Trong môi trường này, phương pháp tổ chức các hoạt động dạy học phải có những thay đổi phù hợp, người học phải được cá thể hóa để thích ứng với hoạt động HTĐT, vì thế cùng với hình thức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Võ Ngọc Thảo
QUẢN LÝ HỌC TẬP ĐIỆN TỬ
(E-LEARNING) HỌC PHẦN “ĐẠO ĐỨC KINH DOANH”
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành Phố Hồ Chí Minh- 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Võ Ngọc Thảo
QUẢN LÝ HỌC TẬP ĐIỆN TỬ
(E-LEARNING) HỌC PHẦN “ĐẠO ĐỨC KINH DOANH”
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG
Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 8140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS.VÕ THỊ BÍCH HẠNH
Thành Phố Hồ Chí Minh – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Võ Ngọc Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Sau đại học trường Đại học sư phạm
TP.HCM và các Thầy, Cô giáo tham gia đào tạo lớp Thạc sỹ Quản lí giáo dục đã tận
tình giảng dạy, quan tâm và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc TS Võ Thị Bích Hạnh - người hướng dẫn khoa
học đã trực tiếp chỉ đạo, theo dõi và động viên giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy Cô, bạn bè đồng nghiệp và sinh viên Khoa Quản trị Kinh doanh, Khoa Ngoại ngữ, trường đại học Văn Lang đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi xin phép gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp, bạn bè lớp QLGD K 30.2 và lớp QLGD K.31 Trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh đã tư vấn, hỗ trợ cho tôi trong quá trình hoàn thành khóa học
Và cuối cùng, Tôi xin được bày tỏ sự tri ân gia đình nhỏ bé của tôi, tổ ấm yêu thương giúp tôi vượt qua được mọi gian khó để hoàn thành luận văn này
Trân trọng cám ơn
Võ Ngọc Thảo
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Các chữ viết tắt Nội dung đầy đủ
0 BGH Ban giám hiệu
1 CBQL Cán bộ quản lý
2 CVHT Cố vấn học tập
3 CNTT Công nghệ thông tin
4 CTĐTĐB Chương trình đào tạo đặc biệt
15 KTĐG Kiểm tra đánh giá
16 KĐCLGD Kiểm định chất lượng giáo dục
17 LMS Learning Management System
18 NCKH Nghiên cứu khoa học
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ CÁC BẢNG
5 Bảng 2.3 Thực trạng thực hiện nội dung học tập điện tử học
phần “ Đạo đức kinh doanh” với không gian và thời
6 Bảng 2.4 Thực trạng thực hiện nội dung học tập điện tử học
phẩn “ Đạo đức kinh doanh” với không gian và thời
7 Bảng 2.5 Thực trạng thực hiện phương pháp học tập điện tử
học phần “ Đạo đức kinh doanh”
64
8 Bảng 2.6 Thực trạng thực hiện hình thức học tập điện tử học
phần “ Đạo đức kinh doanh”
65
9 Bảng 2.7 Thực trạng thực hiện kiểm tra, đánh giá học tập điện
tử học phần “ Đạo đức kinh doanh”của sinh viên khoa
10 Bảng 2.8 Các điều kiện đảm bảo hoạt động học tập điện tử học
phần “ Đạo đức kinh doanh” có hiệu quả
67
11 Bảng 2.9 Thực trạng lập kế hoạch quản lý việc xác định mục
tiêu học tập điện tử học phần “Đạo đức kinh doanh”
69
12 Bảng
2.10
Thực trạng quản lý chương trình nội dung học tập điện
tử học phần “ Đạo đức kinh doanh”
Trang 7Khảo sát các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản
lý học tập điện tử học phần “Đạo đức kinh doanh”
Trang 8Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học 22 1.2.2 Hoạt động học tập của sinh viên trường đại học 24 1.2.3 Quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường đại học 25 1.2.4.Learning và các hệ thống quản lý học tập 26 1.3.Học tập điện tử (E-Learning) của SV ở trường đại học 29 1.3.1 Mục tiêu học tập điện tử của SV ở trường đại học 29 1.3.2.Nội dung học tập điện tử của SV ở trường đại học 30 1.3.3 Phương pháp và hình thức học tập điện tử của SV ở trường đại
1.3.4.Kiểm tra, đánh giá học tập điện tử của SV ở trường đại học 31 1.3.5 Các yếu tố đảm bảo sự thành công của HTĐT của SV ở trường đại
Trang 9học 32 1.4 Quản lý học tập điện tử (E-learning) của SV ở trường đại học
33 1.4.1 Lập kế hoạch quản lý học tập điện tử của SV ở trường đại học
34 1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch học tập điện tử của SV ở trường đại
1.5.2 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý học tập điện tử ở
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HỌC TẬP ĐIỆN TỬ (
E-LEARNING ) HỌC PHẦN“ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH” Ở
2.1.Giới thiệu về trường đại học Văn Lang và khoa Quản trị kinh doanh 47 2.1.1 Giới thiệu về trường đại học Văn Lang 47 2.1.2 Giới thiệu về khoa Quản trị kinh doanh và học phần “Đạo đức kinh
2.1.3 Trang E-learning của trường đại học Văn Lang 51
Trang 102.2 Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng 52
2.3.Thực trạng học tập điện tử (E-learning) học phần “ Đạo đức kinh
2.3.1.Thực trạng nhận thức về vai trò tác dụng, khả năng sử dụng
E-learning trong học tập điện tử học phần “ Đạo đức kinh doanh” 54
2.3.2 Thực trạng nhận thức về mục tiêu học tập điện tử học phần “ Đạo
2.3.3 Thực trạng thực hiện nội dung học tập điện tử học phần “ Đạo đức
kinh doanh”của sinh viên khoa Quản trị kinh doanh 57 2.3.4 Thực trạng thực hiện phương pháp và hình thức học tập điện tử
học phần “ Đạo đức kinh doanh”của sinh viên khoa Quản trị kinh doanh 60 2.3.5 Thực trạng thực hiện kiểm tra, đánh giá học tập điện tử học phần
“ Đạo đức kinh doanh”của sinh viên khoa Quản trị kinh doanh 62 2.3.6 Thực trạng các điều kiện đảm bảo hoạt động học tập điện tử học
2.4.Thực trạng quản lý học tập điện tử (E-learning) học phần “ Đạo đức
2.4.1.Lập kế hoạch quản lý học tập điện tử học phần “ Đạo đức kinh
Trang 112.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch học tập điện tử học phần “ Đạo đức
2.4.3.Chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động học tập điện tử học phần “
2.4.4.Kiểm tra , đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động học tập điện tử học
2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý học tập điện tử
(E-learning ) học phần “ Đạo đức kinh doanh” 78 2.5.1 Thực trạng các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý học tập
điện tử (E-learning ) học phần “ Đạo đức kinh doanh” 79 2.5.2 Thực trạng các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý học tập điện
tử (E-learning ) học phần “ Đạo đức kinh doanh” 80 2.6 Đánh giá thực trạng quản lý học tập điện tử học phần “ Đạo đức kinh
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HỌC TẬP ĐIỆN TỬ
(E-LEARNING) HỌC PHẦN“ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH”
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 86
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 86 3.2 Biện pháp quản lý hoạt động học tập điện tữ (E-learning) học
phần “ Đạo đức kinh doanh” ở trường đại học Văn Lang
87
Trang 123.2.1.Đổi mới quản lý lập kế hoạch học tập điện tử học phần
3.2.2.Quản lý hướng dẫn SV lập kế hoạch học tập điện tử học phần
3.2.3 Quy trình tổ chức quản lý học tập điện tử học phần
3.2.4.Ứng dụng CNTT trong tổ chức quản lý học tập điện tử học phần
3.2.5 Tăng cường chỉ đạo bổ sung và nâng cấp chức năng tài nguyên
trong quản lý hoat động học tập điện tử học phần “Đạo đức kinh doanh”
của SV
93
3.2.6 Chỉ đạo quản lý điều hành, hướng dẫn thực hiện hoạt động học tập điện
3.2.7.Tăng cường giám sát, kiểm tra hoạt động học tập điện tử học phần
3.2.8 Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ học tập điện tử học phần “Đạo
3.2.9 Thực hành quản lý học tập điện tử học phần “Đạo đức kinh doanh”
trên mô hình “LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC- Flipped Classroom” 99 3.3 Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp 107 3.4 Khảo sát tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý học
tập điện tử học phần “Đạo đức kinh doanh” đã đề xuất 109
3.4.2 Kết quả khảo sát tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp 109
Trang 13đó chính là mô hình học tập điện tử ( HTĐT) với môi trường E-learning Trong môi trường này, phương pháp tổ chức các hoạt động dạy học phải có những thay đổi phù hợp, người học phải được cá thể hóa để thích ứng với hoạt động HTĐT, vì thế cùng với hình thức học tập truyền thống thì HTĐT ngày càng có tỷ trọng cao trong hệ thống học
tập.Sự thay đổi của hình thức quản lý giáo dục – đào tạo và hình thức quản lý
trường học: Chuyển từ dạy học offline sang dạy học blended learning hoặc dạy học toàn
phần online dẫn tới sự thay đổi mạnh mẽ về vai trò, vị trí chức năng của Thầy và Trò trong hệ thống dạy học đó là: chuyển từ hệ thống dạy học với Thầy là trung tâm sang hệ thống dạy học lấy trò là trung tâm, theo mô hình tam giác sư phạm (Hình 1), với ba tác nhân là: Thầy, trò, môi trường E-Learning, với phương thức dạy học “tương tác” giữa các tác nhân đóng vai trò chủ đạo
Người học
Môi trườngNgười dạy
Trang 14Hình 1: Tam giác sư phạm Khi đại dịch bùng phát, sinh viên (SV) không thể về học tại trường đại học, thì HTĐT chính là phương án lựa chọn tối ưu cho các trường đại học
Khi chuyển sang hệ thống quản lý HTĐT, trường đại học Văn Lang có nhiều thuận lợi,
do nhà trường đã tích cực tham gia chương trình kiểm định chất lượng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong chương trình này, yêu cầu phải có tỉ lệ nhất định trong tổ chức dạy học E-learning, vì vậy, trong nhiều năm qua, nhà trường đã tổ chức có hệ thống nhiều khóa đào tạo
về chiến lược và kỹ năng dạy học E-learning cho giảng viên tất cả các ngành học Khi chuyển sang dạy học E-learning, nhà trường bổ sung các kỹ thuật và tài nguyên, kích hoạt và vận hành hệ thống quản lý hoạt động HTĐT Tuy nhiên, do sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, đòi hỏi phải có sự đầu tư nghiên cứu, cập nhật các mô hình hiện đại đảm bảo cho hoạt động quản lý HTĐT có hiệu quả
Mặt khác, hiệu quả quản lý học tập phải được hình thành trên cơ sở hiệu quả quản lý học tập của từng môn học, học phần Trong các học phần của chương trình đào tạo Khoa Quản trị kinh doanh thì “đạo đức kinh doanh” là học phần rất mới, giảng viên (GV) chưa
có nhiều kinh nghiệm dạy học và quản lý học tập học phần này
Về thực tiễn quản lý, trong một cuộc thăm dò ý kiến của giảng viên, cán bộ và sinh viên tại một số trường đại học tại TP Hồ Chí Minh, với chủ đề là “Vai trò của chương trình, phương pháp giảng dạy, quản lý và kiểm tra kiến thức đã có những ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng giáo dục của nhà trường ?”, đã cho những kết quả như sau: “Đánh giá, kiểm tra: 9%; Chương trình cơ sở vật chất: 18%; Phương pháp giảng dạy: 22%; Quản lý giáo dục 51% Kết quả cho thấy, quản lý nhà trường ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng giáo dục- đào tạo: 51%” (Nguyễn Quang Toản, 2014, tr 34) Thế kỷ XXI, thế kỷ
của nền kinh tế tri thức Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ truyền thông, mỗi cá nhân đều có quyền tiếp cận các kho tàng thông tin khổng lồ trên mạng Tuy nhiên, dù các phương tiện kỹ thuật có hiện đại đến mức nào chăng nữa, thì quản lý tố chức trước hết là quản lý con người Hiểu biết con người đầy đủ, đáp ứng mọi yêu cầu của con người, quản
lý sẽ thành công
Căn cứ vào các lí do nêu trên, để có thêm những cơ sở lý luận và thực tiễn và đề xuất được các biện pháp hiệu quả có tính khả thi cao trong quản lý HTĐT các học phần của
Trang 15SV ở trường đại học chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của luận văn là: “Quản lý học tập
điện tử (E-learning) học phần “đạo đức kinh doanh” ở trường đại học Văn Lang”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xác lập lý luận quản lí HTĐT, xác định thực trạng hoạt động quản lí HTĐT học phần “đạo đức kinh doanh”ở trường đại học Văn Lang, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động HTĐT học phần “đạo đức kinh doanh” nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học học phần “đạo đức kinh doanh” của sinh viên trường đại học Văn Lang
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1.Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là những sự vật, hiện tượng hoặc quá trình chứa đối tượng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu là gì là việc chúng ta đi giải đáp vấn đề chúng ta nghiên cứu ai, cái gì như nghiên cứu về học sinh, doanh nhân, quân nhân, bác sĩ, người lao động, lực lượng khủng bố, phe ly khai, sự vận động phát triển của con người… Như vậy đối với việc tham gia hoặc mang trong mình đặc tính liên quan tới đối tượng nghiên cứu được gọi là khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động HTĐT học phần “đạo đức kinh doanh” ở khoa Quản trị kinh doanh, trường đại học Văn Lang
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu
Quản lý HTĐT học phần “đạo đức kinh doanh”của sinh viên khoa Quản trị kinh doanh, trường đại học Văn Lang
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập cơ sở lý luận về quản lý HTĐT các học phần của SV trường đại học
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý HTĐT học phần “đạo đức kinh doanh” ở trường đại học Văn Lang
- Đề xuất các biện pháp quản lý HTĐT học phần “đạo đức kinh doanh” ở trường đại học Văn Lang
5 Giả thuyết khoa học
Quản lý học tập điện tử (E-learning) học phần “đạo đức kinh doanh” ở khoa Quản trị kinh doanh, trường đại học Văn Lang đã có những kết quả nhất định Tuy nhiên, so với yêu cầu về giáo dục và đào tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, việc xây
Trang 16dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch cũng như kiểm tra, đánh giá hoạt động này còn có những hạn chế như: Số lượng SV chuyên cần học tập chưa đạt yêu cầu; Kết quả kiểm tra khối lượng kiến thức lĩnh hội của nhiều SV theo yêu cầu của thị trường chưa đạt… Thực trạng đó đòi hỏi, phải thực hiện nghiên cứu sâu sắc hơn để xác lập cơ
sở lý luận về quản lý HTĐT các học phần của SV trường đại học; Khảo sát, đánh giá khách quan thực trạng quản lý HTĐT học phần “đạo đức kinh doanh” ở trường đại học Văn Lang thì mới có thể đề xuất được các biện pháp quản lý HTĐT học phần “đạo đức kinh doanh” ở trường đại học Văn Lang một cách hợp lý, khả thi có hiệu quả hướng tới nâng cao chất lượng đào tạo
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu HTĐT và quản lý HTĐT các học phần của SV ở trường đại học; tiến hành khảo sát thực trạng quản lý hoạt động HTĐT học phần “Đạo đức kinh doanh” ở khoa Quản trị kinh doanh, trường đại học Văn Lang; đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động HTĐT học phần “Đạo đức kinh doanh” ở Khoa Quản trị kinh doanh trường đại học Văn Lang Khảo nghiệm tình khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất
6.2 Về địa bàn, đối tượng khảo sát
Nghiên cứu thực hiện khảo sát ở các đối tượng: cán bộ quản lý (CBQL) , GV, Sinh viên K26, khoa Quản trị kinh doanh, trường đại học Văn Lang
6.3 Về thời gian: Các số liệu thống kê phục vụ cho khảo sát được thu thập từ năm
xã hội khác, với toàn bộ nền văn hóa xã hội Tìm môi trường thuận lợi cho sự phát triển;
Trang 17Trình bày kết quả khoa học phải rõ ràng, khúc chiết, theo một hệ thống chặt chẽ, có tính logic cao (Trần Đình Long, 1999, tr 52).Do vậy nghiên cứu quản lí HTĐT học phần
“đạo đức kinh doanh”, phải được đặt trong quản lý HTĐT các học phần ở trường đại học Những biện pháp quản lí HTĐT học phần “đạo đức kinh doanh” phải nằm trong hệ thống biện pháp quản lý HTĐT của các học phần khác trong trường ĐH
7.1.2 Tiếp cận lịch sử-logic
Nghiên cứu đề tài KHGD theo quan điểm lịch sử-logic là dùng các sự kiện lịch sử để minh họa, chứng minh, làm sáng tỏ các luận điểm khoa học, các nguyên lí sư phạm hay kết quả công trình nghiên cứu khoa học (NCKH ) giáo dục; dùng tài liệu lịch sử theo chuẩn mực, để đánh giá những kết luận sư phạm, đánh giá chân lí khoa học; dựa vào xu thế phát triển của lịch sử giáo dục để nghiên cứu thực tiễn giáo dục, tìm ra những khả năng mới dự đoán các khuynh hướng phát triển của các hiện tượng giáo dục; dựa vào lịch
sử, thiết kế mô hình các biện pháp các hình thức giáo dục mới, thiết kế triển vọng phát triển của quá trình giáo dục (Hồng Long, 1983, 259)
7.1.3 Tiếp cận thực tiễn
NCKH theo quan điểm thực tiễn là phát hiện những mâu thuẫn, những khó khăn, những cản trở trong thực tiễn giáo dục và lựa chọn trong số đó những vấn đề cấp thiết làm đề tài nghiên cứu; phân tích sâu sắc những vấn đề của thực tiễn giáo dục, tìm được bản chất của chúng; luôn bám sát thực tiễn với giáo dục làm sao cho lí luận và thực tiễn luôn gắn bó với nhau Tổ chức nghiên cứu, thực nghiệm những lí thuyết khoa học giáo dục để kiểm nghiệm lí thuyết, từ đó mà ứng dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả; lí luận giáo dục và thực tiễn giáo dục phải song hành (Hồng Long, 1983, tr 242)
7.1.4 Tiếp cận theo các chức năng quản lý
Nói đến quản lý nói chung và quản lý giáo dục (QLGD ) nói riêng là nói đến hoạt động quản lý và chủ thể quản lý Việc tìm hiểu chủ thể quản lý cần phải làm gì, và làm công việc đó như thế nào? đó chính là các chức năng quản lý Các chức năng quản lý có tính chuyên biệt dựa vào phân chia hoạt động quản lý Ở các cấp QLGD khác nhau, tầm quan trọng và cách thức thực hiện các chức năng quản lý không hoàn toàn giống nhau Như vậy, chức năng quản lý là những chức năng gắn với hoạt động quản lý chuyên biệt của chủ thể quản lý và thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý của mình nhằm làm cho tổ chức đạt mục tiêu đã đề ra
Trang 18Trong quản lý nhà trường hiện đại, quản lý học tập tiếp cận chức năng quản lý là một hướng tiếp cận cơ bản để quản trị nhà trường hiệu quả Trong cách tiếp cận này, luận văn bàn về bốn chức năng quản lý cơ bản, chủ yếu: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu, kết quả nghiên cứu thu thập được trong quá trình nghiên cứu
7.2.Phương pháp nghiên cứu
7.2.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các tài liệu lý luận trong và ngoài nước có liên quan đến quản lý hoạt động điện tử
để xây dựng khung lý luận về quản lý HTĐT các học phần của SV ở trường đại học
7.2.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
1) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi dành cho 200 SV, 30 CBQL và 20 GV nhằm làm rõ thực trạng quản lý HTĐT học phần “ đạo đức kinh doanh” ở trường đại học Văn Lang Ngoài ra phương pháp này còn sử dụng để khảo sát ý kiến về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất
2) Phương pháp phỏng vấn sâu tiến hành với các CBQL và GV nhằm làm rõ hơn thông tin thu nhận từ bảng hỏi
7.2.3 Phương pháp thống kê Toán học
Sử dụng công thức tính giá trị trung bình và hệ số tương quan hạng để xử lý các số liệu thu được từ quá trình khảo sát nhằm làm rõ thực trạng quản lý HTĐT học phần “ đạo đức kinh doanh”
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình liên quan đến đề tài và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương
• Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HỌC TẬP ĐIỆN TỬ
(E-LEARNING) Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
• Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HỌC TẬP ĐIỆN TỬ (E-LEARNING) HỌC
PHẦN “ĐẠO ĐỨC KINH DOANH” Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG
• Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HỌC TẬP ĐIỆN TỬ (E-LEARNING) HỌC
PHẦN “ĐẠO ĐỨC KINH DOANH” Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HỌC TẬP ĐIỆN TỬ
(E-LEARNING) Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1.Các nghiên cứu ở nước ngoài
Thuật ngữ E-learning xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 10-1999 trong một hội nghị Quốc tế về CBT (Computer-Based Training) Trong đó, người học có thể tương tác với môi trường học tập trực tuyến thông qua internet hoặc các phương tiện truyền thông điện
tử khác.Từ năm 1840 Isaac Pitman đã gửi bài tập cho học trò và nhận lại kết quả qua hệ thống mail Giáo sư Đại học Harvard BF Skinner đã phát minh ra máy giảng dạy
“teaching machine”năm 1954.Các chương trình đào tạo dựa trên máy tính được giới thiệu năm 1960 Năm 1980 thế hệ máy MAC đầu tiên ra đời Từ năm 2010, internet kết hợp các ứng dụng di động cho phép người học tương tác trong môi trường E-learning mọi nơi, mọi lúc Sự phát triển của E-learning có thể chia ra các thời kỳ như sau:
+ Thời kỳ trước năm 1983, máy tính còn sử dụng hạn chế, giáo dục “lấy thầy làm trung tâm” Học viên trao đổi tập trung quanh giảng viên và bạn học Loại hình đào tạo này, giá thành rẻ (Vũ Hữu Đức, 2020)
+ Thời kỳ 1984-1993 mở ra kỷ nguyên đa phương tiện với sự ra đời của hệ điều hành (HĐH ) Windows 3.1, Máy tính Macintosh, Phần mềm Powerpoint và các công cụ
đa phương tiện Các bài giảng tích hợp hình ảnh và âm thanh dựa trên công nghệ CBT (Computer Based Training) ra đời và được đưa đến người học qua đĩa CD- ROM (Vũ Hữu Đức, 2020)
+ Thời kỳ (1994-1999) với sự phát minh ra công nghệ Web, hệ thống đào tạo đa phương tiện đã có sự thay đổi lớn khi xuất hiện các chương trình: E-mail, Web, Trình duyệt, Media player, kỹ thuật truyền Audio/video cùng với ngôn ngữ hỗ trợ Web như HTML và JAVA, hình ảnh chuyển động tốc độ thấp đã được triển khai trên diện rộng (Vũ Hữu Đức, 2020)
+ Thời kỳ 2000– nay Các công nghệ Web, công nghệ JAVA, ứng dụng mạng IP, công nghệ truy cập mạng và băng thông internet đã tạo ra cuộc cách mạng trong giáo
Trang 20dục, đào tạo với giá thành rẻ, chất lượng cao và hiệu quả (Vũ Hữu Đức, 2020) Một số Quốc Gia đã rất thành công trong lĩnh vực E-learning
Hoa Kỳ Quốc gia này bắt đầu các nỗ lực của mình trong lĩnh vực E-learning từ cuối
thế kỷ 20 Năm 2000, Ủy ban Giáo dục trên nền tảng Web (Web-based Education Commission) của Quốc hội đã ban hành báo cáo sức mạnh của internet trong học tập Tuy nhiên, phần lớn các chính sách từ phía liên bang tập trung cho giáo dục phổ thông, còn giáo dục đại học phụ thuộc vào chính sách của từng tiểu bang Các chính sách tiểu bang tập trung vào hỗ trợ hệ thống E-learning mới, nâng cấp cơ sở hạ tầng và kỹ năng giảng dạy, thúc đẩy sự tiếp cận và định hình các chính sách Trong khi đó, sự phát triển của công nghệ cùng với cạnh tranh giữa các trường đại học, đặc biệt là các đại học tư vì lợi nhuận trong lĩnh vực E-learning khiến các trường đại học phải nhanh chóng “số hóa” nếu muốn tồn tại Một số trường công lập hoặc trường tư phi lợi nhuận quy mô vừa và nhỏ nhưng huy động được nguồn lực đầu tư mạnh mẽ vào E-learning có sự tăng trưởng vượt bậc về tuyển sinh trực tuyến năm 2015 như Southern New Hampshire University, Western Governors University, Brigham Young University-Idaho, University of Central Florida, University of Maryland-University College, University of Florida có mức tăng từ 20% đến 400% so với năm 2012 Mặc dù nhiều mảng sáng tối xen nhau, thị trường E-learning của Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất thế giới với riêng doanh thu của mảng E-learning tự học (self-pace) đã hơn 20 tỷ USD, so với tổng thị trường thế giới là 46 tỷ USD (Nguyễn Kim Đào, 2020)
Anh Chiến lược phát triển E-learning của Anh không chỉ nhằm đổi mới nền giáo dục
nói chung trong thời đại số, mà còn dành một sự quan tâm đáng kể cho giáo dục đại học Trong những năm gần đây, chú ý nhiều hơn vào đổi mới phương pháp dạy và học trong bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Các chính sách nhấn mạnh đến mục tiêu lấy người học làm trung tâm và cho phép các trường được chủ động xây dựng chiến lược và phát triển E-learning của mình Trong những năm gần đây, Hội đồng tài trợ giáo dục đại học Anh quốc (HEFCE) đã định kỳ điều chỉnh các chính sách khuyến khích E-learning năm 2009-2012, 2012-2013 Tuy nhiên, một khảo sát năm 2014 của Hiệp hội đại học châu Âu cho biết có hơn 50% sinh viên có đăng ký vào các khóa học trực tuyến
Và một tỷ lệ tương tự cho biết việc áp dụng E-learning trong trường học ở mức độ tập trung của trường hoặc chia sẻ giữa các khoa chứ không phải là nỗ lực cá nhân của các giảng viên (Nguyễn Kim Đào, 2020)
Trang 21Phần Lan Chính sách phát triển E-learning của Phần Lan được đặt trong tổng thể
chiến lược xã hội thông tin của quốc gia từ giữa thập niên 1990 Phần Lan tập trung vào giáo dục người lớn, học tập suốt đời thông qua việc cung cấp một môi trường xã hội thông thoáng cho áp dụng E-learning trong đào tạo ở cấp độ đại học Quốc gia này tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cũng như năng lực học và làm việc trong môi trường
ảo hóa Trong những năm gần đây, Phần Lan có nhiều chính sách về E-learning trong kế hoạch 5 năm 2011-2016 về phát triển giáo dục và nghiên cứu, Chiến lược quốc tế hóa giáo dục Phần Lan 2009-2015.Kết quả khảo sát của hiệp hội đại học châu Âu cho thấy có hơn 50% sinh viên có đăng ký vào các khóa học trực tuyến (Nguyễn Kim Đào, 2020)
Úc Thị trường E-learning ước tính của Úc năm 2018 có doanh thu ước tính là 5 tỷ đô
la Một trong những điểm nổi bật của E-learning tại Úc là sự hình thành tổ chức liên kết giữa các trường đại học để phát triển E-learning Open Universities Australia (OUA) là một tổ hợp (consortium) do 7 trường đại học Úc sở hữu, được thành lập năm 1993, cung cấp các khóa học trực tuyến và các chương trình học trực tuyến hoặc kết hợp, được cấp bằng bởi các trường đại học thành viên Năm 2013, OUA đưa vào hoạt động một nền tảng (platform) của riêng mình là Openstudy, cung cấp các khóa học MOOC miễn phí và các khóa học được công nhận bởi các trường đại học (Huỳnh Đệ Thủ, 2019)
Hàn Quốc Việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào giáo dục tại Hàn
quốc bắt đầu từ năm 1996 với kế hoạch tổng thể quốc gia I (1996-2000) tập trung vào việc xây dựng hạ tầng công nghệ hàng đầu thế giới cho giáo dục phổ thông Sau đó, kế hoạch tổng thể II (2000-2005) nhằm vào việc nâng cao chất lượng giáo dục thông qua cho phép tiếp cận miễn phí tài nguyên học tập và huấn luyện giảng viên Thị trường E-learning của Hàn quốc ước tính đạt 2,86 tỷ USD vào năm 2013 Hàn Quốc phấn đấu trở thành một tiêu điểm về xu hướng giáo dục mới “Trường học trên mạng” (Web school) ra đời và nổi tiếng, Megastudy là một điển hình và trở thành mạng giáo dục trực tuyến lớn nhất tại Hàn Quốc, với doanh số hàng năm lên đến 245 tỉ won (3500 tỉ đồng Việt Nam) (Nguyễn Kim Đào, 2020)
1.1.2.Các nghiên cứu ở trong nước
Cùng với xu hướng chung của thế giới, ở Việt Nam, E-learning cũng đã được một số
cơ quan và tổ chức đào tạo truyền bá và triển khai ứng dụng Trên mạng internet có hàng trăm trang Web cung cấp dịch vụ đào tạo theo mô hình E-learning, điển hình là dịch vụ luyện thi trực tuyến trên mạng của công ty phát triển phần mềm VASC với trang Web
Trang 22http://www.truongthi.com, trung tâm đào tạo kỹ thuật viên mạng CISCO qua trang Web http://www.cisco.com,… Bộ khoa học và công nghệ cũng đã thành lập trung tâm VITEC chuyên sát hạch CNTT và hỗ trợ đào tạo Một số trường đại học trong nước cũng đã và đang áp dụng từng phần hình thức E-learning Trường đại học Mở Hà Nội là trường đi đầu trong việc tổ chức đào tạo đại học từ xa, các trường đại học lớn trong cả nước cũng
đã bắt đầu xây dựng các bài giảng điện tử đưa lên trang Web của trường mình Đến năm
2015, tại Việt Nam đã có hơn 100 đơn vị làm giáo dục trực tuyến! Một trong những đơn
vị tiên phong ứng dụng giáo dục trực tuyến trong dạy học đó là Đại học Công nghệ – Đại học Quốc Gia Hà Nội Năm 2007-2008, Ra đời các doanh nghiệp kinh doanh về giáo dục trực tuyến eGame – Công ty cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến; Hocmai – Cổng học tập K12 Đây là giai đoạn tập trung vào xây dựng các kho dự lịệu học tập, đẩy mạnh các công cụ tìm kiếm nội dung học tập Năm 2009 -2010, Thị trường E-learning sôi động với
sự ra đời của hoc360.vn Bước sang giai đoạn lấy cá nhân người học nắm vai trò chủ đạo, các bài giảng được ghi hình, xử lý hậu kỳ một cách bài bản Năm 2011-2012, tập trung mạnh vào phân tích hành vi học tập, xây dựng các biểu đồ học tập Năm 2013-2014, giai đoạn nội dung được hiển thị đa phương tiện trên nhiều thiết bị khác nhau (máy tính, máy tính bảng, điện thoại) Nhiều App học tập cho điện thoại được ra đời Trong giai đoạn này ViettelStudy ra mắt vào 2013 gây được sự chú ý lớn của thị trường Năm 2015, Các đơn
vị hoạt động về giáo dục trực tuyến bắt đầu phân cấp mạnh và chuyên môn hóa rõ ràng hơn Một số đơn vị quan tâm đến Big Data trong giáo dục trực tuyến cũng như xây dựng
hệ sinh thái cho mảng giáo dục online tại Việt Nam Theo (Vũ hữu Đức, 2020), Về hạ tầng công nghệ, Việt Nam phát triển nhanh chóng về mạng internet với tốc độ đường truyền ngày càng cao và giá phí thấp Điều này dẫn đến Việt Nam là quốc gia có số lượng người sử dụng internet lớn thứ 6 châu Á và thứ 12 trên thế giới với 64 triệu người vào năm 2018 Về phương diện xã hội, Việt Nam cũng đang trong “thời kỳ dân số vàng”, trong đó số lượng người dưới 30 tuổi năm 2014 là 45.462 triệu người, chiếm 50,2% dân
số (Tổng cục Thống kê, 2016) là những người dễ dàng tiếp cận với công nghệ thông tin
và truyền thông Vì vậy, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng phát triển learning lớn Theo dữ liệu của tổ chức nghiên cứu thị trường Ambient Insight, Việt Nam nằm trong danh sách 10 quốc gia dẫn đầu về tỷ lệ phát triển E-learning dự báo cho giai đoạn2014-2016 (Docebo, 2014) Thị trường E-learning Việt Nam theo đánh giá của các chuyên gia không dưới 2 tỷ USD và có tốc độ tăng trưởng 40% tuy nhiên phần lớn tập
Trang 23trung vào luyện thi, luyện ngoại ngữ và các kỹ năng mềm Trong đào tạo từ xa, learning phát triển khá nhanh chóng với các chương trình của TOPICA, Viện đại học Mở
E-Hà Nội, FUNIX, trường đại học Mở TPHCM… Đây là các chương trình đào tạo cấp bằng đại học và thu hút một số lượng hàng chục ngàn sinh viên theo học Tuy nhiên, so với dân số Việt Nam cũng như quy mô các trường đại học trực tuyến trên thế giới, số lượng này còn khiêm tốn và tập trung vào một số ngành nhất định Việt Nam đã gia nhập Mạng E-learning Châu Á (Asia E-Learning Network - AEN, www.asia-elearning.net) với
sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính - Viễn Thông Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trên thế giới, E-learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu và còn rất nhiều việc phải làm để có thể tiến kịp các nước
Về các công trình nghiên cứu, theo (Phan Thị Bích Lợi, 2021) với công trình “Đề xuất quy trình thiết kế dạy học trực tuyến”gồm các bước sau: Bước 1: Lập kế hoạch; Bước 2: Thiết kế dạy học; Bước 3: Tổ chức dạy học; Bước 4: Đánh giá sau triển khai dạy học; Bước 5: Cải tiến Trong quy trình này, tác giả chưa chỉ ra được sự khác biệt của dạy học offline và dạy học online Theo (Đào Anh Tuấn, 2020).với công trình “Mô hình Blended Learning trong đào tạo đại học và khả năng áp dụng trong đào tạo khối ngành kinh tế tại trường đại học Mỏ - Địa chất Tạp chí khoa học kỹ thuật Mỏ - Địa chất ” Trong công trình này, tác giả cho biết, Garrison và Kanuka (2004); Bonk và Graham (2012) cho rằng Blended Learning có thể phân loại một cách tổng quát thành sáu mô hình
tùy theo đặc thù người học của lớp học, bao gồm: - Mô hình Face - To - Face Driver (hướng dẫn trực diện trên lớp và kết hợp các phương tiện điện tử có kết nối internet); Mô
hình Rotation (mô hình quay vòng/luân phiên); Mô hình Flex: Với mô hình này, các
giảng viên không chỉ đưa ra những hướng dẫn mà còn đóng vai trò là người trực tiếp
hướng dẫn sinh viên; Mô hình Lab school: Mô hình cho phép sinh viên được tham gia các lớp học trực tuyến toàn thời gian trong suốt khóa học.; Mô hình Self-blended: Mô
hình này cho phép sinh viên được tham gia học các môn học không nằm trong chương
trình học của họ; Mô hình Online driver: Mô hình này hoàn toàn trái ngược với mô
hình học tập truyền thống Sinh viên học tập từ xa và nhận hướng dẫn học tập thông qua nền tảng trực tuyến Các mô hình này chỉ mô tả khái quát đặc điểm, tính chất mô hình nhưng vẫn chưa chỉ ra được sự khác biệt nêu ở trên Theo (Nguyễn Kim Đào, 2020)
Trang 24Luận án Tiến sĩ giáo dục “Nghiên cứu sử dụng B-Learning trong dạy học phần “Điện học”Vật lý 9 THCS”.Tác giả nêu quy trình tổ chức dạy học trực tuyến E-learning gồm bốn giai đoạn: + Giai đoạn chuẩn bị dạy học; + Giai đoạn tổ chức dạy học trên lớp và khi
ở nhà;+ Giai đoạn tổ chức kiểm tra đánh giá;+ Giai đoạn cải tiến chỉnh sửa hoàn thiện hệ thống E-learning.Với quy trình này, tác giả vẫn chưa hiện thực hóa trên dạy học môn học
và chỉ ra sự khác biệt trong sử dụng quy trình cho hai hình thức dạy học offline và online
1.1.3 Vấn đề nghiên cứu của luận văn
Quá trình khảo sát tổng quan vấn đề nghiên cứu cho thấy tại Việt nam việc sử dụng learning đã được quan tâm Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu Với đề tài đã chọn, chúng tôi sẽ tập trung giải quyết một số vấn đề cốt lõi sau:
E Sử dụng cách tiếp cận quản lý, trình bày khái quát khung lý thuyết về HTĐT và quản
- Thực hành vận dụng các biện pháp quản lý HTĐT học phần “ Đạo đức kinh doanh” vào quản lý HTĐT theo mô hình “Lớp học đảo ngược- Flipped Classroom”, từ đó chỉ ra được sự khác biệt của quản lý học tập offline và quản lý học tập online và khả năng vận dụng mô hình quản lý này trong quản lý học tập điện tử các học phần khác trong trường đại học
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học
* Quản lý Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”(Bùi Minh Hiền, 2006)
Lao động chung cần có tổ chức và thống nhất nhằm tạo ra sức mạnh để đạt được mục đích chung Như vậy, trong lịch sử phát triển loài người xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức – điều khiển con người với các hoạt động theo những yêu cầu nhất định; dạng lao động đó được gọi là quản lý
Trang 25Theo Frederick Winslow Taylor, người đưa ra học thuyết quản lý theo khoa học, thì
“Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” Ta thấy, trung tâm của cách tiếp cận này là xác định xem một công việc được tiến hành như thế nào chứ không phải dựa vào kinh nghiệm (Trần Kiểm, 2004)
Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu, nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”(Trần Kiểm, 2004)
Hình 2: Sơ đồ khái niệm quản lý (Trần Kiểm, 2004)
Trong đề tài nghiên cứu này, khái niệm quản lý được hiểu là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý và đối tượng quản
lý trong một tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả
* Quản lý giáo dục.Theo Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là
tổ chức hoạt động dạy học… Có tổ chức được hoạt động dạy học thì mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước”( Đinh Ái Linh, 2006)
Theo Trần Kiểm (2004), khái niệm “quản lý giáo dục” có hai cấp độ chủ yếu: Cấp
vĩ mô và cấp vi mô Cấp quản lý vĩ mô tương ứng với việc quản lý một đối tượng có quy
mô lớn nhất, bao quát toàn bộ hệ thống Nhưng, trong hệ thống này lại có nhiều hệ thống
con, tương ứng với hệ thống con này có hoạt động quản lý vi mô Đối với cấp vĩ mô,
quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hoặc kỷ luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến cấp cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất
lý
Đối tượng quản
lý
Mục tiêu quản lý
Trang 26lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho
ngành Giáo dục Đối với cấp vi mô, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác
động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha me học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Quản lý giáo dục trong xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Ở cấp độ nhân cách, quản lý giáo dục là quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách cho người học
Từ những phân tích trên đây, cho thấy: Quản lý giáo dục là quá trình tác động một cách hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý giáo dục ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống giáo dục nhằm mục đích đảm bảo sự phát triển toàn diện của người học
* Quản lý trường học.Theo Phạm Minh Hạc “Quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”( Đinh Ái Linh, 2006)
Trần Kiểm cho rằng thuật ngữ “quản lý trường học/ nhà trường” có thể xem là đồng nghĩa với quản lý giáo dục thuộc tầm vi mô Đây là những tác động quản lý diễn ra trong phạm vi nhà trường Theo ông, quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình quản lý giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường(Trần Kiểm, 2004)
Trong đề tài này, quản lý trường học được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý trường học đến các hoạt động giáo dục tổng thể của trường học nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách người học theo mục tiêu đào tạo của nhà trường, phù hợp với các mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực của đất nước
1.2.2 Hoạt động học tập của sinh viên trường đại học
* Khái niệm hoạt động.Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì: “Hoạt
động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ, nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội” ( Đinh Ái Linh, 2006)
Trang 27Theo Phạm Minh Hạc “Hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm về phía con người Trong quá trình tác động qua lại đó, có hai chiều tác động diễn ra đồng thời, thống nhất
và bổ sung cho nhau”(Phạm Minh Hạc, 1988)
Như vậy, có thể hiểu hoạt động là sự tương tác tích cực giữa chủ thể và đối tượng nhằm biến đổi đối tượng theo mục đích mà chủ thể tự giác đặt ra để thỏa mãn nhu cầu của bản thân
* Khái niệm hoạt động học tập của sinh viên trường đại học.Học, theo nghĩa rộng
nhất, được hiểu là quá trình cơ bản của sự phát triển nhân cách trong hoạt động của con người Theo Nguyễn Văn Tuấn (2009): Hoạt động học là một hoạt động nhận thức độc đáo của người học, thông qua đó, người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan Bước vào thế kỷ XXI, thế giới đang chịu sự chi phối của xu thế “toàn cần hóa” kinh
tế thị trường, “kinh tế tri thức” và chuyển dịch theo hướng “xã hội thông tin”, “xã hội học tập” Trước bối cảnh đó, việc “học suốt đời” trong một xã hội học tập là “chìa khóa mở cửa đi vào thế kỷ XXI”; nó phải nhằm mục đích “phát triển bền vững” dựa trên “bốn trụ cột” theo lời khuyến cáo của UNESCO là: Học để Biết, Học để Làm, Học để cùng chung sống và Học để Làm người
Qua những khái niệm trên đây, có thể hiểu: HĐHT của SV là hoạt động có mục đích, có tính chủ động, tích cực, tự giác cao của SV nhằm chiếm lĩnh tri thức khoa học của một ngành nghề nhất định, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội về sự phát triển con người trong thời kỳ mới
1.2.3 Quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường đại học
Từ những khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học và những phân tích về HĐHT của SV, có thể hiểu rằng:
Quản lý HĐHT của SV trường ĐH là những tác độngcó hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý lên HĐHT của SV (SV với vai trò là chủ thể của quá trình học tập) thông qua việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm đạt được mục tiêu học tập của SV
* Chủ thể quản lý HĐHT của SV ở trường ĐH Ở trường ĐH, quản lý HĐHT giúp
SV thực hiện đồng bộ các các yếu tố: Mục tiêu, nội dung, phương pháp học tập Đồng
Trang 28thời, quản lý HĐHT của SV bao gồm quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần, thái độ học tập của SV Quản lý HĐHT của SV không chỉ giới hạn trong giờ học trên lớp, trong nhà trường mà bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp, tham gia các câu lạc bộ, ngoại khóa, thực hành, thực tập, tham quan, giao lưu, nghiên cứu khoa học
Từ những phân tích trên đây cho thấy, chủ thể quản lý HĐHT của SV trường ĐH là tập thể quản lý bao gồm: Hiệu Trưởng, Ban Giám hiệu, Khoa, GV, giáo viên chủ nhiệm (GVCN ) và cố vấn học tập ( CVHT) ; với sự hỗ trợ, phối hợp của các phòng, ban chức năng và các đoàn thể Trường ĐH thực hiện công tác quản lý HĐHT của SV bằng bộ máy quản lý, có sự hỗ trợ của công cụ pháp lý để chỉ đạo HĐHT trên lớp, hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp và các hoạt động ngoại khóa liên quan Trong đó, GV là chủ thể của hoạt động dạy, giữ vai trò chủ đạo, định hướng, dẫn dắt, tổ chức, điều chỉnh HĐHT của SV
Theo quy chế công tác sinh viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007, 2016): “Hệ thống tổ chức, quản lý công tác SV của nhà trường gồm: Thủ trưởng cơ sở GDĐH, các đơn vị phụ trách công tác SV, khoa, chủ nhiệm lớp SV, cố vấn học tập và lớp SV” Thực
tế hiện nay ở nhiều trường ĐH, một GV được phân công kiêm nhiệm GV chủ nhiệm lớp
và CVHT cho SV Do đó, GV chủ nhiệm và CVHT có vai trò quan trọng trong quản lý HĐHT của SV
* Đối tượng quản lý HĐHT của SV ở trường ĐH Đối tượng quản lý HĐHT của
SV ở trường ĐH chính là HĐHT của SV trường ĐH Bên cạnh chủ thể quản lý HĐHT của SV như đã xác định ở trên đây,SV cũng đồng thời là chủ thể HĐHT của chính mình
Do đó, SV cũng đồng thời phải tự xây dựng kế hoạch học tập, tự tổ chức, tự theo dõi và
tự kiểm tra đánh giá (KTĐG ) HĐHT của chính mình
* Mục đích quản lý HĐHT của SV ở trường ĐH Mục đích quản lý HĐHT của
SV trường ĐH nhằm đào tạo SV trở thành những con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, đáp ứng được các yêu cầu nền sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.4.E-learning và các hệ thống quản lý học tập
* E-learning E-learning là thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập và đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân
Trang 29phát nội dung các khóa học sử dụng các công cụ điện tử và phương thức hiện đại như: máy tính, mạng máy tính, mạng vệ tinh, mạng Internet, v.v., trong đó nội dung các khóa học được truyền đạt thông qua máy tính Người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các cách thức sau: email, chat, diễn đàn, hội thảo trực tuyến, v.v (Trần Thanh Điện và Nguyễn Thái Nghe, 2017) Hiện có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy và người học qua hệ thống E-learning là: giao tiếp đồng bộ (Synchronous) và giao tiếp không đồng bộ (Asynchronous) Giao tiếp đồng bộ là hình thức giao tiếp trong
đó có nhiều người truy cập tại cùng một thời điểm và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video, v.v Giao tiếp không đồng bộ là hình thức giao tiếp mà người truy cập không nhất thiết phải truy cập tại cùng một thời điểm, (ví dụ: tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn) Đặc trưng của dạng này là học viên được
tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học (Vũ Thị Hạnh, 2013)
Vai trò, tác dụng của E-learning thể hiện ở các ưu điểm nổi bật sau đây: Tính linh hoạt: học viên có thể học mọi lúc, mọi nơi miễn là có kết nối internet hoặc các phương
tiện truyền thông khác Khi tham gia một khóa học mới, người học có thể không cần phải học tất cả các nội dung (trong trường hợp đã biết một số phần) Qua đó, có thể đẩy nhanh
tiến độ học tập Tính tương thích cá nhân: học viên có thể học bài nhanh hay chậm còn
tùy thuộc vào trình độ kiến thức cơ sở và nhu cầu của họ Một ví dụ điển hình, khi học viên đã nắm vững phần lý thuyết, học viên này có thể vào thẳng phần ôn tập và kiểm tra
mà không phải “chờ” để được ôn tập và sẽ hướng thẳng tới mục tiêu nhận thức cao hơn
Giảm chi phí đào tạo: theo đánh giá của các nhà giáo dục học trên thế giới, nhiều dự án
đang được thực hiện trên cơ sở hợp tác giữa các nhà giáo dục và các chuyên viên công nghệ thông tin sẽ làm cho giá thành của E-learning xuống rất thấp Đặc biệt là sự xuất
hiện của mã nguồn mở mà tiêu biểu là ứng dụng Moodle Tài liệu học tập phong phú,
luôn được cập nhật: E-learning có thể giúp người học tiếp cận khối lượng thông tin
khổng lồ của nhân loại với sự hỗ trợ của các trang tìm kiếm, thư viện, và cộng đồng trực tuyến Góp phần rèn luyện kĩ năng và thái độ học tập: để học tập trong môi trường E-learning, người học phải có thói quen học tập tốt, có kĩ năng tự học và quản lý thời gian của riêng mình Điều này làm cho người học rèn luyện kĩ năng làm việc độc lập, sáng tạo Đồng thời, việc trao đổi thẳng thắn trên lớp học, tiếp cận với vần đề bằng nhiều hướng
khác nhau sẽ giúp cho học viên rèn luyện thái độ nghiệm túc và tư duy phản biện Tăng
khả năng ghi nhớ và hiệu suất thu nhận thông tin: nhờ các ưu điểm nổi bật của các
phương tiện đa truyền thông, E-learning tác động lên người học qua nhiều kênh thông tin như văn bản, hình ảnh, biểu đồ, sơ đồ, video, mô phỏng, v.v Mặt khác, các nội dung học
Trang 30tập được lưu trữ trên mạng và học viên có thể truy cập bất cứ lúc nào có nhu cầu Bên cạnh những ưu điểm trên, E-learning còn có một số khuyết điểm mà ta không thể bỏ qua,
cần phải khắc phục như sau: - Về phía người học: yêu cầu khả năng làm việc độc lập với
ý thức tự giác cao, hợp tác và chia sẻ qua mạng Đặc biệt người học phải tự lên kế hoạch
học tập cho mình - Về phía nội dung học tập: nội dung quá trừu tượng, quá phức tạp,
đặc biệt là các nội dung liên quan tới thí nghiệm, thực hành sẽ gặp nhiều khó khăn khi
triển khai học tập qua hệ thống E-learning - Về yếu tố công nghệ: hệ thống E-learning
yêu cầu một hạ tầng công nghệ thông tin cơ bản cũng như yêu cầu về kỹ năng tiếp cận công nghệ mới của giáo viên và học viên Do đã quen với phương pháp học tập truyền thống nên học viên và giáo viên sẽ gặp một số khó khăn về cách học tập và giảng dạy
*Mô hình hệ thống E-learning Trong mô hình hệ thống E-learning, việc giảng
dạy và học tập sẽ dựa trên mạng Internet là chủ yếu Ba nhóm chức năng chính của hệ
thống E-learning sử dụng Moodle : - Chức năng của học viên: Là người tham gia lớp
học, nếu có tham gia nhiều lớp học thì học viên sẽ có những chức năng nhất định, riêng biệt với mỗi lớp học tương ứng Học viên có thể đăng ký tham gia khóa học nếu được
giảng viên/quản trị viên cho phép - Chức năng của Giảng viên: Là người giảng dạy,
giao tiếp với các học viên trong lớp học, quản lý khóa học và học viên trong lớp của
mình; biên soạn bài giảng, bài tập, v.v - Chức năng của Quản trị viên: Là người có
chức năng cao nhất trong hệ thống Moodle, có thể quản lý hệ thống, quản lý chương trình đào tạo, khóa học và tất cả người dùng Hệ thống E-learning được tích hợp vào hệ thống quản trị của nhà trường Nhờ đó hệ thống E-learning có khả năng tương tác tốt với các hệ thống khác trong nhà trường như: hệ thống quản lý đào tạo, hệ thống quản lý giảng viên
và học viên, v.v Thành phần quan trọng nhất trong mô hình hệ thống E-learning là phần mềm quản lý học tập (Learning Management System - LMS).Trong mô hình hệ thống E-learning, các thành phần khác như quản trị viên hệ thống, giảng viên và học viên sẽ tương tác với nhau thông qua hệ thống quản lý học tập LMS Để tạo ra và quản lý một khóa học, người dạy ngoài việc làm việc trực tiếp trên hệ thống quản lý học tập, còn cần sử dụng các công cụ xây dựng nội dung học tập (Authoring Tools) để thiết kế, xây dựng nội dung khóa học và được đóng gói theo chuẩn (thường là chuẩn SCORM) gửi tới hệ thống quản lý học tập Trong một số trường hợp, nội dung khóa học có thể được thiết kế và xây dựng trực tiếp không cần các công cụ Authoring tools Những hệ thống làm được việc đó
có tên là hệ thống quản lý nội dung học tập LCMS (Learning Content Management System)
Trang 31* Hệ thống quản lý học tập - LMS (Learning Management System): LMS là một
phần mềm quản lý các quá trình học tập và phân phát nội dung khoá học tới người học, bao gồm nhiều khối chức năng khác nhau, giúp cho quá trình giảng dạy và học tập trên mạng đuợc thuận tiện, dễ dàng và hiệu quả hơn Các khối chức năng chính trong LMS bao gồm quản lý tài nguyên học tập, tạo nội dung học tập, diễn đàn thảo luận học tập, khảo sát lấy ý kiến, kiểm tra và đánh giá, trao đổi trực tuyến, phát video trực truyến, v.v.Một số hệ thống LMS phổ biến hiện nay trên thế giới có thể kể đến là: Edmodo, lackboard, ATutor, Moodle, Sakai, v.v Việc chọn lựa một hệ thống LMS phải được xem xét nhiều yếu tố, chủ yếu dựa trên: khả năng mở rộng, chuẩn hệ thống tuân theo, hệ thống đóng hay mở, tính thân thiện người dùng, sự hỗ trợ các ngôn ngữ và hệ điều hành khác nhau, khả năng cung cấp các mô hình học và giá cả (Trần Thanh Điện và Nguyễn Thái Nghe, 2017)
1.3.Học tập điện tử (E-learning) của SV ở trường đại học
Học phần được hiểu là một chương trình học theo một quy trình của môn học nào đó, nhằm cung cấp cho sinh viên, học viên những kiến thức trọn vẹn nhất theo một giáo trình được thiết kế Mỗi một học phần của sinh viên có thể kết hợp tổ hợp nhiều môn học tạo nên, hoặc sẽ có sự kết hợp và thiết kế giáo trình, bài giảng để tạo thành một môn học mới Điều này sẽ giúp sinh viên dễ dàng hơn trong việc đăng ký học phần khác nhau Mỗi học phần sẽ có một mã kí tự khác nhau tùy vào sự phân chia của nhà trường
HTĐT các học phần ở trường đại học là hình thức học tập qua đó người học có thể
tự học, mọi lúc, học mọi nơi thông qua các học liệu điện tử đa phương tiện (lời giảng, lời thuyết minh, âm thanh, hình ảnh, video, đồ họa ) Các hình thức học tập như m-Learning (học thông qua thiết bị di động: điện thoại thông minh, máy tính bảng, màn hình tương tác), u-Learning (học thông qua các phương thức tương tác thực tế ảo diễn ra bất kỳ nơi hào), hay smart-Learning (phương tiện học tập thông minh) đều là các hình thái của học tập điện tử (Bộ Giáo Dục và Đào tạo, 2016)
1.3.1 Mục tiêu học tập điện tử các học phần của SV ở trường đại học
Trexler (2008) cho rằng: Mục tiêu HTĐT của SV là những tri thức và kỹ năng cụ thể
mà SV sẽ đạt được trong một môn học hay một chương trình học cụ thể Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI (2013) đã xác định mục tiêu đối với giáo dục ĐH là: “Đối với giáo dục ĐH, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực
tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học” Mục tiêu HTĐT của SV trường ĐH được thể hiện ở 2 khía cạnh: Năng lực và phẩm chất người học đạt được sau quá trình học ĐH Về mục tiêu năng lực được xác định cụ thể như sau (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2015):
Trang 32a) Về kiến thức Có kiến thức lý thuyết chuyên sâu trong lĩnh vực đào tạo; tích luỹ được
kiến thức nền tảng về các nguyên lý cơ bản, các quy luật tự nhiên và xã hội để phát triển kiến thức mới và có thể tiếp tục học tập ở trình độ cao hơn
b) Về kỹ năng Có kỹ năng hoàn thành công việc phức tạp đòi hỏi vận dụng kiến thức lý
thuyết và thực tiễn của ngành được đào tạo trong những bối cảnh khác nhau; có kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá dữ liệu và sử dụng những thành tựu mới về khoa học công nghệ để giải quyết những vấn đề thực tế
c) Về năng lực tự chủ và trách nhiệm Có năng lực dẫn dắt về chuyên môn, nghiệp vụ
đã được đào tạo; có khả năng tự định hướng, thích nghi với các môi trường làm việc khác nhau; tự học tập, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Đối với SV, việc xác định mục tiêu HTĐT có ý nghĩa quan trọng, giúp SV duy trì sự tập trung vào nhiệm vụ HTĐT ; huy động những cố gắng, nỗ lực để đạt được mục tiêu; và chủ động tìm kiếm cách thức, biện pháp học tập phù hợp với bản thân Bên cạnh đó, việc xác định mục tiêu HTĐT còn được coi là một nguồn quan trọng kích thích động cơ học tập
1.3.2 Nội dung học tập điện tử của SV ở trường đại học
Theo Trần Thị Hương và Nguyễn Đức Danh(2014): Nội dung dạy học ĐH được hiểu
là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những cách thức hoạt động sáng tạo và những tiêu chuẩn về thái độ liên quan đến một ngành nghề nhất định mà SV cần nắm vững phù hợp với mục tiêu đào tạo của trường ĐH.Điểm chung nhất của HTĐT toàn phần là các hoạt động học tập được diễn ra trong môi trường ảo với các hoạt động mô phỏng và tái tạo làm tăng cơ hội tiếp cận thông tin, tri thức, điều kiện học tập cho người học đồng thời cũng tạo ra một không gian học tập và tài nguyên dữ liệu khổng lồ để chia sẻ trong xã hội Nội dung và chương trình HTĐT là sự kết hợp của nội dung và chương trình học tập truyền thống với phương tiện điện tử, bao gồm các thành phần cơ bản sau:
+Hệ thống tri thức khoa học về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, về kỹ thuật, công nghệ và
về các cách thức hoạt động có liên quan đến ngành, nghề nhất định
+Hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo về nghề nghiệp tương lai, cũng như về nghiên cứu khoa học và tự học
+Hệ thống những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo
+Hệ thống những kinh nghiệm về thái độ đối với thế giới, đối với con người, đối với nghề nghiệp
Bốn thành phần trên đây tuy có những chức năng riêng biệt nhưng liên quan mật thiết với nhau, dựa vào nhau và hỗ trợ cho nhau
Trang 331.3.3 Phương pháp và hình thức học tập điện tử các học phần của SV ở trường đại học
Thuật ngữ phương pháp có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp là “Methodos”, có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích Phương pháp hiểu theo nghĩa chung nhất là cách thức đạt tới mục tiêu, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định (Trần Thị Tuyết Oanh, 2006)
Phương pháp học tập là những cách thức tiếp thu, xử lý, vận dụng nội dung học tập theo cách riêng của mỗi người học nhằm đạt được hiệu quả học tập cao nhất Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của người thầy, người học phải chủ động, tích cực cải biến mình về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được Vì vậy, nếu người học không chủ động, tích cực, không có phương pháp học tập tốt thì hiệu quả của HĐHT sẽ rất hạn chế Phương pháp HTĐT là sự kết hợp của phương pháp học tập truyền thống và phương tiện điện tử
Hình thức học tập là những phương thức hoặc con đường khác nhau để học tập.Hình thức HTĐT các học phần ở trường đại học là sự kết hợp của hình thức học tập truyền thống và phương tiện điện tử Hình thức học tập điện tử được thực hiện ở hai giai đoạn:
+Giai đoạn thứ nhất: Giai đoạn học tập điện tử “ảo”với thời gian và không gian không
hạn chế, ở giai đoạn này SV truy cập đề cương học phần, giáo trình học phần, bài giảng Powerpoint về học phần, video bài giảng về học phần, các tài liệu tham khảo, tất cả các tài liệu này GV đã đưa lên trang E-learning của trường đại học SV tham gia diễn đàn học tập học phần, tương tác với bạn bè và tương tác với GV
+ Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn học tập điện tữ “thực “ với thời gian và không gian hạn
chế, ở giai đoạn này, SV được GV hướng dẫn giảng dạy “trực tiếp” thông qua các phần mềm dạy học trực tuyến như : Microsoft Teams, GV tổng kết các thảo luận của SV ở giai đoạn học “ảo”, giải thích những vấn đề khó, mở rộng và nâng cao các nội dung cơ bản
1.3.4 Kiểm tra, đánh giá học tập điện tử các học phần của SV ở trường đại học
Theo Trần Thị Hương và Nguyễn Đức Danh (2014): “Kiểm tra đánh giá là bộ phận hợp thành và là khâu cuối cùng của quá trình dạy học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Ý nghĩa chung nhất của kiểm tra đánh giá (KTĐG ) là thông qua quá trình này, có thể thu được những thông tin ngược để kịp thời điều chỉnh quá trình dạy học”.Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2006): Kiểm tra là quá trình giáo viên thu thập thông tin về kết quả học tập của HS Đánh giá kết quả học tập của HS là đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu đề
ra cho HS sau một giai đoạn học tập, các mục tiêu này thể hiện ở từng môn học cụ thể Đánh giá kết quả học tập là xác định mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của
HS so với yêu cầu của chương trình đề ra
Trang 34a Đối với GV: Kết quả KTĐG giúp cho GV nắm được trình độ thực tế của người học,
qua đó, GV điều chỉnh hoạt động giảng dạy cho phù hợp với trình độ nhận thức của SV
b Đối với SV: Kết quả KTĐG giúp cho SV tự đánh giá được trình độ so với yêu cầu của
môn học hay ngành học, từ đó, SV tự điều chỉnh hoạt động học tập
c Đối với các cấp quản lý: Kết quả KTĐG giúp cho các cấp quản lý thấy được chất
lượng dạy học của trường; từ đó, đề ra các biện pháp tác động phù hợp để nâng cao chất lượng đào tạo của trường
Kiểm tra, đánh giá HTĐT các học phần ở trường đại học là sự kết hợp hình thức kiểm tra, đánh giá truyền thống và phương tiện điện tử
1 3 5 Các điều kiện đảm bảo hoạt động học tập điện tử các học phần ở trường đại học có hiệu quả
Học tập điện tử có sự khác biệt cơ bản với học tập truyển thống là phải có cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt Do vậy , cần thực hiện các điều kiện đảm bảo hoạt động HTĐT các học phần có hiệu quả, bao gồm:
1) Các trường đại học cần xây dựng hạ tầng mạng, trang thiết bị công nghệ thông tin,
đường truyền, dịch vụ inter Xây dựng kế hoạch quản lý và điều hành khóa học các học phần : Quản lí và điều hành hiệu quả là rất quan trọng cho sự thành công của bất kì lớp học nào cũng như trong việc quản lí khối lượng công việc của GV Trong môi trường học tập trực tuyến, điều này đặc biệt quan trọng vì GV có thể không thường xuyên liên lạc trực tiếp với tất cả SV để giải quyết bất kì khó khăn hoặc vấn đề nào Hệ thống quản
lí hoạt động học tập/LMS là một công cụ để thiết kế, quản lí và cung cấp các hoạt động học tập trực tuyến Nó cung cấp cho GV môi trường thiết kế khóa học nhưng nó cũng có các phương tiện giám sát và theo dõi SV theo thời gian thực Các hoạt động học tập của
SV trên hệ thống LMS đều được ghi nhận, giúp GV nắm bắt được tình hình học tập của từng SV cũng như của cả lớp, từ đó GV có thể đưa ra các lời nhắc, khen ngợi
2).Giảng viên tự trang bị cho mình kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng
thành thạo các phần mềm, hệ thống dạy học trực tuyến GV “tái cấu trúc “ nội dụng dạy học theo hướng tạo đa dạng tình huống để GV và SV tương tác với nhau GV thể hiện sự hiện diện trực tuyến bằng cách đưa ra các yêu cầu, tham gia vào các thảo luận trực tuyến, cung cấp cơ hội, khuyến khích SV tương tác với nhau và lưu ý tạo sự kết nối giữa các chủ đề thảo luận Ngoài ra, cần chú ý kết hợp đa dạng các hoạt động giao tiếp đồng bộ
và không đồng bộ như: Chat, họp truyền hình, thư điện tử, tin nhắn, diễn đàn, mạng xã hội
3).Cha mẹ cần rèn nề nếp học tập tự lập, động viên, khen ngợi tạo sự hưng phấn trong
học tập cho SV Ngoài ra, cha mẹ còn phải chủ động tìm hiểu công nghệ thông tin, phương pháp sư phạm giúp các em sử dụng thành thạo, an toàn các thiết bị học tập
Trang 35Cha mẹ giúp tổ chức không gian học tập trực tuyến với cấu trúc logic chặt chẽ, giúp SV
dễ dàng định vị các thông tin cần thiết: Cách bố trí nội dung, yêu cầu hoạt động học tập,
vị trí gửi câu hỏi yêu cầu trợ giúp từ phía SV Duy trì được các quan hệ tương tác bên trong phiên học trực tuyến: Sự tương tác ở đây bao gồm giữa nhiều đối tượng (người học
- nội dung; người học - người học; người học - người dạy, người học - cộng đồng)
4).Sinh viên chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, thiết bị học tập quan trọng nhất là điện thoại thông
minh, máy vi tính, máy tính bảng, tai nghe và giáo trình môn học Sinh viên chọn cho mình góc học tập, không gian yên tĩnh thoải mái phù hợp với ngôi nhà của mình Trong quá trình học tập cần chú ý lắng nghe, tham gia thảo luận và đóng góp tích cực vào bài học SV cần chủ động đọc bài, soạn bài trước mỗi tiết học, buổi học CBQL và GV cần tạo động lực cho SV, thúc đẩy và khuyến khích SV tham gia vào các hoạt động học tập trực tuyến Với các phiên học trực tuyến thì GV có thể gửi cho SV lời nhắc nhở, động viên qua email hoặc các phương thức giao tiếp phù hợp Một kĩ thuật để tạo hứng thú và động lực học tập cho SV là nên chia một nhiệm vụ thành các nhiệm vụ nhỏ hơn và đưa ra phản hồi về một số hoặc tất cả các nhiệm vụ này
5).CBQL phải lập kế hoạch giám sát hoạt động dạy và học của GV và SV theo TKB của
Nhà Trường.Giám sát sự tham gia của SV: Là một phần của nhiệm vụ quản lí lớp học,
GV cần có các công cụ cũng như biện pháp nhằm công nhận sự tham gia của SV vào khóa học ở phiên trực tuyến Điều này giúp xác nhận những nỗ lực và đóng góp của SV trong các hoạt động học tập Ngược lại, với những SV thiếu động lực và sự tham gia vào khóa học, GV cần có các biện pháp thu hút họ bằng việc tích cực giao tiếp và tìm hiểu nguyên nhân để hỗ trợ SV nhiều hơn
6).Chuẩn bị lực lượng hỗ trợ: Có lực lượng trợ giảng, hỗ trợ hướng dẫn học tập trực
tuyến đối với khóa học trực tuyến hoàn toàn Trong quá trình tổ chức DH cần sự trợ giúp của nhân viên kĩ thuật/ điều phối viên hỗ trợ và xử lí các trở ngại liên quan đến hệ thống quản lí học tập hoặc các phần mềm, phần cứng khác
1.4.Quản lý học tập điện tử (E-learning) các học phần của SV ở trường đại học
Quản lý HTĐT của SV ở trường đại học (LMS - Learning Management System) là hệ thống phần mềm cho phép tổ chức, quản lý và triển khai các hoạt động đào tạo qua mạng
từ lúc nhập học đến khi người học hoàn thành khóa học qua mạng; giúp cơ sở đào tạo theo dõi và quản lý quá trình học tập của người học; tạo ra môi trường dạy và học ảo; giúp giáo viên giao tiếp với người học trong việc giao bài tập, trợ giúp, giải đáp; giúp người học có thể theo dõi được tiến trình học tập, tham gia các nội dung học qua mạng, kết nối với giáo viên và các học viên khác để trao đổi bài (Bộ Giáo Dục và Đào tạo, 2016) Quản lý HTĐT là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản
lý (gồm các cấp quản lý khác nhau từ Ban giám hiệu đến các Phòng, Khoa, Trung tâm đào tạo, giảng viên) lên các đối tượng quản lý (bao gồm sinh viên, cán bộ quản lý và cán
bộ phục vụ đào tạo) để thực hiện các hoạt động đào tạo ứng dụng các trang thiết bị điện
tử, phần mềm, mạng viễn thông Quản lý HTĐT là quản lý thông qua việc vận dụng các
Trang 36chức năng và phương tiện điện tử nhằm giúp quá trình đào tạo được vận hành một cách hiệu quả, nâng cao chất lượng công tác học tập trong giáo dục đào tạo Hiện nay, tại các trường đại học áp dụng phương pháp giảng dạy tích hợp (blended learning) kết hợp giữa đào tạo truyền thống và đào tạo trực tuyến Khi đại dịch bùng phát thì các trường chuyển toàn bộ hệ thống sang đào tạo trưc tuyến.Trong đó mô hình đào tạo trực tuyến sử dụng hệ thống Moodle Moodle là một hệ thống quản lý học tập LMS mã nguồn mở (do đó miễn phí và có thể chỉnh sửa được mã nguồn), cho phép tạo các khóa học trên mạng hay các website học tập trực tuyến (Vũ Hữu Đức, 2020)
1.4.1.Lập kế hoạch quản lý học tập điện tử của SV ở trường đại học
a) Xác định mục tiêu học tập điện tử của SV ở trường đại học
Ở trường ĐH, mục tiêu HTĐT của SV chính là những năng lực, phẩm chất mà người học cần đạt được trong một môn học hay một chương trình học cụ thể Nhà trường đánh giá thông qua chuẩn đầu ra của ngành đào tạo Do đó, để thực hiện có hiệu quả việc xác định mục tiêu HTĐT của SV, các chủ thể quản lý nhà trường cần chỉ đạo các phòng chức năng, khoa, đơn vị theo phân cấp quản lý đã được đề cập ở trên tiến hành quản lý việc xác định mục tiêu HTĐT , tập trung vào các khía cạnh: kiến thức, kỹ năng và thái
– Sau khi hoàn thiện chuẩn đầu ra, các khoa có kế hoạch phổ biến mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra của ngành học cho SV thông qua CVHT Trong đào tạo theo học chế tín chỉ, người có ảnh hưởng quan trọng đến HĐHT của SV chính là CVHT CVHT là người thay mặt Hiệu trưởng quản lý toàn diện SV Đồng thời, CVHT hướng dẫn SV xây dựng mục tiêu HTĐT, kế hoạch học tập theo từng học kỳ, năm học phù hợp bản thân và đáp ứng được mục tiêu đào tạo đã được nhà trường xác định.Bên cạnh việc hướng dẫn
SV xây dựng mục tiêu, kế hoạch học tập phù hợp, một nhiệm vụ quan trọng nữa của CVHT là phải nắm được kế hoạch và mục tiêu học tập của từng cá nhân (Bekhradnia, 2004)
– Các khoa có kế hoạch xác định mục tiêu HTĐT các học phần Theo đó, GV căn
cứ mục tiêu đào tạo của ngành để xây dựng mục tiêu học tập của SV theo từng học phần,
Trang 37môn học và thể hiện cụ thể trong đề cương môn học Khi bắt đầu một môn học, GV cần giới thiệu và cung cấp cho SV đề cương môn học để SV hiểu và dựa vào đó để xây dựng mục tiêu học tập của môn học cho phù hợp
– Phòng Công tác Sinh viên chủ trì phối hợp với các tổ chức đoàn thể (Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên) xây dựng kế hoạch phổ biến cho SV về các yêu cầu của nhà tuyển dụng sau khi tốt nghiệp; các tiêu chuẩn để được khen thưởng, cấp học bổng… để
SV tự xây dựng mục tiêu, lộ trình HTĐT phù hợp
– SV có kế hoạch cá nhân để xác định mục tiêu học đáp ứng chuẩn đầu ra của nhà trường
b) Xây dựng chương trình, nội dung học tập điện tử của SV ở trường đại học
Quản lý chương trình nội dung HTĐT của SV là hướng đến chất lượng và hiệu quả của quản lý đào tạo nhằm hình thành những kiến thức, kỹ năng cho SV, từ đó SV hình thành năng lực thực hành và năng lực phát triển nghề nghiệp
Trong đào tạo theo học chế tín chỉ, chương trình nội dung đào tạo được cấu trúc thành các học phần, gồm có học phần tự chọn và bắt buộc
Để thực hiện có hiệu quả nội dung học tập của SV, các chủ thể quản lý nhà trường cần chỉ đạo các phòng chức năng, khoa, đơn vị theo phân cấp quản lý đã được đề cập ở trên tiến hành thực hiện các nội dung quản lý sau:
– Phòng Đào tạo chủ trì phối hợp với các Khoa tiến hành lập kế hoạch phát triển chương trình đào tạo cho từng ngành học Đây là quá trình lựa chọn các học phần, môn học nhằm đáp ứng được mục tiêu đào tạo đã được xác định
– Các khoa có kế hoạch cho GV thiết lập đề cương chi tiết của học phần, môn học; đồng thời lựa chọn giáo trình, tài liệu tham khảo cho từng học phần, môn học và thể hiện trong đề cương môn học được phổ biến cho SV ngay khi bắt đầu môn học
– Phòng cơ sở vật chất và thư viện của trường ĐH xác định kế hoạch bổ sung nguồn giáo trình, tài liệu tham khảo cho GV và SV để đáp ứng được yêu cầu của các môn học được quy định trong đề cương chi tiết
1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch học tập điện tử của SV ở trường đại học
Trang 38a) Tổ chức thực hiện chương trình, nội dung học tập điện tử của SV ở trường đại học
Tổ chức thực hiện chương trình, nội dung HTĐT là quá trình triển khai kế hoạch đã xác định, trong đó, việc phân công, phân nhiệm các tổ chức, cá nhân có vai trò quyết định.Để thực hiện có hiệu quả việc tổ chức thực hiện chương trình, nội dung HTĐT của
SV, chủ thể quản lý trường ĐH cần phân công, phân nhiệm các phòng, khoa, đơn vị thực hiện các nội dung quản lý sau:
– Hiệu trưởng phân công phòng Đào tạo phối hợp với các Khoa để xây dựng chương trình đào tạo bao gồm các học phần, môn học để giúp SV đạt được mục tiêu học tập
– Các Khoa phân công GV xây dựng đề cương chi tiết môn học; trong đó, quy định cụ thể về nội dung học tập, giáo trình, tài liệu tham khảo của từng học phần, môn học
– Phòng Đào tạo phối hợp với các phòng chức năng khác, khoa xây dựng các nội quy, quy chế quản lý HĐHT của SV
– Phòng Đào tạo phối hợp với các Khoa xây dựng kế hoạch học tập theo học kỳ, năm học và triển khai cho SV đăng ký học phần tùy theo điều kiện, năng lực, sở thích – Phòng Công tác Sinh viên phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên xây dựng chương trình giảng dạy, bồi dưỡng kỹ năng học tập cho SV
– SV căn cứ trên yêu cầu của từng học phần, môn học do GV đưa ra để tìm kiếm tài liệu học tập phù hợp; đảm bảo quy định do GV đề ra ngay từ khi bắt đầu môn học
b) Tổ chức thực hiện phương pháp và hình thức học tập điện tử của SV ở trường đại học
Tổ chức thực hiện phương pháp và hình thức HTĐT là một khâu có tính đột phá trong công tác quản lý của các chủ thể quản lý, nó có tầm quan trọng rất lớn đến việc cải biến chất lượng học tập của SV nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra
Các chủ thể quản lý HTĐT của SV tại trường ĐH theo phân cấp quản lý đã được
đề cập trên đây cần tổ chức thực hiện một số nội dung sau trong công tác tổ chức thực
hiện phương pháp học tập để đạt hiệu quả:
Trang 39– Các Khoa phân công GV xây dựng phương pháp, hình thức học tập trong đề cương môn học và tổ chức phổ biến cho SV
– Hiệu trưởng trường ĐH phân công phòng cơ sở vật chất và thư viện chịu trách nhiệm trang bị, bảo trì, sửa chữa hệ thống giảng đường, phòng học, phòng thực hành, thí nghiệm, hệ thống âm thanh, ánh sáng, máy tính, giáo trình, tài liệu tham khảo để phục vụ nhu cầu học tập của SV
– Phòng Công tác Sinh viên chủ trì phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên tổ chức các hoạt động giảng dạy, hướng dẫn phương pháp, kỹ năng học tập bậc
ĐH Điều này giúp cho SV biết cách học tập hiệu quả và rèn luyện trong quá trình học
ĐH
Trong hoạt động quản lý, việc tổ chức thực hiện các hình thức học tập phù hợp
cho SV là một yêu cầu được đặt ra khi các nhà trường chuyển đổi phương thức đào tạo từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ
Hình thức học tập bao gồm học tập trên lớp, tự học, thực hành, thực tập, nghiên cứu khoa học… sẽ được các Khoa phân công cho GV xây dựng cụ thể trong đề cương môn học.Trong đó, tự học là một hoạt động quan trọng và hết sức đặc biệt của SV Hoạt động
tự học của SV được tổ chức linh hoạt và đa dạng GV cần tạo điều kiện giúp SV nhận thức được vai trò của tự học, từ đó hình thành và phát triển nhu cầu tự học của các em (Nguyễn Mai Hương, 2009, Vũ Quốc Chung & Lê Hải Yến, 2003)
Để tổ chức thực hiện hình thức học tập đạt hiệu quả, các chủ thể quản lý HĐHT
của SV tại trường ĐH cần tổ chức thực hiện một số nội dung quản lý sau:
– Các Khoa phân công GV thiết kế các hình thức học tập phù hợp với từng học phần, môn học để SV chiếm lĩnh được các nội dung học tập, đáp ứng mục tiêu và yêu cầu của từng môn học Bên cạnh đó, GV cũng cần xác định các nhiệm vụ tự học; đó chính là các câu hỏi, bài tập, đồ án, các yêu cầu học tập mà SV phải tự tìm hiểu hoặc chuẩn bị trước… Các hình thức học tập được GV quy định trong đề cương chi tiết của môn học – Các Khoa phân công CVHT và GV thực hiện công tác quản lý toàn diện SV ở các mặt: Tổ chức đánh giá và xếp loại rèn luyện của SV theo quy chế; tổ chức bầu ban cán sự lớp và bổ sung, kiện toàn theo từng học kỳ, năm học; tổ chức sinh hoạt lớp định kỳ; phối hợp với các đơn vị liên quan để giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong; tư vấn và định hướng cho SV tham gia các hoạt động đoàn thể, các hoạt động xã
Trang 40hội, hoạt động ngoại khóa; liên hệ với gia đình SV… Các hoạt động này giúp tạo ra môi trường gắn kết, tạo ra động lực học tập cho SV
1.4.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động học tập điện tử của SV ở trường đại học
Chỉ đạo thực hiện kế hoạch HTĐT của SV là quá trình, trong đó chủ thể quản lý giám sát; hướng dẫn, liên kết, liên hệ giữa các phòng, khoa, đơn vị và các thành viên phụ trách quản lý HTĐT của SV để hướng dẫn, điều hành họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của HĐHT Để chỉ đạo hiệu quả, người quản lý cần thu thập thông tin chính xác, biết phân tích, xử lý các nguồn thông tin và đưa ra các quyết định đúng đắn trong việc điều chỉnh, sửa chữa, bù đắp, chỉnh lý kế hoạch để quản lý HĐHT đạt hiệu quả tối ưu
a).Chỉ đạo thực hiện chương trình, nội dung học tập điện tử ở trường đại học
Chỉ đạo thực hiện chương trình nội dung HTĐT là quá trình trường ĐH theo dõi, giám sát việc triển khai giảng dạy các học phần, môn học theo chương trình đào tạo đã được phê duyệt
Chủ thể quản lý trường ĐH chỉ đạo các phòng chức năng, khoa, đơn vị tiến hành thực hiện các nội dung quản lý sau:
– Phòng Đào tạo hướng dẫn phát triển chương trình đào tạo đảm bảo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và định hướng phát triển của trường ĐH
– Phòng Đào tạo hướng dẫn GV xây dựng đề cương chi tiết theo quy định thống nhất chung của trường
– Phòng Đào tạo hướng dẫn các Khoa, GV cách thức, quy trình lựa chọn, thẩm định giáo trình, tài liệu tham khảo
– Phòng Đào tạo và các Khoa phụ trách theo dõi, giám sát việc thực hiện chương trình đào tạo và kế hoạch học tập để tham mưu cho Hiệu trưởng chỉ đạo công tác này – Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng tiến hành theo dõi, giám sát chương trình nội dung học tập của SV
– GV giám sát việc thực hiện nội dung học tập trong quá trình giảng dạy Trong
đó, GV cần chỉ đạo nội dung học tập trên lớp và hoạt động tự học của SV: SV cần đọc