1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề

140 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Tác giả Võ Thúy Nhung
Người hướng dẫn TS. Vũ Thị Ngân
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo dục học (Mầm non)
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, có một thực trạng khá phổ biến của người lớn là cho rằng lứa tuổi mầm non chỉ cần được học các kiến thức, trẻ mầm non là “ngoan” chứ không hư vì “trẻ em thì có biết gì đâu”… ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Võ Thúy Nhung

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA

CHO TRẺ 5-6 TUỔI QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI CÓ CHỦ ĐỀ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Võ Thúy Nhung

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA

CHO TRẺ 5-6 TUỔI QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI CÓ CHỦ ĐỀ

Chuyên ngành: Giáo dục học (Mầm non)

Mã số: 8140101

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VŨ THỊ NGÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2022

Trang 3

những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được công bố ở bất kì công trình nào

Tác giả

Võ Thúy Nhung

Trang 4

Ban giám hiệu, phòng Sau Đại học, quý thầy cô khoa Giáo dục mầm non, Thư

viện trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo điều kiện

cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Ban giám hiệu, tập thể các giáo viên và các cháu trường Mầm non tại quận 7,

Thành phố Hồ Chí Minh: Trường mầm non song ngữ Ngôi Sao Tuổi Thơ, trường

mầm non quốc tế Canada, trường mầm non Việt Úc, trường mầm non Tân Mỹ,

trường mầm non Tân Kiểng, trường mầm non Phú Mỹ, trường mầm non Phú Thuận, trường mầm non Khu Chế Xuất, trường mầm non Sương Mai, trường

mầm non Nam Sài Gòn đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên

cứu này

Đặc biệt, tôi xin cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của TS Vũ Thị

Ngân – Người đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

của mình

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022

Tác giả

Võ Thúy Nhung

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ cái viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

1.1 Lược sử nghiên cứu vấn đề 9

1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 9

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.2 Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em 5-6 tuổi 13

1.2.1 Giáo dục 13

1.2.2 Giáo dục hành vi văn hóa 16

1.2.3 Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi 22

1.3 Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề 34

1.3.1 Trò chơi đóng vai có chủ đề 34

1.3.2 Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề 41

Tiểu kết chương 1 50

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA CHO TRẺ 5-6 TUỔI QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI CÓ CHỦ ĐỀ Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 53

2.1 Vài nét về cơ sở giáo dục được nghiên cứu 53

2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội ở quận 7, thành phố Hồ Chí Minh 53

2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục ở quận 7, thành phố Hồ Chí Minh 53

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề 54

Trang 6

2.2.3 Phương pháp và đối tượng khảo sát 55

2.3 Kết quả khảo sát và phân tích kết quả khảo sát thực trạng giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ ở một số trường MN quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 58

2.3.1 Trình độ chuyên môn và thâm niên công tác của GVMN tham gia trả lời phiếu hỏi 58

2.3.2 Kết quả thực trạng nhận thức của GV về giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ qua trò chơi đóng vai có chủ đề 59

2.3.3 Thực trạng những khó khăn mà GV gặp phải khi giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ 69

2.3.4 Kết quả thực trạng lập kế hoạch giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ của giáo viên mầm non 71

2.3.5 Kết quả thực trạng quan sát, dự giờ các hoạt động giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ tại trường mầm non 76

2.4 Đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề ở một số trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh 84

2.4.1 Cơ sở của việc đề xuất biện pháp 84

2.4.2 Nguyên tắc xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ 85

2.4.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ 87

2.4.4 Khảo nghiệm tính khả thi, tính hiệu quả của các biện pháp 91

Tiểu kết chương 2 96

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC PL1

Trang 7

Stt Viết tắt Viết đầy đủ

1 GVMN Giáo viên mầm non

Trang 8

Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn của GVMN 58Bảng 2.3 Thâm niên công tác của GVMN 59Bảng 2.4 Nhận thức của GVMN về mục tiêu giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua

TCĐVCCĐ 59Bảng 2.5 Nhận thức của GVMN về nội dung giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua

TCĐVCCĐ 61Bảng 2.6 Nguyên nhân dẫn đến một số HVVH của trẻ chưa được hình thành 63Bảng 2.7 Mức độ cần thiết của việc “giáo dục HVVH cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

qua TCĐVCCĐ” tại trường mầm non 65Bảng 2.8 Thực trạng GVMN tiếp cận nội dung giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi

qua TCĐVCCĐ 66Bảng 2.9 Hình thức được sử dụng để giáo dục HVVH thường dạy cho trẻ 5-6 tuổi

qua TCĐVCCĐ 68Bảng 2.10 Thực trạng đánh giá hiệu quả của việc giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi

qua TCĐVCCĐ 69Bảng 2.11 Khó khăn của GV gặp phải khi giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua

TCĐVCCĐ 69Bảng 2.12 Thực trạng lập kế hoạch giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua

TCĐVCCĐ của GVMN 71Bảng 2.13 Thực trạng nội dung trong kế hoạch giáo dục của GVMN 73Bảng 2.14 Thực trạng những trò chơi mà giáo viên sử dụng trong kế hoạch khi giáo

dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ 74Bảng 2.15 Hình thức giáo dục HVVH giáo viên sử dụng trong kế hoạch khi giáo

dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ 75Bảng 2.16 Kết quả phân tích sự chuẩn bị để giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua

TCĐVCCĐ trong các hoạt động tại trường mầm non 77Bảng 2.17 Những trò chơi mà giáo viên GV sử dụng tổ chức khi giáo dục HVVH

cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ trong các hoạt động tại trường mầm non 79

Trang 9

Bảng 2.19 Phương pháp giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ được GV

sử dụng trong các hoạt động tại trường mầm non 83Bảng 2.20 Mức độ phù hợp của các biện pháp 93Bảng 2.21 Mức độ khả thi của các biện pháp 94

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục mầm non mang nhiệm vụ nuôi dưỡng, dạy dỗ giúp trẻ có thể phát triển về mọi mặt như: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm đạo đức – xã hội, thẩm mỹ Từ đó hình thành nên nhân cách tốt, nền tảng kiến thức sơ khai để trẻ đủ hành trang bước vào lớp một Và một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục mầm non là giáo dục đạo đức cho trẻ; Giáo dục đạo đức có ảnh hưởng to lớn đến các mặt giáo dục khác Giáo dục HVVH là một trong những bộ phận của giáo dục quan hệ xã hội và tình cảm đạo đức và đây được xem là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của Giáo dục mầm non Và trong nhiệm vụ giáo dục mầm non cũng đã chỉ rõ cần phải “giáo dục cho trẻ một số hành vi và quy tắc ứng xử xã hội” và “dạy trẻ HVVH” “Chính những cử chỉ, hành vi đẹp đẽ là thể hiện một thái độ đúng đắn với mọi người và điều đó phải được tiến hành giáo dục một cách toàn diện, tỉ mỉ từ dáng đi, kiểu đứng, ăn uống đến việc giữ gìn vệ sinh” (Nguyễn Thị Hòa, 2011) Trong chương trình GDMN đã nêu cụ thể “Mục tiêu của giáo dục mầm non

là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một” (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2017) Việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ luôn là mục tiêu được đặt lên hàng đầu trong việc giáo dục trẻ mầm non, chính vì thế có thể khẳng định việc giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ là một việc làm cấp thiết và rất quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ tại trường mầm non

“HVVH vừa mang ý thức đạo đức bên trong vừa thể hiện mặt thẩm mĩ bên ngoài, nên không thể là hành vi bẩm sinh, tự nhiên đã có mà phải trải qua một quá trình giáo dục và rèn luyện lâu dài” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006) Sự hình thành và rèn luyện HVVH ở mỗi người cần phải bắt đầu từ lúc còn rất nhỏ, bởi lẽ “Bé không vin, cả gãy cành”, “Uốn cây từ thuở còn non, dạy con từ thuở con còn thơ ngây”… Nhận thức của trẻ mầm non còn rất non nớt, thơ ngây vì vậy nếu không

có sự can thiệp kịp thời của giáo dục, những hành vi không phù hợp với chuẩn mực của người xung quanh sẽ ăn sâu vào nhận thức và trở thành những hành vi

Trang 11

không văn hóa của trẻ và điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách của đứa trẻ sau này

Hiện nay, có một thực trạng khá phổ biến của người lớn là cho rằng lứa tuổi mầm non chỉ cần được học các kiến thức, trẻ mầm non là “ngoan” chứ không hư vì

“trẻ em thì có biết gì đâu”… chính vì thế cho nên ít quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện các HVVH cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ và thường bỏ qua các những

“hành vi chưa ngoan” như: không biết chào hỏi khi gặp người lớn, la hét ầm ĩ khi không được đáp ứng những đòi hỏi không hợp lí, chen lấn khi xếp hàng… Khi ở nhà, các bậc phụ huynh cưng chiều và cho rằng một số hành vi không tốt của trẻ là

“dễ thương” Còn thời gian ở trường thì GV ít giành thời gian để giáo dục, uốn nắn các hành vi không đúng của trẻ mà chỉ nhắc nhở qua loa

Trong tất cả các hoạt động, bên cạnh những HVVH trẻ sẽ bộc lộ cả những hành vi chưa tốt của mình… trong những tình huống ấy nếu chúng ta bỏ qua mà không nhắc nhở, giáo dục trẻ một cách đúng đắn thì đứa trẻ sẽ mãi không biết mình sai ở đâu và sẽ để lại hậu quả không nhỏ cho chính đứa trẻ và cho cả chính xã hội của chúng ta sau này

Hoạt động vui chơi mà trung tâm là TCĐVCCĐ là hoạt động chủ đạo và nó

có một ý nghĩa đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo “Trẻ mẫu giáo chơi mà học cho nên hoạt động vui chơi được nhìn nhận là phương tiện hữu hiệu để giáo dục nhân cách cho trẻ” (Trần Thị Hằng, 2017) Thông qua TCĐVCCĐ, trẻ làm quen với xã hội người lớn, trẻ học cách ứng xử và giao tiếp trong xã hội của họ “Nếu không có loại trò chơi này, việc học làm người của trẻ sẽ rất khó khăn” (Nguyễn Thị Hòa, 2011)

“Đối với trẻ em thì vui chơi là hoạt động tích cực nhất, nhiều khi còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành nhân cách hơn cả việc học tập hay lao động” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2000) Qua vui chơi mà đặc biệt là TCĐVCCĐ, nhân cách của trẻ được hình thành và rèn luyện một cách tích cực và hiệu quả Chính vì thế, giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ là một việc làm rất có ý nghĩa và thiết thực

Trang 12

Trong thực tế hiện nay, việc giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ

đã được thực hiện từ rất lâu nhưng chưa đạt hiệu quả cao và cũng đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề giáo dục HVVH cho trẻ nhưng chưa đi sâu vào TCĐVCCĐ Trong quá trình tổ chức hoạt động TCĐVCCĐ tại trường mầm non, GV chưa thật

sự để trẻ được tự do vui chơi mà còn áp đặt trẻ trong việc chọn chủ đề; Chủ đề chơi, nội dung chơi còn đơn giản và thường được lặp đi lặp lại nhiều lần; Môi trường đồ dùng, đồ chơi chưa thật sự đa dạng và ít được bổ sung hoặc thay mới trong thời gian dài

Từ những lí do trên nên người nghiên cứu quyết định chọn đề tài : “Thực trạng giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ” để nghiên cứu với mong muốn xác định đúng thực trạng và đề xuất một số biện pháp nhằm làm thay đổi thực trạng giáo dục HVVH cho trẻ ở lứa tuổi mầm non được tốt hơn

Quá trình giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng quá trình giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ tại quận

7, thành phố Hồ Chí Minh

4 Giả thiết khoa học

Giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ ở một số trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh đã được GV quan tâm, coi trọng và cũng

đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: GV chưa nắm được đầy đủ mục tiêu, nội dung của quá trình giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ; GV chưa sử dụng tốt TCĐVCCĐ với mục đích giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi

Trang 13

Nếu đề ra được một số biện pháp giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ sẽ giúp hiệu quả giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ được tốt hơn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích đề ra, nghiên cứu được tiến hành với các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua

TCĐVCCĐ

- Khảo sát và đánh giá thực trạng giáo dục HVVH cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

qua TCĐVCCĐ ở một số trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kết quả giáo dục HVVH cho trẻ

5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ

6 Giới hạn đề tài

6.1 Giới hạn nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về thực trạng quá trình giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Mục đích: Tìm hiểu các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài để xây dựng

cơ sở lý luận của đề tài, thu thập thông tin khoa học về đề tài và lịch sử nghiên cứu quá trình giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ

Trang 14

- Đối tượng: Các văn bản, tài liệu về nội dung đề tài

- Cách thực hiện: Thu thập, phân tích, phân loại hệ thống hóa các thông tin khoa học thu thập được từ các văn bản, tài liệu về nội dung đề tài, từ đó rút ra các kết luận về các khái niệm “giáo dục, hành vi, văn hóa, HVVH, giáo dục HVVH, TCĐVCCĐ”, lịch sử nghiên cứu vấn đề và các nội dung về giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Để nghiên cứu “Thực trạng giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ” trong đề tài đã sử dụng kết hợp các phương pháp: quan sát, nghiên cứu sản phẩm, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn.Trong đó, phương pháp quan sát

và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính, các phương pháp còn lại là phương pháp hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu

+ Giờ học kĩ năng sống của 2 trường: Trường mầm non song ngữ Ngôi Sao Tuổi Thơ và trường mầm non Tân Mỹ tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh Mỗi trường chọn 01 lớp lá và quan sát giờ tổ chức hoạt động học của GV, tổng giờ quan sát là 2 giờ

- Cách thực hiện: Tiến hành dự giờ, quan sát tổ chức hoạt động vui chơi vá hoạt động học của GV: sự chuẩn bị các kế hoạch, giáo cụ… của các GV, phương pháp và hình thức giáo dục được sử dụng để giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ

Trang 15

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

- Mục đích: Nghiên cứu các sản phẩm để thu thập thông tin, làm rõ thực trạng của quá trình giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ ở một số trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

- Đối tượng: Các kế hoạch giáo dục, quan sát đánh giá các biểu hiện HVVH của trẻ qua TCĐVCCĐ, bản nhận xét của GV trong hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở 04 trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

- Cách thực hiện: Thu thập và nghiên cứu các kế hoạch, cách GV đánh giá về HVVH của trẻ; Quan sát các biểu hiện HVVH của trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ Sau đó phân tích và đưa ra nhận xét của bản thân

7.2.3 Điều tra bằng bảng hỏi

- Mục đích: Thu thập thông tin về thực trạng nhận thức của GV dạy lớp 5-6 tuổi và đánh giá thực trạng giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ ở 10 trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

- Nội dung:

Mức độ hiểu biết của GV về giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức GV tổ chức hoạt động giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ ở 10 trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

Những khó khăn, đề xuất, kiến nghị của GV để giúp việc giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ được hiệu quả hơn

- Đối tượng: Điều tra trên 102 GV dạy cho trẻ 5-6 tuổi và hiệu phó chuyên môn 10 trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

- Cách thực hiện: Phương pháp này được thực hiện bằng cách xây dựng và phát bảng hỏi cho GV dạy lớp 5-6 tuổi và hiệu phó chuyên môn ở 10 trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh Sau đó thu lại bảng hỏi, thống kê lại kết quả câu trả lời và đưa ra nhận xét

7.2.4 Phương pháp phỏng vấn

- Mục đích: Dùng để làm rõ thực trạng giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ và khảo nghiệm hiệu quả của các biện pháp được đề xuất

Trang 16

- Nội dung: Phỏng vấn về thực trạng giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ ở một số trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh; Những khó khăn - trở ngại mà GV gặp phải khi tổ chức TCĐVCCĐ cho trẻ và hiệu quả của các biện pháp được đề xuất

Đối tượng: GV dạy cho trẻ 5- 6 tuổi và hiệu phó chuyên môn 10 trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

- Cách thực hiện: Phương pháp này được thực hiện bằng cách đưa ra các câu hỏi cho các GV dạy lớp 5-6 tuổi, hiệu phó chuyên môn ở 10 trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện bảng hỏi để làm rõ thực trạng và để khảo nghiệm hiệu quả của các biện pháp được đề xuất trong luận văn, ghi âm, ghi chép câu trả lời

7.2.5 Phương pháp khảo nghiệm

- Mục đích: Dùng để khảo sát ý kiến của GV về mức độ phù hợp và tính khả thi của các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ được người nghiên cứu đề xuất

- Đối tượng: GV dạy cho trẻ 5- 6 tuổi và hiệu phó chuyên môn 10 trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

- Cách thực hiện: Phương pháp này được thực hiện bằng cách xây dựng và phát phiếu khảo sát ý kiến cho GV dạy lớp 5-6 tuổi và hiệu phó chuyên môn ở 10 trường mầm non tại quận 7, thành phố Hồ Chí Minh Sau đó thu lại phiếu khảo sát

ý kiến, thống kê lại kết quả câu trả lời và đưa ra nhận xét

7.3 Phương pháp thống kê

- Mục đích: Sử dụng các công thức toán thống kê trên Microsoft Office Excel

để xử lí các số liệu nghiên cứu

- Nội dung: Xử lí, phân tích thông tin thu được từ bảng hỏi, phiếu điều tra, ghi chép…

- Đối tượng: Dữ liệu, thông tin định lượng từ các dữ liệu thống kê đã khảo sát

- Cách thực hiện: Dùng phần mềm Microsoft Office Excel

-

Trang 17

8 Đóng góp của luận văn

 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ

 Làm rõ được thực trạng và đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ phù hợp với thực trạng

Trang 18

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lược sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề giáo HVVH nói chung và giáo dục HVVH cho trẻ mẫu giáo qua TCĐVCCĐ nói riêng, từ lâu đã được các nhà nghiên cứu tâm lý – giáo dục học trên thế giới cũng như Việt Nam quan tâm và đề cập đến

1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài

- Giáo dục HVVH cho trẻ em:

Đại diện cho học thuyết hành vi là B F Skinner (1953) – Nhà tậm lí học người Mỹ, ông đã nêu lên quan điểm của mình:

“Nếu người lớn xây dựng môi trường đáp ứng hành vi của trẻ thông qua điều kiện được thực hiện bởi thao tác, hành vi của trẻ sẽ dễ dàng bị nảy sinh, lúc này, nếu người lớn khen thưởng trẻ sẽ giúp củng cố hành vi của trẻ Ngược lại, khi trẻ thực hiện hành vi nào đó mà bị người lớn khiển trách, hành động đó sẽ bị giảm dần” (Phan Trọng Ngọ & Nguyễn Đức Hưởng, 2003)

Nghĩa là khi đứa trẻ thực hiện một hành vi nào đó, hành vi đó sẽ được giáo viên đánh giá đúng hay sai Nếu là hành vi đúng thì được giáo viên khen ngợi, khuyến khích, ngược lại, nếu là hành vi mang tính tiêu cực sẽ được nhắc nhở và điều chỉnh lại cho hợp lí

Thuyết nhận thức xã hội của Albert Bandura (1986) cho rằng:

“Tất cả mọi nền văn hóa, trẻ em học bằng quan sát những người có kinh nghiệm hơn gắn với các hoạt động trong văn hóa Nghĩa là GV và phụ huynh giúp cho trẻ thích nghi và và tiếp xúc với nhiều hoàn cảnh mới và tình huống mới để trẻ

có thể tiếp thu và ghi nhớ những hành vi của người khác” (Phan Trọng Ngọ & Nguyễn Đức Hưởng, 2003)

Theo Montesseri chia sẻ:

“ Chúng bắt đầu hiểu tình cảm của những người khác và áp dụng những hành

vi và hành động của chúng cho phù hợp với những tình càm này Hơn nữa, chúng đang học tương tác với những người xung quanh chúng, kết bạn và thích nghi với tính phức tạp của các tương quan xã hội bên ngoài gia đình chúng” (Collete Gray & Macblain, 2014, tr.53)

Trang 19

Các tác giả X V Pecherina, E I Sebireva, O X Bôdanôva, L M Sipisưna, O.V Dairinxcaia, A D Vôrônôva, T A Nhicôla đã nghiên cứu nội dung, phương pháp, điều kiện giáo dục HVVH cho trẻ mầm non (Hoàng Thị Phương, 2003)

- Nghiên cứu về TCĐVCCĐ:

Nhà sư phạm nổi tiếng người Tiệp Khắc là I A Cômenxki (1592-1670) cho rằng: “Trò chơi là một hoạt động cần thiết phù hợp với bản chất và khuynh hướng của đứa trẻ”

Quan điểm trò chơi là phương tiện phát triển toàn diện còn có trong các tác phẩm của nhiều tác giả thế kỷ XVIII-XIX (Đ.Lokk; J.J.Rutxo; Saclo.Phurê và nhiều người khác)

Công trình nghiên cứu về trò chơi của tập thể cán bộ nghiên cứu giáo dục mẫu giáo của trường đại học nghiên cứu khoa học dưới sự lãnh đạo của A P Uxôva đã khẳng định rằng: “Trò chơi là hình thức tổ chức cuộc sống của các cháu, là phương tiện hình thành xã hội của trẻ”

G.Spencer (1820 – 1903) nhà triết học, nhà xã hội học và sư phạm học người Anh cho rằng: “Ở trẻ em, trò chơi là sự bắt chước các hoạt động của thực sự của bản thân và và cả hoạt động của người lớn” (Trần Thị Ngọc Trâm, 2010, tr.21) Hoạt động chơi của trẻ em trong tâm lí học của J.Piaget và tâm lí học phương Tây:

Trong tài liệu của Phạm Minh Hạc (1996) thì J.Piaget cho rằng: “ Trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy là một nhân tố qua trông đối với sự phát triển trí tuệ Hoạt động chơi là hoạt động thiết yếu và an toàn nhất cho trẻ nhiều cơ hội vui chơi

để trải nghiệm và khám phá không ngừng thúc đẩy liên tục sự phát triển trí tuệ của trẻ” (Phạm Minh Hạc, 1996)

Theo J.Piaget có 3 loại trò chơi chính trong quá trình phát triển của trẻ: Trò chơi hành động chức năng, trò chơi tượng trưng và trò chơi đóng vai có chủ đề Trong đó, TCĐVCCĐ có ý nghĩa lớn đối với trẻ mẫu giáo J.Piaget đánh giá rất cao vai trò của hoạt động chơi trong quá trình phát triển của trẻ

A.Vallon – nhà tâm lí học người Pháp đã xem “trò chơi là một hiện tượng xã hội” Ông cho rằng “trong hoạt động chơi có luyện tập những năng lực vận động –

Trang 20

cảm giác và những năng lực trí tuệ, luyện tập những chức năng và quan hệ xã hội” (Trần Thị Ngọc Trâm, 2010, tr.25)

Theo trường phái Macxit: V Plêkhanốp là người đầu tiên giải thích về nguồn góc trò chơi dưới góc độ Macxit V Plêkhanốp coi trò chơi là sợi dây nối liền các thế hệ với nhau, cụ thể hơn nó truyền thụ những thành tựu từ đời này sang đời khác (Nguyễn Thị Hòa, 2011) Nhà tâm lí học Đ B Enkonin, Đ V Menđgierixkaia, R

M Rimburg, R I Giucôpxkaia… khẳng định rằng “Nội dung chính của TCĐVCCĐ là sự diễn tả các mối quan hệ xã hội của người lớn và mang tính lịch sự

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục văn hóa cho trẻ luôn được quan tâm và chú trọng Từ xưa ông bà ta đã có những câu ca dao, thành ngữ như: “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Học ăn, học nói, học gói, học mở”, “Bé không vin, cả gãy cành”, “Uốn cây từ thuở còn non, dạy con từ thuở con còn thơ ngây”… (Đức Trí, 2016)

Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi và TCĐVCCĐ với việc hình thành, phát triển nhân cách, phát triển hành vi đạo đức cho trẻ như các tác giả: Ngô Công Hoàn trong cuốn “Tâm lí học trẻ em”; Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non”, “Tâm lí học mầm non”, “Giáo dục trẻ mẫu giáo trong nhóm bạn bè”; Trần Thị Trọng trong cuốn “Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo”; Lê Minh Thuận trong cuốn “Trò chơi phân vai theo chủ đề và việc hình thành nhân cách cho trẻ mẫu giáo”…

Trang 21

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã nghiên cứu về giáo dục HVVH cho trẻ thông qua cuốn “Giáo dục HVVH cho trẻ em (dưới 6 tuổi)”, tuy nhiên vấn đề cụ thể giáo dục HVVH cho trẻ qua TCĐVCCĐ thì chưa được nghiên cứu nhiều và chưa đi sâu vào vấn đề cụ thể

Một số tác giả đề cập đến vai trò giáo dục của TCĐVCCĐ đối với việc hình thành những phẩm chất đạo đức – hành vi cho trẻ mẫu giáo trong các tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học như: “Trò chơi đóng vai theo chủ đề và vai trò của nó đối với

sự phát triển của trẻ em” trong tạp chí giáo dục mầm non số 2/1995 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà, bài “Giáo dục chuẩn mực đạo đức hành vi cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động vui chơi” của tác giả Đinh Thị Kim Thoa, “Hình thành hành vi

và thói quen đạo đức cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động vui chơi” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình trong kỷ yếu khoa học của đề tài “Xây dựng những giá trị đạo đức cho trẻ mầm non”, “Trẻ em và hoạt động vui chơi” trong tạp chí thông tin khoa học giáo dục mầm non số 2 05/99, “Giáo dục HVVH cho trẻ mẫu giáo” của tác giả Phan Thị Ngọc Anh (viện khoa học giáo dục Việt Nam) trong tạp chí giáo dục mầm non Số 2 – 2008, “Thực trạng giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi” của Hồ Sỹ Hùng trong tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM Số

57 năm 2014, “Tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề nhằm giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non” của tác giả Nguyễn Thị Huệ trong tạp chí giáo dục số 371 kì 1 – 12/2015, bài “Phát triển HVVH cho trẻ mẫu giáo trong hoạt động vui chơi” của các tác giả Ngô Huyền Nhung - Dương Thị Thúy Vinh trên Tạp chí VHNT số 406, tháng 4 - 2018…

Ngoài ra, vấn đề HVVH còn được nhiều tác giả nghiên cứu thông qua các luận

án, luận văn như: Hoàng Thị Phương (2003), luận án “Một số vấn biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ 5 - 6 tuổi”; Nguyễn Thị Hằng (1997), luận văn “Sự hình thành hành vi đạo đức ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ”; Trần Thị Thanh Thanh (2018), luận văn “Biện pháp giáo dục hành vi ứng xử xã hội cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề”, Ngô Thị Trúc Ly (2020), luận văn “Thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ

đề trong giáo dục HVVH cho trẻ 5 - 6 tuổi”,… Trong các luận án và luận văn nêu

Trang 22

trên thì luận văn của tác giả Ngô Thị Trúc Ly (2020), “Thực trạng sử dụng phương pháp dùng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ 5 -

6 tuổi” là luận văn được nghiên cứu với sát đề tài chúng tôi đang nghiên cứu nhất; Tuy nhiên luận văn chưa nêu rõ được những lí luận về TCĐVCCĐ, cũng như chưa làm rõ vấn đề giáo dục HVVH qua TCĐVCCĐ và chúng tôi sẽ làm rõ nó trong luận văn của mình

1.2 Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em 5-6 tuổi

1.2.1 Giáo dục

Có rất nhiều khái niệm giáo dục được đưa ra như:

Theo Wikipedia: “Giáo dục theo nghĩa chung là hình thức học tập theo

đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học.” (https://vi.wikipedia.org/wiki/Giáo_dục)

Trong cuốn “Từ điển giáo dục học”, giáo dục được định nghĩa là:

“Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội” (Bùi Hiền, 2001) Còn trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt”, giáo dục được định nghĩa là:

“Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền

cho lớp người mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội và về tư duy, để họ có thể có đầy đủ khả năng tham gia vào lao

động và đời sống sản xuất” (Văn Tân, 1994)

“Giáo dục là tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” (Nguyễn như Ý, 1998)

Trong luận văn, người nghiên cứu sử dụng khái niệm giáo dục theo hướng quá trình giáo dục Trong đó, giáo dục được định nghĩa như sau:

Trang 23

“Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn

bị con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người” (Hà Thế Ngữ, 2001, tr.11)

Định nghĩa trên nêu lên 4 đặc trưng chủ yếu của giáo dục (Hà Thế Ngữ, 2001, tr.11-12):

- Đó là quá trình đào tạo con người, hình thành những sức mạnh bản chất của con người, tác động đến sự phát triển của con người

- Đó là một qúa trình tự giác có mục đích từ trước

- Đó là quá trình chuẩn bị cho con người tham gia vào đời sống xã hội

- Quá trình đó được tiến hành bằng nhiều con đường, nhiều phương tiện, nhiều biện pháp khác nhau

Quá trình giáo dục mầm non là “một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách trẻ em lứa tuồi mầm non, được tổ chức có mục đích và có kế hoạch thông qua các hoạt động giáo dục cùng nhau giữa nhà giáo dục với trẻ em nhằm chiếm lĩnh kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người” (Nguyễn Thị Hòa, 2011, tr.17)

Qúa trình giáo dục mầm non bao gồm các thành tố sau:

- “Mục tiêu giáo dục mầm non: là một bộ phận của mục đích giáo dục tổng thể, nó chính là mô hình nhân cách trẻ mầm non phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của

xã hội trong giai đoạn nhất định Nó cũng là những dự kiến về kết quả đạt được của qua trình giáo dục mầm non trong thời gian nhất định” (Nguyễn Thị Hòa, 2011, tr.17)

“Mục tiêu giáo dục mầm non còn là những dự kiến về kết quả đạt được của quá trình giáo dục mầm non trong một thời gian nhất định” (Nguyễn Thị Hòa, 2011, tr.17)

Mục tiêu giáo dục mầm non được xác định là:

+ “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một” (Bộ Giáo dục

và đào tạo, 2017)

Trang 24

+ “Hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khà năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các câp học tiếp theo và cho việc học suốt đời” (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2017)

- “Nội dung giáo dục mầm non: là bộ phận được chọn lọc của kinh nghiệm xã hội và của nền văn hóa của loài người Đây chính là các nội dung chăm sóc và giáo dục trẻ em” (Nguyễn Thị Hòa, 2011, tr.84)

Có thể nói nội dung giáo dục mầm non là hệ thống giá trị (kiến thức, kĩ năng, giá trị đạo đức, khuôn mẫu hành vi ứng xử…) được lựa chọn của kinh nghiệm xã hội và của nền văn hóa loài người cần hình thành ở người học

Nội dung giáo dục mầm non phải:

+ “Đảm bảo phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, giúp trẻ phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà cha mẹ, thầy giáo và người trên, yêu quý anh chị em, bạn bè, thật thà mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học” ( điều 23 Luật Giáo dục, 2005)

+ Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hòa nhập vào cuộc sống” (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2017)

- Phương pháp giáo dục mầm non: là cách thức, con đường hoạt động hợp tác cùng nhau giữa giáo viên với trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục mầm non (Nguyễn Thị Hòa, 2011, tr.18)

Trong giáo dục mầm non hiện nay thường sử dụng các phương pháp sau: + Phương pháp trực quan (quan sát kết hợp với các giác quan khác)

+ Phương pháp dùng lời nói (đàm thoại, trò chuyện, kể…)

+ Phương pháp thực hành trải nghiệm (thực hành, luyện tập, sử dụng trò chơi, làm thí nghiệm đơn giản)

+ Tạo tình huống giáo dục

Trang 25

“Những phương tiện giáo dục bao gồm cơ sở vật chất, thiết bị, tài liệu và cả con người” (Hà Thế Ngữ, 2001, tr.12)

- Nhà giáo dục: giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn điều khiển quá trình giáo dục giúp trẻ chiếm lĩnh những kinh nghiệm lịch sử - xã hội loài người, hình thành và phát triển nhân cách trẻ mầm non (Nguyễn Thị Hòa, 2011, tr.18)

- Người được giáo dục: là đối tượng chịu sự tác động giáo dục của nhà giáo dục đồng thời vừa là chủ thể tích cực hoạt động và tự giáo dục (Nguyễn Thị Hòa,

1.2.2 Giáo dục hành vi văn hóa

1.2.2.1 Hành vi

Có nhiều khái niệm về hành vi như sau:

Những người theo chủ nghĩa hành vi mà đại diện là chủ nghĩa hành vi cổ điển

do G Oat-xơn (1878-1958) đề xướng vào năm 1913 tại trường đại học Sicagô cho rằng “hành vi người, tức là mọi ứng xử và từ ngữ của con người cà những cái di truyền lẫn những cái tự tạo làm đối tượng nghiên cứu Đó là việc nghiên cứu con người làm gì, bắt đầu từ trong bào thai đến lúc chết”

Trang 26

Khác với quan điểm trên, chủ nghĩa Macxit lại có quan điểm về hành vi như sau: “Hành vi là cuộc sống, lao động, thực tiễn, tức là hoạt động Hành vi là biểu hiện bên ngoài của hoạt động, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lí bên trong của chủ thể”

Nhà tâm lí L.X.Vưgôtxki và P.La.Galperin cho rằng “hành vi là hành động nhằm vào bản thân để tổ chức hành vi của mình, đồng thời tham gia vào hoạt động bên ngoài, tác động lên đối tượng bên ngoài”

Theo Wikipedia: “Hành vi là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại Hành động là toàn thể những hoạt động (phản ứng, cách ứng xử) của cơ thể, có mục đích

cụ thể là nhằm đáp ứng lại kích thích ngoại giới, là hành động hoặc phản ứng của đối tượng (khách thể) hoặc sinh vật, thường sử dụng trong sự tác động đến môi trường, xã hội”

Theo từ điển Tiếng Việt thì “hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định” (Văn Tân, 1994)

“Hành vi là phản ứng và hành động của con người và động vật, thể hiện các quan hệ với môi trường bên ngoài Hành vi của con người là hệ thống các hành động của một nhân cách có ý thức, trong đó thể hiện trước hết những mối quan hệ của con người với môi trường xã hội” (Bùi Hiền, 2001)

Theo tác giả Nguyễn Như ý, “hành vi là cách ứng xử trong hoàn cảnh nhất định được biểu hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định” (Nguyễn như Ý,1999)

Từ những phân tích trên giúp người nghiên cứu hiểu được “hành vi là cách ứng

xử của con người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định với sự điều khiển, điều chỉnh của tâm lí, ý thức người đó”

1.2.2.2 Văn hóa

Có rất nhiều khái niệm về văn hóa như:

Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người

Trang 27

sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (Trần Ngọc Thêm, 1997)

Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO năm 1982:

“Văn hóa” được hiểu theo 2 nghĩa như sau:

+ Theo nghĩa rộng: “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội”

+ Theo nghĩa hẹp: “Văn hóa là tổng thể hệ thống những biểu tượng, chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong mỗi cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng Văn hóa bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giá một sự việc, một hiện tượng theo cộng đồng ấy”

Đến năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”

Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn Ngữ và Văn Hóa Việt Nam – Bộ Giáo dục và Đào Tạo định nghĩa rằng “văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử” (Nguyễn như Ý, 1999)

Trong cuốn từ điển Tiếng Việt, tác giả Văn Tân cho rằng “văn hóa là toàn thể những thành tựu của loài người trong sản xuất, xã hội và tinh thần” (Văn Tân, 1994)

Tác giả trong cuốn từ điển giáo dục học cho rằng “văn hóa là tổng thể nói chung các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch

sử đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội để tốn tại và phát triển” (Bùi Hiền, 2001)

Trong từ điển Tiếng Việt của ngôn ngữ học (2004) thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt

Trang 28

động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội” (Viện Ngôn ngữ học, 2004)

Theo nhóm tác giả Đặng Thai Mai, Nguyễn Hữu Đang định nghĩa thì: “Văn hóa là thể hiện ở học thuật, văn chương, nghệ thuật, luân lý, tôn giáo, phong tục của một dân tộc Và ta cũng có thể trong một phạm vi nào, nhận thấy trình độ văn hóa của một người ở sở thích, ở sự phán đoán, cùng cách làm việc của người ấy” (Đặng Thai Mai & Nguyễn Hữu Đang, 1997)

Như vậy, từ những khái niệm trên người nghiên cứu cho rằng: “Văn hóa là tổng thể các giá trị, chuẩn mực, là những cái tốt đẹp được tích lũy trong đời sống con người”

1.2.2.3 Hành vi văn hóa

Theo từ điển Tiếng Việt thì “ HVVH là cách ứng xử của con người, biểu hiện văn minh trong một hoàn cảnh nhất định” (https://vtudien.com/viet-viet/dictionary/nghia-cua-tu-h%C3%A0nh%20vi%20v%C4%83n%20h%C3%B3a) Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, “HVVH là những phản ứng, cách ứng xử của con người trước một hoàn cảnh cụ thể, bị chi phối bởi hệ thống giá trị văn hóa của của một dân tộc; được điều chỉnh bởi tâm lý, ý thức cụ thể khiến cho cách ứng xử

ấy mang tính đặc thù của hoàn cảnh xã hội, lịch sử” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2008)

Từ đó ta có thể hiểu “HVVH chính là những phản ứng, cách ứng xử của con người trước một hoàn cảnh cụ thể, bị chi phối bởi hệ thống giá trị văn hóa của dân tộc; được điều chỉnh bởi tâm lý, ý thức của chủ thể” Nghĩa là con người phải dựa vào các quy tắc, chuẩn mực xã hội để làm cơ sở điều chỉnh hành vi phù hợp với điều kiện xã hội cũng như phù hợp với lứa tuổi

1.2.2.4 Các loại hành vi văn hóa

Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, HVVH được chia thành các loại sau đây:

- HVVH xã giao

Con người mỗi khi tiếp xúc với nhau thường sẽ thể hiện những hành vi mang tính xã giao như: chào hỏi, nói cám ơn, xin lỗi, chúc nhau những lời tốt đẹp, khen nhau Và đó là những HVVH đích thực, những HVVH này được gọi là HVVH xã

Trang 29

giao HVVH xã giao là loại hành vi phải giáo dục và rèn luyện hằng ngày mới có được

- HVVH xúc cảm

Con người đôi lúc có cảm xúc giận hờn, yêu thương, ghét bỏ…đối với người khác Thái độ, tình cảm đó được biểu hiện ra bên ngoài bằng cử chỉ, hành động, lời nói khiến người ngoài có thể cảm nhận được khi giao tiếp, đó chính là HVVH cảm xúc Đời sống tình cảm của mỗi con người thường được tạo nên từ những HVVH cảm xúc, HVVH cảm xúc không chỉ được biểu hiện giữa người với người mà cón biểu hiện giữa người với thiên nhiên

- HVVH nhận thức

“Từ những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống hằng ngày đến những điều lớn lao

về xã hội và tự nhiên đều đòi hỏi con người luôn luôn khám phá để có được nhận thức đúng, vì nó mang tính định hướng cao cho hành vi” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006) Con người luôn tìm tòi, khám phá để nâng cao sự hiểu biết của bản thân mình và điều đó thể hiện ở những HVVH nhận thức Sự tìm tòi, khám phá của con người được thực hiện qua những con đường sau:

+ Qua giao tiếp

+ Tiếp xúc với sách báo

+ Tự tìm kiếm, tự khám phá trong thực tiễn

- HVVH đánh giá

“Khi tiếp xúc với những người xung quanh, ta nhìn thấy được những đặc điểm của họ, từ đó đem so sánh, đối chiếu với bản thân mình để từ đó đánh giá bản thân mình Từ việc đánh giá người khác mà việc đánh giá bản thân (hay tự đánh giá)

Trang 30

được hình thành và phát triển, khả năng đó được biểu hiện bằng những HVVH đánh giá”(Nguyễn Ánh Tuyết, 2006)

HVVH đánh giá được thực hiện hai chiều: đánh giá người khác và tự đánh giá Khi đánh giá người khác hay tự đánh giá đều cần phải có sự công bằng, trung thực

“Việc phân chia HVVH ra làm nhiều loại như trên là để nghiên cứu theo chiều sâu của nó” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006) Tuy nhiên trong thực tế lại rất khó

phân chia rạch ròi ra từng loại cụ thể, thông thường các hành vi văn hóa đều mang tính tích hợp cho nên sự phân chia thành các loại HVVH như trên chỉ mang tính ước lệ

1.2.2.5 Giáo dục hành vi văn hóa

- Có rất nhiều khái niệm về giáo dục HVVH và người nghiên cứu cho rằng:

“Giáo dục HVVH là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đến người học, thông qua việc tổ chức hợp lý các loại hình hoạt động và rèn luyện cho người học, nhằm hình thành và phát triển ở người học nhận thức đúng đắn và tình cảm tích cực đối với HVVH, có nhu cầu và tính sẵn sàng học tập, có thói quen

- Các phương pháp giáo dục HVVH:

Trong quá trình giáo dục HVVH nhà giáo dục thường sử dụng phối hợp các biện pháp giáo dục sau:

+ Phương pháp trực quan (quan sát kết hợp với các giác quan khác)

+ Phương pháp dùng lời nói (đàm thoại, trò chuyện, kể…)

+ Phương pháp thực hành trải nghiệm (thực hành, luyện tập, sử dụng trò chơi, làm thí nghiệm đơn giản)

+ Tạo tình huống giáo dục

Trang 31

+ Động viên khuyến khích

+ Đánh giá

- Kết quả của quá trình giáo dục HVVH là khả năng, mức độ HVVH mà người học đạt được sau quá trình giáo dục HVVH

1.2.3 Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi

1.2.3.1 Đặc điểm phát triển hành vi văn hóa của trẻ 5-6 tuổi

Trẻ 5-6 tuổi có các đặc điểm phát triển HVVH sau:

- Tính hợp lí trong hành vi:

Cuối tuổi mẫu giáo xuất hiện tư duy trực quan hình tượng mới – tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic nhờ đó hành vi của chúng đã bắt đầu có tính hợp lí

Cuối tuổi mẫu giáo hành vi của trẻ đã mang tính hợp lí hơn, trẻ đã dần biết kiềm chế những mong muốn cá nhân chưa phù hợp với chuẩn mực xã hội Trẻ có mong muốn và biết thực hiện theo đúng những quy định, chuẩn mực xã hội vì muốn mình là “một người lớn” Trẻ ở lứa tuổi này đã biết phân biệt được những hành vi đúng – sai trong cuộc sống hàng ngày và thường chú ý đến những vấn đề quen thuộc như luật lệ giao thông, cất dọn đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định, vệ sinh cá nhân sạch sẽ, bỏ rác đúng nơi quy định…

- Động cơ xã hội rõ nét và tương đối ổn định:

Nếu thời gian trước, trẻ hay dễ thay đổi thái độ, sở thích, ý tưởng, lời hứa của mình đã nói ra thì giờ đây trẻ có thể giữ chúng trong một thời gian dài hơn, có thể vài ngày hoặc vài tuần Động cơ xã hội trong lứa tuồi này là động cơ được phát triển nhanh nhất và tương đối lâu bền Trẻ thường muốn thể hiện bản thân mình đã lớn nên sẽ chú ý đến cách ứng xử với mọi người xung quanh một cách đúng chuẩn mực và những HVVH đó sẽ ngày càng phát triển

- Sự phát triển ý chí trong hành vi của trẻ:

“Ý chí xuất hiện ở trẻ mẫu giáo như là sự điều chỉnh có ý thức đối với hành

vi Điều đó thể hiện trước hết là trẻ biết kiểm tra hành vi của mình và kiềm chế những ham muốn vô lí Tuy còn nhiều hành vi bộc phát nhưng nhìn chung hành vi của trẻ ngày càng bị ý chí chi phối rõ rệt” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006)

Trang 32

Trẻ nhìn nhận được sự đúng - sai của sự việc và có sự cố gắng thực hiện những hành vi theo đúng chuẩn mực xã hội

- Biết đánh giá và tự đánh giá hành vi:

“Việc đánh giá hành vi của người khác và tự đánh giá hành vi của bản thân, không phải đến bây giờ mới có, nhưng càng về cuối tuổi mẫu giáo việc đó thường xuyên hơn và rõ ràng hơn” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2016)

Trẻ biết nhận xét hành vi của mình và hành vi của những người xung quanh, biết so sánh và đưa ra nhận xét đúng sai, tuy nhiên không phải lúc nào những nhận xét này cũng chính xác nên vẫn cần sự giúp đỡ, hướng dẫn từ người lớn

Qua đây có thể thấy rằng lứa tuổi 5-6 tuổi là lứa tuổi quan trọng trong quá trình giáo dục HVVH cho trẻ mầm non Những HVVH được giáo dục và hình thành trong giai đoạn này chính là nền tảng, là cơ sở cho việc phát triển nhân cách của trẻ sau này và sự giáo dục của người lớn có vai trò rất quan trọng, nó có đóng góp to lớn trong giai đoạn này

1.2.3.2 Mục tiêu giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi

- Trong quá trình giáo dục HVVH mục tiêu giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi được xác định là: hình thành và phát triển những kỹ năng thực hiện các HVVH phù hợp với chuẩn mực văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc, của xã hội Việt Nam

và phù hợp với trẻ 5-6 tuổi

- Trong chương trình giáo dục mầm non mục tiêu giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi là nhằm giúp trẻ:

+ Có một số thói quen, hành vi tốt trong ăn uống và vệ sinh phòng bệnh

+ Mạnh dạn, tự tin, chủ động trong giao tiếp

+ Hợp tác, chia sẻ với bạn bè trong các hoạt động

+ Có hành vi ứng xử đúng với bản thân và những người xung quanh

+ Có hành vi, thái độ thể hiện sự quan tâm đến những người gần gũi

+ Vui vẻ nhận và thực hiện công việc được giao đến cùng

+ Thực hiện một số quy định trong gia đình, trường lớp mầm non, nơi công cộng

Trang 33

+ Giữ gìn và bảo vệ môi trường: bỏ rác đúng nơi quy định; chăm sóc vật nuôi, cây cảnh; giữ gìn đồ dùng, đồ chơi; có ý thức tiết kiệm

+ Thích tìm hiểu và bộc lộ cảm xúc phù hợp trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống, các tác phẩm nghệ thuật

+ Biết nhận xét và giữ gìn sản phẩm của mình, của bạn

Chương trình giáo dục mầm non có mục tiêu nhằm phát triển hào hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mĩ Chính

vì thế trong chương trình giáo dục mầm non, mục tiêu giáo dục HVVH được lồng ghép, xen kẻ vào trong tất cả các mặt phát triển của trẻ

1.2.3.3 Nội dung giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi

 Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết (2006) thì giáo dục HVVH có những nội dung sau:

- Giáo dục hành vi văn hóa cho bản thân:

+ Giáo dục cho trẻ hành vi văn hóa vệ sinh: Giáo dục hành vi văn hóa vệ sinh tức là dạy cho trẻ giải quyết những nhu cầu về ăn, mặc, vệ sinh thân thể, tư thế đi, đứng, nằm, ngồi một cách lịch sự, đúng với chuẩn mực xả hội sao cho mọi người nhìn nhận như là một người có văn hóa

+ Giáo dục hành vi văn hóa tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày: tức là dạy trẻ tự lực làm các việc trong sinh hoạt hằng ngày cho bản thân Đây được xem là một nội dung quan trọng trong việc hình thành hành vi văn hóa, giúp trẻ tự lập trong cuộc sống sau này Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ trong việc tự phục vụ bao gồm các nội dung sau đây: Tự ăn uống, tự mặc quần áo, tự đánh răng, rửa mặt,

đi vệ sinh

- Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với người xung quanh:

“Hành vi văn hóa là cách ứng xử của mọi người đối với xung quanh nói chung, nhưng trước hết và cơ bản nhất là đối với mọi người trong xã hội” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006)

Trong cả quá trình từ khi sinh ra, trưởng thành và già đi, mỗi con người đều phải sống và làm việc trong môi trường xã hội Và mỗi cá nhân phải tự hình thành

Trang 34

và phát triển hành vi văn hóa của mình để phù hợp với những mối quan hệ xã hội trong môi trường đó

+ Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với người trong gia đình:

Một đứa trẻ được sinh ra trong một gia đình như thế nào thì sẽ mang đậm nét văn hóa của gia đình đó Chính vì thế chúng ta có thể nói giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ trong gia đình là một nội dung rất quan trọng vì nó được xem như là nền tảng trong giáo dục nhân cách của trẻ sau này

+ Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với người ngoài xã hội:

Cần tập cho trẻ mạnh dạn và biết cách ứng xử phù hợp với những người xung quanh Đối với người lớn, trẻ chào hỏi lễ phép, đối với bạn bè cùng trang lứa, trẻ

có thái độ thân thiện, vui vẻ, biết yêu thương, chia sẻ và quan tâm giúp đỡ khi cần Giáo dục trẻ có thái độ thương xót, biết quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ đối với những người có hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh như: người tàn tật, người già neo đơn, trẻ mồ côi, người có hoàn cảnh gia đình khó khăn…

Ngoài ra cần giáo dục cho trẻ biết tuân thủ những quy định, những luật lệ chung như: Giữ gìn trật tự, vệ sinh nơi công cộng, tuân thủ luật an toàn giao thông…

+ Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với Bác Hồ và quê hương đất nước: Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với Bác Hồ là dạy trẻ biết yêu quý và kính trọng Bác Hồ và cố gắng chăm ngoan học giỏi để trở thành cháu ngoan của Bác

Thông qua các câu chuyện, hình ảnh, buổi đi tham quan, lễ hội… giúp trẻ cảm nhận được vẻ đẹp của nơi mình đang sống từ đó giáo dục trẻ biết yêu quê hương đất nước

“Hành vi ứng xử đúng mức đối với những người xung quanh được coi là cái

cơ bản nhất trong hệ thống hành vi văn hóa của con người Hệ thống hành vi văn hóa đó của trẻ được phát triển tốt đẹp, vững chắc, đó là bảo đảm bằng vàng cho một nhân cách tử tế sau này” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006)

+ Giáo dục trẻ hành vi giao tiếp có văn hóa:

Trang 35

Hành vi giao tiếp có văn hoá đối với những người xung quanh là một bộ phận quan trọng trong hệ thống hành vi văn hoá của con người

- Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với đồ dùng, đồ chơi:

+ Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với đồ dùng: Dạy trẻ biết quý trọng, giữ gìn đồ dùng xung quanh mình (ở trong gia đình, ở trường, ở những nơi công cộng…)

+ Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với đồ chơi:Với đồ chơi, cần giáo dục trẻ biết bảo vệ nó, không được vứt lung tung, đập phá, phải có trách nhiệm dọn dẹp sau chơi xong Ngoài ra, cần giáo dục trẻ biết chia sẻ đồ chơi với bạn, không tranh dành đồ chơi của bạn, khi thích đồ chơi của bạn thì phải biết trao đổi, xin phép bạn chơi cùng

- Giáo dục hành vi văn hóa đối với thiên nhiên:

Để giáo dục HVVH cho trẻ đối với thiên nhiên thì đầu tiên cần phải giúp trẻ

có hứng thú, kích thích sự tò mò muốn khám phá thiên nhiên và phải có tình cảm với nó

+ Dạy trẻ tìm tòi, khám phá thiên nhiên

+ Dạy trẻ gắn bó với thiên nhiên

+ Dạy trẻ chăm sóc, bảo vệ thiên nhiên

 Theo chương trình giáo dục mầm non và cơ sở nghiên cứu của Nguyễn Ánh Tuyết (2006) thì nội dung giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi bao gồm những nội dung sau:

- Giáo dục hành vi văn hóa cho bản thân:

+ Tập luyện kĩ năng đánh răng, lau mặt, rửa tay bằng xà phòng

+ Đi vệ sinh đúng nơi quy định, sử dụng đồ dùng vệ sinh đúng cách

+ Thực hiện công việc được giao (trực nhật, xếp dọn đồ chơi…)

+ Chủ động và độc lập trong một số hoạt động

+ Mạnh dạn, tự tin bày tỏ ý kiến

+ Nhận xét và tỏ thái độ với hành vi “đúng” – “sai”, “tốt” – “xấu”

+ Lễ phép, chủ động, tự tin trong giao tiếp

- Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với người xung quanh:

Trang 36

+ Vị trí và trách nhiệm của bản thân trong gia đình và lớp học

+ Bày tỏ tình cảm phù hợp với trạng thái cảm xúc của người khác trong các tình huống giao tiếp khác nhau

+ Quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ bạn

- Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với đồ dùng, đồ chơi:

+ Giữ gìn, bảo vệ sách

+ Thực hiện một số quy định ở lớp, gia đình và nơi công cộng (để đồ dùng,

đồ chơi đúng chỗ)

- Giáo dục hành vi văn hóa đối với thiên nhiên:

+ Thể hiện thái độ, tình cảm khi nghe âm thanh gợi cảm, các bài hát, bản nhạc và ngắm nhìn vẻ đẹp của các sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên, cuộc sống

và tác phẩm nghệ thuật

+ Quan tâm đến di tích lịch sử, cảnh đẹp, lễ hội của quê hương đất nước Các nội dung HVVH được lồng ghép, xen kẽ trong nội dung phát triển các mặt phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mĩ

 Theo Bộ chuẩn phát triển 5 tuổi và cơ sở nghiên cứu của Nguyễn Ánh Tuyết (2006) thì nội dung giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ bao gồm những nội dung sau:

- Giáo dục hành vi văn hóa cho bản thân:

+ Chỉ số 15 Biết rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn

+ Chỉ số 16 Tự rửa mặt, chải răng hàng ngày

+ Chỉ số 17 Che miệng khi ho, hắt hơi, ngáp

+ Chỉ số 18 Giữ đầu tóc, quần áo gọn gang

+ Chỉ số 28 Ứng xử phù hợp với giới tính của bản thân

Trang 37

+ Chỉ số 31 Cố gắng thực hiện công việc đến cùng

+ Chỉ số 34 Mạnh dạn nói ý kiến của bản thân

+ Chỉ số 20 Biết và không ăn, uống một số thứ có hại cho sức khỏe

- Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với người xung quanh:

+ Chỉ số 37 Thể hiện sự an ủi và chia vui với người thân và bạn bè

+ Chỉ số 40 Thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh + Chỉ số 41 Biết kiềm chế cảm xúc tiêu cực khi được an ủi, giải thích

+ Chỉ số 42 Dễ hoà đồng với bạn bè trong nhóm chơi

+ Chỉ số 43 Chủ động giao tiếp với bạn và người lớn gần gũi

+ Chỉ số 44 Thích chia sẻ cảm xúc, kinh nghiệm, đồ dùng, đồ chơi với những người gần gũi

+ Chỉ số 45 Sẵn sàng giúp đỡ khi người khác gặp khó khăn

+ Chỉ số 47 Biết chờ đến lượt khi tham gia vào các hoạt động

+ Chỉ số 48 Lắng nghe ý kiến của người khác

+ Chỉ số 49 Trao đổi ý kiến của mình với các bạn

+ Chỉ số 50 Thể hiện sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè

+ Chỉ số 51 Chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn

+ Chỉ số 52 Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác

+ Chỉ số 54 Có thói quen chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi và xưng hô lễ phép với người lớn

+ Chỉ số 59 Chấp nhận sự khác biệt giữa người khác với mình

+ Chỉ số 73 Điều chỉnh giọng nói phù hợp với tình huống và nhu cầu giao tiếp

+ Chỉ số 74 Chăm chú lắng nghe người khác và đáp lại bằng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt phù hợp

+ Chỉ số 75 Không nói leo, không ngắt lời người khác khi trò chuyện

+ Chỉ số 77 Sử dụng một số từ chào hỏi và từ lễ phép phù hợp với tình

huống

+ Chỉ số 78 Không nói tục, chửi bậy

- Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với đồ dùng, đồ chơi:

Trang 38

+ Chỉ số 81 Có hành vi giữ gìn, bảo vệ sách

- Giáo dục hành vi văn hóa đối với thiên nhiên:

+ Chỉ số 39 Thích chăm sóc cây cối, con vật quen thuộc

+ Chỉ số 57 Có hành vi bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày

Các chỉ số phát triển đã nêu lên những nội dung HVVH một cách cụ thể và tập trung trong các chuẩn sau:

+ Trẻ có hiểu biết, thực hành vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng

+ Trẻ thể hiện sự nhận thức về bản thân

+ Trẻ tin tưởng vào khả năng của bản thân

+ Trẻ biết cảm nhận và thể hiện cảm xúc

+ Trẻ có mối quan hệ tích cực với bạn bè và người lớn

+ Trẻ thể hiện sự hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh

+ Trẻ có các hành vi thích hợp trong ứng xử xã hội

+ Trẻ thể hiện sự tôn trọng người khác

+ Trẻ biết sử dụng lời nói để giao tiếp

+ Trẻ thực hiện một số quy tắc thông thường trong giao tiếp

+ Trẻ thể hiện hứng thú đối với việc đọc

+ Trẻ tò mò và ham hiểu biết

1.2.3.4 Phương pháp giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi

Sau đây là hệ thống phương pháp giáo dục HVVH cho trẻ được tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đưa ra trong tài liệu “Giáo trình giáo dục HVVH cho trẻ em”:

- Phương pháp dùng tình cảm để giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ

- Phương pháp dùng tác phẩm nghệ thuật

- Phương pháp dùng trò chơi

- Phương pháp luyện tập thường xuyên

- Phương pháp tạo dựng môi trường

- Phương pháp làm gương cho trẻ noi theo

- Phương pháp khen chê

- Phương pháp thống nhất tác động giáo dục

Trang 39

- Phương pháp lấy trẻ làm trung tâm

Với đề tài này, người nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu vào phương pháp

lấy trẻ làm trung tâm, phương pháp dùng trò chơi và trọng tâm đó là TCĐVCCĐ

- “Phương pháp lấy trẻ làm trung tâm không chỉ là phương pháp giáo dục cụ thể mà còn mang tính chất của phương pháp luận Sử dụng phương pháp này đòi hỏi người lớn khi giáo dục đạo đức cũng như hình thành hệ thống HVVH cho trẻ cần phải theo phương châm: vì trẻ em, do trẻ em và dựa vào trẻ em” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006)

Vì trẻ em, do trẻ em và dựa vào trẻ em được thể hiện trong việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ là cần phải xuất phát từ chính đứa trẻ, từ sự phát triển của đứa trẻ, luôn xem đứa trẻ là một chủ thể tích cực trong mọi hoạt động và phải dựa vào vốn kinh nghiệm của trẻ Những tác động giáo dục đến trẻ phải phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ và có tác dụng thúc đẩy sự phát triển đó Người lớn không vì ý muốn của cá nhân mình mà áp đặt lên trẻ

và phải làm sao để cho trẻ cảm thấy vui tươi thoải mái khi thực hiện những HVVH Cần khuyến khích trẻ chủ động thể hiện cách ứng xử của mình đối với xung quanh, đặc biệt là chấp nhận những kiểu hành vi theo ý riêng của trẻ miễn sao hành vi đó không sai phạm gì về đạo đức

- Phương pháp dùng trò chơi giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi có trọng tâm là dùng TCĐVCCĐ

“Khi tham gia vào TCĐVCCĐ, đứa trẻ trải nghiệm được những thái độ đạo đức và tập dượt những hành vi ứng xử đối với những người xung quanh bằng việc nhập vào các vai để thực hiện chức năng xã hội trong các mối quan hệ đó, qua đó

mà trẻ học làm người” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006) Có thể nói rằng thông qua TCĐVCCĐ, trẻ được thực hành và rèn luyện những HVVH với những người xung quanh

Khi giáo dục HVVH cho trẻ qua TCĐVCCĐ cần chú ý mấy điểm sau: + Khi tổ chức TCĐVCCĐ cần chọn những trò chơi có chủ đề, nội dung lành mạnh, bổ ích, không chọn những trò chơi có nội dung bạo lực hoặc phản

Trang 40

ánh những hiện tượng, sự việc tiêu cực để tránh cho trẻ học theo những cái

+ Cuộc sống xã hội luôn biến đổi nên sự mô phỏng nó vào những trò chơi cũng đòi hỏi phải được đổi mới Nội dung chơi quen thuộc và không được thường xuyên đổi mới sẽ làm cho trẻ dễ nhàm chán và không học được nhiều giá trị giáo dục qua trò chơi Giáo viên cần thường xuyên thay đổi và mở rộng chủ đề, nội dung chơi để kích thích sự hứng thú của trẻ và giúp trẻ tiếp xúc nhiều hơn với cuộc sống hiện đại và thực hiện được nhiều HVVH phù hợp với cuộc sống hơn

+ Người lớn cần thường xuyên tạo ra các tình huống có vấn đề trong TCĐVCCĐ để gợi lên ở trẻ thái độ đạo đức và hành vi ứng xử với người xung quanh Từ đó giúp cho việc học và thực hành các HVVH được tốt hơn

1.2.3.4.1 Nguyên tắc giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi

- Giáo dục HVVH cần phải phù hợp với từng độ tuổi:

Trẻ càng lớn thì khả năng nhận thức của trẻ cũng càng ngày cao, chính vì vậy tất cả mọi sự giáo dục đều cần phải phù hợp với từng độ tuổi, từng giai đoạn phát triển và giáo dục HVVH cho trẻ cũng như vậy

“Một điều có tính chất nguyên tắc cần được lưu ý trong việc giáo dục HVVH cho trẻ là không bao giờ làm cho các cháu già đi trước tuổi, không biến các cháu thành những "người già sớm", không lấy người lớn làm chuẩn buộc trẻ phải tuân theo, vì dù sao trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo vẫn là những cháu còn rất bé” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006) Tùy vào từng lứa tuổi để có sự giáo dục HVVH khác nhau, không thể áp đặt bắt trẻ phải đáp ứng được các chuẩn mực của người lớn Khi giáo

Ngày đăng: 31/08/2023, 16:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Danh sách trường MN tiến hành nghiên cứu thực trạng: - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Bảng 2.1. Danh sách trường MN tiến hành nghiên cứu thực trạng: (Trang 66)
Bảng 2.3. Thâm niên công tác  của GVMN - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Bảng 2.3. Thâm niên công tác của GVMN (Trang 68)
Bảng 2.5. Nhận thức của GVMN về nội dung giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi  qua TCĐVCCĐ - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Bảng 2.5. Nhận thức của GVMN về nội dung giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ (Trang 70)
Bảng 2.6. Nguyên nhân dẫn đến một số HVVH của trẻ chưa được hình thành - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Bảng 2.6. Nguyên nhân dẫn đến một số HVVH của trẻ chưa được hình thành (Trang 72)
Bảng  2.8.  Thực  trạng  GVMN  tiếp  cận  nội  dung  giáo  dục  HVVH  cho  trẻ  5-6  tuổi qua TCĐVCCĐ - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
ng 2.8. Thực trạng GVMN tiếp cận nội dung giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ (Trang 75)
Bảng 2.9. Hình thức được sử dụng để giáo dục HVVH thường dạy cho trẻ 5-6  tuổi qua TCĐVCCĐ - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Bảng 2.9. Hình thức được sử dụng để giáo dục HVVH thường dạy cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ (Trang 77)
Bảng 2.10. Thực trạng đánh giá hiệu quả của việc giáo dục HVVH cho trẻ 5-6  tuổi qua TCĐVCCĐ - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Bảng 2.10. Thực trạng đánh giá hiệu quả của việc giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ (Trang 78)
Bảng 2.11. Khó khăn của GV gặp phải khi giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua  TCĐVCCĐ - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Bảng 2.11. Khó khăn của GV gặp phải khi giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ (Trang 78)
Bảng  2.12.  Thực  trạng  lập  kế  hoạch  giáo  dục  HVVH  cho  trẻ  5-6  tuổi  qua  TCĐVCCĐ  của GVMN - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
ng 2.12. Thực trạng lập kế hoạch giáo dục HVVH cho trẻ 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ của GVMN (Trang 80)
Bảng 2.13. Thực trạng nội dung trong kế hoạch giáo dục của GVMN - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Bảng 2.13. Thực trạng nội dung trong kế hoạch giáo dục của GVMN (Trang 82)
Hình thức tổ chức - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Hình th ức tổ chức (Trang 84)
Bảng 2.18. Những nội dung giáo dục HVVH trẻ thể hiện qua TCĐVCCĐ trong  các hoạt động tại trường mầm non - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Bảng 2.18. Những nội dung giáo dục HVVH trẻ thể hiện qua TCĐVCCĐ trong các hoạt động tại trường mầm non (Trang 89)
Bảng 2.21. Mức độ khả thi của các biện pháp - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Bảng 2.21. Mức độ khả thi của các biện pháp (Trang 103)
Hình thức tiếp cận kiến thức - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Hình th ức tiếp cận kiến thức (Trang 118)
Hình thức tổ chức - Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi đóng vai có chủ đề
Hình th ức tổ chức (Trang 119)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w