Nội dung luận án: Hiện trạng sản xuất và tiêu thụ xoài tại huyện Phù Cát. + Hiện trạng sản xuất xoài tại huyện Phù Cát. + Tình hình tiêu thụ xoài tại huyện Phù Cát Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác nâng cao năng suất và chất lượng giống xoài cát Hòa Lộc tại huyện Phù Cát. + Nghiên cứu xác định kỹ thuật tưới nước phù hợp. + Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật tưới nước kết hợp bón phân. + Nghiên cứu xác định biện pháp quản lý dịch hại hiệu quả. + Nghiên cứu xác định biện pháp xử lý ra hoa tập trung. + Nghiên cứu xác định kỹ thuật cắt tỉa phù hợp. Kết quả áp dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật trên giống xoài Cát Hòa Lộc tại huyện Phù Cát + Tình hình sâu bệnh hại, năng suất và chất lượng quả trong mô hình trình diễn + Chất lượng và hiệu quả kinh tế của mô hình áp dụng kết quả tổng hợp . Những kết quả mới của luận án: Xác định được phương pháp tưới cho vườn xoài giai đoạn kinh doanh bằng ống dẫn thông qua chảo bốc thoát hơi nước (Mini pan) làm tăng năng suất, và tăng lãi ròng so với phương pháp tưới truyền thống. Đặc biệt khi sử dụng phương pháp tưới nước kết hợp với bón phân hòa tan thông qua hệ thống tưới với liều lượng 3kg NPKS + 0,75kg KClcây năng suất thu được tăng lên rất đáng kể. Hoàn thiện kỹ thuật phòng trừ tổng hợp một số sâu bệnh hại xoài chủ yếu bằng biện pháp vệ sinh đồng ruộng, cắt tỉa cành sau thu hoạch, bón phân hợp lý kết hợp với sử dụng đúng phương pháp, có chọn lọc các chủng loại thuốc sâu bệnh có nguồn gốc hóa học đặc trị làm giảm rõ rệt tỷ lệ bị nhiễm, nâng cao năng suất Xác định được kỹ thuật xử lý ra hoa giống xoài cát Hòa Lộc tại huyện Phù Cát có tác động nâng cao tỷ lệ ra hoa và năng suất rõ rệt bằng tổ hợp PBZ + MKP + Thiourea tại các thời điểm tuổi chổi 15 ngày và tuổi chồi 45 ngày
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng công trình nghiên cứu khoa học của luận án này
là của riêng tôi Các kết quả, số liệu và hình ảnh trong luận án là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tác giả luận án
NCS Nguyễn Tấn Hưng
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với hai thầy hướng dẫn khoa học
là TS Hồ Huy Cường - Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ; GS.TS Vũ Mạnh Hải nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Hai thầy đã chỉ bảo, dìu dắt, giúp đỡ tận tình về nội dung, phương pháp nghiên cứu, phân tích kết quả và luôn luôn đồng hành, động viên tôi trong suốt quả trình học tập để hôm nay bản luận án
đã được hoàn thành
Nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể thầy cô của Ban Thông tin và Đào tạo - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập của tôi Tôi cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và tập thể cán bộ Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ - Trung Tâm Nghiên cứu và Phát triển cây Lâu năm đã dành cho tôi thời gian tốt nhất và hỗ trợ mọi mặt trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các đồng nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu của luận án đã đóng góp những ý kiến quý báu về chuyên môn và cung cấp tư liệu để tôi hoàn thành luận án này
Sau cùng, tôi muốn được nói lời cám ơn rất chân tình đến Gia đình, những người thân đã luôn bên cạnh động viên khích lệ, tiếp thêm sức mạnh và nghị lực để tôi hoàn thiện công trình nghiên cứu này Nghiên cứu sinh xin chân thành cảm ơn!
Bình Định, ngày tháng năm 2023
Tác giả
NCS Nguyễn Tấn Hưng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
5 Những đóng góp mới của đề tài 5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC 6
1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu cây xoài trên thế giới 6
1.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ xoài trên thế giới 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây xoài trên thế giới 7
1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu cây xoài ở Việt Nam 22
1.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ xoài ở Việt Nam 22
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây xoài ở Việt Nam 23
1.3 Các nhận xét rút ra từ tổng quan nghiên cứu 38
Trang 6CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 40
2.1 Vật liệu nghiên cứu: 40
2.3.1 Hiện trạng sản xuất và tiêu thụ xoài tại huyện Phù Cát: 42
2.3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác nâng cao năng suất và chất lượng giống xoài cát Hòa Lộc tại huyện Phù Cát 42
2.3.2.1 Nghiên cứu xác định kỹ thuật tưới nước phù hợp 42
2.3.2.2 Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật tưới nước kết hơp bón phân 44
2.3.2.3 Nghiên cứu xác định biện pháp quản lý dịch hại hiệu quả 44
2.3.2.4 Nghiên cứu xác định biện pháp xử lý ra hoa tập trung 48
2.3.2.5 Nghiên cứu xác định kỹ thuật cắt tỉa phù hợp 49
2.3.2.6 Đánh giá tổng hợp các kết quả nghiên cứu 50
2.3.3.1 Chỉ tiêu theo dõi 50
2.3.3.2 Kỹ thuật sử dụng trong các thí nghiệm: 50
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 57
3.1 Hiện trạng sản xuất và tiêu thụ xoài tại huyện Phù Cát 57
3.1.1 Điều kiện khí hậ, đất đai của huyện Phù Cát 57
3.1.2 Hiện trạng sản xuất xoài tại huyện Phù Cát 60
3.1.2.1 Sự biến động về diện tích, năng suất, sản lượng xoài 60
3.1.2.2 Hiện trạng các yếu tố xã hội liên quan đến canh tác xoài ở Phù Cát 62
3.1.2.3 Hiện trạng các yếu tố sinh học liên quan đến canh tác xoài ở huyện Phù Cát 65
3.1.2.4 Hiện trạng các yếu tố kỹ thuật liên quan đến canh tác xoài ở huyện Phù Cát 68
3.1.3 Hiện trạng tình hình tiêu thụ xoài tại huyện Phù Cát 72
3.1.3.1 Chuỗi tiêu thụ sản phẩm xoài 72
3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác nâng cao năng suất và
Trang 7chất lượng giống xoài cát Hòa Lộc tại huyện Phù Cát 76
3.2.1 Đặc điểm khí hậu, thời tiết và tính chất vật lý, hóa học của đất ở vùng thí nghiệm 76
3.2.1.1 Đặc điểm thời tiết khu vực nghiên cứu 76
3.2.1.2 Đặc điểm đất đai khu vực nghiên cứu 77
3.2.2 Nghiên cứu xác định kỹ thuật tưới nước phù hợp 78
3.2.3 Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật tưới nước kết hợp bón phân 89
3.2.4 Nghiên cứu xác định biện pháp quản lý dịch hại hiệu quả 97
3.2.5 Nghiên cứu xác định biện pháp xử lý ra hoa tập trung 105
3.2.6 Nghiên cứu xác định kỹ thuật cắt tỉa phù hợp 111
3.3 Kết quả áp dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật trên giống xoài cát Hòa Lộc tại huyện Phù Cát 119
3.3.1 Tình hình sâu bệnh hại, năng suất và chất lượng quả trong mô hình áp dụng kết quả tổng hợp 120
3.3.2 Chất lượng quả và hiệu quả kinh tế của mô hình áp dụng kết quả tổng hợp 121
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 125
1 Kết luận 125
2 Đề nghị 126
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Phụ lục 1: Hình ảnh hoạt đồng của đề tài 139
Phụ lục 2: Hiệu quả kinh tế của mô hình 142
Phụ lục 3 : Kết quả xử lý số liệu chỉ tiêu năng suất thí nghiệm 2 nhân tố Nước tưới + Phân bón 145
Phụ lục 4: Kết quả xử lý một số chỉ tiêu trong phạm vi luận án: 146
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
1.1 Yêu cầu nước tưới của cây xoài ở khu vực Darwin và Katherine
(lít/cây/tuần) dựa theo diện tích tán che phủ và mật độ cây 11
1.2 Lượng dinh dưỡng cây xoài hút để tạo một tấn quả 16
1.3 Chuẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng của cây xoài 17
1.4 Lượng phân cần bón cho cây xoài theo độ tuổi 26
1.5 Lượng phân cho cây xoài thời kỳ kinh doanh 30
1.6 Phân bón cho cây xoài ở thời kỳ kinh doanh 30
3.1 Hiện trạng các yếu tố xã hội liên quan đến canh tác xoài ở huyện Phù Cát 63
3.2 Hiện trạng các yếu tố sinh học liên quan đến canh tác xoài 66
3.3 Hiện trạng về địa hình canh tác, phương thức phòng trừ sâu bệnh hại và mật độ trồng tronh canh tác xoài ở Phù Cát 68
3.4 Hiện trạng sử dụng phân bón trong canh tác xoài ở Phù Cát 68
3.5 Hiện trạng về mức độ đầu tư phân bón đa lượng trong canh tác xoài ở Phù Cát 71
3.6 Số lượng thu gom và phương thức thu gom, phân loại, sơ chế xoài của các vựa thu gom ở huyện Phù Cát 74
3.7 Đặt điểm khí hậu, thời tiết khu vực nghiên cứu 76
3.8 Tính chất lý hóa học của đất (0-20) cm tại điểm thí nghiệm 77
3.9 Ảnh hưởng của các phương pháp tưới đến sinh trưởng và phát triển của cây xoài thời kỳ kinh doanh trên đất cát tại Phù Cát 80
3.10 Ảnh hưởng của tưới nước và phân bón đến sinh trưởng của cây xoài trên đất cát tại Bình Định 89
3 11 Ảnh hưởng của tưới nước và phân bón đến một số chỉ tiêu phát triển
Trang 10của cây xoài trên đất cát tại Phù Cát, Bình Định 90
3.12 Ảnh hưởng của tưới nước và phân bón đến yếu tố cấu thành năng suất của cây xoài trên đất cát tại Phù Cát, Bình Định 93
3.13 Ảnh hưởng của tưới nước và phân bón đến năng suất của cây xoài trên đất cát tại Phù Cát, Bình Định 94
3.14 Năng suất bình quân 2 năm và tỷ suất lượi nhuận vốn đầu tư của các công thức thí nghiệm 96
3 15 Tỷ lệ hại của bệnh thán thư trên giống xoài cát Hòa Lộc tại Phù Cát của các của các công thức thí nghiệm 97
3.16 Tỷ lệ hại của bọ trĩ (%) trên giống xoài cát Hòa Lộc tại Phù Cát của các của các công thức thí nghiệm 98
3.17 Chỉ tiêu sinh trưởng của xoài cát Hòa Lộc năm 2018 - 2019 100
3.18 Chỉ tiêu phát triển của xoài cát Hòa Lộc năm 2018-2019 101
3.19 Chỉ tiêu về năng suất của xoài cát Hòa Lộc năm 2018 - 2019 tại Phù Cát 103
3.20 Năng suất, tỷ lệ (%) quả loại 1 của xoài cát Hòa Lộc năm 2018-2019 104 3.21 Tỷ lệ chồi ra hoa và hình thái phát hoa xoài cát Hòa Lộc tại Phù Cát của các công thức thí nghiệm 106
3.22 Chỉ tiêu về năng suất của xoài cát Hòa Lộc năm 2018-2019 tại Phù Cát 108
3.23 Năng suất và tỷ lệ (%) quả loại 1 của xoài cát Hòa Lộc 2018-2019 tại Phù Cát 109
3.24 Chỉ tiêu sinh trưởng của xoài Cát Hòa Lộc năm 2018 - 2019 111
3.25 Chỉ tiêu phát triển của xoài cát Hòa Lộc năm 2018 - 2019 112
3 26 Chỉ tiêu về năng suất của xoài cát Hòa Lộc năm 2018-2019 114 3.27 Năng suất và tỷ lệ (%) quả loại 1 của xoài cát Hòa Lộc 2018 - 2019 117 3.28 Năng suất bình quân 2 năm và tỷ suất lợi nhuận của các công thức thí
Trang 11nghiệm 1193.29 Tình hình sâu bệnh hại, năng suất và một số chỉ tiêu về quả tại mô hình
áp dụng kết quả tổng hợp 1203.30 Kết quả phân tích chất lượng của xoài cát Hòa Lộc trong mô hình áp dụng kết quả tổng hợp 1213.31 Kết quả phân tích tồn dư vi sinh vật, kim loại nặng và thuốt bảo vệ thực vật của xoài cát Hòa Lộc trong mô hình áp dụng kết quả tổng hợp 122
Trang 12DANH MỤC HÌNH
3.1 Diễn biến diện tích xoài ở Bình Định và huyện Phù Cát từ năm
2018-2021 603.2 Diễn biến năng suất xoài ở tỉnh Bình Định và huyện Phù Cát từ năm
2018 - 2021 613.3 Hiện trạng thời điểm bón phân trong canh tác xoài ở Phù Cát 693.4 Gía bán xoài loại 1 và loại 2 ở Phù Cát 75
3 5 Diễn biến độ ẩm vùng rễ của các công thức tưới nước cho xoài trên đất cát tại Phù Cát 793.6 Ảnh hưởng của phương pháp tưới đến tỷ lệ cành ra hoa, tỷ lệ cành hữu hiệu của cây xoài thời kỳ kinh doanh trên đất cát tại Phù Cát 813.7 Ảnh hưởng của các phương pháp tưới đến số quả trên cây xoài thời kỳ kinh doanh trên đất cát tại Phù Cát 823.8 Ảnh hưởng của các phương pháp tưới đến năng suất của cây xoài thời kỳ kinh doanh trên đất cát tại Phù Cát 833.9 Ảnh hưởng của các phương pháp tưới đến phân loại quả xoài trên đất cát tại Phù Cát, Bình Định 843.10 Ảnh hưởng của phương pháp tưới đến lượng nước để sử dụng trong sản xuất xoài trên đất cát tại Phù Cát 853.11 Ảnh hưởng của phương pháp tưới đến hiệu quả sử dụng nước trong sản xuất xoài trên đất cát tại Phù Cát 863.12 Ảnh hưởng của phương pháp tưới đến hiệu quả kinh tế của vườn xoài trên đất cát tại Phù Cát, Bình Định 873.13 Năng suất trung bình xoài cát Hòa Lộc của các công thức thí nghiệm Paclobutrazol tại Phù Cát 110
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xoài là một trong những cây ăn quả nhiệt đới quan trọng, được trồng phổ biến ở nhiều vùng trong cả nước với mục đích chủ yếu là lấy quả, ngoài
ra còn sử dụng sản phẩm gỗ, làm cây bóng mát, cây cảnh và cây che phủ đất, chống xói mòn Quả xoài chín có màu sắc hấp dẫn, ăn ngọt, mùi thơm ngon được nhiều người ưa thích và được xem là một loài quả quý Thành phần dinh dưỡng trong quả xoài chín bao gồm: nước 86,1%, protein 0,6%, lipit 0,1%, chất khoáng 0,3%, xơ 1,1%, hydratcacbon 11,8%, Ca 0,01%, lần 0,02%, Cu 0,03%, caroten (vitamin A) 4800 đơn vị quốc tế (I.U), vitamin B, 40mg/100
g, vitamin PP 0,3mg/100g, vitamin B 50mg/100g, vitamin C 13mg/100g Trong quả xoài có các loại đường như saccaroza, glucoza, fructoza và maltoza Về mặt dinh dưỡng có thể nói rằng xoài là loài quả có nhiều chất dinh dưỡng cần cho con người, nhất là nguồn vitamin A và vitamin C
Theo số liệu của Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và PTNT, đến năm
2022, diện tích xoài cả nước đạt 114.000 ha, sản lượng đạt trên 850.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 180 triệu USD, thị trường xuất khẩu chủ yếu là các nước: Nga, Mỹ, Hàn Quốc, EU, Úc, Nhật Bản Theo đề án phát triển cây ăn quả chủ lực toàn quốc phấn đấu đến năm 2025 diện tích xoài cả nước đạt 130 ngàn ha, sản lượng 1,1 triệu tấn Đến năm 2030 diện tích đạt 140 nghìn ha, sản lượng 1,5 triệu tấn
Phù Cát là huyện Duyên hải Nam Trung bộ thuộc tỉnh Bình Định, nằm cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 36 km về phía Bắc, có tọa độ địa
lý từ 108055’-109015’16” kinh độ Đông và 130 54’-140 12’32” vĩ độ Bắc, phía Bắc giáp huyện Phù Mỹ và huyện Hoài Ân, phía Nam giáp thị xã An Nhơn và huyện Tuy Phước, phía Tây giáp huyện Tây Sơn và huyện Vĩnh Thạnh, phía Đông giáp Biển Đông Bình Định có một số vùng sinh thái có
Trang 14điều kiện đất đai, khí hậu khá thích hợp cho cây xoài sinh trưởng, phát triển Theo kết quả điều tra của Viện Quy hoạch Thiết kế - Bộ Nông nghiệp và PTNT, đến năm 2022, diện tích xoài của Bình Định đạt 1.263,8 ha, sản lượng đạt 5.951,9 tấn
Quy hoạch phát triển đến 2025 đạt diện tích 2.000 ha, sản lượng đạt 8.250 tấn
và 2030 diện tích đạt 2.200 ha, sản lượng đạt 1.250 tấn Trong đó diện tích xoài huyện Phù Cát đạt 210 ha, chiếm 17% diện tích xoài toàn tỉnh Giống trồng chủ đạo là xoài cát Hòa Lộc (chiếm 90%), đây là giống xoài có chất lượng tốt hàng đầu của nước ta, được trồng tập trung với diện tích lớn tại Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ, Duyên hải Nam Trung bộ trong
đó tỉnh có diện tích lớn là Đồng Tháp (13,9 nghìn ha) và lớn thứ nhì cả nước sau Sơn La (19,7 nghìn ha) Cây xoài có vai trò và vị trí hết sức quan trọng đối với đời sống của cộng đồng dân cư khu vực nông thôn tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Bởi vì, đến thời điểm hiện nay diện tích xoài chiếm 0,3% so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện và xoài ở Phù Cát được sản xuất tập trung thành vùng chuyên canh hàng hóa với giống chủ lực là xoài cát Hòa Lộc Bên cạnh đó, trong quá trình canh tác nông hộ trồng xoài ở huyện Phù Cát bước đầu cũng đã làm chủ được một phần kỹ thuật canh tác như khoảng cách trồng, cắt tỉa cành sau thu hoạch, xử lý ra hoa tập trung,…Mặc dù có những lợi thế nêu trên, sản xuất xoài hiện tại ở huyện Phù Cát vẫn còn bộc lộ những hạn chế cơ bản, trong đó sự thiếu ổn định về năng suất và chất lượng quả đã và đang làm giảm thấp đáng kể hiệu quả trồng trọt
mà nguyên nhân chủ yếu là chưa có một quy trình canh tác hoàn thiện, được cải tiến cho phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội của địa phương, trước hết và trên hết là giống xoài cát Hòa Lộc, vốn có nhiều ưu thế so với các giống xoài khác đang có mặt trong phạm vi toàn huyện Ngoài ra ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong những năm gần đây đã gây ra hạn hán, lũ lụt, mưa
Trang 15trái mùa cũng tác động tiêu cực đáng kể đến sản xuất xoài Chính vì vậy, việc
thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng quả giống xoài cát Hòa Lộc tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định ” có tính cấp thiết rõ nét trong giai đoạn hiện tại
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
- Đánh giá hiện trạng sản xuất xoài và xác định một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm hoàn thiện quy trình thâm canh giống xoài cát Hòa Lộc trồng tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được tiềm năng, thế mạnh và hạn chế trong chuỗi sản xuất
và chuỗi giá trị của cây xoài cát Hòa Lộc ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định
- Xác định được phương pháp tưới, chế độ dinh dưỡng đa lượng bón qua hệ thống tưới, phòng trừ một số sâu bệnh hại chính, kỹ thuật xử lý ra hoa tập trung, biện pháp cắt tỉa nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của giống xoài cát Hòa Lộc, phù hợp với điều kiện tự nhiên của huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định
- Xây dựng được mô hình canh tác áp dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật mới cho năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao hơn so với đối chứng đại trà, làm cơ sở để khuyến cáo và nhân rộng ra trong sản xuất tại địa phương
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Giống xoài cát Hòa Lộc trồng bằng cây giống ghép làm đối tượng nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về đất: Nghiên cứu trên loại đất cát vốn phổ biến ở hầu hết các vườn
Trang 16trồng xoài cát Hòa Lộc trên địa bàn huyện Phù Cát
- Về phạm vi điều tra hiện trạng: Điều tra hiện trạng sản xuất và tiêu thụ xoài tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định (Phạm vi 4 xã: Cát Hanh, Cát Hiệp, Cát Lâm, Cát Sơn), thời gian điều tra: Năm 2016
- Về phạm vi các nội dung thực hiện:
+ Các nội dung nghiên cứu được bố trí trên vườn xoài trồng năm 2010
từ cây giống ghép, mật độ 238 cây/ha (6m x 7m), trồng trên đất cát tại xã Cát Hanh, huyện Phù Cát, Bình Định Thời gian thực hiện vụ quả năm 2015,
2016, 2017 (Thí nghiệm nghiên cứu xác định kỹ thuật tưới nước phù hợp), vụ trái 2018 và 2019 (Thí nghiệm đánh giá hiệu quả của kỹ thuật tưới nước kết hợp bón phân, thí nghiệm nghiên cứu xác định biện pháp quản lý dịch hại hiệu quả, thí nghiệm nghiên cứu xác định biện pháp xử lý ra hoa tập trung, thí nghiệm nghiên cứu xác định kỹ thuật cắt tỉa phù hợp) Nội dung kết quả áp
dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật được bố trí trên vườn xoài trồng năm
2010, mật độ 238 cây/ha, trồng trên đất cát tại xã Cát Hanh Thời gian thực hiện: Năm 2020
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài là nguồn cung cấp các dẫn liệu có giá trị về cơ sở khoa học của các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong sản xuất giống xoài cát Hòa Lộc tại huyện Phù Cát nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung với tính khả thi cao Các kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và sản xuất giống xoài cát Hòa Lộc tại một số địa phương thuộc vùng Nam Trung bộ, cách khá xa và không có nhiều lợi thế
về điều kiện sinh thái như vùng nguyên sản
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Các kết quả xác định một số biện pháp kỹ thuật quan trọng trong sản
Trang 17xuất giống xoài Cát Hòa Lộc tại địa bàn nghiên cứu là nền tảng rât cơ bản để xây dựng và hoàn thiện quy trình trồng cụ thể trên một tiểu vùng sinh thái cụ thể theo hướng hàng hóa với hiệu quả kinh tế cao, người trồng và các cơ quan chỉ đạo kỹ thuật có thể áp dụng trực tiếp vào thực tiễn sản xuất của địa phương mình
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Xác định được một số yếu tố hạn chế chủ yếu của sản xuất xoài ở vùng này đó là sự bùng phát dịch hại liên quan đến biến đổi khí hậu, chế độ bón phân và phòng trừ sâu bệnh hại, đặc biệt là bệnh thán thư, bọ trĩ và biện pháp xử lý ra hoa chưa phù hợp, nguồn nước tưới còn bấp bênh, tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch còn khá cao, thời gian bảo quản ngắn làm giảm lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm
- Xác định được phương pháp tưới cho vườn xoài giai đoạn kinh doanh bằng ống dẫn nhỏ giọt thông qua chảo bốc thoát hơi nước (Mini pan) làm tăng năng suất, và tăng lãi ròng so với phương pháp tưới truyền thống Đặc biệt khi
sử dụng phương pháp tưới nước kết hợp với bón phân hòa tan thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt với liều lượng 3kg NPKS + 0,75kg KCl/cây năng suất thu được tăng lên rất đáng kể
- Hoàn thiện kỹ thuật phòng trừ tổng hợp một số sâu bệnh hại xoài chủ yếu bằng biện pháp vệ sinh đồng ruộng, cắt tỉa cành sau thu hoạch, bón phân hợp lý kết hợp với sử dụng đúng phương pháp, có chọn lọc các chủng loại thuốc sâu bệnh có nguồn gốc hóa học đặc trị làm giảm rõ rệt tỷ lệ bị nhiễm, nâng cao năng suất
- Xác định được kỹ thuật xử lý ra hoa giống xoài cát Hòa Lộc tại huyện Phù Cát có tác động nâng cao tỷ lệ ra hoa và năng suất rõ rệt bằng tổ hợp PBZ + MKP + Thiourea tại các thời điểm tuổi chổi 15 ngày và tuổi chồi 45 ngày
Trang 18CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC 1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu cây xoài trên thế giới
1.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ xoài trên thế giới
Xoài có tên khoa học là Mangifera indica thuộc họ Anacardiaceae (họ
đào lộn hột) Trung tâm khởi nguyên của cây xoài là ở Ấn Độ và Đông Nam
Á, vùng phân bố tự nhiên từ Ấn Độ - Malaisia đến Philipin và phía đông Tân Ghinê
Xoài là cây ăn quả nhiệt đới có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao Chính vì vậy tính đến hết năm 2019, xoài được trồng ở 100 quốc gia trên thế giới với diện tích đã cho thu hoạch là 5.588.716 ha, sản lượng 55,853 triệu tấn
và năng suất bình quân đạt 9,99 tấn/ha (FAO statistics, 2019) Các quốc gia
có sản lượng xoài lớn trên thế giới là Ấn Độ (18.779.000 tấn), Trung Quốc (4.771.038 tấn), Thái Lan (3.432.129 tấn), Mixico (2.197.311 ha) và năng suất cao được ghi nhận tại Samoa đạt 36,9 tấn/ha, Mali đạt 23,3 tấn/ha, Caboverde đạt 22,9 tấn/ha, Israel đạt 22,5 tấn/ha, (FAO statistics, 2021) Các quốc gia có diện tích xoài lớn trên thế giới cùng với năng suất bình quân là:
Ấn Độ - 2.237.000 ha và năng suất bình quân đạt 8,39 tấn/ha; Trung Quốc - 588.027 ha và năng suất bình quân đạt 8,14 tấn/ha; Thái Lan - 410.694 ha và năng suất bình quân đạt 8,36 tấn/ha; Mexico - 206.423 ha và năng suất bình quân đạt 10,65 tấn/ha và Philippin - 195.958 ha và năng suất bình quân đạt 4,22 tấn/haInđônêxia - 167.785 ha và năng suất bình quân đạt 13,02 tấn/ha; Pakistan - 167.743 ha và năng suất bình quân đạt 9,58 tấn/ha; Bangladesh - 153.088 ha và năng suất bình quân đạt 7,59 tấn/ha Hiện nay Mêxicô, Philipin, Ấn Độ, Indônêxia và Nam Phi là những nước xuất khẩu xoài nhiều nhất trên thế giới và thị trường nhập khẩu lớn là Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Canada (FAO statistics, 2016)
Xoài được xếp hạng là trái cây nhiệt đới chiếm ưu thế với sản lượng
Trang 19toàn cầu chiếm 50% tổng sản lượng trái cây nhiệt đới năm 2019 Ấn Độ là nước có sản lượng xoài lớn nhất thế giới, chiếm 38% tương đương 38 triệu tấn [61] Năm 2019, Thái Lan vượt qua Mexico trở thành nước xuất khẩu xoài, măng cụt và ổi lớn nhất thế giới Thái Lan tăng trưởng vượt bậc năm
2019 là do nhu cầu nhập khẩu tăng về các loại măng cụt, xoài và ổi của Trung Quốc với 289.000 tấn, tăng 265% với 2018 Xoài Mexico xuất khẩu tiếp tục tăng do nhu cầu nhập khẩu của Hoa Kỳ, chiếm gần 90% tổng lượng xoài xuất khẩu của Mexico Đến tháng 9 năm 2019, Mexico đã báo cáo xuất khẩu 350.000 tấn xoài sang Hoa Kỳ, tăng 5% từ năm 2018 Mexico dự kiến sẽ cung cấp 450.000 tấn xoài, ổi và măng cụt vào thị trường thế giới năm 2019, tăng 4% so năm 2018 và tương đương 24% tổng sản lượng toàn cầu Peru, nhà cung cấp chính xoài cho Liên minh châu Âu, bị ảnh hưởng bởi các tác động bất lợi của mùa đông kéo dài từ đầu năm 2019 và ước tính sẽ giảm 52% trong năm 2019 [61] Peru, trước đây đứng thứ hai về xuất khẩu xoài sau Mexico, năm 2019 giảm 8% và rơi xuống vị trí thứ ba trong xếp hạng toàn cầu Nguồn cung mạnh từ Brazil, được hưởng lợi từ thời tiết thuận lợi trong suốt cả năm, kết quả tăng 32 % xuất khẩu năm 2019, đưa nước này lên vị trí thứ hai trong xuất khẩu xoài Khoảng 70% lượng xoài xuất khẩu của Brazil được xuất qua thị trường EU và 20% cho Hoa Kỳ [61] Sản lượng xuất khẩu xoài toàn thế giới năm 2022 là 2.142.008 tấn, trong đó châu Á là 863.885 tấn [62]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây xoài trên thế giới
* Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cây xoài
Theo L.B.Singh (1960) [106] và một số tác giả khác, cây xoài thích nghi với điều kiện sinh thái: Vị trí địa lý từ 23030/vĩ độ Bắc đến 23030/ vĩ độ Nam; nhiệt độ tối thấp là 1oC - 2oC, tối cao là 500C và thích hợp nhất 240C - 300C; số giờ nắng trong năm trên 2.000 giờ; ẩm độ trung bình của không khí
từ 70 - 80%, nếu ẩm độ cao và mưa phùn trong thời kỳ nở hoa sẽ ảnh hưởng
Trang 20lớn đến quá trình thụ phấn thụ tinh của cây xoài; có 2 mùa mưa nắng rõ rệt để thuận lợi cho quá trình phân hóa mầm hoa; lượng mưa hằng năm biến động từ
600 - 4.000mm, tốt nhất là từ 1.500 - 2.500mm; cây xoài không kén đất, chịu được điều kiện pH đất từ 5,0 - 7,0; tầng đất có độ dày trên 2,0m và mạch nước ngầm dưới 1,8m; xoài có thể phát triển ở độ cao 1.000m, tuy nhiên, để đạt năng suất cao nên phát triển xoài ở độ cao thấp hơn 600m vì nếu cao hơn sẽ gặp điều kiện độ ẩm cao sẽ không có lợi cho sinh trưởng, phát triển của cây xoài
* Về giống xoài:
Tại Thái Lan các giống xoài được trồng phổ biến với mục đích thương mại là Nam Dok Mai, Nam Dok Mai 04, Nam Dok Mai Si Thong, Maha Chanok, Falan, Chok Anma, Thong Dam, Kiew Sa Very Tại Mỹ, các giống được lựa chọn để mở rộng sản xuất tại Floriada là Tommy Atkins, Keitt, Palmer, Van Dyke, Kent, Turpentine và Number 11.[76]
Tại Ấn Độ có hơn 1.000 giống xoài được ghi nhận, trong đó có khoảng
30 giống được dùng để trồng thương mại, bao gồm các giống xoài bản địa là Alphonso, Bangalora, Banganpalli, Bombai, Bombay Green, Dashehari, Fajri, Fernnadin, Himsagar, Kesar, Kishen Bhog, Langra, Mankurad, Mulgoa, Neelum, Chausa, Suvarnarekha, Vanraj, Zardalu và các giống xoài lai Amarapali, Mallika, Arka Aruna, Arka Puneet, Arka Anmol, Arka Neelkiran, Ratna, Sindhu, Au Rumani, Manjeera Theo P.R Johnson and D Parr (2006) [97], các giống xoài chủ lực được trồng đại trà tại Úc là Banana, Haden, Irwin, Keitt, Kensington Pride, Kent, Palmer (Zillate), R2E2 và Tommy
Atkins
* Về mật độ và khoảng cách trồng của cây xoài:
Kết quả tổng hợp của S.A Oosthuyse (1995) [102] đã cho thấy khoảng cách trồng xoài của những nông hộ đạt năng suất từ 10 - 15 tấn/ha/năm ở
Trang 21Nam Phi là 12m x 12m (64 cây/ha), 10m x 10m (100 cây/ha), 8m x 8m (156 cây/ha), 5m x 5m (400 cây/ha), trong đó phổ biến nhất là khoảng cách 8m x 8m (156 cây/ha) Tại Puerto Rico và Nam Floria, trong điều kiện cung cấp đầy đủ nước tưới, quản lý dịch hại và tỉa cành hàng năm thì năng suất xoài ở khoảng cách trồng 4m x 6m (475 cây/ha) và 3m x 6,4m (528 cây/ha) đạt từ 20
- 30 tấn/ha Tuy nhiên một thử nghiệm dài hạn tại Dashehari cho thấy, sau 12 năm trồng năng suất bình quân hàng năm ở mật độ trồng 2,5m x 3,0m (1.333 cây/ha) đạt 18 tấn/ha/năm và chỉ cao hơn 2 tấn/ha/năm so với mật trồng 12m
x 12m (64 cây/ha) đạt 16 tấn/ha Tương tự, tại phía Đông Transvaal, năng suất tích lũy sau 6 năm trồng của giống xoài Tommy Atkins ở khoảng cách trồng 2m x 9m (550 cây/ha) đạt 85,4 tấn/ha và cao hơn 79% so với khoảng cách trồng 4,5m x 9m (247 cây/ha), nhưng năng suất quả/cây ở khoảng cách 2m x 9m lại thấp hơn 19%/năm so khoảng cách 4,5m x 9m và xu thế lợi nhuận từ năm thứ 6 trở đi ở khoảng cách 4,5m x 9m đạt cao hơn
Tại Ấn Độ, Singh A.K et al (2012) [105] đã tiến hành thử nghiệm ảnh
hưởng của phương thức trồng đến năng suất vườn xoài 10 năm tuổi, kết quả cho thấy năng suất cá thể đạt cao nhất (24,14 kg/cây) ở phương thức trồng theo kiểu ô vuông với mật độ là 100 cây/ha và năng suất quần thể đạt cao nhất
ở phương thức trồng hàng đôi (4,1 tấn/ha) với mật độ là 222 cây/ha Theo
P.R Johnson and D Par [97], ở những vùng có điều kiện khí hậu nóng ẩm thì
mật độ trồng xoài khuyến cáo là cây cách cây 4,5 - 5m và hàng cách hàng 9 - 10m, sau thời gian cây chạm tán tiến hành tỉa bỏ bớt cây trong hàng theo đường chéo góc để duy trì các cây còn lại trong vườn theo hình tam giác, đối với những vùng có điều kiện khí hậu mát mẻ và khả năng sinh trưởng của giống vừa phải thì khoảng cách trồng được khuyến cáo giữa các hàng là 6 - 8m và giữa các cây trong hàng từ 2,5 - 3,5m; sau đó tỉa thưa cây trong hàng khi chạm tán
Trang 22Kenya là một trong những quốc gia đạt năng suất xoài cao nhất trên thế giới, xoài ở Kenya chủ yếu trồng trên đất cát với khoảng cách trồng phổ biến là 8m x 10m tương đương 125 cây/ha và 10m x 10m tương đương 100 cây/ha [67]
* Về quản lý nước tưới:
Ở khu vực Darwin và Katherine của Úc, quản lý nước tưới đối với cây xoài dựa trên điều kiện khí hậu (lượng bốc thoát hơi nước), đất đai và đặc điểm sinh trưởng của cây trồng Về thời điểm tưới, vườn trồng mới được duy trì tưới thường xuyên (ngoại trừ mùa mưa) với lượng 100 lít/tuần/cây và sử dụng phương thức tưới phun mưa Đối với vườn xoài kinh doanh: Giai đoạn trước khi ra hoa (từ tháng 4 đến cuối tháng 6), không cần tưới để duy trì độ
ẩm đất thấp nhằm hỗ trợ cho việc ra hoa đồng loạt; Giai đoạn ra hoa, đậu quả
và quả phát triển (từ tháng 7 đến cuối tháng 10), cần tiến hành tưới nước liên tục kể từ khi trên cây xoài có khoảng 60% nụ hoa đến trước thu hoạch 2 - 3 tuần, phương thức tưới là phun mưa, lượng nước tưới dựa vào mật độ trồng
và diện tích che phủ của tán lá trong vườn như trình bày ở Bảng 1.1; Giai đoạn thu hoạch và trước khi ra hoa của vụ sau (từ tháng 10 đến cuối tháng 4), trước khi thu hoạch 2 - 3 tuần không cần tưới nước, sau khi thu hoạch tiến hành cắt tỉa chồi và bón phân, trong thời điểm này cần tiến hành tưới cho cây xoài khi ẩm độ đất quá thấp đặc biệt trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ [114] Tương tự, trên cơ sở loại đất, điều kiện khí hậu, giống, mật độ và khoảng cách trồng, yêu cầu nước tưới cho cây xoài ở Pakistan được xác định
Trang 23trồng là 6m x 5m (333 cây/ha) ở Ấn Độ của S Sujatha et al., (2006) [110] đã
cho thấy, với áp lực nước tưới nhỏ giọt là 0,75Ep năng suất xoài bình quân qua 2 năm đạt 44,9 kg/cây (tương đương 14,9 tấn/ha) và cao hơn so với không tưới cũng như tưới với áp lực nước 0,25 và 0,50 Ep
Bảng 1.1 Yêu cầu nước tưới của cây xoài ở khu vực Darwin và Katherine (lít/cây/tuần) dựa theo diện tích tán che phủ và mật độ cây
qua hệ thống tưới, nghiên cứu của (Kadyampakeni et al., 2015) [70] cho thấy
ưu điểm là làm tăng hiệu quả của việc quản lý dinh dưỡng, nước và số lần tưới so với bón phân dạng hạt thông qua đó tăng hiệu quả hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng Hơn nữa, bón phân qua hệ thống tưới làm giảm lượng NO3 rửa trôi xuống nước ngầm, giảm ô nhiễm môi trường nhưng trên đất cát việc kiểm soát rửa trôi dinh dưỡng trở nên khó khăn hơn Tuy nhiên, hệ thống này cũng bộc lộ một số bất cập như sự phức tạp trong việc áp dụng một cách đồng bộ
Trang 24phân phối phân bón đến từng gốc cây bởi vì kĩ thuật này phụ thuộc vào thiết
kế, lắp đặt và bảo trì hệ thống một cách chính xác, sự đầu tư thêm các thiết bị phụ trợ như đầu van, bồn chứa, hệ thống ngăn chảy ngược dòng làm tăng chi phí đầu tư, giá phân bón hòa tan cũng cao hơn so với phân dạng hạt bón khô truyền thống Nước và phân bón là 2 yếu tố không thể thiếu và thay thế đối với sinh trưởng, phát triển của cây trồng nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung Đối với cây lâu năm, cây công nghiệp như chè, cà phê, nước có thể tăng năng suất từ 25 - 50% và phân bón có thể tăng năng suất từ 10 - 15%
Quản lý tưới cho cây xoài phải theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, tưới nước đúng lúc, đúng lượng [94], [95] Các nghiên cứu của Castel (1994)
[51]; Evanes et al., (1993) [60]; Ferreira el al., (1996) [63]; Michelakis et al., (1996) [78]; Oliveeira el al., (1993) [89]; Spaskhah and kashefipour (1995)
[108] là một trong số ít liên quan đến nhu cầu nước của các trang trai cây ăn quả Tuy nhiên, mặc dù xoài là loại cây ăn quả rất có giá trị về kinh tế cũng như dinh dưỡng, nhưng hầu như rất ít nghiên cứu thực địa được thực hiện trên các vườn xoài Đặc biệt là những nghiên cứu liên quan đến nước tưới cho cây xoài Đo lượng thoát hơi nước của cây trồng trở nên khó khăn khi cây có hệ
thống rễ phát triển tốt chẳng hạn như cây ăn quả trưởng thành (Perdo et al.,
2003) [92] đã quan sát thấy rằng sự thoát hơi nước hàng ngày của vườn xoài tăng chậm từ 3,1 mm/ngày vào đầu thời kỳ thử nghiệm (giữa tháng 7) đến 4,9 mm/ngày vào thời kỳ sinh trưởng tối đa của quả Sau đó giảm xuống còn 4,1 mm/ngày Giá trị này, xấp xỉ khi quả chín hoàn toàn ở vùng bán khô hạn Mức tiêu thụ nước tích lũy của vườn xoài trong toàn bộ chu kỳ kinh doanh là
551,6 và 555,1mm Coelho and Borges (2004) [56] đã quan sát thấy tưới nhỏ
giọt dưới bề mặt làm giảm lượng bốc hơi từ lớp đất mặt và lượng nước chảy tràn không đáng kể Rễ xoài được đánh giá dưới các hệ thống tưới khác nhau,
Choudhury and Soares (1992) [54] đã nghiên cứu sự phân bố của rễ trên đất
Trang 25cát dưới hệ thống tưới nhỏ giọt với hai đường tưới trên mỗi hàng cây và quan sát thấy rằng hầu hết các rễ được tìm thấy ở khoảng cách từ 0,3m đến 1,6m
tính từ cây ở độ sâu từ 0,3m đến 0,9m Soares and Cost (1995) [107] quan sát
thấy rằng 68% rễ cây xoài là rễ hấp thụ và 86% rễ hỗ trợ nằm ở bán kính bề mặt đất 0,90 - 2,60m tính từ thân cây và trong lớp đất từ 0 đến 1,2 m Họ cũng quan sát thấy rằng 65% lượng hấp thụ và 56% rễ hỗ trợ nằm ở độ sâu của đất xuống tới 0,60 m Với tưới nhỏ giọt bề mặt, rễ phát triển tốt hơn khu vực xung quanh [90], do đó có thể góp phần cải thiện khả năng cung cấp nước cho
cây trồng khi sử dụng phương pháp tưới nhỏ giọt dưới bề mặt Coelho et al.,
(2001) [57] cũng nghiên cứu hệ thống rễ dưới dạng tưới nhỏ giọt với một dây tưới trên mỗi hàng cây và năm vòi tưới trên mỗi cây cách nhau 0,5m Mật độ
rễ lớn hơn (chiều dài mật độ rễ) được quan sát thấy ở khoảng cách tính từ cây trồng nhỏ hơn 2,1m và ở độ sâu từ bề mặt đất đến 0,7m Sự phân bổ bộ rễ của cây xoài cũng đã được nghiên cứu đối với các mức tưới khác nhau Oliveira (2001) [91] đã đánh giá sự phân bổ rễ cho xoài dưới điều kiện tưới cung cấp cạn kiệt 44% ETo và 137% ETo Hệ thống rễ có xu hướng mở rộng với sự gia tăng lượng tưới được áp dụng Tuy nhiên, rễ tập trung nhiều hơn ở khu vực cách cây 1,75m, nơi có 83%, 85% và 86% tổng chiều dài rễ được tìm thấy đối với các nghiệm thức ETo lần lượt là 44%, 86% và 137% Trong các nghiệm
thức này, 72% đến 76% tổng chiều dài nằm ở độ sâu 0 đến 0,8m El-Gindy et al., (2000) [59] phát hiện ra rằng hệ thống tưới bằng ống nhỏ giọt và ống
phun mưa tầm thấp cho ra quả xoài có chất lượng tốt hơn so với hệ thống tưới bằng ống mềm và ống nhựa truyền thống Osman (2000) [87] cho thấy sử dụng ống có bét tưới cho năng suất xoài cao nhất là 37,2% Nước cũng được tiết kiệm 19,8% so với hệ thống truyền thống Hiệu quả sử dụng nước, bằng cách sử dụng ống tưới cải tiến trên bề mặt xoài và có bét tưới, tăng 70,7% so
với cách tưới truyền thống Agrawal et al., (2005) [48] đã nghiên cứu tác
Trang 26động của phương pháp tưới nhỏ giọt và phương pháp bề mặt có và không có lớp phủ ni lông trên vườn xoài Tưới nhỏ giọt với 0,6 lượng nước + màng phủ nilon, cho năng suất cao nhất (29,80 tấn/ha), chiều rộng trái (5,82 cm) và chiều dài (8,89 cm), trọng lượng trái (463,65 g) Tưới nhỏ giọt với 0,4 thể tích nước + màng phủ nilon, cho hiệu quả sử dụng nước cao nhất (0,052 t ha-1
mm -1) Osman et al., (2005) [88] đã chỉ ra rằng độ ẩm của đất trong vườn
xoài dưới hai hình thức tưới ống truyền thống và có bét phun đều cao hơn so với hệ thống tưới nhỏ giọt sau 24 giờ kể từ thời điểm tưới, trong khi độ ẩm của đất dưới hệ thống tưới nhỏ giọt là cao hơn so với cả tưới ống có bét phun
và tưới truyền thống trước khi tưới Ngoài ra, mật độ cỏ dại che phủ trong vườn xoài giảm khi so sánh với phương pháp tưới truyền thống lần lượt là 55,3%; 78,7% và 61,7% dưới hệ thống ống có cổng, tưới nhỏ giọt và hệ thống tưới có bét phun
* Về quản lý dinh dưỡng đối với cây xoài:
Về phương thức bón phân đa lượng, tất cả các thực nghiệm tại Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc, Úc và Mỹ đều tiến hành đối với cây xoài vào 3 thời điểm là trước khi ra hoa, sau khi ra hoa và sau khi đậu quả [49], [103], [115] Ngược lại, tại Kenya và Ấn Độ, do phụ thuộc vào nước trời nên thời điểm bón phân cho xoài được khuyến cáo bón lần thứ nhất vào thời điểm sau thu hoạch và lần thứ hai sau lần thứ nhất 3 - 4 tháng [65], [67] Trên đất phù
sa nghèo dinh dưỡng (pH = 8,1; N tổng số = 0,053%; hữu cở tổng số =
1,0%;…) tại Pakistan, kết quả thực nghiệm của Shakeel Ahmed et al., (2001)
[103] đã xác định tỷ lệ phân bón N : P2O5 : K2O hợp lý đối với cây xoài là 2 : 2 : 1 và lượng bón tối ưu cho cây xoài 12 năm tuổi là 1.500g N, 1.500g P2O5 và 750g K2O
Trên đất cát giàu mùn ở tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc, kết quả thực
nghiệm của Zhou Xiuchong và et al.,(2001) [115] cho thấy, bón phân đạm
Trang 27(N), lân (P2O5) và kali (K2O) cho cây xoài với tỷ lệ 3 : 1 : 2,5 năng suất đạt cao hơn từ 12,4 - 24,6% so với các tỷ lệ bón 2,5 : 1 : 2,5; 3 : 1 : 0 và 3 : 0 : 2,5 Ngược lại, giữa tỷ lệ bón đạm (N), lân (P2O5) và kali (K2O) là 3 : 1 : 2,5
và 3 : 1 : 3,5 không có sự sai khác về năng suất Với tỷ lệ bón là 3 : 1 : 2,5 và lượng cung cấp cho cây/năm là 400g N, 125g P2O5 và 320g K2O thì năng suất vườn xoài 8 năm tuổi trồng giống Zihuaman đạt 17,4 kg/cây và tương đương 14,7 tấn/ha (mật độ trồng 855 cây/ha, 2,9m x 4m)
Trên đất cát mới khai hoang ở Arập xêút, kết quả nghiên cứu của
Abdullah Al-Musabehi et al., (2009) [46] đã cho thấy khi bón phân đạm (N),
lân (P2O5) và kali (K2O) cho cây xoài với tỷ lệ 2 : 1 : 2 và 1,5 : 1,0 : 1,5, năng suất, khối lượng và kích thước quả đạt cao hơn so với tỷ lệ 1 : 1 : 1 và 1,0 : 1,5 : 1,0 Trên cơ sở tỷ lệ phân bón phân đạm (N), lân (P2O5) và kali (K2O) là 2 : 1 : 2 và với lượng bón cho cây/năm là 1.130g N, 580g P2O5 và 1.130g K2O, năng suất giống xoài Tommy Atkins đạt 86,6 kg/cây, tương đương 17,7 tấn/ha (mật độ trồng 204 cây/ha, 7m x 7m) Tại Kenya, tỷ lệ phân đạm (N), lân (P2O5) và kali (K2O) được khuyến cáo để bón cho cây xoài là 2 : 1 : 1,5-2,5 và lượng bón cho cây từ 7 tuổi trở lên trong một năm là 675g N, 360g P2O5 và 450-900g K2O [67] Tương tự, tại Ấn Độ, tỷ lệ phân bón đạm, lân và kali hợp lý cho cây xoài cũng được khuyến cáo là 2 : 1 : 2 và lượng bón cho cây 10 tuổi trong một năm là 1.000g N, 500g P2O5 và 1.000 g K2O [65]
Về phân bón vi lượng, tại Ấn Độ không khuyến cáo sử dụng rộng rãi khi chưa xác định trong đất bị thiếu hụt [65] Tuy nhiên dinh dưỡng khoáng trung lượng lại có ảnh hưởng tích cực đến năng suất xoài Đối với Magiê và Lưu huỳnh, kết quả thực nghiệm trên đất cát giàu mùn ở Quảng Tây - Trung Quốc lại cho thấy, khi bón bổ sung 40g MgO/cây/năm và 800g S/cây/năm thì năng suất xoài tăng lần lượt là 21,1% và 9,6% so với không bón bổ sung [115] Tại Kenya, phân đạm sử dụng bón cho xoài được khuyến cáo sử dụng
Trang 28là CAN (canxi nitrat amôn) với hàm lượng CaO là 8%, như vậy với lượng cung cấp 675 g N/cây/năm (tương đương 2,5 kg CAN/cây) vô tình đã bổ sung cho đất 200g CaO/cây/năm [67]
Bên cạnh dinh dưỡng khoáng, các chế phẩm điều hòa sinh trưởng cũng ảnh hưởng tích cực đến khả năng ra hoa và đậu quả của cây xoài Kết quả
nghiên cứu của Chutichudet Benjawan et al., (2006) [55] ở miền Bắc Thái
Lan cho thấy, phun Paclobutrazol lên lá với liều lượng 1.000 ppm vào thời điểm chồi hoa 5 cm thì năng suất vườn xoài 10 năm tuổi (trồng giống Kaew, khoảng cách trồng 8m x 8m) đạt 48,3 tấn/ha và cao hơn so với liều lượng phun 3.000 ppm, 5.000 ppm và 7.000 ppm cũng như thời điểm phun khi chồi
hoa đạt 1cm Kết quả nghiên cứu của N Nahar and et al., (2010) [86] trên
vườn xoài 10 năm tuổi và được trồng với khoảng cách 5m x 5m (400 cây/ha)
ở Trường Đại học Nông nghiệp Bangladesh cho thấy, với nền phân bón như nhau, phun bổ sung KNO3 4% thì năng suất xoài đạt 78,2 kg/cây (tương đương 31,3 tấn/ha), trong khi đó năng suất ở công thức sử dụng KClO3 và Urê 4% chỉ đạt lần lượt là 37,0 kg/cây (tương đương 14,8 tấn/ha) và 24,0 kg/cây (tương đương 9,6 tấn/ha) Tương tự, trên vườn xoài 12 năm tuổi và khoảng cách trồng 6m x 6m (277 cây/ha) tại Ai Cập, phun GA3 với liều lượng từ 50 - 100 ppm vào thời điểm phát hoa dài từ 10 - 30 cm thì năng suất quả đạt 30 kg/cây (tương đương 8,3 tấn/ha) và cao hơn 30,4% so với đối chứng không sử dụng GA3 A.E.A Shaban (2009) [47]
Theo nghiên cứu của T.Dierol, (2001) để tạo ra 1 tấn quả thu hoạch cần lượng chất dinh dưỡng cung cấp cho cây như sau:
Bảng 1.2 Lượng dinh dưỡng cây xoài hút để tạo một tấn quả
Nguồn: T.Dierol, 2001
Trang 29Trong trồng xoài ở các nước thường dựa vào việc chuẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng để bón phân Trong chuẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng của cây xoài, người ta thường dựa vào kết quả phân tích hàm lượng chất dinh dưỡng đa, trung lượng trong lá thứ 5 kể từ gốc của cành đã cho quả để xác định nhu cầu dinh dưỡng và bón phân cho cây
Bảng 1.3 Chuẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng của cây xoài
Loại chất
dinh dưỡng
Bộ phận và thời gian lấy mẫu phân tích
Hàm lượng dinh dưỡng (%chất khô)
N
Lá thứ 5 từ gốc cuả cành đã cho quả và thời kỳ sau thu hoạch
Cùng với phân bón đa lượng, việc áp dụng liều lượng thích hợp phân
vi lượng cũng là yếu tố quan trọng đảm bảo cho mùa vụ năng suất cao [99] và chất lượng tốt [72] Trong các nguyên tố vi lượng, Zn là nhân tố quan trọng trong việc sản xuất cây trồng, là yếu tố quan trọng đứng thứ 3 sau đạm và kali trong việc cấu thành năng suất quả [109] Kẽm đóng vai trò trong việc tổng hợp protein bằng cách tham gia vào hệ thống enzyme của tế bào, tổng hợp tryptophan, kẽm cũng là đồng yếu tố của nhiều enzyme và các quá trình quan trọng khác của cây trồng [99] Triệu chứng thiếu kẽm xuất hiện phổ biến trên thế giới ở những nhà vườn trồng cây ăn quả, thiếu kẽm dẫn đến các thay đổi
về lý học, hóa học và sinh học của cây trồng dẫn đến tỉ lệ ra hoa và đậu quả thấp, kết quả làm suy giảm năng suất và chất lượng trái cây [109] Thiếu kẽm cũng có thể là do Zn cạnh tranh dinh dưỡng với P, Fe, Mn, K, và Ca Việc chẩn đoán triệu chứng thiếu hụt kẽm có thể được chẩn đoán bằng phân tích
Trang 30mối quan hệ giữa đất- cây trồng, đặc biệt việc sử dụng chỉ thị sinh hóa peroxidase, carbonic anhydrate, và nitrate reductase đã cho kết quả có độ chính xác cao Tuy nhiên, việc chẩn đoán này cũng có những khó khăn do thiếu kẽm thường xãy ra đồng thời với triệu chứng thiếu sắt và mangan [109]
và việc bổ sung kẽm và mangan thường làm thiếu hụt sắt trong cây trồng Sự thiếu kẽm có thể khắc phục bằng cách bổ sung phân chứa kẽm (ZnSO4, ZnO) vào đất hay phun lên lá, hiệu quả bổ sung phụ thuộc vào loại phân và kết cấu đất [64] Ngược lại, với tối thiểu 300 ppm Zn trong cây sẽ gây độc, kiềm hãm sinh trưởng của lá và rễ cây, giảm lượng NADPH trong lục lạp, hoạt động của enzyme RUBP carboxylase và quang hệ thống II, tổng hợp ATP, giảm hấp thu P và Fe
Bo cũng là nhân tố quan trọng trong sinh trưởng và phát triển của trái cây Nó thúc đẩy sự hữu hiệu của các nguyên tố khác, làm tăng kích thước lá cũng như tuổi thọ lá và trọng lượng trái cây Nhu cầu Bo của cây rất thấp do
đó có một ranh giới mong manh giữa lượng Bo thiều hụt cũng như ngộ độc
Sự thiếu hụt Bo xảy ra rất phổ biến trên thế giới, gây triệu chứng rối loạn dinh dưỡng trên cây trồng, làm giảm năng suất và chất lượng trái cây, hiện tượng này diễn ra thường xuyên hơn trên đất kết cấu nhẹ, nơi mà dinh dưỡng dễ bị rữa trôi xuống tầng đất sâu và trở nên vô hiệu cho cây trồng Bo và kẽm có tác dụng làm giảm rụng trái, tăng năng suất cũng như hàm lượng axit ascorbic [72], tăng vi lượng trong lá cây cam ngọt, tăng chiều cao cây, kích thước quả
và hàm lượng vitamin C Bo là một nguyên tố thiết yếu đối với thực vật bậc cao và chức năng của nó bao gồm quá trình sinh trưởng và sinh sản của thực vật [111] Thiếu Bo có thể dẫn đến giảm chất lượng quả và tiềm năng năng suất xoài [98] Bo giúp thúc đẩy ra hoa và đậu trái trong năm Nồng độ thiếu
Bo trong lá xoài là ˂ 20 mg kg 1 trọng lượng khô, trong khi phạm vi đủ là 25
- 150 mg kg 1[69] Bo có một số chức năng trong chuyển hóa thực vật Có
Trang 31bằng chứng cho thấy Bo cần thiết cho quá trình ra hoa, đậu trái, kéo dài và phân chia tế bào, chuyển hóa carbohydrate và protein, vận chuyển đường, cấu trúc và chức năng của thành tế bào [74] Abd-Allah (2006) [45] cho biết thêm rằng Bo làm tăng sự nảy mầm của hạt phấn hoa và kéo dài ống phấn hoa, do
đó dẫn đến đậu trái và năng suất cao hơn Bo được biết là có ảnh hưởng đến chuyển hóa và chuyển vị carbohydrate và hormone [104] Bo đã tham gia vào quá trình chuyển hóa nitơ và phốt pho, liên quan đến nước và quang hợp [84] Tính di động của mạch libe của Bo phụ thuộc vào loài [50] Sự vận chuyển
Bo trong phloem của cây ô liu được tạo điều kiện thuận lợi bởi rượu đường
“mannitol” và được vận chuyển dưới dạng phức hợp mannitol B [93] Trong khi đó, ở loài Prunus “e.g hạnh nhân” Bo được vận chuyển dưới dạng phức hợp B-sorbitol [50], [66] Bo tham gia vào quá trình chuyển hóa phenol Khi thiếu Bo, phenol tích tụ [74] trong khi đó, khi có đủ Bo, quá trình tổng hợp phenol bị giảm Cơ chế tích lũy các hợp chất phenolic ở thực vật bị thiếu Bo được giải thích là do sự hình thành ribulose-5-phosphate thay vì phức hợp borat 6-phosphogluconate [77] Do đó, dòng cơ chất được chuyển từ đường phân sang con đường pentose phosphate, dẫn đến sự tổng hợp các hợp chất phenolic thông qua con đường Shikimic Tỷ lệ C/N của cây trồng có liên quan đến sự cân bằng giữa sinh sản và sinh trưởng [83] Sự cân bằng này có thể đạt được bằng cách duy trì trạng thái nitơ tối ưu trong cây xoài Ở xoài, dự trữ carbohydrate của cây có tương quan trực tiếp với sự ra hoa [52], [71], trong khi mức độ carbohydrate có liên quan đến cường độ ra hoa [96] Tình trạng carbohydrate của cây được cho là đóng vai trò chủ đạo trong sự hình thành chồi hoa của cây ăn quả [79] Carbohydrate đóng một vai trò thiết yếu trong
sự phát triển của ống phấn hoa [53], [85], Westwood (1978) and Ryugo
(1988) [101], [113] đã chỉ ra rằng tỷ lệ C/N ảnh hưởng đến việc đậu trái và
do đó ảnh hưởng đến năng suất, thay vì hơn là ra hoa Monselise and
Trang 32Goldschmidt (1982) [79] đã phát hiện ra rằng dự trữ carbohydrate trong xoài
có mối quan hệ trực tiếp với sự hình thành hoa hơn là các yếu tố nội tiết tố Mục tiêu là nghiên cứu ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng đa lượng (Đạm)
và chất dinh dưỡng vi lượng (Bo) đến năng suất và chất lượng quả xoài
Molypden đóng vai trò là chất xúc tác, tham gia vào các phản ứng của tế bào như tổng hợp chất sinh trưởng thực vật (phytohocmon) và đồng hóa ni tơ,
là đồng yếu tố với enzyme nitrate reductase (NRase) ở rễ và lá [64] Triệu chứng thiếu hụt thể hiện trên cây có múi là những đốm vàng trên lá, lượng tối
ưu trong đất là 0.08 - 0.11 mg/kg, ở Úc là 0.1 - 1 mg/kg [109] Ở những vùng nhiệt đới, pH đất thấp, việc thiếu Mo trở nên phổ biến, vai trò của Mo lại quan trọng hơn, đặt biệt khi bón lượng lớn phân nitrate, Mo có thể giúp cây sử dụng lượng đạm hiệu quả và cải thiện sức sống của cây Do đó, việc bổ sung Mo vào phân nitrate (NO3-) giúp thúc đẩy sự trao đổi chất của cây trồng [64]
* Về quản lý sâu, bệnh hại xoài:
Thành phần sâu hại, theo Mark A Mossler and Jonathan Crane (2009) [76], các đối tượng sâu hại xoài ở Florida là ve (Oligonychus yothersi, Oligonychus mangiferus, Aceria mangiferae), rệp (Chrysomphalus dictyospermi, Chrysomphalus aonidum, Ceroplastes floridensis, Protopulvinaria pyriformis, Aspidiotus nerii, Radionaspis indica, Morganella longispina), bọ trĩ (Selenothrips rubrocinctus, Frankliniella bispinosa, Frankliniella kelliae) và bọ cánh cứng (Xylosandrus spp.) Ở phía Bắc nước
Úc, trong giai đoạn xoài ra đọt non (từ tháng 3 - 4) có sự xuất hiện của bọ nhảy hại lá, sâu đục chồi non, bọ trĩ đỏ và bọ cánh cứng Trong giai đoạn trước khi ra hoa, hoa nở và đậu quả (từ tháng 5 - 8) có sự xuất hiện của bọ nhảy hại lá, bọ trĩ đỏ, sâu đục chồi, bọ cánh cứng, rệp chích quả và rầy hại hoa Trong giai đoạn quả phát triển và thu hoạch (từ tháng 8 - 11) có sự xuất hiện của rầy hại hoa, bọ trĩ đỏ, ruồi đục quả và rệp sáp [100]
Trang 33Để phòng trừ sâu hại xoài, tại Florida tiến hành sử dụng dầu khoáng (như DC-TRONPLUS và SK ENSPRAY 99EC ở Việt Nam) và các hoạt chất Malathion, Methidathion, Pyrethrin + Rotenone, Bacillus Thuringiensis và Imidacloprid [76] Tại Úc, một đề xuất để quản lý dịch hại tổng hợp trên cây xoài đã sử dụng kiến xanh, bẫy côn trùng và một số loại thuốc nguồn gốc sinh học để phòng trừ [100]
Thành phần bệnh hại, tại Florida và Kenya ghi nhận thán thư
(Colletotrichum gloeosporioides), phấn trắng (Oidium spp.), khô đọt thối trái (Diplodia spp., Phomopsis spp.) và đốm lá (Pestalotiopsis mangiferae và Phyllosticta anacardeacearum) là những bệnh hại chính gây thiệt hại lớn
trong sản xuất xoài Biện pháp hạn chế được đề xuất sử dụng là sử dụng giống kháng và phun phòng trừ bằng các loại thuốc gốc đồng, lưu huỳnh và Ferbam [67] [76]
* Về thu hoạch và sơ chế bảo quản:
Theo J.F Dirou (2004) [68], tại bang New South Wales - Úc, xoài được thu hoạch khi đã chín sinh lý thể hiện qua màu sắc quả chuyển từ xanh tươi sang vàng lục, mỏ quả đầy đặn và toàn bộ thịt quả có màu vàng Xoài được thu hoạch bằng kéo, giữ chiều dài cuống quả khoảng 5 cm và không để
mủ từ cuống quả dính vào trái Sau khi cắt quả, tiến hành sơ chế và bảo quản xoài theo các bước sau: Nhúng quả vào nước dung dịch tẩy rửa Đặt quả trên tấm lưới trong thời gian 30 phút để khô nhựa Phun thuốc diệt nấm để kiểm soát bệnh thán thư Làm khô quả bằng ống làm khô hoặc bằng quạt
Phân loại quả theo kích thước và những khiếm khuyết của quả (Thường phân thành loại 1, loại 2 và loại để chế biến; Kích thước quả được phân loại cực lớn từ 10 - 12 quả/khay 7kg, loại lớn từ 14 - 16 quả/khay 7kg, loại trung bình từ 18 - 20 quả/khay 7kg, loại nhỏ từ 22 - 25 quả/khay 7kg) Dán nhãn và đóng gói bằng khay nhựa có chèn để tránh va chạm khi vận chuyển Bảo quản
Trang 34nơi khô mát có nhiệt độ từ 10 - 120C trong 3 ngày Vận chuyển đến nơi tiêu thụ trong điều kiện nhiệt độ 12 - 160C Xử lý chín bằng ethylen (nếu cần thiết) Bảo quản trong điều kiện nhiệt độ 18 - 220C
1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu cây xoài ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ xoài ở Việt Nam
Ở Việt Nam, với đặc thù của một quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên nhìn chung thích hợp cho việc phát triển sản xuất xoài theo hướng hàng hóa, có mặt ở hầu hết các vùng sinh thái trong cả nước, trong đó khu vực sản xuất tập trung chủ yếu phân bố ở vùng Tây Nam bộ, Đông Nam bộ, Duyên hải Nam Trung bộ Phía Bắc, diện tích xoài tập trung chủ yếu ở Sơn La Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến năm 2021 tổng diện tích trồng xoài trong cả nước là 113.900 ha, diện tích cho thu hoạch là 88.400 ha, sản lượng 999.600 tấn và năng suất bình quân 11,30 tấn/ha (Niên giám thống kê Việt Nam, 2022) Các địa phương có diện tích trồng xoài lớn
so với cả nước là Sơn La (19,7 nghìn ha), Đồng Tháp (13,1 nghìn ha), An Giang (12,4 nghìn ha) Đồng Nai (12,0 nghìn ha), Khánh Hòa (8,4 nghìn ha), Bình Định (1,26 nghìn ha)
Mặc dù công tác xúc tiến thị trường thương mại đã và đang được quan tâm rất nhiều đến cây xoài và các thị trường tiềm năng ở Châu Âu, Mỹ La Tinh,…đã được xác định Tuy nhiên, đến hiện nay thị trường tiêu thụ xoài của nước ta chủ yếu là nội địa và lượng xuất khẩu chiếm tỷ trọng thấp, nguyên nhân là hạn chế của thị trường xuất khẩu là sản xuất quy mô hộ nhỏ lẻ, không tập trung, sản phẩm không đồng đều về chất lượng, kích thước quả [43] Thị trường xuất khẩu xoài của Việt Nam chủ yếu là xuất tiểu ngạch sang Trung Quốc và chính nghạch vào thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapo và Úc [117]
Theo số liệu thống kê từ Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), từ năm
Trang 352015 - 2019, xuất khẩu xoài của Việt Nam sang Trung Quốc có xu hướng tăng Những năm gần đây, Việt Nam đã xuất khẩu xoài sang một số thị trường như: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, và châu Âu Trong đó, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu xoài lớn nhất của Việt Nam (chiếm 84,6% tổng giá trị xuất khẩu) Năm 2019, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc được 437,315 tấn xoài Trong 5 tháng đầu năm 2020, tổng kim nghạch xuất khẩu xoài của Việt Nam đạt 162,2 triệu USD, tăng 9,4% so với năm 2019, trong đó riêng thị trường Trung Quốc tăng 10% so với cùng kỳ năm 2019 [2]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây xoài ở Việt Nam
* Giống:
Các tỉnh phía Bắc Việt Nam chủ yếu phát triển sản xuất các giống xoài trứng Yên Châu, xoài hôi Yên Châu, GL1, GL2 và GL6 [40] trong lúc các tỉnh phía Nam, ngoài các giống bản địa đã và đang phát triển rộng rãi trong sản xuất như cát Hòa Lộc, cát Chu, Thanh Ca, xoài Bưởi, Canh Nông, xoài Tượng, cát Bồ Xanh, cát Bồ Vàng (Khánh Hòa), cát Mốc (Bình Định) Trong thời gian gần đây, các giống xoài ngoại như R2E2, Nam Dok Mai, Kiew Sa Very,…cũng đã được nhập nội, đánh giá và mở rộng sản xuất [9], [25] Ngoài ra giống xoài GL4 nhập nội từ Đài Loan và giống VRQ-XX1 nhập nội
từ Thái Lan có khả năng thích nghi và cho năng suất cũng như chất lượng khá tốt tại một số tỉnh phía bắc Việt Nam [19]
* Mật độ và khoảng cách trồng
Theo tiêu chuẩn ngành TCN 487 - 2001, trong điều kiện bán thâm canh xoài được khuyến cáo trồng với mật độ 277 cây/ha ứng với khoảng cách 6m x 6m, trong điều kiện thâm canh xoài được khuyến cáo trồng với mật độ 416 cây/ha ứng với khoảng cách 4m x 6m [1]
Tương tự, theo Sở NN và PTNT Đồng Tháp (2009) [31], mật độ trồng
Trang 36được khuyến cáo đối với giống xoài cát Hòa Lộc, Cát chu, Nam Dok Mai, bưởi từ 270 - 300 cây/ha (ứng với khoảng cách 5m x 6m và 6m x 6m) để phát huy năng suất vườn xoài trong thời gian đầu và khi cây khép tán (5 - 6 năm sau) tiến hành tỉa thưa còn 100 - 200 cây/ha nhằm đảm bảo nhu cầu ánh sáng cho cây
* Quản lý nước tưới:
Kết quả khảo sát về tưới nước cho xoài tại vùng trồng tập trung của Bình Định cho thấy: Nông dân tưới xoài bằng phương pháp thủ công, khai thác nước ngầm để tưới cho từng cây xoài bằng ống dẫn nước, mỗi cây xoài được làm bồn xung quanh gốc với đường kính 2 - 2,5m, mỗi cây tưới 600 -
800 lít/lần và định kỳ 7 - 10 ngày tưới 1 lần (Hoàng Vinh và cs., 2017) [44]
Theo Nguyễn Minh Châu và cs.,(2004) [3], lượng nước tưới trung bình
cần cung cấp cho cây xoài là 11.000 m3/ha/năm (kể cả lượng mưa), các thời điểm cần tưới để duy trì ẩm độ đất cho cây xoài là từ khi sau thu hoạch đến trước khi ra hoa 60 - 75 ngày và từ khi hoa nở đến trước khi thu hoạch 14 - 20 ngày, ẩm độ đất bảo hòa của các thời điểm tưới cần đạt từ 50 - 60%
Về phương pháp tưới, theo Nguyễn Đức Quý (2007) [29] và Lê Văn
Sâm và cs., (2005) [30], tưới nhỏ giọt là phương pháp tưới thích hợp cho
vườn cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày cho những vùng khan hiếm nước ở Việt Nam Phương pháp tưới nhỏ giọt tuy có hạn chế là giá thành đầu
tư ban đầu cao nhưng lượng nước tiết kiệm so với tưới phun mưa và tưới bề mặt lần lượt là 20 - 30% và 50 - 80%, áp lực tưới chỉ bằng 10 - 15% so với tưới phun mưa, năng suất và chất lượng không suy giảm và hạn chế sự phát triển của cỏ dại
Theo Hoàng Vinh và cs., (2017) [44], kết quả nghiên cứu tưới nước tiết
kiệm cho cây xoài trên đất cát ở Bình Định đã cho thấy phương pháp tưới nhỏ giọt kết hợp với lịch trình tưới theo chảo bốc thoát hơi nước (Mini-pan) đã
Trang 37cho năng suất xoài tăng hơn 10% và lượng nước tưới giảm hơn 40 - 70% so với phương thức tưới tràn định kỳ của nông dân
Từ nhiều năm nay, các nhà khoa học trong nước và thế giới đã nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp bón phân đến năng suất của cây trồng, tập trung vào hai cách chủ yếu là bón trực tiếp vào đất và phương pháp bón bằng phân hòa tan qua hệ thống tưới Kết quả nghiên cứu hiệu quả của phương pháp tưới nước và bón phân đến năng suất, chất lượng mía ở vùng Đông Nam
Bộ cho thấy, khi áp dụng tưới nhỏ giọt và bón phân qua hệ thống tưới cho năng suất tăng tới 78,5% so với không tưới và bón phân trược tiếp vào đất, tăng 13% so với tưới phun và bón phân vào đất [16]
* Quản lý dinh dưỡng:
Theo tiêu chuẩn ngành TCN 487-2001, phân bón đa lượng (đạm, lân và kali) được bón cho cây xoài theo tỷ lệ 1,4 N : 1,0 P2O5 : 1,4 K2O trong giai đoạn từ năm thứ nhất đến năm thứ 9, từ năm thứ 10 trở đi phân bón được cung cấp theo tỷ lệ 2N : 1P2O5 : 2K2O và chi tiết lượng phân cần bón cho cây xoài theo năm được thể hiện ở Bảng 1.4 [1]
Tuy nhiên, kết quả một số nghiên cứu lại cho thấy sự thiếu hụt dinh dưỡng khoáng đa lượng đối với cây xoài khi bón theo tỷ lệ và lượng khuyến cáo của tiêu chuẩn ngành TCN 487-2001 Cụ thể: Trên đất phù sa có độ phì trung bình ở Tiền Giang, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thành Hiếu và Võ Thế Truyền (2005) [21], trên vườn xoài cát Hòa Lộc 3 năm tuổi đã cho thấy, bón bổ sung 180g K2O/cây năng suất vườn xoài không sai khác so với mức bón 240g K2O/cây và 380g K2O/cây, nhưng tăng so với không bón bổ sung
và bón 120g K2O/cây lần lượt là 55,7% và 17,1%, đặc biệt phẩm chất quả (khối lượng quả, độ Brix, hàm lượng axít tổng số, lượng vitamin C và tỷ lệ thịt quả) ở ngưỡng bón bổ sung 180g K2O/cây vẫn đảm bảo tiêu chuẩn vì không có sai khác so với không bón bổ sung phân kali
Trang 38Bảng 1.4 Lượng phân cần bón cho cây xoài theo độ tuổi
Tuổi cây
(năm)
Lượng phân bón Đạm nguyên chất
(N) (g/cây)
Lân nguyên chất (P2O5) (g/cây)
Kali nguyên chất (K2O) (g/cây)
Nguồn: Tiêu chuẩn ngành TCN 487 - 2001
Trên đất xám phù sa cổ ở tỉnh Khánh Hòa, kết quả nghiên cứu của Hồ
Huy Cường và cs., (2009) [11] trên vườn xoài 7 năm tuổi giống Ấn Độ đã cho
thấy, bón bổ sung 100g P2O5/cây trên nền phân bón chuẩn của tiêu chuẩn ngành TCN 487 - 2001 thì năng suất xoài bình quân qua 2 năm thực nghiệm không có sự sai khác so với lượng bón bổ sung 200 và 300g P2O5/cây, nhưng tăng 61,2% so với không bón bổ sung phân lân Ngược lại, đối với phân đạm, lượng bón bổ sung 200g N/cây đạt năng suất bình quân qua 2 năm thực nghiệm tương đương so với lượng bón bổ sung 300g N/cây, nhưng tăng hơn
so với lượng bón bổ sung 100g N/cây và không bón bổ sung lần lượt là 19,1%
và 40,2%
Phần lớn các tác giả nghiên cứu cây xoài ở nước ta đều khuyến cáo 4
Trang 39thời điểm cần bón phân cho cây xoài là: Bón lần 1 vào thời điểm tỉa cành sau thu hoạch với lượng 60% N, 60% P2O5 và 40% K2O; Bón lần 2 vào thời điểm các lá trên chồi mới đã xanh (bón chuẩn bị cho xoài ra hoa) với lượng 40% P2O5 và 30% K2O; Bón lần 3 vào thời điểm 3 tuần sau khi đậu trái với lượng 20% N và 15% K2O; Bón lần 4 vào thời điểm thời điểm 8 - 10 tuần sau khi đậu trái với lượng 20% N và 15% K2O [3, 39]
Xoài là cây đòi hỏi nhiều chất dinh dưỡng và có phản ứng mẫn cảm với các nguyên tố dinh dưỡng Bón phân cho xoài rất cần thiết để đạt năng suất cao và góp phần khắc phục hiện tượng cây ra quả cách năm Khi cây còn nhỏ lượng phân bón cho một cây là: 300 - 500g NPK (16:16:8) + 300g ure Bón làm hai lần vào đầu và cuối mùa mưa Hòa phân vào nước tưới cho cây hoặc đào các hố nhỏ, khoảng 4-5 hố quanh gốc cây, hoặc xẻ rãnh quanh gốc, cách gốc 0,5 m Bón phân vào hố hoặc rãnh rồi lấp kín đất Khi cây trưởng thành lượng bón được tăng dần qua các năm trong phạm vi lượng phân nêu sau đây:
2 - 5 kg phân NPK (16:16:8) + 1,5-3 kg ure Chia làm 2 lần để bón: Vào đầu mùa mưa khi xoài đang có quả và tháng 9; 10 trước khi xoài ra hoa Những năm được mùa, xoài cho nhiều quả, cần bón nhiều phân hơn, để năm sau vẫn giữ được năng suất của cây Nếu thấy cây ra nhiều lá và lá bóng láng cần giảm bớt lượng phân đạm Trước khi ra hoa nên phun các loại phân bón lá hoặc phân vi lượng để đảm bảo cho xoài có đủ nguyên tố dinh dưỡng cần thiết và kích thích cho cây ra nhiều hoa, đậu nhiều quả Khi thấy quả xoài bị nức thì có thể đó là do thừa kali hoặc thiếu canxi Lúc này cần bón bổ sung vôi hoặc phun Ca(SO4)2 hoặc bón CaSO4 Xoài thiếu Kali cho quả nhỏ, chát Vì vậy cần bón đủ K để quả to và ngọt [13]
Đạm (N), nguyên tố này là thành phần của nguyên sinh chất tế bào thành phần các axit amin, các hợp chất protein, của axit nucleic (AND và ARN), của các enzim và các hạt diệp lục v.v… Đạm có vai trò to lớn trong
Trang 40việc thực hiện các quá trình sinh trưởng và phát triển của cây và có ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng nông sản [12] Đạm có vai trò quan trọng với
sinh trưởng, phát triển và năng suất của xoài [41] Đạm làm tăng số chồi, tăng
số hoa và năng suất Thiếu đạm quá trình sinh trưởng của cây bị đình trệ, lá nhỏ và chuyển vàng, chồi ít, số hoa giảm, tỉ lệ đậu quả thấp, quả rụng nhiều, quả nhỏ, năng suất Trong một năm cây có nhu cầu đạm cao vào vào các thời kỳ: Khi lộc thu bắt đầu lớn (sau thu hoạch), khi cây ra hoa, đầu thời gian có quả Đây là các giai đoạn cây cần được cung cấp đầy đủ đạm cân đối với các nguyên tố dinh dưỡng đặc biệt là kali [17]
Lân rất cần cho sự phân chia tế bào, cho sự phát triển của các mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, thúc đẩy quá trình ra hoa và sự phát triển
của hạt và quả [12] Nhu cầu lân của xoài kinh doanh thấp hơn so với đạm và
kali Lân cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ và mầm hoa Bón lân làm tăng năng suất và phẩm chất quả Thiếu lân lá chuyển màu xanh tối, đầu lá chuyển khô và chết đen, lá rụng sớm, tỷ lệ đậu trái giảm Nhu cầu lân của xoài kinh doanh thấp hơn so với đạm và kali [41] Ở thời kỳ kiến thiết cơ bản, cây xoài
có nhu cầu lân tương đối cao hơn so với các yếu tố dinh dưỡng khác, thời kỳ kinh doanh nhu cầu lân thấp hơn N và K Trong một năm cây có nhu cầu lân cao vào giai đoạn sau thu hoạch và vào thời kỳ từ khi cây bắt đầu phát triển lộc thu, phân hóa mầm hoa đến đậu quả và giảm dần cho đến khi thu hoạch [17]
Kali giúp cho việc cải thiện khả năng sử dụng ánh sáng khi thời tiết âm
u góp phần làm tăng hiệu suất quan hợp, kali làm tăng khả năng chống rét của cây nhờ vào việc thúc đẩy quá trình tích lũy đường trong các mô tế bào do đó
làm giảm nhiệt đóng băng của các mô cây [12] Kali cần thiết cho quá trình
hấp thu và vận chuyển chất hữu cơ trong cây, thiếu kali xuất hiện rải rác những đốm vàng dọc theo mép lá và chóp lá, những đốm này chuyển dần từ