Chúng tôi lựa chọn nghiên cứu cụ thể vấn đề niềm tin tâm linh của người Việt và người Campuchia qua các sáng tác truyện thơ, trường hợp Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tum Teav theo bản của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
La Chí Khang
NIỀM TIN TÂM LINH CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ NGƯỜI CAMPUCHIA
QUA CÁC SÁNG TÁC TRUYỆN THƠ
(TRƯỜNG HỢP TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
VÀ TUM TEAV THEO BẢN CỦA BOTUMTHERA SOM)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh – 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
La Chí Khang
NIỀM TIN TÂM LINH CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ NGƯỜI CAMPUCHIA
QUA CÁC SÁNG TÁC TRUYỆN THƠ
(TRƯỜNG HỢP TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
VÀ TUM TEAV THEO BẢN CỦA BOTUMTHERA SOM)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ THU YẾN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Cô PGS.TS Lê Thu Yến
Các số liệu, kết quả trong khóa luận này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 02 năm 2022
Sinh viên
La Chí Khang Lớp 44.01.VAN.SPA
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, bên cạnh những nỗ lực của bản thân, em còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ, quan tâm và động viên từ Thầy Cô, nhà trường, bạn bè và gia đình
Trước hết, từ tận đáy lòng, em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến người hướng dẫn khoa học của em – Cô PGS.TS Lê Thu Yến Cô là người đã truyền dạy cho em những kiến thức khoa học xác đáng và truyền cảm hứng cho
em trong việc nghiên cứu về vấn đề niềm tin tâm linh trong văn học, về Truyện
Kiều Cô cũng đã hỗ trợ và động viên em rất nhiều từ những khâu đầu tiên và
đã có những gợi mở, góp ý hết sức quý báu để em có thể hoàn thành khóa luận một cách chỉn chu nhất
Tiếp đến, em xin gửi lời cảm ơn đến Nhà trường và Quý Thầy Cô Khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để chúng em có thể hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất
Và, xin gửi lời cảm ơn đến những anh chị, bạn bè đã hết lòng giúp đỡ,
hỗ trợ để góp phần giúp khóa luận nghiên cứu của em thêm phần khách quan Xin gửi lời cảm ơn đến anh Nguyễn Khắc Nguyện (sinh viên ngành Tôn giáo học ĐH KHXH&NV TP HCM), anh Lâm Hán Dũng (du học sinh Campuchia tại ĐH Tế Nam – Trung Quốc) đã hỗ trợ em về tài liệu; chị Ath Sreyneang (Phó chủ tịch Hội sinh viên Campuchia tại Việt Nam) đã hỗ trợ em nhiệt tình trong việc khảo sát niềm tin tâm linh của người Campuchia; chị Trương Kim Thiên,
anh Trương Tiểu Long, bạn Phương Minh Như đã hỗ trợ dịch thuật câu hỏi
khảo sát Và còn nhiều người bạn khác đã luôn động viên, hỗ trợ em nhiệt tình
Thêm nữa, em còn nhận được sự hỗ trợ, động viên rất lớn từ gia đình
Từ tận đáy lòng, em muốn gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến tất cả!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4 Phạm vi nghiên cứu 18
5 Phương pháp nghiên cứu 19
6 Cấu trúc của khóa luận tốt nghiệp 20
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ 22
1.1 Niềm tin tâm linh 22
1.1.1 Định nghĩa 22
1.1.2 Phân biệt niềm tin tâm linh với tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan 27
1.1.2.1 Phân biệt niềm tin tâm linh với tín ngưỡng 27
1.1.2.2 Phân biệt niềm tin tâm linh với tôn giáo 29
1.1.2.3 Phân biệt niềm tin tâm linh với mê tín dị đoan 35
1.2 Tác giả và tác phẩm 36
1.2.1 Nguyễn Du và Truyện Kiều 36
1.2.1.1 Về tác giả Nguyễn Du 36
1.2.1.2 Tóm tắt Truyện Kiều 38
1.2.2 Botumthera Som và Tum Teav 42
1.2.2.1 Về tác giả Botumthera Som 42
1.2.2.2 Tóm tắt truyện thơ Tum Teav 43
Trang 61.3 Cơ sở đối sánh niềm tin tâm linh của người Việt và người Campuchia qua
Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tum Teav theo bản của Botumthera Som 45
1.3.1 Cơ sở địa lý 46
1.3.2 Bối cảnh lịch sử 47
1.3.3 Bối cảnh văn hóa 49
1.3.4 Quá trình hình thành tác phẩm 51
Tiểu kết chương 1 54
CHƯƠNG 2 ĐIỂM GẶP GỠ GIỮA NIỀM TIN TÂM LINH CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ NGƯỜI CAMPUCHIA QUA TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU VÀ TUM TEAV THEO BẢN CỦA BOTUMTHERA SOM 55
2.1 Niềm tin vào hồn ma, báo mộng, thề nguyền 55
2.2 Niềm tin vào cầu cúng, khấn vái 73
2.3 Niềm tin vào tướng số, bói toán 79
2.4 Niềm tin vào luật nhân quả 84
Tiểu kết chương 2 91
CHƯƠNG 3 ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA NIỀM TIN TÂM LINH CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ NGƯỜI CAMPUCHIA QUA TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU VÀ TUM TEAV THEO BẢN CỦA BOTUMTHERA SOM 92
3.1 Niềm tin tâm linh chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng khác nhau 92
3.1.1 Niềm tin tâm linh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng tam giáo đồng nguyên (Nho-Phật-Đạo) 93
3.1.2 Niềm tin tâm linh trong Tum Teav theo bản của Botumthera Som chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Phật giáo và tín ngưỡng Vua-Thần Devaraja 106
3.2 Niềm tin tâm linh chịu ảnh hưởng bởi một số phong tục bản địa 113
Trang 73.2.1 Niềm tin tâm linh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du chịu ảnh hưởng bởi một
số phong tục của Việt Nam 114
3.2.2 Niềm tin tâm linh trong Tum Teav theo bản của Botumthera Som chịu ảnh hưởng bởi một số phong tục của Campuchia 119
Tiểu kết chương 3 126
KẾT LUẬN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đầu tiên, có thể thấy rằng, tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa đã và đang mở ra hướng đi đầy hứa hẹn, nhận được sự chú ý, quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Xem xét văn học là một tổng thể ngôn từ, mang hơi thở của cả một thời đại, bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa rộng lớn, các nhà nghiên cứu đi sâu vào khám phá những nét đặc trưng về văn hóa của tác phẩm Từ đó, nhà nghiên cứu chỉ ra được những đóng góp nhất định của một tác phẩm văn học đối với giá trị văn hóa, tinh thần chung của cả một cộng đồng, thời đại Đây là hướng đi chung khi nghiên cứu, tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, mang ý nghĩa gắn kết các giá trị của văn học với văn hóa, chỉ ra những đặc trưng, những cái hay, cái đẹp của đời sống tinh thần, góp phần khẳng định sức sống của tác phẩm văn học trong cộng đồng xã hội và giữ gìn, phát huy các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Đặt hướng nghiên cứu tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay, chúng tôi nhận thấy cần có một sự tiếp cận với nền văn học ngoài nước để thấy được những giá trị, đặc trưng văn hóa của mỗi quốc gia trong tương quan đối sánh với nền văn học dân tộc mình Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, thời kì văn học trung đại hiện lên với đầy đủ những tinh hoa, phản ánh rõ nét những giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc Chính vì thế, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đối sánh giữa thời kì văn học này
và thời kì văn học truyền thống Campuchia với hướng tiếp cận về văn hóa tâm linh qua một phương diện cụ thể: niềm tin tâm linh Sở dĩ chúng tôi lựa chọn đối sánh giữa văn học Việt Nam và văn học Campuchia là bởi vì hai lý do chính như sau:
Thứ nhất, việc nghiên cứu đối sánh văn học viết Việt Nam và
Trang 9Campuchia chưa thực sự được phổ quát rộng rãi Những vấn đề đối sánh giữa văn học Việt Nam và văn học Campuchia thường được đặt trong bối cảnh hệ hình văn học Đông Nam Á nói chung và qua các truyện cổ, ngụ ngôn… thuộc
về nền văn học dân gian
Thứ hai, niềm tin tâm linh là một biểu hiện của văn hóa tâm linh, được
phản ánh khá rõ nét trong văn học trung đại Việt Nam và văn học truyền thống Campuchia Trong niềm tin tâm linh, có những biểu hiện nhỏ hơn như niềm tin vào hồn ma, báo mộng, thề nguyền, bói toán, tướng số…; những biểu hiện này tồn tại trong các tác phẩm trung đại Việt Nam và Campuchia một cách dễ nhận thấy, nhưng để đi sâu vào khám phá dưới góc độ chi tiết, lý giải các tầng sâu văn hóa thì đòi hỏi phải có một sự tìm tòi nhất định
Chúng tôi lựa chọn nghiên cứu cụ thể vấn đề niềm tin tâm linh của người
Việt và người Campuchia qua các sáng tác truyện thơ, trường hợp Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tum Teav theo bản của Botumthera Som vì hai lý do chính
sau đây:
Thứ nhất, truyện thơ là một thể loại có vị trí và những đóng góp quan
trọng đối với tiến trình văn học trung đại Việt Nam và văn học truyền thống Campuchia Đây là thể loại có cốt truyện và những câu chuyện được kể lại qua truyện thơ phản ánh rất rõ nét đời sống văn hóa, tinh thần của thời đại lúc bấy
giờ Truyện Kiều và Tum Teav đều là những sáng tác thuộc thể loại này
Thứ hai, Truyện Kiều và Tum Teav đều là những truyện thơ đỉnh cao
của cả hai dân tộc Việt Nam và Campuchia Đây là những tác phẩm đạt đến mức tinh luyện về cả nội dung lẫn nghệ thuật, có một sức sống lâu bền trong
lòng nhân dân Với Truyện Kiều, đây là một tác phẩm có sức sống mãnh liệt
trong lòng mỗi người con đất Việt, đã đi vào nếp sống, nếp sinh hoạt của người dân từ bao đời nay qua các loại hình dân gian như bói Kiều, lẩy Kiều… Còn
Trang 10Tum Teav là một truyện thơ kể về một câu chuyện có thật trong lịch sử thời đại
Campuchia thế kỉ XVI, sau này được nhiều tác giả viết lại, trong đó có nhà sư
Botumthera Som Cũng như Truyện Kiều, Tum Teav cũng có sức lay động mãnh
liệt đến tất cả mọi người dân sinh sống tại đất nước Campuchia
Như vậy, với những lý do trên, chúng tôi đặt ra vấn đề nghiên cứu “Niềm
tin tâm linh của người Việt và người Campuchia qua các sáng tác truyện thơ (trường hợp Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tum Teav theo bản của Botumthera Som)” trong khóa luận này Với chút hiểu biết ít ỏi về văn học, văn
hóa, những rào cản về ngôn ngữ Campuchia cũng như kiến thức còn hạn hẹp,
chưa thể khai phá hết các vấn đề tâm linh trong Truyện Kiều, người viết mong
rằng sẽ nhận được những lời nhận xét và góp ý của Quý Thầy Cô trong hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp Bởi lẽ, những lời góp ý này là vốn quý báu để người viết có thể học được nhiều kinh nghiệm trong bước đầu đến với quá trình nghiên cứu học thuật một cách nghiêm túc, chuyên sâu
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm chỉ ra một số điểm gặp gỡ
và khác biệt giữa niềm tin tâm linh của người Việt và người Campuchia qua
truyện thơ tiêu biểu của mỗi dân tộc là Truyện Kiều của Nguyễn Du (Việt Nam)
và Tum Teav theo bản của Botumthera Som (Campuchia)
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
* Các công trình nghiên cứu về văn hóa tâm linh
Nói đến các công trình nghiên cứu về văn hóa tâm linh, chúng tôi khá
tâm đắc với sách Văn hóa tâm linh (1996) của tác giả Nguyễn Đăng Duy Đây
là một trong những công trình nghiên cứu về văn hóa tâm linh mang tính chất
cơ sở với định nghĩa: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời
Trang 11thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình
công trình nghiên cứu về văn hóa tâm linh sơ khởi và khá đầy đủ về các phương diện của văn hóa tâm linh
Bên cạnh đó còn có sách Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ của nhà
nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiếu (2011) Tác giả đã đặt ra vấn đề nghiên cứu tìm hiểu văn hóa tâm linh ở vùng Nam Bộ của Việt Nam theo cái nhìn địa-văn hóa, trong đó trình bày khái quát về văn hóa tâm linh trong cuộc sống thường ngày của người Việt không theo tôn giáo và làm rõ nguồn gốc, sự thay đổi qua thời gian, không gian của một số dạng sinh hoạt tâm linh phổ biến
* Các công trình nghiên cứu về vấn đề tâm linh trong văn học (không kể
Truyện Kiều và Tum Teav)
Về nhóm công trình này, trước hết, chúng tôi khá tâm đắc với công trình
có thể được xem là đặt ra cơ sở nghiên cứu về vấn đề tâm linh trong văn học
trung đại Việt Nam nói riêng và đời sống văn học nói chung Đó là sách Văn
học trung đại Việt Nam và những vấn đề tâm linh của tác giả Lê Thu Yến (chủ
biên) cùng các tác giả khác (2015) Các tác giả đã đặt ra vấn đề về tiềm năng nghiên cứu khoa học của vấn đề tâm linh – vốn dĩ được xem là duy tâm, ít hoặc
không có cơ sở lý giải khoa học: “Gần đây người ta nói nhiều đến tâm linh, đời
sống tâm linh, thế giới tâm linh, giải tỏa tâm linh… đôi khi còn khẳng định thế
kỷ XXI là thế kỷ tâm linh hoặc xem hiện tượng tâm linh sẽ trở thành khoa học thống soái trong các năm sau.” (Lê Thu Yến nnk., 2015, tr.17)2 Về vấn đề nghiên cứu tâm linh trong văn học trung đại Việt Nam, sách có gợi ra vấn đề
1 Nguyễn Đăng Duy (1996) Văn hóa tâm linh NXB Hà Nội
2 Lê Thu Yến (chủ biên) và tgk (2015) Văn học trung đại Việt Nam và những vấn đề tâm linh NXB Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12rằng: “Văn học trung đại mang trong lòng nó những giá trị tâm linh chân chính
nhưng từ bấy lâu nay chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm tâm nhiều.” (Lê
Thu Yến nnk., 2015, tr.183)3 Về mặt đóng góp, quyển sách nghiên cứu này đã
có “những kết quả có tính chất khởi đầu như lý giải về vấn đề tâm linh, nguồn
gốc xuất phát của tâm linh, chỉ ra các mặt biểu hiện của các yếu tố tâm linh và những hiệu quả thẩm mỹ của nó.” (Lê Thu Yến nnk., 2015, tr.183)4 Công trình cũng đã đặt ra vấn đề về những tiềm năng nghiên cứu tâm linh trong văn học hiện đại Việt Nam nói riêng và về sức hấp dẫn của các yếu tố văn hóa tâm linh trong đời sống văn học nói chung
Về văn học nước ngoài, chúng tôi nhận thấy có một số công trình nghiên
cứu về thế giới ảo, yếu tố kì ảo trong văn học và thông qua cái ảo đó, có thể thấy được niềm tin tâm linh tồn tại ẩn sâu bên trong nền văn hóa của mỗi quốc
gia Có thể kể đến các công trình như: luận văn thạc sĩ Giải mã thế giới ảo trong
Liêu trai chí dị dưới góc nhìn của huyền thoại học (2010) của tác giả Hoàng
Thị Thùy Dương; luận văn thạc sĩ Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Gabriel
Garcia Marquez (2010) của tác giả Nguyễn Thành Trung…
Xét đến văn học Việt Nam, chúng tôi điểm qua một số công trình luận
văn có đề cập đến yếu tố tâm linh từ văn học trung đại đến văn học hiện đại
Về văn học trung đại Việt Nam, có thể kể đến các công trình như: luận văn
thạc sĩ Văn hóa tâm linh trong văn xuôi trung đại (2007) của tác giả Hoàng Thị Minh Phương; luận văn thạc sĩ Thế giới tâm linh trong truyện thơ Nôm (2010) của tác giả Nguyễn Thị Gái; luận văn thạc sĩ Yếu tố kì ảo trong văn xuôi trung
đại (thế kỉ XV đến thế kỉ XIX) (2012) của tác giả Lê Thùy Dung; luận văn thạc
sĩ Thế giới tâm linh qua hình ảnh mộ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du (2012) của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Ánh; luận văn thạc sĩ Yếu tố huyền ảo trong truyện,
3 Lê Thu Yến, 2, tr.183
4 Lê Thu Yến, 2, tr.183
Trang 13ký Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX (Khảo sát qua: Tang thương ngẫu lục - Lan trì kiến văn lục và Truyền kỳ tân phả) (2014) của tác giả Nguyễn Ngọc Trai; luận
văn thạc sĩ Bắc hành tạp lục và cuộc trò chuyện của Nguyễn Du với những
người đã mất (2015) của tác giả Lê Thu Nga… Nhìn chung, có công trình
nghiên cứu bao quát về yếu tố tâm linh qua một thể loại, có công trình đi sâu vào một giai đoạn văn học nhất định và cũng có công trình nghiên cứu vấn đề tâm linh trong một tác phẩm cụ thể
Xét đến văn học hiện đại, chúng tôi xin điểm qua một số công trình luận
văn nghiên cứu về vấn đề tâm linh trong văn học giai đoạn này: luận văn thạc
sĩ Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 (2009) của tác giả Trần Thanh Tùng; luận văn thạc sĩ Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp (2012) của tác giả Đinh Thị Phương Trà; luận văn thạc sĩ Văn hóa tâm linh trong truyện ngắn, tiểu thuyết Việt Nam (1932-1945) (2012)
của tác giả Phạm Thị Xuân Lan; luận văn thạc sĩ Yếu tố tâm linh trong Trường
Thơ Loạn (qua ba tác giả: Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên) (2014) của
tác giả Nguyễn Thị Ngọc Nhựt… Nhìn chung, các công trình luận văn nghiên cứu về vấn đề tâm linh trong văn học hiện đại thông qua phương diện yếu tố kỳ
ảo và nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề văn hóa tâm linh như một sự kế thừa, tiếp nối từ văn hóa truyền thống và văn học trung đại Các thể loại được nghiên cứu
đa dạng, từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến thơ ca hiện đại
Tóm lại, tất cả những công trình nghiên cứu về vấn đề tâm linh trong văn học cho thấy tâm linh là một vấn đề được đặt ra với tính chất chính đáng, cần được nhìn nhận trong nghiên cứu khoa học Thực tế kết quả của các công trình nghiên cứu nói trên đã chứng minh được điều này và cho thấy sức hấp dẫn, thú
vị, những đóng góp đáng ghi nhận của việc nghiên cứu tâm linh trong văn học
Việt Nam nói riêng và văn học thế giới nói chung
Trang 14* Các công trình nghiên cứu về vấn đề tâm linh trong Truyện Kiều
Luận văn thạc sĩ Sự tiếp biến ba học thuyết Phật, Đạo, Nho của Nguyễn
Du trong truyện Kiều (1998) của tác giả Phan Huy Củng đã đi vào tìm hiểu Truyện Kiều từ cơ sở của sự giao lưu văn hóa và cụ thể là văn hóa tâm linh Tác
giả đã xác định ba học thuyết Phật, Đạo, Nho được du nhập vào nước ta nhằm phục vụ cho nhu cầu của đời sống dân tộc Phân tích cụ thể sự tiếp biến của ba học thuyết ấy thông qua tác phẩm, tác giả đã cố gắng phân tách luận điểm của từng học thuyết (tác giả cũng thừa nhận rằng do sự trộn lẫn ba học thuyết này trong quá trình du nhập vào đời sống dân gian nên việc phân tách thật sự rất khó): Đạo Nho gắn với Mệnh trời, Hiếu, Trung, Nhân, Nghĩa, Trinh; Phật giáo gắn với chữ Nghiệp và chữ Tâm; Đạo giáo gắn với pháp thuật, dễ bị nhầm là
mê tín dị đoan với đạo cô Tam Hợp, hồn ma Đạm Tiên Sau cùng, tác giả kết
luận: “Tóm lại, ở Truyện Kiều, Nguyễn Du, đã tiếp biến Nho, Phật, Đạo theo
hướng làm nổi lên sự kết hợp các yếu tố của các đạo ấy với tư tưởng nhân văn nhân đạo Việt Nam, tô đậm thêm, mở rộng, nâng cao thêm cái Nhân, cái Nghĩa, cái Hiếu, cái thương, cái sức phấn đấu chủ động của con người trong tình huống bị động, dập vùi.” (Phan Huy Củng, 1998, tr.104)5
Bài báo cáo Thế giới tâm linh trong sáng tác của Nguyễn Du – Một biểu
hiện của văn hóa Việt của tác giả, nhà nghiên cứu Lê Thu Yến tại Hội thảo quốc
tế Việt Nam học lần thứ ba diễn ra ở Hà Nội năm 2008 đã góp phần làm rõ các biểu hiện của văn hóa tâm linh người Việt trong các sáng tác của đại thi hào
Nguyễn Du với “Một Văn chiêu hồn thấm đẫm màu sắc của thế giới bên kia,
một Truyện Kiều bàng bạc không gian của cõi âm và nhất là thơ chữ Hán được bày ra những đình, đền, miếu, mộ…” (Lê Thu Yến, 2008, tr.720)6 Tác giả đã
5 Phan Huy Củng (1998) Sự tiếp biến ba học thuyết Phật, Đạo, Nho của Nguyễn Du trong truyện Kiều [Luận
văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh].
6 Lê Thu Yến (2008) Thế giới tâm linh trong sáng tác của Nguyễn Du – Một biểu hiện của văn hóa Việt [Bài
đăng kỷ yếu] Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, Hà Nội
Trang 15rất kì công trong việc khái quát hầu hết những biểu hiện của văn hóa tâm linh hiển hiện trong các sáng tác của Nguyễn Du như lễ hội, thần thánh, trời, Phật,
ma quỷ, nghĩa địa, mồ mả, tha ma, mộng mị, chiêm bao, bói toán Không những thế, bài báo cáo còn phân tích đặc điểm của thế giới tâm linh bằng việc đi cụ thể vào từng thể loại trong các sáng tác chính của cụ Thanh Hiên, đó là bộ phận
thơ chữ Hán, là các sáng tác chữ Nôm như Truyện Kiều, Văn chiêu hồn Bên
cạnh đó, sự công phu, tỉ mỉ của bài báo cáo này còn thể hiện ở việc tác giả đã
có những thống kê cụ thể về số liệu, tần suất xuất hiện của các biểu hiện, yếu
tố tâm linh trong sáng tác của Nguyễn Du Chẳng hạn, ở Truyện Kiều, tác giả
đã đưa ra những con số như: “Chữ mệnh xuất hiện 13 lần, nghiệp 6 lần, duyên
63 lần, kiếp 27 lần, chiêm bao, mộng, mơ, hồn, mê 32 lần, bóng 26 lần,…” (Lê
Thu Yến, 2008, tr.727)7 Do nghiên cứu rộng về phạm vi và hạn chế về mặt dung lượng nên có thể bài báo cáo chưa thể khai thác thật sâu vào những biểu hiện của thế giới tâm linh trong từng sáng tác của Nguyễn Du Tuy vậy, có thể xem bài báo cáo là một trong những cơ sở quan trọng cho các công trình nghiên cứu về văn hóa tâm linh trong sáng tác của Nguyễn Du về sau
Luận văn thạc sĩ Văn hóa tâm linh trong “Truyện Kiều” và “Văn chiêu
hồn” của Nguyễn Du (2010) của tác giả Hoàng Thị Thanh Xuân đã tiếp cận Truyện Kiều cùng với Văn chiêu hồn của Thanh Hiên tiên sinh từ góc độ văn
hóa tâm linh Chúng tôi nhận thấy đây là luận văn nghiên cứu có tính chất hệ thống, đặt ra vấn đề về việc nghiên cứu chuyên sâu hơn các vấn đề về văn hóa
tâm linh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Luận văn hầu hết đã bao quát được các vấn đề của văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn: vấn đề
khái niệm văn hóa tâm linh; cơ sở hình thành văn hóa tâm linh; các biểu hiện của văn hóa tâm linh như lễ hội, lực lượng siêu nhiên, cõi âm, hồn ma, mồ mả, tha ma, cầu cúng, khấn vái, chiêm bao, bói toán, thề nguyền; các ý nghĩa của
7 Lê Thu Yến, 6, tr.727
Trang 16văn hóa tâm linh trong tác phẩm như phản ánh hiện thực đời sống, mang ý nghĩa giáo dục, thể hiện ước mơ của con người và khẳng định sức sống lâu bền của tác phẩm Trong luận văn này, chúng tôi khá tâm đắc với luận điểm cho
rằng Phật giáo trong Truyện Kiều là Phật giáo trong niềm tin của nhân dân, đã
nhập vào lời ăn tiếng nói của nhân dân Phật giáo này vận vào Kiều như một niềm tin tự nhiên, đơn thuần, thuộc về truyền thống văn hóa đẹp của dân tộc và
có những lúc đã đem lại cho nàng một điểm tựa tinh thần, một nơi chốn yên tĩnh Tuy nhiên, tác giả của luận văn cũng chỉ rõ ra rằng đó là niềm tin của Kiều trong dòng chảy văn hóa tâm linh của dân tộc, một cội nguồn tinh thần tốt đẹp
chứ không hẳn là nàng không có cảm xúc, tình cảm cá nhân: “Ba lần đi tu
nhưng chưa lần nào nàng tự nguyện cả! Bởi trong thâm tâm nàng chưa bao giờ có ý định xuất gia cởi bỏ thế giới đời thường, cởi bỏ tình yêu đẹp đẽ với Kim Trọng.” (Hoàng Thị Thanh Xuân, 2010, tr.43-44)8
Bài báo khoa học Cầu cúng, khấn vái – Niềm tin tâm linh trong văn học
trung đại Việt Nam (2013) của tác giả Lê Thu Yến và Đàm Thị Thu Hương đã
giới thiệu, phân tích biểu hiện của niềm tin vào cầu cúng, khấn vái trong văn
học trung đại, trong đó có nhắc đến các biểu hiện này trong Truyện Kiều Cụ
thể, bài viết có làm rõ rằng niềm tin này được thể hiện thông qua lời thề nguyền:
“Và khi cuộc báo ân báo oán diễn ra, những lời thề ấy được Kiều viện dẫn trở
lại như bằng chứng cáo buộc không cách gì chối cãi cho những kẻ đã hãm hại cuộc đời Kiều “Lệnh quân truyền xuống nội đao – Thề sao thì lại cứ sao gia hình” Chính vì thế, những lời thề trong những nghi thức khấn nguyện dưới trời đất có ý nghĩa rất thiêng liêng.” (Lê Thu Yến & Đàm Thị Thu Hương,
2013, tr.98)9 và tục tảo mộ: “Chị em Thúy Kiều trong tiết thanh minh cũng đã
8 Hoàng Thị Thanh Xuân (2010) Văn hóa tâm linh trong “Truyện Kiều” và “Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du
[Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh]
9 Lê Thu Yến, Đàm Thị Thu Hương (2013) Cầu cúng, khấn vái – Niềm tin tâm linh trong văn học trung đại
Việt Nam Tạp chí khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 44, 92-103
Trang 17cùng nhau đi thăm mộ, cúng tế sửa sang mồ mả ông bà, tổ tiên (Truyện Kiều).”
(Lê Thu Yến & Đàm Thị Thu Hương, 2013, tr.101)10
Bài báo khoa học Trời Phật, thánh thần – Niềm tin tâm linh trong văn
học trung đại Việt Nam (2013) của tác giả Lê Thu Yến và Nguyễn Hữu Nghĩa
cũng phân tích biểu hiện của niềm tin vào Trời Phật trong Truyện Kiều Cụ thể, bài viết đã làm rõ niềm tin này được thể hiện trong Truyện Kiều thông qua một
số tư tưởng, triết thuyết như “tài mệnh tương đố”, “tạo vật đố toàn” Chúng tôi
khá tâm đắc với nhận định: “Đến Nguyễn Du thì vấn đề nhân mệnh được nhận
thức rõ hơn trong Truyện Kiều, tuy không phải là triệt để Tố Như nhận thấy
số phận con người đôi khi không phụ thuộc vào thiên mệnh: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.” và lắm lúc ông mơ hồ nhận ra cốt lõi vấn đề là
do lòng người chứ không hẳn là ở ý trời.” (Lê Thu Yến & Nguyễn Hữu Nghĩa,
2013, tr.59)11 Bài viết tuy chưa thể đi sâu vào Truyện Kiều nhưng cũng đã có
những nhận định xác đáng như thế, mang tính chất gợi mở cho các công trình nghiên cứu sau này
Luận văn thạc sĩ Thế giới tâm linh trong Truyện Kiều và Lục Vân Tiên
(2015) của tác giả Lê Thị Thùy Trang đã chọn nghiên cứu biểu hiện của văn hóa tâm linh ở hai tác phẩm, một được xem là áng văn bất hủ của dân tộc gắn
với người con đất Kinh Bắc (Truyện Kiều – Nguyễn Du), một được xem là sách gối đầu giường của biết bao thế hệ người con đất Nam Bộ (Lục Vân Tiên –
Nguyễn Đình Chiểu) Luận văn đã đưa ra những kết quả nghiên cứu xác đáng
về các biểu hiện này và có sự lý giải thêm về cội nguồn tín ngưỡng, tôn giáo ở mỗi vùng miền, địa phương
Sách Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa (2015) của nhà nghiên
10 Lê Thu Yến & Đàm Thị Thu Hương, 9, tr.101
11 Lê Thu Yến, Nguyễn Hữu Nghĩa (2013) Trời Phật, thánh thần – Niềm tin tâm linh trong văn học trung đại
Việt Nam Tạp chí khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 46, 56-67.
Trang 18cứu Lê Nguyên Cẩn đã dành hẳn một mục trong Chương 1 để bàn về văn hóa
tâm linh trong Truyện Kiều Ở mục này, tác giả đã nói đến tính chất tam giáo
đồng nguyên trong văn hóa người Việt, bàn đến Phật giáo, hồn ma Đạm Tiên, nhân quả trong quan niệm dân gian, mê lộ tha ma và mô hình hai thế giới hiện
thực – tâm linh trong Truyện Kiều Tác giả nhìn nhận những biểu hiện của văn hóa tâm linh người Việt tồn tại xuyên thấm trong Truyện Kiều bởi mô hình này và: “Các nhân vật trong Truyện Kiều đều được đặt trong mối quan hệ giữa hiện
thực và tâm linh này Cách hành xử của các nhân vật đều xuất phát từ mối quan
hệ giữa hai thế giới đó, hoặc nghiêng về hiện thực hoặc nghiêng về tâm linh để
từ đó bản chất nhân vật lộ ra.” (Lê Nguyên Cẩn, 2015, tr.31)12 Cũng do giới hạn về mặt dung lượng nên có thể sách chưa thể khai thác hết các vấn đề về
văn hóa, niềm tin tâm linh trong Truyện Kiều nhưng cũng có một vài nghiên
cứu mang tính chất gợi mở và khá thú vị Chẳng hạn, tác giả bàn đến hiện tượng bói Kiều và nhận định số tác phẩm có chức năng bói toán trên thế giới chỉ có
ba, đó là Kinh Thánh, Kinh Dịch và Truyện Kiều Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích biểu tượng nước trong Truyện Kiều không chỉ ở khía cạnh tâm linh, Phật giáo mà còn ở khía cạnh biểu tượng, thông qua hai hình ảnh: “Trước hết là
“giọt nước cành dương” gắn với thời điểm Kiều xuất gia giữ chùa chép kinh tại Quan Âm các của nhà Hoạn Thư và thứ hai là sông Tiền Đường.” (Lê
Nguyên Cẩn, 2015, tr.44)13
Quyển Thả một bè lau (2015) của Thiền sư Thích Nhất Hạnh nhìn nhận
Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán, tuệ giác của đạo Bụt với phần Thay lời
tựa: “Ta phải nhìn cụ Nguyễn Du bằng con mắt trạch pháp.” (Thích Nhất Hạnh,
2015, tr.6)14 Quyển sách này là tập hợp “Các bài giảng của Thầy ở Làng Mai
12Lê Nguyên Cẩn (2015) Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
13 Lê Nguyên Cẩn, 12, tr.44
14Thích Nhất Hạnh (2015) Thả một bè lau NXB Thời đại
Trang 19vào mỗi buổi chiều thứ ba từ tháng 2/1992 đến tháng 6/1993.” (Thích Nhất
Hạnh, 2015, tr.384)15 Khi bình giảng Truyện Kiều, Thầy đã nhìn nhận dưới
góc nhìn Phật giáo, giúp ta hiểu hơn về những triết lý sâu rộng ẩn chứa đằng sau những câu từ mà nếu đọc lướt qua thì có vẻ giản dị và dễ hiểu Chẳng hạn như hai câu:
Bây giờ rõ mặt đôi ta, Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?
Thầy nhận định rằng: “Đây là một trong những câu ghê gớm nhất của Truyện
Kiều Nếu đem con mắt của thiền sư mà nhìn thì ta sẽ thấy câu này ‘lợi hại’ lắm.” (Thích Nhất Hạnh, 2015, tr.50)16, bàn về thực và mộng với “Sự khác nhau
nằm ở chỗ có an trú trong hiện tại, có chánh niệm khi tiếp xúc với cái đẹp của
tờ lá hay không.” (Thích Nhất Hạnh, 2015, tr.50)17 Hoặc: “‘Vậy nên những
chốn thong dong Ở không an ổn ngồi không vững vàng’ là câu thơ tả rõ được tâm trạng của nhiều người Không có hạnh phúc vì không an trú được trong giây phút hiện tại: bây giờ và ở đây.” (Thích Nhất Hạnh, 2015, tr.267)18 …
Thầy cũng có những lý giải về mặt văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều, chẳng hạn như: “Trong văn hóa Á Đông, đi tảo mộ cũng là đi chơi, là một dịp để
người sống bày tỏ sự cảm thông, thân thiết với người chết.” (Thích Nhất Hạnh,
2015, tr.15)19 và nhận định về chức năng của Đạm Tiên – nhân vật thuộc về
chốn tâm linh: “Trong cuộc đi chơi này, ba chị em gặp hai nhân vật: một hồn
ma và một người con trai Hai nhân vật của chiều mùa xuân năm đó sẽ ám ảnh,
đi theo Kiều suốt cuộc đời.” (Thích Nhất Hạnh, 2015, tr.14)20 Dưới góc nhìn
thiền quán của một bậc sư, Thầy đã có nhận định rằng: “Quan niệm, kiến thức
Trang 20Phật học của Nguyễn Du lúc đó chưa uyên bác lắm.” (Thích Nhất Hạnh, 2015,
tr.383)21 nhưng “Tuệ giác của cụ lớn lắm, không phải là do cụ học Phật mà có,
mà do cụ đã tiếp nhận được từ các thế hệ tổ tiên, từ văn hóa dân tộc, và nhất
là từ kinh nghiệm sống và tiếp xúc của cụ.” (Thích Nhất Hạnh, 2015, tr.383)22, tức là khẳng định tài năng uyên bác và sự tiếp thu vốn văn hóa dân gian, truyền thống văn hóa dân tộc của một đại thi hào Điều tâm đắc của chúng tôi là vốn
quý mà quyển sách này đã để lại, không chỉ về mặt nghiên cứu Truyện Kiều mà còn về mặt thực tiễn đời sống: “Sống trong một Tăng thân, những giây phút
được đi chầm chậm với nhau, ngồi uống trà im lặng với nhau, ngồi thiền với nhau… là hạnh phúc chân thật của mình.” (Thích Nhất Hạnh, 2015, tr.384)23
Trong bài báo khoa học Nhóm từ chỉ mùi hương trong Truyện Kiều
(2021), tác giả Nguyễn Thị Quốc Minh đã đi sâu vào khai thác một khía cạnh
thú vị về mặt ngôn ngữ trong Truyện Kiều: nhóm từ chỉ mùi hương Mặc dù
vấn đề niềm tin tâm linh trong tác phẩm không phải là đối tượng nghiên cứu
chính của bài viết nhưng từ việc phân tích từ “hương”: “Chữ hương trong
Truyện Kiều có nhiều nghĩa, trước hết nó là vật để đốt, thắp cho hương hồn người đã khuất hay cầu khấn thần phật.” (Nguyễn Thị Quốc Minh, 2021,
tr.115)24, tác giả đã đưa ra kết luận ngắn có liên quan đến yếu tố tâm linh, rằng:
“Điều này cho thấy trong Truyện Kiều cuộc sống có nhiều bất trắc, nhiều nỗi
sợ hãi nên người ta phải cầu xin những lực lượng siêu nhiên giúp đỡ, đồng thời cũng cho thấy đời sống tâm linh rất được Nguyễn Du chú ý.” (Nguyễn Thị Quốc
Trang 21chúng sinh (Văn chiêu hồn) của Nguyễn Du (2021) của tác giả Võ Thị Thùy
Dung đã làm rõ một số dấu ấn của tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và con người
được thể hiện qua hai tác phẩm Trong đó, ở Truyện Kiều, tác giả đã làm rõ
niềm tin vào trời, lời thề nguyền xuất phát từ tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và niềm tin vào hồn ma xuất phát từ tín ngưỡng sùng bái con người Thêm nữa, bài viết cũng phân tích vai trò của những yếu tố tâm linh này ở hai khía cạnh văn học và văn hóa, nhấn mạnh lại một lần nữa vai trò của yếu tố văn hóa tâm
linh trong thơ văn của cụ Nguyễn Du: “Có thể khẳng định, tín ngưỡng dân gian
của người Việt đã được ngòi bút của Nguyễn Du “lồng” vào một cách tài tình
để giúp tác giả có thể chuyên chở hết cái tài, cái tình và cả cái tâm của ông đối với mọi kiếp người.” (Võ Thị Thùy Dung, 2021, tr.166)26
Chúng tôi đã điểm qua một vài công trình nghiên cứu về vấn đề tâm linh
trong Truyện Kiều, và tất nhiên, có lẽ còn nhiều công trình khác nữa chưa được
chúng tôi nhắc đến Tuy thế, thông qua những công trình trên, từ sách, bài báo khoa học đến kỷ yếu hội thảo quốc tế, chúng tôi nhận thấy rằng tâm linh trong
Truyện Kiều là một vấn đề thú vị và thu hút được sự quan tâm của nhiều học
giả, nhà nghiên cứu Vấn đề này được khai thác khá đa dạng, từ công trình mang tính chất giới thiệu, gợi mở đến công trình nghiên cứu chuyên sâu Đây chắc chắn là những nguồn tư liệu quý báu mà chúng tôi có thể tham khảo khi
thực hiện đối sánh niềm tin tâm linh trong Truyện Kiều với truyện thơ Tum
Teav
* Các công trình nghiên cứu về truyện thơ Tum Teav
Ở quốc gia sở tại, năm 2005, Trung tâm tài liệu Campuchia
(Documentation Center of Cambodia) xuất bản quyển Tum Teav – A
26 Võ Thị Thùy Dung (2021) Tín ngưỡng dân gian trong Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh (Văn
chiêu hồn) của Nguyễn Du Tạp chí khoa học Trường Đại học Đà Lạt, 11(2), 155-169
Trang 22Translation and Analysis of a Combodian Literary Classic (tạm dịch là Tum Teav – Bản dịch và phân tích một tác phẩm văn học cổ điển của Campuchia)
của nhà nghiên cứu George Chigas Đây là quyển sách được viết dựa trên các kết quả nghiên cứu từ luận án tiến sĩ của tác giả tại trường Đại học London với
sự giúp đỡ, cộng tác của rất nhiều những nhà nghiên cứu tại Campuchia và Pháp (trong mục Lời cảm ơn, tác giả có nhắc đến các học giả như ông Pech Tum Kravel, ông Hang Soth…) Theo chúng tôi, đây là quyển sách nghiên cứu
và nhìn nhận Tum Teav một cách khá đầy đủ, xác đáng, có sự kì công tham
khảo từ nhiều nguồn và những nguồn này đáng tin cậy (chẳng hạn tác giả có tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu chuyên về Campuchia và Khmer học như Khin Hoc Dy, Ben Kiernan…) Quyển sách đã phân tích khá chi tiết quá
trình hình thành và các phiên bản của Tum Teav, những nghiên cứu đánh giá về
Tum Teav như vấn đề nhìn nhận ai là tác giả của Tum Teav; vị trí của Tum Teav
từ xưa đến nay… Bên cạnh đó sách cũng có trích bản dịch tiếng Anh của truyện
thơ Tum Teav theo bản của Đại đức Botumthera Som
Ở Việt Nam, Tum Teav là một tác phẩm nổi bật của nền văn học
Campuchia, vì thế thường được đề cập đến trong các sách nghiên cứu về văn
học và văn hóa của nước này Có thể kể đến các sách như: Văn học các nước
Đông Nam Á (1983) của tác giả Nguyễn Tấn Đắc; Văn học Đông Nam Á (1998)
của tác giả Lưu Đức Trung (chủ biên); Tuyển tập văn học Cămpuchia (2003) của tác giả Vũ Tuyết Loan; Tìm hiểu lịch sử, văn hóa Campuchia (2014) của
tác giả Phạm Thanh Tịnh… Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu
sâu về tác phẩm này Luận án tiến sĩ So sánh thi pháp truyện thơ Tum Tiêu của
dân tộc Khơme Campuchia với Vượt biển của dân tộc Tày ở Việt Nam (2018)
của tác giả Cù Thị Ánh Ngọc đã chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về mặt thi pháp của hai tác phẩm qua 4 phương diện: cốt truyện, nhân vật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật Chúng tôi nhận thấy rằng luận án này đã
Trang 23có sự bàn sâu vào vấn đề thi pháp của Tum Teav, bên cạnh đó cũng có một vài
phân tích, kết luận về phong tục, tập quán, văn hóa của Campuchia như việc
kết luận nhân vật trong Tum Teav “đậm màu sắc Phật giáo và được soi chiếu
đa chiều” (Cù Thị Ánh Ngọc, 2018, tr.147); “không gian hết sức đời thường với những phong tục, tập quán rất Khơme.” (Cù Thị Ánh Ngọc, 2018, tr.148)
Những kết quả nghiên cứu này đã mang tính chất gợi mở cho chúng tôi tìm
hiểu về niềm tin tâm linh trong truyện thơ Tum Teav Ngoài ra có một số bài báo khoa học nghiên cứu về truyện thơ Tum Teav có thể kể đến như: Truyện
Tum Tiêu và vị trí của nó trong văn học Căm-pu-chia (1984) của tác giả Vũ
Tuyết Loan; Người kể chuyện trong truyện thơ Tum Tiêu (Campuchia) (2021)
của tác giả Đỗ Đinh Linh Vũ…
Thông qua một số công trình nghiên cứu về truyện thơ Tum Teav mà
chúng tôi tìm hiểu được trên đây, có thể thấy rằng hầu hết các nhà nghiên cứu đều khẳng định giá trị, vị trí và vai trò đỉnh cao của tác phẩm trong nền văn học Campuchia thông qua các nghiên cứu về nội dung, hình thức nghệ thuật Các
công trình có nhắc đến các giá trị văn hóa trong Tum Teav, tuy nhiên, hầu hết
chỉ dừng lại ở mức chỉ ra cái thần hồn, những phong tục tập quán rất Khmer, rất Campuchia qua cách ẩn dụ ví von, các địa danh, các lễ hội diễn ra trong tác
phẩm… Các công trình đều chỉ đề cập đến Phật giáo trong Tum Teav chứ chưa
đi sâu vào làm rõ các biểu hiện của văn hóa tâm linh trong tác phẩm Hầu hết các ý kiến đều cho rằng Phật giáo được nhìn nhận trong tác phẩm qua lăng kính chủ quan của một nhà sư, của người mộ đạo, có phần giáo điều và hà khắc giam cầm con người khỏi các giá trị thực nơi cuộc sống trần thế Điều này đã khiến
chúng tôi muốn đặt ra vấn đề rằng: Liệu Phật giáo tồn tại trong truyện thơ Tum
Teav có thật sự chủ quan, giáo điều hay đó là sự tồn tại như mạch nguồn niềm
tin tâm linh của dân tộc? Bên cạnh Phật giáo thì còn khía cạnh tâm linh nào khác hay không? Chúng đóng vai trò, ý nghĩa gì chăng? Có đúng là tất cả chỉ
Trang 24mang tính chất chủ quan hay không? Đây cũng là một nguyên do thúc đẩy chúng tôi được thể nghiệm, nghiên cứu vấn đề niềm tin tâm linh trong truyện
thơ Tum Teav
Vấn đề niềm tin, văn hóa, thế giới tâm linh trong Truyện Kiều hầu hết được nghiên cứu cùng với các tác phẩm khác của dân tộc mình (Văn chiêu hồn,
Lục Vân Tiên) Còn vấn đề đối sánh Truyện Kiều với văn học các nước khác
thì chúng tôi chưa nhận thấy công trình nào (trong phạm vi hiểu biết của mình) làm rõ về vấn đề văn hóa giữa các dân tộc, đặc biệt là văn hóa tâm linh (có công
trình nghiên cứu đối sánh Truyện Kiều với bản gốc Kim Vân Kiều truyện đề cập
đến văn hóa nhưng khai thác với góc độ truy nguyên về bản sắc văn hóa của
người Việt trong Truyện Kiều)
Đặt vấn đề khai thác các giá trị tâm linh trong Tum Teav với những vấn
đề tâm linh trong Truyện Kiều, chúng tôi phát hiện được một điểm thú vị, một
sự gặp gỡ đầu tiên Đó là vấn đề mà tác giả Hoàng Thị Thanh Xuân có nói đến
trong luận văn thạc sĩ (như đã nói trên) của mình: “Ba lần đi tu nhưng chưa lần
nào nàng tự nguyện cả! Bởi trong thâm tâm nàng chưa bao giờ có ý định xuất gia cởi bỏ thế giới đời thường, cởi bỏ tình yêu đẹp đẽ với Kim Trọng.” (Hoàng
Thị Thanh Xuân, 2010, tr.43-44)27 Điều này cũng gần giống với Tum Teav ở
việc chàng Tum hoàn tục để đến với nàng Teav Cùng với những gợi mở của
những công trình đi trước về việc đối sánh Truyện Kiều với văn học các nước
bạn, chúng tôi muốn thử sức, tìm hiểu vấn đề niềm tin tâm linh của người Việt
và người Campuchia qua các sáng tác truyện thơ, cụ thể là trường hợp mà chúng
tôi cho là thú vị: Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du và Tum Teav theo bản
của Đại đức Botumthera Som
27 Hoàng Thị Thanh Xuân, 8, tr.43-44
Trang 254 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu niềm tin tâm linh của người Việt và người
Campuchia thể hiện trong các sáng tác truyện thơ (trường hợp Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tum Teav theo bản của Botumthera Som) Trong quá trình
nghiên cứu, chúng tôi cố gắng thống kê và phân loại các biểu hiện của niềm tin tâm linh qua hai tác phẩm dựa trên văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc, bước đầu lý giải một vài hiện tượng tâm linh nổi bật để thấy được ý nghĩa và vai trò của chúng trong tác phẩm
Chúng tôi lựa chọn khảo sát và nghiên cứu niềm tin tâm linh trong hai tác phẩm dựa trên các tài liệu sau đây:
1 Nguyễn Du (2018) Truyện Kiều - hiệu khảo: Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim
Thành phố Hồ Chí Minh NXB Văn học
2 Vũ Tuyết Loan (sưu tầm) (2003) Tuyển tập văn học Cămpuchia Hà Nội:
NXB Khoa học xã hội
Chúng tôi lựa chọn nghiên cứu Truyện Kiều trên bản hiệu khảo của các
tác giả Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim là bởi vì đây là bản có những chú giải khá
xác đáng, tin cậy, dễ hiểu Còn, xét đến truyện thơ Tum Teav, chúng tôi chọn
khảo sát dựa trên bản được tác giả Vũ Tuyết Loan sưu tầm (mà theo cách viết
của công trình này, Tum Teav là Tum Tiêu; Botumthera Som là Bôtum Mắtthê
Xôm) Bản này do nhà sư Botumthera Som viết lại và được dịch bởi Phùng Huy Thịnh Theo nhà nghiên cứu Vũ Tuyết Loan, đây là bản được đưa vào dạy
học chính thức ở Campuchia: “Vì những lẽ đó, Bộ giáo dục quốc gia
Cămpuchia đã chọn truyện Tum Tiêu làm tài liệu học tập Đó là bản được ghi trên lá cọ của Bôtum Mắtthê Xôm mà Viện Phật học Phnôm Pênh đã cho xuất
Trang 26bản năm 1972 (in lần thứ tám).” (Vũ Tuyết Loan, 2003, tr 172)28
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thao tác nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: đây là phương pháp nghiên cứu nền
tảng được chúng tôi vận dụng thông qua việc làm rõ bối cảnh văn hóa của Việt Nam và Campuchia, các lý thuyết về niềm tin tâm linh – vốn là một biểu hiện của văn hóa; từ đó, chúng tôi làm rõ những biểu hiện của niềm tin tâm linh trong các sáng tác truyện thơ Nói cách khác, chúng tôi nghiên cứu tác phẩm văn học (chuyên ngành văn học) trên cơ sở của văn hóa tâm linh (chuyên ngành văn hóa học);
- Phương pháp so sánh: được chúng tôi sử dụng để chỉ ra và làm rõ những
điểm gặp gỡ, khác biệt của niềm tin tâm linh trong Truyện Kiều của Nguyễn
Du và Tum Teav theo bản của Botumthera Som;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được chúng tôi sử dụng xuyên suốt bài
nghiên cứu nhằm làm rõ các giá trị của niềm tin tâm linh người Việt và người Campuchia được thể hiện qua hai truyện thơ
- Phương pháp lịch sử cụ thể: được chúng tôi vận dụng vào việc nghiên cứu
bối cảnh lịch sử, xã hội để làm căn cứ phát hiện những giá trị của niềm tin tâm linh thể hiện ở cả hai tác phẩm;
- Thao tác khảo sát: được chúng tôi sử dụng trong quá trình khảo sát thực tế
niềm tin tâm linh của người Việt và người Campuchia Chúng tôi thiết kế phiếu hỏi dạng trắc nghiệm lựa chọn một đáp án kết hợp với lựa chọn nhiều đáp án
và dịch thêm sang hai thứ tiếng là tiếng Anh và tiếng Campuchia (tức là có tổng
28 Vũ Tuyết Loan (sưu tầm) (2003) Tuyển tập văn học Cămpuchia NXB Khoa học xã hội
Trang 27cộng ba mẫu phiếu hỏi có nội dung câu hỏi như nhau, chỉ khác nhau về mặt ngôn ngữ) Chúng tôi khảo sát chủ yếu hai đối tượng là người Việt và người Khmer (sinh sống tại Campuchia hoặc tại Việt Nam), độ tuổi thiết kế trên phiếu
hỏi là từ dưới 18 tuổi đến trên 60 tuổi Chúng tôi khảo sát ngẫu nhiên (không tính trước số lượng) các đối tượng này trong thời gian từ ngày 22/11/2021 đến ngày 15/03/2022 với mục đích thống kê số liệu ban đầu về niềm tin vào các vấn
đề tâm linh của người Việt và người Campuchia trong đời sống thực tiễn
- Thao tác phân loại thống kê: được chúng tôi sử dụng trong quá trình thống
kê và phân loại các biểu hiện của niềm tin tâm linh qua hai tác phẩm dựa trên văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc; bên cạnh đó, phương pháp này còn được
sử dụng để thống kê các số liệu thu thập được về các vấn đề liên quan đến niềm tin tâm linh trong quá trình khảo sát thực tế;
Cần lưu ý rằng, không có một phương pháp hay thao tác nghiên cứu nào
là tối ưu và trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp, thao tác kể trên nhằm làm sáng rõ vấn đề và đạt được hiệu quả cao nhất
6 Cấu trúc của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận tốt nghiệp bao gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề chung
Ở chương này, chúng tôi làm rõ một số vấn đề về lý thuyết và cơ sở nền như: định nghĩa niềm tin tâm linh; phân biệt niềm tin tâm linh với tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan; vấn đề tác giả và tác phẩm; cơ sở đối sánh niềm tin
tâm linh của người Việt và người Campuchia qua Truyện Kiều của Nguyễn Du
và Tum Teav theo bản của Botumthera Som
Chương 2 Điểm gặp gỡ giữa niềm tin tâm linh của người Việt và người
Trang 28Campuchia qua Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tum Teav theo bản của
Botumthera Som
Ở chương này, chúng tôi làm rõ một số điểm gặp gỡ giữa niềm tin tâm
linh của người Việt và người Campuchia qua Truyện Kiều của Nguyễn Du và
Tum Teav theo bản của Botumthera Som trên nền văn hóa truyền thống của mỗi
dân tộc như: niềm tin vào hồn ma, báo mộng, thề nguyền; niềm tin vào cầu cúng, khấn vái; niềm tin vào tướng số, bói toán và niềm tin vào luật nhân quả
Chương 3 Điểm khác biệt giữa niềm tin tâm linh của người Việt và người
Campuchia qua Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tum Teav theo bản của
Botumthera Som
Ở chương này, chúng tôi làm rõ một số điểm khác biệt giữa niềm tin tâm
linh của người Việt và người Campuchia qua Truyện Kiều của Nguyễn Du và
Tum Teav theo bản của Botumthera Som trên nền sự khác nhau về tư tưởng và
phong tục bản địa của hai dân tộc
Trang 29CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ 1.1 Niềm tin tâm linh
1.1.1 Định nghĩa
Để hiểu rõ định nghĩa của niềm tin tâm linh, trước hết cần làm sáng tỏ một vài định nghĩa khác có liên quan đến vấn đề này, đó là văn hóa, văn hóa tâm linh và định nghĩa về tâm linh
Thuật ngữ văn hóa có rất nhiều định nghĩa Văn hóa lần đầu tiên trở
thành một lĩnh vực riêng, được khu biệt thành một đối tượng nghiên cứu riêng
thông qua định nghĩa của E B Tylor, khi ông “xem xét văn hóa với tư cách là
tổng thể các thành tố của nó: tín ngưỡng, truyền thống, nghệ thuật, phong tục…” (Dẫn theo Belik, 2000, tr.13-14)29 Quan điểm này cho thấy ông không
coi văn hóa là một chỉnh thể mà văn hóa chính là “một loại các yếu tố được
phức hợp hóa dần dần của các vật thể văn hóa vật chất (công cụ lao động) hay
sự tiến hóa của các hình thức tín ngưỡng tôn giáo (từ hồn linh luận đến các tôn giáo thế giới).” (Dẫn theo Belik, 2000, tr.14)30 A A Belik định nghĩa văn hóa bằng cách giải thích về mặt từ ngữ, sau đó khái quát lên thành cách thức vận
hành của văn hóa: “Từ cultura (chữ latin) chỉ sự “cày cuốc”, “làm đất”, nói
khác – đó là sự tác động của con người làm thay đổi thiên nhiên với tư cách là một môi trường sinh sống […] Văn hóa, như vậy, là phương thức hoạt động sống đặc biệt so với các phương thức tổ chức sự sống trước đây trên trái đất.”
(Belik, 2000, tr.9)31 Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (The United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization – viết
tắt là UNESCO) định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng
thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định
29 A A Belik, Đỗ Lai Thúy, Hoàng Vinh, Huyền Giang (dịch) (2000) Văn hóa học: Những lý thuyết Nhân học văn hóa Tạp chí văn hóa nghệ thuật
30 A A Belik, 29, tr.14
31 A A Belik, 29, tr.9
Trang 30tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.” (Dẫn
theo Mai Văn Hai & Mai Kiệm, 2009, tr.20)32 Cũng xem xét văn hóa ở khía cạnh phức hợp của nhiều thành tố, trải qua quá trình phức hợp hóa của các yếu
tố vật chất và tinh thần, trong đó có sự tương tác giữa con người với môi trường
sống, Trần Ngọc Thêm định nghĩa về thuật ngữ văn hóa như sau: “VĂN HÓA
là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.” (Trần Ngọc Thêm, 1999, tr.10)33 Trong định nghĩa về văn hóa, quá trình tích lũy được nhấn mạnh như một cách thức
tạo nên văn hóa, nói theo E B Tylor thì đó là “một loại các yếu tố được phức
hợp quá dần dần” (Dẫn theo Belik, 2000, tr.14)34 Lê Nguyên Cẩn khi định nghĩa về văn hóa cũng có nhấn mạnh đến quá trình tích lũy của văn hóa, chính
là tích lũy các vốn sống, kinh nghiệm và trao truyền chúng qua thời gian: “Văn
hóa là một phức hợp mang tính tổng thể của một cộng đồng trong tiến trình thời gian thông qua việc sáng tạo, học hỏi, tích lũy kinh nghiệm sống từ thế hệ này sang thế hệ khác.” (Lê Nguyên Cẩn, 2014, tr.13)35 Một định nghĩa khác của Trần Quốc Vượng về văn hóa nhấn mạnh đến thành tố con người với sự
sáng tạo các giá trị vật chất và tinh thần trong cuộc sống: “văn hóa là thế ứng
xử, năng động, của một cộng đồng (ứng xử tập thể) hay một cá nhân (ứng xử
cá nhân) đứng trước thiên nhiên, xã hội to nhỏ và đứng trước chính mình Văn hóa là lối sống [mode de vie], là nếp sống [train de vie], tập thể và cá nhân Vậy, văn hóa cũng là cái hằng ngày [quotidien].” (Trần Quốc Vượng, 2020, tr
32 Mai Văn Hai (chủ biên), Mai Kiệm (2009) Xã hội học văn hóa NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
33 Trần Ngọc Thêm (1999) Cơ sở văn hóa Việt Nam NXB Giáo dục
34 A A Belik, 29, tr.14
35Lê Nguyên Cẩn (2014) Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 31126)36 Tựu trung lại, các định nghĩa về văn hóa đều đề cập đến văn hóa là một dạng phức hợp nhiều thành tố tạo thành một hệ thống hữu cơ, trong đó bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và trải qua một quá trình tích lũy nhất định Hiểu một cách đơn giản nhất, văn hóa chính là cái thường ngày, là tất cả những thế ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên và xã hội
Về thuật ngữ văn hóa tâm linh, trước hết, cần phải hiểu đây là một thành
tố cơ bản của văn hóa, tồn tại song song cùng với sự hình thành và phát triển của văn hóa Bên cạnh sự tích lũy dần dần các giá trị vật chất, văn hóa còn tích
lũy các giá trị tinh thần, cụ thể đó là “sự tiến hóa của các hình thức tín ngưỡng
tôn giáo (từ hồn linh luận đến các tôn giáo thế giới).” (Belik, 2000, tr.14)37 Nói văn hóa là cái phức tạp thì văn hóa tâm linh cũng tồn tại rất nhiều biểu hiện
đa dạng, phong phú và phức tạp không kém Nói theo chiều suy luận thì chính
sự phức tạp của văn hóa tâm linh (thành tố của giá trị tinh thần) đã góp phần tạo nên cái phức tạp, đa dạng của văn hóa Văn hóa tâm linh được định nghĩa
như sau: “tất cả những biểu hiện liên quan đến đời sống tâm linh con người sẽ
tạo nên văn hóa tâm linh.” (Lê Thu Yến, 2015, tr.16)38 Như vậy, văn hóa tâm linh có nghĩa rất rộng, đây là một phạm trù bao quát của tất cả những biểu hiện thuộc về đời sống tâm linh của con người với tất cả sự phức tạp, đa dạng và phong phú của nó
Đi sâu hơn, cụ thể hơn vào đời sống tâm linh của con người và để hiểu
được thuật ngữ niềm tin tâm linh thì cần hiểu định nghĩa về tâm linh Để hiểu
một cách sơ bộ, chúng ta chiết tự “tâm linh” thành “tâm” và “linh” “Tâm” chính là lòng người, là cái bên trong, thuộc về tinh thần của con người “Linh”
36 Trần Quốc Vượng (2020) Trần Quốc Vượng – Những nghiên cứu về văn hóa Việt Nam NXB Văn hóa dân
tộc
37 A A Belik, 29, tr.14
38 Lê Thu Yến nnk., 2, tr.16
Trang 32là cái thiêng trong thiêng liêng, linh thiêng, vượt lên trên cái phàm tục Ghép hai từ này lại, có thể hiểu tâm linh là tất cả sự mẫn cảm của thế giới tinh thần con người, vượt qua khỏi những nhận thức về mặt lý tính để đến với thế giới của những điều không thể nắm bắt và không thể lý giải được E B Tylor có nhắc đến một thế giới vượt thoát khỏi những lý giải khoa học, những lý giải về
mặt lý tính, thuộc về niềm tin về mặt tinh thần của con người, đó là “niềm tin
về sự tồn tại của linh hồn ở một thế giới sau cái chết.”39(Tylor, 1871, p.1)40
Theo Nguyễn Đăng Duy thì “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc
sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm.” (Nguyễn Đăng Duy, 1996, tr.14)41 Nguyễn Hữu Hiếu cũng kế thừa định nghĩa tâm linh từ Nguyễn Đăng Duy, cũng cho rằng tâm linh
“là niềm tin thiêng liêng cao cả trong cuộc sống con người, nó cũng là niềm tin
tôn giáo.” (Nguyễn Hữu Hiếu, 2011, tr 15)42 Bên cạnh đó, ông còn nhấn mạnh
tâm linh ở khía cạnh ý thức của con người: “Tâm linh là một hình thái ý thức
được hình thành từ trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể và phản ánh vào ý thức con người, không có ý thức con người thì không có tâm linh Một người không còn khả năng tư duy thì trong họ không có tâm linh.” (Nguyễn Hữu Hiếu, 2011,
tr.15)43 Lê Thu Yến định nghĩa tâm linh tập trung ở một số ý quan trọng như sau:
- Tâm linh được hiểu là tinh thần, tâm hồn, tình cảm con người, là những
gì thuộc đời sống nội tâm con người, hay nói cách khác là cái trí tuệ có trong lòng
39 Nguyên tác là “the belief in the soul’s continued existence in a Life after Death.”
40 E B Tylor (1871) Primitive culture: Researches into the development of mythology, philosophy, religion, art and custom (Vol II) London: John Murray, Albemarle Street
41 Nguyễn Đăng Duy, 1, tr.14
42Nguyễn Hữu Hiếu (2011) Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ NXB Thanh niên
43 Nguyễn Hữu Hiếu, 42, tr.15
Trang 33người, là một hình thái ý thức của con người
- Tâm linh được hiểu là khả năng phán đoán biết trước, đoán định trước
sự việc, có thể hiểu như là tiên tri
- Tâm linh được hiểu là các hiện tượng liên quan đến người chết tức triết học về sự tồn tại của con người sau khi chết (Lê Thu Yến nnk., 2015, tr.19)44
Thế nên, thông qua một số định nghĩa trên có thể hiểu tâm linh là tất cả những
gì thuộc về thế giới nội tâm, tinh thần của con người Đó là tình cảm, trí tuệ, những mẫn cảm thuộc về cảm giác, cảm xúc, cảm nhận của con người, và chỉ thuộc về ý thức của con người Một điều quan trọng mà tâm linh phải có chính
là tính thiêng mà hầu như tất cả các định nghĩa về tâm linh đều có đề cập Hay nói cách khác, không có tính thiêng thì không có tâm linh Tính thiêng ở đây
có thể là khả năng đặc biệt như đoán trước, biết trước, tiên tri được tương lai hay sự tồn tại của một thế giới song song với thế giới đời thực, nơi mà con người đến sau khi chết
Văn hóa tâm linh là một bộ phận của văn hóa và được cấu thành bởi tất
cả sự đa dạng phức tạp của đời sống tâm linh Sau khi tìm hiểu các định nghĩa
từ rộng đến hẹp dần, từ văn hóa đến văn hóa tâm linh và tâm linh, chúng tôi xin khu biệt lại cách hiểu, hay nói cách khác, đưa ra định nghĩa về niềm tin tâm
linh Niềm tin tâm linh là sự tin tưởng của con người vào những gì thuộc về
đời sống tinh thần, đời sống tâm linh, vào những hiện tượng vượt thoát khỏi
các lý giải, nắm bắt thuộc về lý tính và mang tính thiêng Niềm tin tâm linh là
một cấp độ nhỏ hơn của tâm linh và là một biểu hiện của văn hóa tâm linh Nói đến niềm tin tâm linh tức là nói đến địa hạt nhỏ hơn của tâm linh và đây là một
44 Lê Thu Yến nnk., 2, tr.19
Trang 34trong những tiền đề tạo nên tâm linh Trong tâm linh phải tồn tại niềm tin, bởi
“hạt nhân cơ bản của tâm linh là niềm tin Niềm tin thiêng liêng nuôi sống tâm
linh Không có niềm tin thì không bao giờ có tâm linh.” (Lê Thu Yến nnk.,
2015, tr.20)45
1.1.2 Phân biệt niềm tin tâm linh với tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan
1.1.2.1 Phân biệt niềm tin tâm linh với tín ngưỡng
Niềm tin tâm linh là một địa hạt cấu thành nên thế giới, đời sống tâm linh Để phân biệt một cách tương đối niềm tin tâm linh với tín ngưỡng, trước hết cần hiểu định nghĩa tín ngưỡng và phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa tín ngưỡng và tôn giáo Bởi lẽ, tín ngưỡng và tôn giáo cũng là hai khái niệm khác nhau, không đồng nhất
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về tín ngưỡng Nguyễn Đăng Duy
định nghĩa về tín ngưỡng: “Tín ngưỡng là một cách từ thực tế cuộc sống cộng
đồng con người ý thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con người
ấy tin theo tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy.” (Nguyễn Đăng Duy, 2001,
tr.22)46 Đặng Nghiêm Vạn chỉ ra hai cách hiểu về tín ngưỡng: “Ở nước ta,
thuật ngữ tín ngưỡng có thể có hai nghĩa Khi ta nói tự do tín ngưỡng, người ngoại quốc có thể hiểu đó là niềm tin nói chung (belief, believe, croyance) hay niềm tin tôn giáo (belief, believe, croyance religieuse) Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo; nếu hiểu là niềm tin tôn giáo (belief, believe theo nghĩa hẹp, croyance religieuse) thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo.” (Đặng Nghiêm Vạn, 2005, tr.87-88)47
45 Lê Thu Yến nnk., 2, tr.20
46 Nguyễn Đăng Duy (2001) Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam NXB Văn hóa thông tin
47 Đặng Nghiêm Vạn (2005) Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam: sách tham khảo NXB
Chính trị Quốc gia
Trang 35Dưới góc độ chính trị, xã hội, tín ngưỡng được định nghĩa “là niềm tin và sự
ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng, một điều gì đó
và thông thường để chỉ một niềm tin tôn giáo.” (Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức
Bình, Nguyễn Đình Tứ nnk., tr.449)48 Khi nói đến tín ngưỡng là nói đến niềm tin xuất phát từ dân gian, từ quá trình sinh sống lâu đời của con người mà hình thành nên những niềm tin nhất định về một lực lượng nào đó và mang tính thiêng (thực hiện cầu cúng, lễ bái) Tín ngưỡng và tôn giáo là hai khái niệm, hai phạm trù khác nhau Điều này cũng được phân biệt rõ qua các quy định về Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, cụ thể ở điều 24: “1
Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật […].” (Quốc hội Nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013)49 Về cơ bản, “tín ngưỡng là một khái
niệm rộng hơn tôn giáo” (Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình, Nguyễn Đình Tứ
nnk., tr.449)50 và phân biệt với tôn giáo bởi ba yếu tố sau đây Thứ nhất, tín ngưỡng là các hình thức sinh hoạt tâm linh bắt nguồn từ đời sống dân gian, tôn giáo là hình thức tổ chức có hệ thống giáo lý và hệ thống quản lý nhằm giáo dục và củng cố niềm tin vào đấng tối cao Vì thế, con người tín ngưỡng về cơ bản khác với con người tôn giáo Thứ hai, tín ngưỡng mang dấu vết của tư duy nguyên thủy trong khi tôn giáo phát triển thành những quan niệm trừu tượng hơn Thứ ba, chúng tôi cho rằng đây cũng là điểm cơ bản phân biệt giữa tín
ngưỡng và tôn giáo khi nói “tôn giáo chủ yếu hướng đến giải thoát sau khi chết
còn tín ngưỡng hướng vào sự thịnh vượng cho cuộc sống.” (Lê Thu Yến nnk.,
Trang 36Niềm tin tâm linh gần như là tín ngưỡng, tuy nhiên, theo chúng tôi, cần
phân biệt niềm tin tâm linh và tín ngưỡng ở tính linh hoạt Niềm tin tâm linh
cũng bắt nguồn từ đời sống tinh thần của con người, với niềm tin vào cái thiêng liêng, nhưng không nhất thiết tất cả mọi người trong cùng một cộng đồng phải mang cùng một niềm tin tâm linh Tín ngưỡng mang tính khách quan cộng đồng, niềm tin tâm linh mang tính chủ quan hơn Chẳng hạn, trong tín ngưỡng
nguyên thủy gắn liền với Vật linh giáo: “Ở Việt Nam cũng thấy có những tục
lệ thờ cúng cây cối (thần Cây Đa) hay mỏm đá, hốc núi, sông suối (thần Sông, thần Suối) được coi là linh thiêng, hay thờ động thực vật (như Ông Ba Mươi, thần Lúa, thần Nông),… đó chính là những hiện tượng thuộc loại tín ngưỡng này.” (Vũ Minh Chi, 2004, tr.281)52 Tín ngưỡng này gắn với tục thờ một loại được cho là vật linh thiêng (cây cối, mỏm đá, động thực vật…) Còn niềm tin tâm linh biểu hiện linh hoạt và chủ quan hơn Cùng tin vào những vật linh ấy nhưng niềm tin tâm linh có thể chỉ dừng lại ở biểu hiện “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” trong dân gian, có thể không thờ thần Cây Đa, thần Sông, thần Suối nhưng người có niềm tin tâm linh sẽ tránh đứng ở gốc cây đa vào giữa trưa hoặc giữa khuya, tránh nói bậy, nói những điều không tốt đẹp dưới những gốc cây đa, cây cổ thụ lâu năm hoặc những lúc đi qua sông, qua suối Tính linh hoạt của niềm tin tâm linh còn thể hiện ở chỗ, đây chính là lối ứng xử đã tồn tại trong đời sống cảm tính thực tiễn của con người từ bao đời nay thông qua nếp nghĩ, kinh nghiệm sống và không bị bó buộc trong những khái niệm về tín ngưỡng, tôn giáo
1.1.2.2 Phân biệt niềm tin tâm linh với tôn giáo
Có thể nói, niềm tin tâm linh của con người hình thành từ khá sớm, trước
cả tôn giáo Trong bước chuyển từ con người động vật sang con người xã hội,
52 Vũ Minh Chi (2004) Nhân học văn hóa con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên NXB Chính
trị Quốc gia
Trang 37con người đã hình thành niềm tin tâm linh xuất phát từ nhu cầu văn hóa, hay nói cụ thể hơn là nguồn gốc nhận thức Chính trong những nhận thức về việc
sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, thời tiết cực đoan như mưa, gió, bão bùng, sấm chớp… mà con người hình thành một niềm tin về thế lực siêu hình nào đó đang gieo rắc tai ương, đe dọa sự sống Bàn về tôn giáo, thực ra, tôn giáo cũng xuất hiện từ sớm, cụ thể hơn, theo Đặng Nghiêm Vạn thì thời kì tôn
giáo xuất hiện là thời kì các tổ chức xã hội loài người ra đời: “Trừ một số học
giả bảo thủ, hầu hết giới khoa học đều thống nhất chỉ khi hình thành con người hiện đại (Homo sapieus), chỉ khi con người đã bắt đầu tổ chức thành xã hội, tôn giáo mới xuất hiện Thời kì đó cách đây khoảng 95000-35000 năm Tr.CN.”
(Đặng Nghiêm Vạn, 1999, tr.9)53 Tuy nhiên, để định hình tôn giáo là cả một
quá trình dài tiếp sau đó: “Theo thời gian, do nội dung của các tôn giáo tạm
gọi là siêu quốc gia, không gắn chặt với một quốc gia cụ thể, với các vị thần cụ thể, các nghi thức cụ thể của một cộng đồng tộc người, dân tộc hay địa phương nhất định, nên sự bành trướng của nó diễn ra thuận lợi, tính thích nghi với các dân tộc khác cũng dễ dàng.” (Đặng Nghiêm Vạn, 1999, tr.13)54 Vì gắn với tổ chức xã hội nên bên cạnh nguồn gốc nhận thức (tôn giáo cũng xuất phát từ nỗi kính sợ tự nhiên nguyên thủy, giống như niềm tin tâm linh), tôn giáo còn gắn với nguồn gốc xã hội Trong sự vận động và phát triển của xã hội, nói theo Karl Marx thì quy luật phát triển của xã hội phải tồn tại các hình thái đấu tranh Trong xã hội luôn tồn tại những vấn đề như áp bức, tiêu cực, mâu thuẫn giai cấp… Từ đó, tôn giáo càng củng cố hệ thống đức tin của mình, là nơi để con
người tìm đến như một cứu cánh, hay nói cách khác: “Mục đích của tư duy tôn
giáo là tìm đến đức tin.” (Lê Thu Yến nnk., 2015, tr.22)55 Emile Durkheim
53 Đặng Nghiêm Vạn (1999) Diễn trình tôn giáo qua lịch sử nhân loại Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2,
8-16
54 Đặng Nghiêm Vạn, 53, tr.13
55 Lê Thu Yến nnk., 2, tr.22
Trang 38cũng nói đến mục đích của tôn giáo: “Bản thân tôn giáo mang lại cho con người
sự an toàn này, bởi vì con người tin rằng tôn giáo cho con người những quyền năng mở rộng đối với tự nhiên.”56 (Durkheim, 1965, p.105)57
Tôn giáo cũng là một khái niệm tồn tại nhiều định nghĩa Nhưng nhìn
chung, tất cả các định nghĩa đều tập trung đến tính thiêng, tính xã hội và tính
hệ thống của tôn giáo Nhà xã hội học người Pháp Emile Durkheim dẫn lại định
nghĩa về tôn giáo của chính trị gia người Pháp Marc Réville, rằng tôn giáo “là
sự xác lập cuộc sống của con người thông qua mối liên kết giữa tâm trí của con người với đấng huyền bí người mà thống trị và định nghĩa thế giới, và khai sáng con người trong chính tâm trí họ.”58 (Dẫn theo Durkheim, 1965, p.44)59 Thêm vào đó, Emile Durkheim bổ sung thêm một chút về định nghĩa tôn giáo
vì ông cho rằng nếu hiểu theo nghĩa hẹp như Marc Reville thì sẽ bỏ qua nhiều khía cạnh về việc xác lập cuộc sống của con người sau khi chết Durkheim kế
thừa quan điểm nguyên thủy của Tylor, xem xét “tôn giáo ở mức thấp hơn”60
(Dẫn theo Durkheim, 1965, p.44)61, “là đặt ra định nghĩa thô sơ về tôn giáo” 62
(Dẫn theo Durkheim, 1965, p.44)63: “Linh hồn của người chết và linh hồn của
mọi cấp bậc và tầng lớp mà trí tưởng tượng tôn giáo của rất nhiều dân tộc khác nhau đã cư trú trong bản chất tự nhiên, luôn là đối tượng của các nghi lễ và đôi khi thậm chí là của một sự sùng bái thông thường; tuy nhiên họ không phải
là đấng trong lời định nghĩa”.64 (Durkheim, 1965, p.44)65 Evans và Pritchard
56 Nguyên tác là: “Religion itself contributes to giving him this security, for he believes that it arms him with extended
powers over nature.”
57 Emile Durkheim (1965) The elementary forms of the religious life New York: The Free Press & London: Collier
Macmillan Publishers
58 Nguyên tác là: “is the determination of human life by the sentiment of a bond uniting a human mind to that mysterious
mind whose domination of the world and itself it recognizes, and to whom it delights in feeling itself united.”
64 Nguyên tác là: “The souls of the dead and the spirits of all ranks and classes with which the religious imagination of so
many different peoples has populated nature, are always the object of rites and sometimes even of a regular cult; yet they are not gods in the propersense of the term”
65 Emile Durkheim, 57, p.44
Trang 39cũng kế thừa quan điểm của Tylor khi định nghĩa tôn giáo “như niềm tin vào
sự tồn tại các linh hồn”66 (Evans & Pritchard, 1965, p.3)67 Nhìn nhận từ góc nhìn tâm lý học, C Jung nhấn mạnh đến niềm tin vào tính thiêng của chủ thể đối với tôn giáo:
Đối với tôi, tôn giáo dường như là một thái độ đặc biệt của tâm trí con người, có thể được hình thành theo cách sử dụng ban đầu của thuật ngữ “tôn giáo”, nghĩa là, sự xem xét và quan sát cẩn thận các yếu tố động nhất định, được hiểu là
“quyền lực”, linh hồn, ác quỷ, thần thánh, luật pháp, ý tưởng, lý tưởng hoặc bất cứ cái tên nào mà con người đặt cho những yếu tố đó như cách họ cảm nhận thấy thế giới của mình với các thế lực, nguy hiểm hoặc có ích để rồi xem xét chúng cẩn thận, hoặc dưới góc nhìn vĩ đại, đẹp đẽ và đủ ý nghĩa để trở nên hết lòng tôn thờ và yêu mến 68 (Jung, 1960, p.5)69
Nhà triết học cổ điển Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel định nghĩa tôn giáo
gắn liền với Thượng Đế: “Tôn giáo là tri thức thần thánh, là tri thức của con
người về thần thánh… tôn giáo là tri thức của chân lí tối cao, chân lí này trong nghĩa xác định của nó chính là tinh thần tự do; trong tôn giáo con người tự do trước thần thánh, vì ý chí của con người hòa đồng với ý chí Thượng Đế.” (Dẫn
theo Lê Công Sự, 2004, tr.4)70 Robert N Bellah kế thừa những điểm trọng yếu trong quan điểm về tôn giáo của Emile Durkheim và đưa ra định nghĩa về tôn
giáo: “Tôn giáo là một hệ thống các niềm tin và thực hành liên quan đến sự
66 Nguyên tác là: “as belief in spiritual beings”
67 E E Evans, Pritchard (1965) Theories of Primitive Religion Oxford University Press
68 Nguyên tác là: “Religion appears to me to be a peculiar attitude of the human mind, which could be formulated in
accordance with the original use of the term "religio," that is, a careful consideration and observation of certain dynamic factors, understood to be “powers,” spirits, demons, gods, laws, ideas, ideals or whatever name man has given to such factors as he has found in his world powerful, dangerous or helpful enough to be taken into careful consideration, or grand, beautiful and meaningful enough to be devoutly adored and loved.)”
69 C Jung (1960) Psychology and Religion Yale University Press.
70 Lê Công Sự (2004) Quan niệm của Hegel về tôn giáo Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6, 3-11
Trang 40thiêng liêng gắn kết những người tuân theo chúng trong một cộng đồng đạo đức.”71 (Bellah, 2011, p.1)72 Nguyễn Đăng Duy cũng định nghĩa tôn giáo ở tính thiêng (niềm tin thiêng liêng), tính xã hội (nếp sống xã hội) và tính hệ thống
(có giáo chủ quản lý): “Tôn giáo là một cách lý giải mang danh nghĩa một giáo
chủ, về sự sáng thế và cứu thế một cách siêu hình, nhằm làm cho người ta tin theo, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy.” (Nguyễn
Đăng Duy, 2001, tr.16)73 Quan điểm chính trị học nhìn rõ tôn giáo ở tính hệ
thống (sự tổ chức tôn giáo): “Tôn giáo thường được hiểu là một trong những
hình thức tín ngưỡng có quan niệm, ý thức, hành vi và các tổ chức tôn giáo.”
(Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình, Nguyễn Đình Tứ nnk., 2004, tr.449)74 Nhìn chung, tôn giáo hướng đến đức tin cụ thể, nhất định của con người trong cuộc sống, mang tính thiêng, tính xã hội và được tổ chức một cách có hệ thống Tôn giáo không đồng nhất với niềm tin tâm linh mặc dù tôn giáo là một biểu hiện của việc con người có niềm tin vào thế giới tâm linh
Sự khác nhau đầu tiên giữa niềm tin tâm linh và tôn giáo chính là ở tính thiêng Phạm trù Phàm và Thiêng (Profane/Sacré), hay còn gọi là Cái thế
tục/Cái thần thánh, lần đầu tiên được đưa ra bởi Emile Durkheim Xét về tôn
giáo thì: “Tôn giáo hiện nay do một giáo chủ truyền giáo Cái Thiêng thông
qua giáo chủ mà truyền đạt đến người Phàm Nếu không có giáo chủ thì người Phàm không biết đến cái Thiêng đó.” (Nguyễn Duy Hinh, 2005, tr.17)75 Điều này cho thấy tính tổ chức chặt chẽ của tôn giáo và mối liên hệ giữa tôn giáo với các tín đồ tôn giáo (người có niềm tin tôn giáo) Nói cách khác, con đường đến
71 Nguyên tác là: “Religion is a system of beliefs and practices relative to the sacred that unite those who adhere to them in a moral community.”
72 Robert N Bellah (2011) Religion in human evolution (from the paleolithic to the axial age) The Belknap
Press of Harvard University Press
73 Nguyễn Đăng Duy, 46, tr.16
74 Đào Duy Tùng nnk., 48, tr.449
75 Nguyễn Duy Hinh (2005) Phàm và Thiêng Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3, 11-18