp của nó, những đặc quyền và những sự bất công của nó, vốn được gán cho là tồn tại một cách “tự nhiên” và “vĩnh viễn”
Năm 2013, Nguyễn Thị Thanh Xuân công bố bản dịch công trình, nữ quyền và tự
truyện: Văn bản, lý thuyết và phương pháp do Tess Cosslett, Celia Lury và Penny
Summer Field chủ biên Công trình này đã giới thiệu những vấn đề trung tâm trong lý thuyết nữ quyền Tự truyện được hiểu như một thể loại vừa như một phương pháp, một hoạt động
Năm 2015, Nguyễn Vân Hà dịch Bí ẩn nữ tính của Betty Friedan tiếp tục khơi
gợi sự tái diễn giải, tái định vị vai trò, vị trí của phụ nữ, giải cấu trúc hình ảnh phụ nữ
Trang 39Betty Friedan phân tích vấn đề mà hàng triệu phụ nữ Mỹ gặp phải từ những quan niệm của xã hội cổ truyền như: chỗ của phụ nữ là ở nhà, phụ nữ phải chăm sóc chồng con, phụ nữ không được và không nên đi làm Đồng thời bà cũng cho thấy họ đã phải vật lộn như thế nào để giành lại đời mình, cũng như tính nữ được kiến tạo lại bởi các phương tiện truyền thông, các nghiên cứu hàn lâm, bệnh viện, trường học như thế nào Cuốn sách được viết vào thế kỷ trước nhưng đến bây giờ những vấn đề mà Friedan đặt
ra vẫn là vấn đề chung của nữ giới thời hiện đại, đó là nữ giới đang “hoàn toàn bị đàn
ông định danh như một vật thể, chứ không được tự mình định danh như một chủ thể
“Tôi” nữa” Bà cũng đưa ra những chất vấn, đối thoại về quyền tự do của nữ giới Từ
việc mổ xẻ và phân tích những “vấn đề không tên” của nữ giới, bà đã cho thấy những trục trặc, những trống rỗng trong cuộc “khủng hoảng bản sắc” của phụ nữ đồng thời “lên
kế hoạch cuộc đời mới” cho họ
Sự du nhập lý thuyết nữ quyền ở Phương Tây nói trên cùng với sự tiếp nhận cởi
mở các lý thuyết hậu hiện đại, giải cấu trúc, phê bình sinh thái không chỉ tạo thành tiền
đề cho văn học nữ quyền sinh thái, phê bình nữ quyền sinh thái ở Việt Nam có những bước chuyển biến, mà cũng là một bước đệm quan trọng trong việc nghiên cứu và dịch thuật thuyết nữ quyền sinh thái Thực tế, lý thuyết này đã được dịch thuật và giới thiệu sang tiếng Việt với một số lượng tương đối, mang tính chất cá nhân và có sự phân giãn thời gian
Năm 2006, Nguyên Ngọc dịch cuốn Rừng đàn bà điên loạn (Đi qua miền mơ
tưởng Giarai của Jacques Dournes, Nxb Hội Nhà văn Ở công trình này Jacques
Dournes cũng lý giải rằng việc gắn bó với đời sống tự nhiên quyết định đến chế độ mẫu – hệ của người Gia rai, bởi vì trong người đàn bà có ẩn chứa cả cái cội nguồn tự nhiên nguyên thủy của con người lẫn cái quá trình và cái kết quả con người thuần hóa tự nhiên
cho mình: “Người đàn bà vừa là tự nhiên vừa là văn hóa Họ vừa là cái tự nhiên đã
được thuần hóa, đã trở thành nội giới, trở thành làng, thành xã hội; đồng thời trong họ lại chứa đựng cái nguồn gốc tự nhiên của con người, và của cả xã hội” (Dournes, J.,
2006, tr.2) Cuốn sách này góp phần lý giải mối quan hệ giữa nữ giới và tự nhiên từ góc
độ xã hội học, dân tộc học vì vậy nó mang ý nghĩa bổ trợ quá trình giải minh lý thuyết
nữ quyền sinh thái
Năm 2011, trong bài giới thiệu của mình về phê bình sinh thái – Ecocriticism tại
buổi thuyết trình vấn đề phê bình sinh thái do Viện Văn học tổ chức, Karen Thornber đã
có sự giới thiệu tổng quan nội dung, ý nghĩa và lịch sử phát triển của nghiên cứu văn
Trang 40chương môi trường Bà không chỉ đưa ra những luận điểm cơ bản của phê bình sinh thái,
mà còn chú ý tới tiềm năng của nữ giới trong cuộc cách mạng sinh thái Karen Thornber trình bày sự khác biệt về giới trong cảm quan và tưởng tượng về môi trường và dành
quan tâm đặc biệt cho việc: “khảo sát về tầm quan trọng của sự khác biệt về giới và vấn
đề biểu trưng môi trường” Bà đã cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa phê bình sinh thái
và sinh thái nữ quyền, trước hết phê bình sinh thái: “đặt nghi vấn thuyết nhị nguyên
trong tư tưởng phương Tây – vốn tách ý nghĩa ra khỏi vấn đề, ý nghĩ ra khỏi thân thể, phân biệt rạch ròi giữa nam giới và phụ nữ, cũng như làm phân li nhân loại và tự nhiên” (Thornbe, K., 2011), thứ nữa, nó chỉ ra: “những văn bản sáng tác đã hòa quyện như thế nào diễn ngôn về người phụ nữ và môi trường với các dạng bất công xã hội”
(Thornbe, K., 2011) Bà cho rằng sự gắn kết truyền thống của người phụ nữ với tự nhiên được các nhà nữ quyền sinh thái đề cao nhằm tìm cách đề xướng một thể đối lập với những cấu trúc phụ hệ Có thể khẳng định rằng bài thuyết trình của Karen Thornber là báo cáo đầu tiên về lí thuyết phê bình sinh thái tại Việt Nam đồng thời đây cũng là khởi điểm đầu tiên cho những luận điểm của phê bình nữ quyền sinh thái được phát triển sau này
Năm 2013, một công trình nữa của Karen Thornber được Hải Ngọc dịch là
Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học (Ecocritical and Literary Futures)
Trong công trình này, Karen Thornber nhấn mạnh “ý thức hành tinh” khi phân tích các
diễn ngôn văn chương giúp chúng ta phát triển sâu hơn, nhiều sắc thái hơn những hiểu biết về mối tiếp xúc giữa con người và những yếu tố vô nhân Những hiểu biết này lại có tiềm năng thúc đẩy nhanh hơn những thay đổi văn hóa cần thiết cho việc điều hòa lại những hệ sinh thái bị tàn phá, hạn chế nhiều hơn tình trạng xuống cấp của môi trường và bảo vệ sức khỏe của con người Đó cũng chính là cách tiếp cận của các nhà nữ quyền
sinh thái: “các học giả nữ quyền luận sinh thái gần đây cho thấy việc xem xét các tác
phẩm văn chương nghệ thuật diễn tả mối tương tác giữa con người và môi trường, trên thực tế, đào sâu sự hiểu biết không chỉ về mối quan hệ này mà còn về mối quan hệ giữa con người với con người” (Thornbe, K., Hải Ngọc Dịch, 2017)
Năm 2014, Trần Thị Ánh Nguyệt đóng góp bản dịch Nghiên cứu văn học trong
thời đại khủng hoảng môi trường trong Tuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học văn học (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology) do Cheryll Glotfelty và Harold Fromm chủ biên – một cuốn sách được xem là
tài liệu nhập môn của phê bình sinh thái, bởi công trình này có giá trị tổng thuật và khái