Với chế độ ngập nước theo mùa kéo dài từ 3 – 4 tháng, vùng ngập sâu trung bình khoảng 2,5 – 3,5 m trong các năm lũ lớn, các loài thực vật ở Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen đã hình thà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Văn Tiến Dũng
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI,
GIẢI PHẪU THÍCH NGHI VÀ HOẠT TÍNH
KHÁNG KHUẨN CỦA CHI RAU MƯƠNG
(Ludwigia L.) Ở KHU BẢO TỒN
ĐẤT NGẬP NƯỚC LÁNG SEN, TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Văn Tiến Dũng
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI,
GIẢI PHẪU THÍCH NGHI VÀ HOẠT TÍNH
KHÁNG KHUẨN CỦA CHI RAU MƯƠNG
(Ludwigia L.) Ở KHU BẢO TỒN
ĐẤT NGẬP NƯỚC LÁNG SEN, TỈNH LONG AN
Chuyên ngành : Sinh thái học
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM VĂN NGỌT
TS ĐẶNG THỊ NGỌC THANH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Văn Ngọt và TS Đặng Thị Ngọc Thanh
Kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được các tác giả công
bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào
Các trích dẫn về bảng biểu, kết quả nghiên cứu của những tác giả khác; tài liệu tham khảo trong tiểu luận đều có nguồn gốc rõ ràng và theo đúng quy định
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 11 năm 2021
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Văn Tiến Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Phạm Văn Ngọt và TS Đặng Thị Ngọc Thanh đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý
báo cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Tôi xin cảm ơn ThS Quách Văn Toàn Em đã chia sẻ những phương pháp nghiên cứu giải phẫu thực vật và hỗ trợ các thiết bị, dụng cụ cần thiết Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS Nguyễn Thị Thanh Tâm đã tạo điều kiện cho tôi làm việc tại
phòng thí nghiệm Sinh thái – Thực vật
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn cô Nguyễn Thị Ngà và cô Hà Thị Bé Tư chuyên viên phòng thí nghiệm khoa Sinh học – trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh; thầy Nguyễn Văn Duy chuyên viên phòng thiết bị và nhóm sinh viên nghiên cứu trường Đại học Sài Gòn Xin gửi lời cảm ơn đến Ban quản lí Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen, tỉnh Long An đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài
luận văn này
Cuối cùng, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân,
bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu này
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 11 năm 2021
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Văn Tiến Dũng
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của Láng Sen 4
1.1.1 Vị trí địa lí 4
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 4
1.2 Thông tin về chi rau mương (ludwigia l.) ở khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen 9
1.2.1 Rau dừa nước (Ludwigia adscendens) 9
1.2.2 Rau mương thon (Ludwigia hyssopifolia) 10
1.3 Lịch sử nghiên cứu 11
1.3.1 Các công trình nghiên cứu về hình thái, giải phẫu thích nghi 11
1.3.2 Các công trình nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn 13
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
2.1.1 Thời gian nghiên cứu 16
2.1.2 Địa điểm thu mẫu 16
2.2 Phương pháp nghiên cứu 17
2.2.1 Nghiên cứu tài liệu 17
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 17
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 17
2.2.4 Phương pháp khảo sát hoạt tính kháng khuẩn 21
2.2.5 Xử lí thống kê 24
Trang 62.2.6 Quy trình thí nghiệm 25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Đặc điểm về môi trường sống của một số loài trong chi rau mương (Luwigia L.) 26 3.1.1 Tính chất của nước ở nơi thu mẫu 26
3.1.2 Đặc điểm thể nền thực vật 27
3.2 Đặc điểm về hình thái, giải phẫu loài rau dừa nước 28
3.2.2 Đặc điểm hình thái 28
3.2.5 Đặc điểm cấu tạo giải phẫu 32
3.3 Đặc điểm về hình thái, giải phẫu loài rau mương thon 45
3.3.2 Đặc điểm hình thái 45
3.3.5 Đặc điểm cấu tạo giải phẫu 49
3.4 Hoạt tính kháng khuẩn của một số loài trong chi rau mương (Luwigia L.) 60
3.4.1 Hoạt tính kháng khuẩn của loài Rau dừa nước 60
3.4.2 Hoạt tính kháng khuẩn của loài Rau mương thon 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC PL1
Trang 7Hồ Chí Minh (Water and Environmental Technology Institute)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tọa độ địa lí địa điểm thu mẫu cây 17
Bảng 2.2 Đánh giá mức độ của đường kính vòng vô khuẩn 24
Bảng 3.1 Một số tính chất nước tại điểm thu mẫu thực vật 26
Bảng 3.2 Thành phần cơ giới và tính chất của đất tại điểm thu mẫu cây 27
Bảng 3.3 Độ dày các lớp mô của gân chính lá Rau dừa nước 33
Bảng 3.4 Độ dày các lớp mô của phiến lá Rau dừa nước 35
Bảng 3.5 Độ dày các lớp mô của rễ sơ cấp cây Rau dừa nước 39
Bảng 3.6 Độ dài các lớp mô của thân Rau dừa nước 42
Bảng 3.7 Độ dày các lớp mô của gân chính lá Rau mương thon 50
Bảng 3.8 Độ dày các lớp mô của phiến lá Rau mương thon 52
Bảng 3.9 Độ dày các lớp mô của rễ sơ cấp cây Rau mương thon 54
Bảng 3.10 Độ dài các lớp mô của thân Rau mương thon 58
Bảng 3.11 Giá trị đường kính vòng vô khuẩn trên khuẩn Bacillus subtilis thử nghiệm 60
Bảng 3.12 Giá trị đường kính vòng vô khuẩn trên khuẩn Bacilus cereus thử nghiệm 61
Bảng 3.13 Giá trị đường kính vòng vô khuẩn trên khuẩn Escherichia coli thử nghiệm 63
Bảng 3.14 Giá trị đường kính vòng vô khuẩn trên khuẩn Bacillus subtilis thử nghiệm 65
Bảng 3.15 Giá trị đường kính vòng vô khuẩn trên khuẩn Escherichia coli thử nghiệm 67
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ vị trí Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen, tỉnh Long An 4
Hình 1.2 Bản đồ địa hình Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen 5
Hình 2.1 Vị trí thu mẫu cây 16
Hình 2.3 Bột cây được ngâm tạo cao chiết ethanol 21
Hình 2.4 Máy cô quay chân không tạo cao chiết ethanol 22
Hình 2.5 Kết quả thử hoạt tính kháng khuẩn theo phương pháp khuếch tán 24
Hình 2.6 Sơ đồ quy trình thí nghiệm 25
Hình 3.1 Hình thái cơ quan sinh dưỡng loài Rau dừa nước 30
Hình 3.2 Hình thái cơ quan sinh sản loài Rau dừa nước 31
Hình 3.3 Cấu tạo đại thể phiến lá Rau dừa nước cắt ngang 33
Hình 3.4 Cấu tạo gân giữa của lá Rau dừa nước 33
Hình 3.5 Cấu tạo phiến lá chính thức Rau dừa nước 35
Hình 3.6 Cấu tạo bó dẫn gân con 36
Hình 3.7 Khí khổng lá Rau dừa nước 36
Hình 3.8 Khí khổng lá Rau dừa nước 36
Hình 3.9 Cấu tạo giải phẫu rễ sơ cấp Rau dừa nước 38
Hình 3.10 Cấu tạo giải phẫu rễ thứ cấp cây Rau dừa nước 40
Hình 3.11 Cấu tạo sơ cấp thân cây Rau dừa nước 42
Hình 3.12 Cấu tạo thứ cấp thân cây Rau dừa nước 44
Hình 3.13 Hình thái cơ quan sinh dưỡng loài Rau mương thon 47
Hình 3.14 Hình thái cơ quan sinh sản loài Rau mương thon 48
Hình 3.15 Cấu tạo đại thể lá Rau mương thon cắt ngang 49
Hình 3.16 Cấu tạo gân chính của lá Rau mương thon 50
Hình 3.17 Cấu tạo phiến lá chính thức loài Rau mương thon 51
Hình 3.18 Khí khổng lá Rau mương 52
Hình 3.19 Khí khổng lá Rau mương 52
Hình 3.20 Cấu tạo rễ sơ cấp cây Rau mương thon 53
Hình 3.21 Cấu tạo chi tiết một phần rễ cây Rau mương thon 55
Hình 3.22 Cấu tạo sơ cấp thân cây Rau mương thon 57
Trang 10Hình 3.23 Cấu tạo thứ cấp thân cây Rau mương thon 59Hình 3.24 Vòng kháng khuẩn của cao ethanol rễ, thân, lá loài Rau dừa nước
trên khuẩn Bacillus subtilis 61
Hình 3.25 Vòng kháng khuẩn của cao ethanol rễ, thân, lá loài Rau dừa nước
trên khuẩn Bacillus cereus 62
Hình 3.26 Vòng kháng khuẩn của cao ethanol rễ, thân, lá loài Rau dừa nước
trên khuẩn Escherichia coli 63
Hình 3.27 Vòng kháng khuẩn của cao ethanol rễ, thân, lá loài Rau mương thon
trên khuẩn Bacillus subtilis 66
Hình 3.28 Vòng kháng khuẩn của cao ethanol rễ, thân, lá loài Rau mương thon
trên khuẩn Escherichia coli 68
Trang 11MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen là một trong những hệ sinh thái đất ngập nước quan trọng còn sót lại của Đồng Tháp Mười, tọa lạc trên địa bàn 3 xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại và Vĩnh Châu B thuộc huyện Tân Hưng, tỉnh Long An Tổng diện tích tự nhiên của Khu Bảo tồn là 5.030 ha, nằm trong khu vực trũng của vùng Đồng Tháp Mười, chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn của sông Cửu Long và chịu ngập lũ hàng năm [1]
Hệ thực vật nơi đây có khoảng 220 loài, 174 chi, 74 họ thuộc 2 ngành thực vật bậc cao có mạch là ngành Dương Xỉ (Polypodiophyta) và ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Các họ có nhiều loài nhất là họ Hòa thảo (Poaceae) có 25 loài, họ Cúc (Asteraceae) có 17 loài, họ Đậu (Fabaceae) có 16 loài, họ Lác (Cyperaceae) có
15 loài, họ Cà phê (Rubiaceae) có 10 loài Hệ thực vật nổi khá đa dạng và phong phú với 114 loài, 37 họ, 25 bộ thuộc 6 ngành tảo [2]
Đời sống của thực vật luôn chịu tác động của các nhân tố môi trường, đặc biệt các loài thực vật sống trong môi trường đất ngập nước thì chế độ thủy văn là yếu tố
có ảnh hưởng rất lớn đối với sự sinh trưởng và phát triển của chúng [3] Với chế độ ngập nước theo mùa kéo dài từ 3 – 4 tháng, vùng ngập sâu trung bình khoảng 2,5 – 3,5 m trong các năm lũ lớn, các loài thực vật ở Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen
đã hình thành một số đặc điểm thích nghi về hình thái và giải phẫu phù hợp với vùng đất ngập nước
Ở Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen đã ghi nhận có 3 loài trong chi Rau
mương (Ludwigia L): Rau mương hẹp (Ludwigia epilobioides Maxim.), Rau dừa nước (Ludwigia adscendens (L.) H Hara) và Rau mương nằm (Ludwigia prostrata Roxb.) [7] Các loài trong chi Rau mương (Ludwigia L) được con người sử dụng làm
thuốc và có giá trị cao về mặt dược liệu Theo kinh nghiệm dân gian, loài Rau mương
thon (Ludwigia hyssopifolia (G.Don) Exell) được dùng chữa nhiều bệnh như kiết lị,
tiêu chảy, viêm ruột, viêm họng, ho, cảm mạo, mụn nhọt ở trẻ em [4], [5] Loài Rau
dừa nước (Ludwigia adscendens (L.) H Hara) được dùng chữa cảm sốt, ho khan, phù
thũng, đắp ngoài chữa sưng lở hoặc vết thương do rắn cắn, bỏng [5] Tuy nhiên, chưa
Trang 12có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về đặc điểm về hình thái, giải phẫu thích nghi với chế độ ngập nước cũng như hoạt tính kháng khuẩn của các
loài trong chi Rau mương (Ludwigia L) Xuất phát từ những lí do trên, đề tài “Nghiên
cứu đặc điểm hình thái, giải phẫu thích nghi và hoạt tính kháng khuẩn của chi Rau mương (Ludwigia L.) ở Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen, tỉnh Long An”
được tiến hành
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định được các đặc điểm về hình thái, giải phẫu thích nghi của một số loài
trong chi Rau mương (Ludwigia L.) nhằm duy trì môi trường sống thích hợp, góp
phần bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái đất ngập nước
Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của 2 loài trong chi Rau mương (Ludwigia L.)
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu 2 loài trong chi Rau mương (Ludwigia L.): Rau dừa nước
(Ludwigia adscendens (L.) H.Hara) và Rau mương thon (Ludwigia hyssopifolia
(G.Don) Exell)
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu một số đặc điểm của môi trường ở nơi thu mẫu 2 loài nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm hình thái cơ quan sinh dưỡng, cơ quan sinh sản và cấu tạo
giải phẫu thích nghi rễ, thân, lá của loài Rau dừa nước (Ludwigia adscendens (L.)
H.Hara) và Rau mương thon (Ludwigia hyssopifolia (G.Don) Exell)
Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của cao ethanol chiết xuất từ 2 loài nghiên cứu
trong chi Rau mương (Ludwigia L.)
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đặc điểm về hình thái, cấu tạo giải phẫu của 2 loài trong chi Rau
mương (Ludwigia L.): Rau dừa nước (Ludwigia adscendens (L.) H.Hara) và Rau mương thon (Ludwigia hyssopifolia (G.Don) Exell) ở Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen
Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của cao ethanol chiết xuất từ các bộ phận rễ,
thân, lá của 2 loài nghiên cứu trên các chủng vi khuẩn thử nghiệm: Bacillus cereus,
Bacillus subtilis, Escherichia coli
Trang 136 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Cung cấp dẫn liệu về đặc điểm hình thái, giải phẫu thích nghi và hoạt tính kháng
khuẩn của loài Rau dừa nước (Ludwigia adscendens (L.) H.Hara) và Rau mương thon (Ludwigia hyssopifolia (G.Don) Exell) nhằm phục vụ cho những nghiên cứu tiếp
theo
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA LÁNG SEN
1.1.1 Vị trí địa lí
Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen nằm ở thượng nguồn vùng Đồng Tháp Mười, toạ lạc trên địa bàn 3 xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại và Vĩnh Châu B thuộc huyện Tân Hưng của tỉnh Long An, có tọa độ địa lí từ 10o 45'00" đến 11o 50'00" vĩ độ Bắc và từ
105o45'00" đến 105o50'00" kinh độ Đông, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 150
km theo hướng Đông Nam Tổng diện tích tự nhiên của Khu Bảo tồn là 5.030 ha, trong đó khu vực khá đặc biệt có diện tích khoảng 1.500 ha là một vùng đầm lầy có nhiều sinh cảnh thích hợp cho động thực vật ưa nước và nơi dễ khôi phục các hệ sinh thái đồng cỏ, bãi ăn và là nơi cư trú của nhiều loài chim nước [6]
Hình 1.1 Bản đồ vị trí Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen, tỉnh Long An [1] 1.1.2 Điều kiện tự nhiên
1.1.2.1 Địa hình, thổ nhưỡng
Địa hình: Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen nằm trong vùng trũng thấp, có
độ cao dao động từ 0,7 đến 1,2 m so với mực nước biển Với địa hình như vậy nên khu vực này được xem như một vùng đầm lầy ngập nước chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn của sông Cửu Long và chịu ngập lũ hằng năm
Do địa hình thấp trũng cộng với hệ thống sông rạch dày đặc và xen lẫn bên trong
là những gò phù sa, giồng cát nên khu vực Láng Sen có địa mạo khá điển hình của vùng Đồng Tháp Mười với các đặc trưng gồm: Gò phù sa cổ, trũng ngập nước ven sông, đồng bằng thấp ngập nước, đồng bằng phẳng ngập nước và trũng nội địa
Trang 15Hình 1.2 Bản đồ địa hình Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen [2]
Thổ nhưỡng: Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen có 4 nhóm đất chính bao
gồm:
Đất phù sa cổ: Là nhóm đất chiếm diện tích ít nhất trong vùng và phân bố ở
những nơi có địa hình khá cao, từ 0,8 m đến 1,2 m
Nhóm đất có phù sa có tầng sinh phèn: Đặc trưng của nhóm đất này là vật liệu
phù sa phủ lên trên một tầng sinh phèn (sulfidic) Phần lớn đất thuộc nhóm này giữ
ẩm tốt, ngập nước oxy không xâm nhập sâu vào bên trong đất nên có giá trị pH > 5,5
Đất phèn hoạt động: Loại đất này được hình thành trong quá trình oxy hóa
khoáng pyrite trong điều kiện thoát thủy và tạo thành khoáng jarosite màu vàng rơm hiện diện trong vòng 50 cm tính từ mặt đất Khoáng này tạo thành tầng phèn (sulfuric) đặc trưng của đất phèn hoạt động Tầng phèn có giá trị pH < 3,5, làm tăng độ chua trong đất và hạn chế sự phát triển của các loài sinh vật
Đất phèn tiềm tàng: Đặc trưng bởi tầng sinh phèn (sulfidic) cách mặt đất 50 cm
với khoáng Pyrite được hình thành trong điều kiện khử nhờ hoạt động của vi khuẩn
Trang 16Đất phèn tiềm tàng thường phân bố ở những khu vực ngập nước thường xuyên trong năm [6]
1.1.2.2 Khí hậu, thủy văn
Khí hậu: Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen nằm trong vùng khí hậu nhiệt
đới gió mùa, ẩm Do tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ nên vừa mang các đặc tính đặc trưng cho vùng đồng bằng sông Cửu Long lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông Nam Bộ
Nhiệt độ trung bình từ 27,20 C đến 27,70 C Lượng mưa hàng năm dao động từ
966 đến 1,325 m Độ ẩm trung bình năm là 80 đến 82 % Thời gian chiếu sáng bình quân ngày từ 6,8 đến 7,5 giờ/ ngày và bình quân năm từ 2,500 – 2,800 giờ Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm dao động từ 2 - 40 C Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10, có gió Tây Nam với tần suất 70% Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, có gió Đông Bắc, tần suất 60 - 70% [6]
Thủy văn: Khu vực có mạng lưới sông rạch khá dày, chịu ảnh hưởng trực tiếp
của sông Cửu Long Mạng lưới sông rạch tự nhiên trong khu vực Láng Sen và vùng lân cận khá dày, tuy nhiên lưu lượng không lớn do lưu vực nhỏ Nguồn nước cung cấp chủ yếu cho Khu vực Láng Sen thông qua là kênh 79 và rạch Bông Súng Mặc
dù nằm sâu trong nội địa, nhưng cũng bị ảnh hưởng của thủy triều biển Đông theo chế độ bán nhật triều và lớn nhất vào mùa khô Tuy nhiên, biên độ dao động mực nước lớn nhất trong khoảng < 0,5 m Biên độ này giảm dần tới khi đỉnh lũ xuất hiện Vào đầu lũ, khu vực Láng Sen ngập chủ yếu do mưa và tụ nước từ vùng cao phía Bắc Vùng ngập sâu trung bình ở Láng Sen từ 2,5 - 3,5 m trong các năm lũ lớn Thời gian ngập từ 3 - 4 tháng Hiện nay, do mạng lưới kinh, mương phát triển và mở rộng nên thời gian ngập ngắn hơn 1 tháng so với trước đây [2]
Chất lượng nguồn nước thay đổi theo mùa và có sự khác biệt khác trong từng khu vực Tuyến kênh 79 đi qua vùng đất phèn nặng nên nước bị chua phèn và độ đục thấp, độ pH thường thấp dưới 4,5 Chất lượng nước chỉ được cải thiện vào mùa lũ và
độ đục cũng tăng lên rất nhiều Tuyến sông Bông Súng có chất lượng nước tốt hơn, lượng phù sa tương đối ổn định và cao hơn Vào mùa khô, khả năng trao đổi nước từ
2 nguồn nước kinh 79 và sông Bông Súng hạn chế nên có sự khác biệt đáng kể về độ
Trang 17pH nước trong các kinh và vùng trung tâm Láng Sen - Cái He Chất lượng nước trong vùng trung tâm Láng Sen ít biến động [2]
1.1.2.3 Hệ sinh vật
Hệ sinh thái trong Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen rất đa dạng về sinh cảnh, trong đó hệ sinh thái rừng tràm chiếm tỷ lệ lớn nhất (50,15%) còn hệ sinh thái rừng ven sông chiếm tỷ lệ ít nhất (1,81%) [2]
Hệ thực vật: Theo nghiên cứu của Viện nước và Công nghệ môi trường Thành
phố Hồ Chí Minh (2010) và nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Sơn (2018), Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen có 220 loài, 174 chi, 74 họ và thuộc hai ngành thực vật bậc cao đó là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Trong đó, các họ chiếm nhiều nhất là họ Hoà bản (Poaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Dền (Amaranthaceae), họ Ráy (Araceae), họ Diệp hạ châu (Phyllanthaceae), họ Bông (Malvaceae), họ Ô rô (Acanthaceae) Ngoài ra, Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen có hệ thực vật nổi rất đa dạng với 114 loài, 37 họ, 25
bộ thuộc 6 ngành Với tảo Lục là ngành chiếm ưu thế, tiếp đến là tảo Silic, tảo Lam, tảo Mắt, tảo Vàng và tảo Giáp chiếm số lượng ít nhất Khu vực có 3 loài trong Sách
đỏ Việt Nam (2007) là: Cà na (Elaeocarpus hygrophilus), Lau vôi (Hemisorghum
mekongense) và Lúa ma (Oryza rufipogon) [1], [2]
Theo Đặng Văn Sơn và cộng sự (2018), nơi đây có 4 kiểu sinh cảnh thực vật, bao gồm sinh cảnh rừng Tràm, sinh cảnh đồng cỏ ngập nước theo mùa với 6 kiểu quần hợp, sinh cảnh lung trấp với 3 kiểu quần hợp và sinh cảnh thực vật kênh rạch với 8 kiểu quần hợp [2]
+ Sinh cảnh rừng tràm: Sinh cảnh này chiếm phần lớn diện tích ở Khu Bảo tồn
Đất ngập nước Láng Sen, trong đó Tràm trồng chiếm đa số, chỉ một phần nhỏ là Tràm tái sinh Tràm được trồng khá lâu với mật độ dày và tán khép kín, ngoài ra còn có một số quần thể Tràm phân tán ở các khu vực đất hoang hóa, đồng cỏ hay ven các
kênh rạch Thành phần loài với Tràm (Melaleuca cajuputi) chiếm ưu thế trong sinh cảnh, phía dưới tán có một số loài khác như: Năng ống (Eleocharis dulcis), Năng kim
(Eleocharis ochrostachys), Mồm lông (Ischaemum polystachyum), Mồm mốc
(Ischaemum rugosum), Bòng bong dẻo (Lygodium flexuosum), Bòng bong nhật
Trang 18(Lygodium japonicum), Bòng bong leo (Lygodium scandens), Choại (Stenochlaena palustris), Đuôi chồn (Ceratophyllum demersum), Nhĩ cán tím (Utricularia punctata), Nhĩ cán vàng (Utricularia aurea), Bèo dâu (Azolla pinnata) Sinh cảnh
rừng Tràm gặp nhiều ở các Tiểu khu 1, 2, 3, 4 và 9 của Khu Bảo tồn
+ Sinh cảnh đồng cỏ ngập nước theo mùa: Đây là sinh cảnh đặc trưng của vùng
Đồng Tháp Mười, chúng phân bố rộng khắp và trải dài từ hướng Đông Bắc đến Tây Nam của Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen Sinh cảnh này thường bị ngập chìm trong nước từ 4 - 5 tháng/năm (từ tháng 6 đến tháng 11 hàng năm) và vào mùa khô thì đồng cỏ thường bị khô, tạo điều kiện cho nhiều loài thực vật ưa ẩm phát triển, các quần hợp thường gặp trong sinh cảnh này gồm: quần hợp thực vật ưu thế Cỏ ống
(Panicum repens), quần hợp thực vật ưu thế Mồm mốc (Ischaemum rugosum), quần hợp thực vật ưu thế Cỏ gạo (Chionachne punctata), quần hợp thực vật ưu thế Cỏ bấc (Leersia hexandra), quần hợp thực vật ưu thế Lúa ma (Oryza rufipogon)
+ Sinh cảnh lung, trấp: Đây là sinh cảnh ngập nước quanh năm, thường phân bố
ở những vùng đất thấp; thành phần thực vật ở đây chủ yếu là các loài thủy sinh sống chìm trong nước Ở Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen, các quần hợp thường gặp
trong sinh cảnh lung, trấp gồm: quần hợp thực vật ưu thế Súng (Nymphaea spp.), quần hợp thực vật ưu thế Sen (Nelumbo nucifera), quần hợp thực vật ưu thế Bèo cái
(Pistia stratiotes)
+ Sinh cảnh thực vật trên kênh rạch: Đây là sinh cảnh đặc trưng cho vùng sông
nước Đồng Tháp Mười, bao gồm các sông rạch tự nhiên và kênh đào nhân tạo Thành phần thực vật ở đây tương đối phong phú và đa dạng, các quần hợp thường gặp: quần
hợp thực vật ưu thế Cỏ sướt nước (Centrostachys aquatica), quần hợp thực vật ưu thế Lục bình (Eichhornia crassipes), quần hợp thực vật ưu thế Choại (Stenochlaena
palustris), quần hợp thực vật ưu thế Rau nhút (Neptunia oleracea), quần hợp thực vật
ưu thế Rau dừa nước (Ludwigia adscendens), quần hợp thực vật ưu thế Sậy (Phragmites karka), quần hợp thực vật ưu thế Keo (Acacia spp.)
Hệ động vật: Theo nghiên cứu của Viện nước và Công nghệ môi trường Thành
phố Hồ Chí Minh (2010) thì hệ động vật ở Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen bao gồm: Động vật nổi 68 loài, Động vật đáy có 11 loài, Cá có 36 loài, Lưỡng cư có 4
Trang 19loài, Bò sát có 17 loài, Chim có 122 loài, Thú có 6 loài Đặc biệt, đây là nơi cư trú của nhiều loài chim nước, trong đó một số loài có số lượng cá thể lớn như các loài
Cò, Còng cọc, Bạc má, Chim suốt, Trích, Dòng dọc, Điêng điểng,… Theo ước tính,
số lượng chim có khoảng trên 20.000 cá thể [1]
Thuỷ sản: Theo Trung tâm Khoa học và Môi trường TP HCM (2017), nơi
đây có 36 loài cá thuộc 14 họ Theo thứ tự họ Cyprinidae chiếm tỷ lệ lớn nhất, tiếp đến là họ Bagridae và Họ Beloniidae, các họ khác chiếm tỷ lệ không đáng kể Các
loài đặc trưng trong khu vực như cá Thác Lát (Notopterus notopterus), cá Ngựa nam (Hampala macrolepidota), cá Trê (Clarias spp.) Trong số đó, nhiều loài như cá Lăng (Mystus nemurus, Mytus filamentus), cá Trê (Clarias spp.), cá Lóc (Channa spp.), cá
Ét (Morulius chrysophekadion)… có giá trị kinh tế cao Bên cạnh có giá trị kinh tế cao, các loài cá nhỏ còn có tiềm năng trong ngành cá cảnh như cá Ngựa (Doryichthys
boaja), cá Sặc vện (Nandus nandus), cá Lòng tong (Rasbora spp.) [2]
1.2 THÔNG TIN VỀ CHI RAU MƯƠNG (Ludwigia L.) Ở KHU BẢO TỒN
ở khu vực nghiên cứu gồm: sinh cảnh rừng Tràm, sinh cảnh đồng cỏ ngập nước theo
mùa, sinh cảnh lung, trấp và sinh cảnh thực vật trên kênh, rạch Qua điều tra, trong
các loài thực vật đã ghi nhận ở khu vực nghiên cứu thì chi Rau mương (Ludwigia) xuất hiện 3 loài là Rau dừa nước (Ludwigia adscendens L.), Rau mương nằm (Ludwigia prostrata Roxb.) và Rau mương hẹp (Ludwigia epilobioides Maxim.) [7]
1.2.1 Rau dừa nước (Ludwigia adscendens)
+ Phân bố, sinh thái: Cây thường mọc hoang hoặc được trồng ở những nơi ngập
nước như ruộng nước, vùng lầy, ở độ cao dưới 1500 m Phân bố phổ biến ở Việt Nam, ngoài ra còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Lào, Campuchia, Malaysia, Indonexia… [27]
Trang 20Ở Láng Sen, loài này phân bố nhiều ở các Tiểu khu 10, 11, 12 của Khu Bảo tồn, cây dễ thích nghi với mọi môi trường sống từ ngập nước quanh năm đến những nơi
có nền đất ẩm và khô
+ Công dụng: Thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng Thường dùng trị phù
thũng, tiểu đục, tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu ra máu, ho khan, nóng sốt, lên ban sởi, mụn nhọt, áp xe vú, viêm tuyến mang tai, viêm da… Ngoài ra còn được sử dụng làm thuốc đắp ngoài da, chữa sưng lở, vết thương, bỏng, rắn cắn, chó cắn Cả cây rau dừa nước giã nát với dầu thầu dầu rồi xát lên đầu chữa nấm tóc và một số bệnh da đầu khác [27], [37]
1.2.2 Rau mương thon (Ludwigia hyssopifolia)
+ Phân bố, sinh thái: Trên thế giới, loài Ludwigia hyssopifolia (G.Don) Exell
chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới, thường mọc ở những nơi ẩm ướt như ruộng lúa, ven sông, suối, đầm lầy, đồng cỏ ngập nước, ở độ cao dưới 1500 m Nó được xem như loài loài cỏ dại lan rộng trên ruộng lúa và đất ngập nước của nhiều quốc gia như
Ấn Độ, Malaysia, Philippines, Sri Lanka… [8] Cây Rau mương thon phân bố nhiều nơi tại Việt Nam, từ Lào Cai, Quảng Ninh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế vào các tỉnh Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu sinh trưởng tốt tại những khu vực
ẩm ướt có nhiều sông ngòi Ngoài ra, còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia, các nước nhiệt đới khác [27] Ở Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng sen, loài này thường mọc ở ven các kênh rạch hoặc nơi đất ẩm
+ Công dụng: Dựa theo nghiên cứu của nền y học cổ truyền, cây Rau mương
thon có nhiều tác dụng chính như là thuốc xổ giun, tẩy giun sán và lợi tiểu Ngoài ra,
nó còn được sử dụng trong điều trị tiêu chảy, kiết lị, viêm ruột Lá cây được dùng làm thuốc đắp sử dụng trong việc điều trị mụn nhọt và các bệnh nhiễm trùng da Nước sắc Rau mương dùng làm nước súc miệng để chữa các bệnh ở hầu, họng, loét miệng Ở Bangladesh và Ấn Độ nước sắc của cây được sử dụng để điều trị tiêu chảy, kiết lị, đầy hơi, bệnh trĩ và có tác dụng lọc máu Ở Malaysia, cây Rau mương dùng để chữa
bệnh giang mai, ở Lào được dùng chữa bệnh đau khớp [8], [27], [37]
Trang 211.3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
1.3.1 Các công trình nghiên cứu về hình thái, giải phẫu thích nghi
1.3.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Deepak VS và cộng sự (2019) đã tiến hành nghiên cứu động lực học của loài
Ludwigia hyssopifolia (G Don) Exell ở Ấn Độ Kết quả cho thấy loài Ludwigia hyssopifolia là một loại cỏ dại lá rộng phân bố rộng rãi ở Bangladesh, Ceylon và ở tất
cả các vùng của Ấn Độ Trong y học cổ truyền, Ludwigia hyssopifolia được dùng để
điều trị tiêu chảy, kiết lỵ, đầy hơi, vàng da… Ngoài ra, loài cây này cũng có tác dụng tẩy giun sán và lợi tiểu Điều tra thành phần hóa học, cho thấy có sự hiện diện của các flavonoid như vitexin, isovitexin, orietin, isorietin, alkaloid như piperine và sterol thực vật như β-sitosterol [8]
Das AK và Sivaperuman C (2020) đã xác định loài Ludwigia adscendens (L.)
H Hara là loài thực vật hạt kín sống dưới nước, thuộc họ Onagraceae xuất hiện lần đầu tiên ở Quần đảo Andaman và Nicobar (Ấn Độ) Ngoài ra, tác giả đã xác định một
số đặc điểm về hình thái, sinh thái và sự phân bố của loài này [9]
Barua IC (2010) đã tiến hành nghiên cứu họ Rau mương (Onagraceae) ở Ấn
Độ Kết quả đã xác định và mô tả về đặc điểm hình thái, sinh thái của 7 loài trong họ
Rau mương là: L adscendens, L octovalvis, L peruviana, L decurrens, L linifolia,
L prostrata, L perennis [10]
Năm 2014, Folorunso AE và cộng sự đã tiến hành giải phẫu lá và thân để xác
định các loài thuộc chi Ludwigia ở Nigeria Kết quả đã xác định chín loài trong chi
Ludwigia là Ludwigia L viz., Ludwigia abyssinica A Rich., L adscendens subsp diffusa (Forssk), L decurrens A Walter., L decurrens B Walter., L erecta (Linn.)
Hara, L hyssopifolia (G.Don) Exell, L leptocarpa (Nutt.) và L octovalvis (Jacq.)
Raven Kết quả nghiên cứu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý các loài thuộc
chi Ludwigia vì hầu hết chúng là các loài xâm lấn [11]
Aung và Chaw (2019) đã tiến hành nghiên cứu hình thái giải phẫu, giá trị dinh
dưỡng và hoạt tính kháng khuẩn của lá loài Ludwigia octovalvis (Jacq.) Raven Khi
phân tích thành phần bột lá, kết quả cho thấy có sự hiện diện của alkaloids, saponin, carbohydrate, glycoside, flavonoid, tannin, hợp chất phenolic, terpenoit và steroid
Trang 22Bằng cách sử dụng phương pháp khuếch tán đĩa giấy, cao ethanol và methanol chiết
xuất từ loài Ludwigia octovalvis (Jacq.) Raven thể hiện hoạt tính cao nhất chống lại các vi sinh vật gây bệnh khác nhau Do đó, Ludwigia octovalvis (Jacq.) Raven có
nhiều tiềm năng về hoạt tính kháng khuẩn, giá trị dinh dưỡng và các hoạt chất sinh học nhằm cung cấp nguồn dược liệu cho y học cổ truyền [12]
1.3.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ (2003) đã ghi nhận và mô tả đặc điểm hình thái,
sinh thái của 7 loài trong chi Rau mương (Ludwigia L) ở Việt Nam: Ludwigia
adscendens, Ludwigia epilobioides, Ludwigia hyssopifolia, Ludwigia octovalvis, Ludwigia octovalvis subsp sessiliflora (Michx), Ludwigia perennis L., Ludwigia prostrata Roxb [28]
Đặng Văn Sơn và cộng sự (2018) đã ghi nhận ở thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh
có 3 loài trong họ Rau mương (Onagraceae): Rau mương (Ludwigia adscendens (L.) H.Hara), Rau mương hẹp (Ludwigia epilobioides Maxim.) và Rau mương thon (Ludwigia hyssopifolia (G.Don) Exell) [13]
Năm 2013, Nguyễn Thị Hạnh đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm hình thái, giải phẫu của một số đại diện nhóm cây thủy sinh nước ngọt tại huyện Mê Linh - Hà Nội Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm về thích nghi hình thái, giải phẫu của 6
loài thực vật thủy sinh: Bèo tây (Eichhornia crassipes (Mart.) Solms.), Bèo cái (Pistia
stratiotes L.), Rau bợ nước (Marsilea quadrifolia), Rau dừa nước (Ludwidgia adscendens), Sen (Nelumbo nucifera Gaertn.) và Trang (Nymphoides indica) [14]
Nghiên cứu đặc điểm thích nghi hình thái, cấu tạo và sinh thái của một số loài thực vật điển hình ở Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng
Tháp gồm: 8 loài thực vật thường gặp Cỏ ống (Panicum repens L.), Mồm mốc (Ischaemum rugosum Salisb.), Lúa ma (Oryza rufipogon Griff.), Năng ống (Eleocharis dulcis (Burm.f.) Hensch.), Rau dừa nước (Ludwidgia adscendens (L.) Hara.), Sen (Nelumbo nucifera Gaertn.), Súng lam hay súng ma (Nymphaea nouchali Burm.f.) và Tràm (Melaleuca leucadendra L.) Kết quả chỉ ra những đặc điểm thích
nghi hình thái, giải phẫu của các loài này ở vùng đất ngập nước giúp chúng có thể tồn tại lâu dài trong môi trường đặc biệt này [15]
Trang 23Nguyễn Thị Thu Hà và cộng sự (2018) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm hình thái và giải phẫu của một số loài thực vật thủy sinh Kết quả đã mô tả được đặc điểm hình thái, cấu tạo giải phẫu thích nghi của các loài Rau nhút, Rau dừa nước và Bèo tây sống trong môi trường nước ao, hồ nhằm cung cấp những dữ liệu phục vụ trong học tập và nghiên cứu [16]
1.3.2 Các công trình nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn
Yakob và cộng sự (2012) đã nghiên cứu hoạt động chống oxy hóa và kháng
khuẩn của Ludwigia octovalvis trên Escherichia coli O157: H7 và một số vi khuẩn gây bệnh Nghiên cứu này đã thử nghiệm 12 chất chiết xuất từ loài L octovalvis, kết
quả cho thấy 80% chiết xuất metanol của lá có nồng độ ức chế tối thiểu (MIC = 62,5
µg/mL) và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC 125,0 µg/mL) chống lại Escherichia
coli O157: H7, Escherichia coli ATCC 25922 và Bacillus spizizenii (ATCC 6633),
trong khi 80% chiết xuất methanol của rễ cho giá trị MIC và MBC tương tự chống
lại Pseudomonas aeruginosa (ATCC 27853) Nghiên cứu cho thấy rằng lá L
octovalvis như một nguồn hỗn hợp tự nhiên mới có thể chống oxy hóa và chống khuẩn
E coli O157: H7 [17]
Nghiên cứu của Gobalakrishnan và cộng sự (2019) về các hợp chất có hoạt tính
sinh học từ loài Ludwigia parviflora Roxb Kết quả nghiên cứu cho thấy các thành phần kháng khuẩn và hoạt tính sinh học tự nhiên từ Ludwigia parviflora (chiết xuất
từ quả) có khả năng chống lại bốn chủng vi khuẩn và ba chủng nấm gây bệnh bằng
phương pháp khuếch tán đĩa thạch Chiết xuất etyl axetat và chiết xuất ethanol của L
parviflora cho thấy hoạt động kháng khuẩn đáng kể chống lại tất cả các mầm bệnh
đã được kiểm nghiệm Tóm lại, các hợp chất sinh học chiết xuất từ quả của L
parviflora có thể điều trị nhiều loại bệnh ở người và có thể phát hiện ra các loại thuốc
điều trị mới [18]
Năm 2018, Smida và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu các đặc tính chống mụn
trứng cá, chống oxy hóa và độc tế bào của chiết xuất từ lá Ludwigia peploides Chiết
xuất thể hiện khả năng chống oxy hóa bằng DPPH (IC 50 = 58 ± 6,0 µg mL-1 ) và thử nghiệm NBT (IC 50 = 30 ± 2,8 µg mL-1 ), nó không độc trên tế bào HaCaT (IC 50 >
200 µg mL-1 ) Kết quả cho thấy, chiết xuất từ lá Ludwigia peploides có khả năng
Trang 24chống lại vi khuẩn Propionibacterium acnes (MIC = 1,9 µg mL-1 ), có tác dụng diệt
khuẩn chống lại Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis và Salmonella
enterica, thể hiện hoạt tính chống tăng sinh (IC 50 = 5,5 ± 2,3 µg mL-1 ) [19]
Oyedeji và cộng sự (2010) đã tiến hành nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn,
kháng nấm của chiết xuất thô từ lá loài Ludwigia abyssinica và Ludwigia decurrens
Walter Nghiên cứu cho thấy chiết xuất n-butanol thể hiện hoạt tính phổ rộng chống lại tất cả các vi khuẩn và nấm thử nghiệm và được so sánh với các đối chứng như ampicillin, streptomycin và amphotericin B Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) được của chiết xuất butanol và etyl axetat chống lại các loài vi khuẩn thử nghiệm nằm trong khoảng 0,625 đến 5,0 mg ml-1 và 1,25 đến 5,0 mg ml-1 Tỷ lệ tiêu diệt của nồng độ
diệt khuẩn tối thiểu (MBC) chiết xuất n-butanol của L abyssinica trên Escherichia
coli là khoảng 99,3% trong 120 phút trong khi đó là khoảng 98,2% đối với Staphylococcus aureus [20]
Ahmed F và cộng sự (2005) đã nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn của loài
Rau dừa nước (Ludwigia adscendens) ở Bangladesh Kết quả cho thấy chiết xuất
methanolic của toàn cây phổ kháng khuẩn rộng, thể hiện hoạt tính kháng khuẩn trên
các chủng vi khuẩn thử nghiệm trừ Stapylococcus aureus [21]
Năm 2009, Thái Quốc Khải đã tiến hành khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của
cây Rau mương thon (Ludwigia hyssopifolia), cây Rau dừa nước (Jussisaea repens
L.) và cây Cỏ xước (Achyranthes aspera L.) Kết quả thu được, cây Rau dừa nước có phổ kháng khuẩn rộng, ức chế cả 8 chủng vi khuẩn thử nghiệm, MIC nhỏ nhất trên
chủng E tarda (MIC = 64 μg/ml), kế đến là A hydrophil, S aureus, P aeruginosa,
E ictaluri (MIC từ 512μg/ml đến 1024μg/ml) và tác động yếu trên Salmonella spp,
E coli, S faecalis (MIC từ 2048 μg/ml đến 4096 μg/ml) Cây Rau mương thon có
phổ kháng khuẩn rộng, ức chế cả 8 chủng vi khuẩn thử nghiệm, MIC nhỏ nhất trên
chủng E tarda (MIC = 32 μg/ml), kế đến là S aureus, P aeruginosa, A hydrophila,
E ictaluri (MIC từ 512 μg/ml đến 1024 μg/ml) và tác động yếu trên S faecalis, E coli, Salmonella spp (MIC > 4096 μg/ml) [5]
Huỳnh Kim Diệu và Lê Thị Loan Em (2011) đã nghiên cứu sự thuần chủng và
hoạt tính kháng khuẩn của cây Sống đời (Kalanchoe pinnata) và cây Rau mương thon
Trang 25(Ludwigia hyssopifolia) ở Đồng bằng sông Cửu Long Kết quả diện di cho thấy các
cây Sống đời thuần chủng có khả năng tác động trên vi khuẩn thử nghiệm, đặc biệt
tác động rất mạnh trên Edwardsiella ictaluri (MIC = 512 g/ml) Hoạt tính kháng khuẩn các dòng Rau mương thon khác nhau nhưng đều tác động tốt trên vi khuẩn thử
nghiệm và tác động rất mạnh trên Edwardsiella tarda, Staphylococcus aureus,
Edwardsiella ictaluri và Aeromonas hydrophila (MIC = 128 - 512 µg/ml) [3]
Hầu hết các công trình nghiên cứu về chi Rau mương (Ludwigia L.) ở trên thế
giới chủ yếu mô tả về các đặc điểm hình thái, sinh thái của các loài mà chưa đi sâu vào nghiên cứu cấu tạo, giải phẫu thích nghi Các công trình trong nước tập trung đi vào nghiên cứu các đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của các loài trong chi Rau
mương (Ludwigia L.) thích nghi với những điều kiện môi trường sống khác nhau Tuy nhiên các nghiên cứu về loài Rau dừa nước (Ludwigia adscendens (L.) H.Hara)
và Rau mương thon (Ludwigia hyssopifolia (G.Don) Exell) còn khá sơ xài, chưa
nghiên cứu chi tiết, đầy đủ và có hệ thống về đặc điểm hình thái, giải phẫu thích nghi
với chế độ ngập nước
Trang 26CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 01/2021 - 10/2021, bao gồm thời gian: nghiên cứu tài liệu; thu mẫu 2 đợt vào mùa mưa và mùa khô, nghiên cứu giải phẫu mẫu tại phòng thí nghiệm Sinh lí - Thực vật, Khoa Sinh học - trường Đại học Sư phạm TP HCM và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn tại phòng thí nghiệm Vi sinh - trường Đại học Sài Gòn
Thời gian thực địa thu mẫu 2 đợt:
+ Đợt 1 (mùa khô – tháng 02/2021): thu mẫu đất, đo một số chỉ tiêu của nước, khảo sát đặc điểm hình thái cây, chụp hình và thu mẫu cây để nghiên cứu cấu tạo,
giải phẫu và thử hoạt tính kháng khuẩn
+ Đợt 2 (mùa mưa – tháng 10/2021): khảo sát bổ sung đặc điểm hình thái cây,
chụp hình
2.1.2 Địa điểm thu mẫu
Mẫu được thu tại 2 điểm thuộc Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen, xã Vĩnh Lợi, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An theo Hình 2.1 và Bảng 2.1
Hình 2.1 Vị trí thu mẫu cây (Google Earth, 2021)
Trang 27Bảng 2.1 Tọa độ địa lí địa điểm thu mẫu cây
thuộc Rau dừa nước
(Ludwigia adscendens) 105°42'20"E 10°46'02"N 11
Rau mương thon
(Ludwigia hyssopifolia) 105°42'41"E 10°46'31"N 10
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Nghiên cứu tài liệu
Thu thập một số bài báo, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài để vận dụng vào việc phân tích, biện luận các kết quả đạt được
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
2.2.2.1 Khảo sát một số yếu tố môi trường
+ Đo pH, độ dẫn điện của nước, dùng thước cây đo độ ngập nước
+ Lấy mẫu đất tại nơi thu mẫu để phân tích một số tính chất của đất Các mẫu đất cho vào lọ nhựa ghi rõ độ sâu, địa điểm, ngày lấy mẫu và đem về phòng thí nghiệm
để đo một số chỉ tiêu sinh thái
+ Xác định tọa độ vị trí thu mẫu bằng phần mềm Google Earth
2.2.2.2 Thu mẫu thực vật
+ Khảo sát về dạng sống, hệ rễ
+ Quan sát, mô tả các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản của những loài
thực vật nghiên cứu Đo đếm các bộ phận liên quan
+ Chụp ảnh các đối tượng nghiên cứu trong điều kiện tự nhiên
+ Lấy các mẫu lá bánh tẻ (lá thứ 3, 4 tính từ ngọn), thân, rễ cây ngâm trong ethanol 70o Các mẫu rễ, thân, lá lấy đồng đều về kích thước và vị trí nhằm đảm bảo
tính đồng bộ, chính xác khi nghiên cứu so sánh
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Tại phòng thí nghiệm, mẫu cây được tách riêng các bộ phận (rễ, thân, lá) Sau
đó mẫu được rửa sạch đất và phơi nắng cho ráo nước Sau khi phơi nắng, mẫu được
Trang 28gói bằng giấy báo và cân khối lượng Sấy mẫu trong tủ sấy 50oC – 60oC đến khi mẫu khô hoàn toàn
Mẫu khi đã khô được bảo quản trong điều kiện khô thoáng ở phòng thí nghiệm
để tiến hành thử hoạt tính kháng khuẩn
2.2.3.1 Phân tích đất
+ Xác định thành phần cơ giới đất và hàm lượng hữu cơ
Mẫu đất được gửi cho Viện Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam phân tích thành phần cơ giới theo TCVN 8567:2010 và hàm lượng chất hữu cơ theo TCVN
8941:2011 [22], [23]
+ Xác định độ 𝐩𝐇𝐇𝟐𝐎 và 𝐩𝐇𝐊𝐂𝐥 của mẫu đất [24]
- Cân 20 g đất mịn khô không khí cho vào bình có dung tích 100 ml miệng
rộng
- Thêm 50 ml dung dịch KCl (hay nước cất)
- Lắc xoáy bằng tay cho phân tán đất và tiếp tục lắc trên máy 30 phút
- Để yên trong 2 giờ (không quá 3 giờ)
- Lắc xoáy lại 2 – 3 lền bằng tay cho phân tán huyền phù
- Sau đó đo ngay bằng pH mét điện cực thủy tinh Vị trí bầu điện cực ở vị trí
trung tâm và trung điểm độ sâu của dung dịch trong huyền phù
- Đọc số đo sau khi kim chỉ ổn định 30 giây
+ Xác định độ dẫn điện (EC - µS/cm) [24]
- Cân 30 g đất mịn khô không khí cho vào bình có dung tích 250 ml miệng
rộng
- Thêm vào 150 ml nước cất
- Lắc xoáy nhẹ bằng tay cho phân tán đất và tiếp tục lắc trên máy 2 giờ
- Để yên trong một giờ
- Lọc qua giấy lọc chậm và mịn Nếu đục phải lọc lại hoặc tiến hành li tâm
- Đo EC trong dung dịch đã lọc
+ Xác định độ ẩm và hệ số khô kiệt của mẫu [24]
- Cân 5 g đất mịn khô bằng cân phân tích rồi cho vào hộp chịu nhiệt rồi đem sấy ở nhiệt độ 100 – 105oC trong 4 giờ
Trang 29- Lấy mẫu ra và đặt vào bình hút ẩm cho đến khi mẫu trở về nhiệt độ phòng
Cân để xác định khối lượng của mẫu lần thứ nhất
- Tiếp tục sấy mẫu ở nhiệt độ 100 – 105oC trong 2 giờ Lấy mẫu ra và đặt vào bình hút ẩm cho đến khi mẫu trở về nhiệt độ phòng Cân để xác định khối lượng của mẫu lần thứ hai và tiếp tục làm như vậy cho đến khi khối lượng
lần cân sau không đổi hoặc thay đổi không quá 0,001 g so với lần cân trước
- Phần trăm độ ẩm được tính theo công thức:
P1: Khối lượng hộp có đất trước sấy (g)
P2: Khối lượng hộp có đất sau sấy (g)
P3: Khối lượng hộp không có đất (g)
- Hệ số khô kiệt:
100100
vi với buồng đếm khí khổng Chụp hình biểu bì với lỗ khí trong một ô (1 mm2) dưới
vật kính x10 và đếm số lượng lỗ khí có trong ô
+ Phương pháp nghiên cứu cấu tạo giải phẫu [25]
Dùng dao lam cắt lát mỏng các lá bánh tẻ, rễ cây và đoạn thân của các loài
nghiên cứu Mỗi loài cắt 15 lá, 15 rễ cây và 15 thân cây từ những cây khác nhau
Các mẫu lá và thân được nhuộm kép theo phương pháp của Trần Công Khánh
(1981)
- Mẫu được ngâm vào Javel trong 15 phút để tẩy sạch nội chất của tế bào
- Rửa sạch mẫu bằng nước cất
- Ngâm mẫu vào acid acetic 1% khoảng 5 phút
Trang 30- Sau đó rửa lại bằng nước cất
- Nhuộm mẫu với dung dịch carmine 4% trong khoảng 10 phút
- Rửa lại bằng nước cất
- Nhuộm xanh bằng dung dịch xanh methylen 0,1‰ trong khoảng 10 giây
- Rửa sạch bằng nước cất
2.2.3.3 Phương pháp đo trên kính hiển vi
Sử dụng phương pháp đo gián tiếp bằng cách so sánh kích thước của vật cần
đo với một thước đo thị kính được lắp thêm vào kính hiển vi Từ giá trị của mỗi khoảng cách trên thước đo này (đã được tính trước nhờ thước đo vật kính) sẽ suy ra
kích thước vật đo
Thước đo vật kính trông giống như phiến kính, ở chính giữa có khắc một thước nhỏ Thước dài 1mm, được chia thành 100 phần bằng nhau, mỗi khoảng cách trên đó dài 10 m
Thước đo thị kính được lắp ở đầu ống mang thị kính của kính hiển vi, trên có
100 vạch chia nhỏ
Trước hết xác định giá trị của mỗi vạch trên thước đo thị kính (tính bằng m)
ở mỗi độ phóng to khác nhau của kính hiển vi Muốn vậy ta đặt thước đo vật kính lên bàn kính rồi điều chỉnh để thấy rõ các vạch Lắp thước đo thị kính vào sao cho một vạch trên thước đo thị kính trùng với một vạch trên thước đo vật kính Tìm một vạch
thứ hai nào cũng trùng như vậy Trị số một vạch trên thước đo thị kính là:
b
a
d 10
Trong đó: d: Trị số một vạch trên thước đo thị kính
10: Giá trị một khoảng cách trên thước đo vật kính (m)
Bằng cách này xác định được trị số mỗi vạch trên trắc vi thị kính ở vật kính x40: mỗi vạch dài 3,5 m
Bỏ thước đo vật kính ra và thay vào đó tiêu bản của mẫu vật cần đo
Trang 31Vị trí đo độ dày các lớp mô của lá cắt ngang tùy thuộc vào kích thước lá, đo cách gân chính một khoảng a m
Độ dày của các lớp mô trong cấu tạo thân cây được đo từ ngoài vào đến tâm
lát cắt ngang (chỉ đo bán kính)
2.2.3.4 Định loại các mẫu thực vật
Dựa vào tài liệu chuyên ngành để định loại các mẫu thực vật thu được: Cây cỏ
Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (2003), Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi
(2012), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Đỗ Huy Bích và cộng sự
(2004) Tên khoa học của các loài được cập nhật theo trang web:
http://www.theplantlist.org
Sắp xếp các loài theo hệ thống của Takhtajan (2009)
2.2.3.5 Mô tả các mẫu thực vật [31], [32]
Sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành thực vật để mô tả các mẫu thu được (Võ
Văn Chi, 2003; Phạm Văn Ngọt (Chủ biên) & Quách Văn Toàn Em, 2014)
2.2.4 Phương pháp khảo sát hoạt tính kháng khuẩn
2.2.4.1 Phương pháp điều chế cao ethanol [33]
Mẫu cây sau khi phơi khô đem xay thành bột mịn Ngâm 100 g bột cây trong
1000 ml dung dịch ethanol 96o (tỉ lệ 1:10) Sau 48h, dịch chiết được lọc qua giấy lọc
để loại cặn Phần bột cây còn lại tiếp tục được ngâm trong dung dịch ethanol 96o với cùng tỉ lệ như trên Quá trình chiết lặp lại 3 lần để đảm bảo quá trình diễn ra triệt để
Hình 2.2 Bột cây được ngâm tạo cao chiết ethanol
Trang 32Dịch chiết được thu hồi dung môi bằng hệ thống cô quay ở 50oC và áp suất 175 mbar Sau khi thu hồi gần hết dung môi, rót dịch chiết ra cốc thủy tinh để bay hơi tự nhiên Khi dung môi bay hơi hoàn toàn, cao chiết ethanol thô được thu và bảo quản cao trong tối ở nhiệt độ thấp (4oC)
Phần bột cây còn lại tiếp tục được ngâm trong dung dịch ethanol 96oC với cùng
tỉ lệ như trên
Hình 2.3 Máy cô quay chân không tạo cao chiết ethanol
2.2.4.2 Phương pháp thử hoạt tính kháng khuẩn
+ Môi trường nuôi cấy: sử dụng môi trường môi trường LB lỏng (g/L: trypton powder - 10, yeast extract - 5, NaCl - 10, pH - 7) để nuôi vi khuẩn và môi trường LB (g/L: trypton powder - 10, yeast extract - 5, NaCl - 10, agar - 18, pH - 7) để thử hoạt
tính kháng khuẩn và cấy truyền giữ giống
+ Các chủng vi khuẩn thử nghiệm: Bacillus subtilis, Bacillus cereus,
Escherichia coli từ phòng thí nghiệm Vi Sinh, Khoa Sư phạm KHTN, trường Đại học
Sài Gòn cung cấp Các chủng vi khuẩn thử nghiệm được bảo quản bằng phương pháp cấy truyền trên môi trường thạch nghiêng LB và được sử dụng thử nghiệm sau 24 giờ
nuôi cấy bằng môi trường LB lỏng
+ Lập đường tương quan tuyến tính giữa độ đục và mật độ tế bào
Để xác định hoạt tính kháng khuẩn, mỗi loại vi khuẩn được xác định giá trị OD tương ứng với nồng độ vi khuẩn đạt 5.106 CFU/ml tại bước sóng 610 nm Để tính
Trang 33được OD cần xây dựng đường hồi qui tuyến tính giữa độ đục và mật độ tế bào theo
qui trình:
- Nuôi cấy các chủng vi khuẩn thử nghiệm trong môi trường LB lỏng trong vòng
48 giờ trên máy lắc Pha loãng huyền phù chứa loài vi sinh vật cần kiểm nghiệm có
độ đục đo ở OD610nm đạt giá trị cận 0,1; 0,2; 0,3; 0,4; 0,5
- Đo độ đục của dịch huyền phù vi khuẩn ở OD610nm và quy về mật số tế bào theo CFU/ml dựa trên chuẩn McFarland Dựa trên phương trình hồi qui tuyến tính giữa mật độ tế bào và giá trị OD610nm, ta xác định giá trị OD610nm tương ứng với mật
độ tế bào đạt 5.106 CFU/ml
+ Phương pháp thử hoạt tính kháng khuẩn theo phương pháp khuếch tán:
- Cân 10 g cao ethanol được hòa tan vào 10 ml dung dịch ethanol 70o, thu được dung dịch có nồng độ 1000 mg/ml Dùng dung dịch trên pha loãng thành các nồng
độ 800 mg/ml, 600 mg/ml, 400 mg/ml, 200 mg/ml Đối chứng âm là dung dịch ethanol
70o,đối chứng dương là gentamicin 1 mg/ml (G) và tetracycline 1 mg/ml (T)
- Xác định hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết bằng phương pháp khuếch tán
trên đĩa thạch của Kirby – Bauer (1966) [34]
- Dịch huyền phù vi khuẩn được đo độ đục và quy về chuẩn McFarland 1 Dùng pipette hút 5 ml dịch huyền phù có độ đục tương ứng McFarland 1 (3.108 CFU/ml) trộn vào bình tam giác chứa 300 ml môi trường LB (để nguội đến khoảng 40 – 50oC, cầm tay thấy ấm và thạch chưa đông); như vậy mật số tế bào trong thạch đạt 5.106
CFU/ml Tiến hành đổ thạch LB đã trộn dịch khuẩn vào các đĩa Petri, chờ thạch đông
lại
- Dùng ống thủy tinh đường kính d = 6 mm đã tiệt trùng khoan vào lớp thạch để tạo giếng Hút 20µl dung dịch cao ethanol ở các nồng độ khác nhau (1000 mg/ml,
800 mg/ml, 600 mg/ml, 400 mg/ml, 200 mg/ml) bơm vào mỗi giếng Chứng dương
là giếng kháng sinh chứa gentamicin và tetracycline mỗi giếng 10 µl, giếng chứng
âm là 20 µl dung dịch ethanol 70o Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần
- Đĩa Petri sau khi đã được nhỏ cao chiết được gói giấy báo và giữ lạnh ở 4oC trong 4 giờ để cao chiết khuếch tán vào lớp thạch Sau đó đặt ở nhiệt độ phòng (28 ±
Trang 342oC) trong vòng 24 – 48 giờ và tiến hành quan sát, đo đường kính kháng khuẩn, chụp
hình, ghi nhận kết quả
- Hoạt tính kháng khuẩn được đánh giá bằng cách đo đường kính vòng vô khuẩn (D – d) với D là đường kính vòng vô khuẩn, d là đường kính giếng Đường kính vùng
ức chế được đo bằng thước đo đơn vị mm
Bảng 2.2 Đánh giá mức độ của đường kính vòng vô khuẩn
(Nguồn: Manuanza et al., 1994)
Mức độ tác động Đường kính vòng vô khuẩn
Hình 2.4 Kết quả thử hoạt tính kháng khuẩn theo phương pháp khuếch tán 2.2.5 Xử lí thống kê
Sử dụng phần mềm SPSS ver 26 và phần mềm Excel 2013 để xử lí các số liệu thu được
Trang 352.2.6 Quy trình thí nghiệm
Hình 2.5 Sơ đồ quy trình thí nghiệm
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA MỘT SỐ LOÀI TRONG CHI RAU MƯƠNG (LUDWIGIA L.)
3.1.1 Tính chất của nước ở nơi thu mẫu
Tiến hành khảo sát tính chất của nước ở nơi thu mẫu vào 2 đợt: đợt 1 (mùa khô)
và đợt 2 (mùa mưa) Kết quả nghiên cứu được trình bày ở Bảng 3.1
Bảng 3.1 Một số tính chất nước tại điểm thu mẫu thực vật
(cm) Rau dừa nước
có sự khác biệt giữa mùa mưa và mùa khô Giá trị EC của mẫu nước vào mùa mưa (EC = 410, 8 ± 4,21) cao hơn so với mùa khô (EC = 141,77 ± 0,25) Điều này có thể giải thích do vào mùa mưa chất lượng nước tốt hơn, lượng phù sa tương đối ổn định, nồng độ chất tan trong nước cao hơn so với mùa khô
Loài Rau mương thon sống trong môi trường nước có độ pH trung tính (pH = 6,46 – 6,56) Giá trị EC tại khu vực nghiên cứu không có sự khác biệt đáng kể giữa mùa mưa (EC = 151, 8 ± 1,25) và mùa khô (EC = 201,43 ± 0,4) Vị trí thu mẫu loài Rau mương thon gần khu vực ban quản lý của Khu Bảo tồn nên không có sự trao đổi nước thường xuyên, do đó nồng độ các chất hòa tan trong nước ít có sự biến động giữa mùa mưa và mùa khô
Kết quả này hoàn toàn phù hợp với công trình nghiên cứu của Trần Minh Huy
và Nguyễn Lê Anh Kiệt khi nghiên cứu đặc điểm hình thái và giải phẫu thích nghi
Trang 37của một số loài thực vật ở Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen Giá pH và độ dẫn điện EC vào mùa mưa tại khu vực thu mẫu 2 loài Rau tràng (pH = 7,63; EC = 139,23 µS/cm) và Lùm nước (pH = 6,28; EC = 198,2 µS/cm) cùng khu vực thu mẫu của loài Rau dừa nước và Rau mương thon [35]
Rau dừa nước sinh trưởng và phát triển tốt ở môi trường nước ngập vừa và nhiều, thích hợp với kênh rạch, ao hồ Rau dừa nước sống ở vùng ngập nước sâu lên đến 125,7 cm Trong khi đó, Rau mương thon thích hợp với môi trường nước ngập vừa, ven các kênh, rạch
3.1.2 Đặc điểm thể nền thực vật
Đặc điểm của thể nền tại vị trí thu mẫu loài nghiên cứu được thể hiện bảng 3.2
Bảng 3.2 Thành phần cơ giới và tính chất của đất tại điểm thu mẫu cây
Điểm thu
mẫu cây
Thành phần cơ giới đất
Hàm lượng chất hữu cơ (%)
𝐩𝐇𝐇𝟐𝐎 𝐩𝐇𝐊𝐂𝐥
Độ dẫn điện
(µS/cm)
Hệ
số khô kiệt
Cát (%)
Thịt (%)
Sét (%
) Rau dừa nước
Trang 38Giá trị EC của thể nền tại nơi thu mẫu Rau dừa nước đo được là 92,30 µS/cm Trong khi đó, thể nền tại nơi thu mẫu Rau mương thon đo được là 718,67 µS/cm cao hơn nhiều so với thể nền tại nơi thu mẫu Rau dừa nước nhưng vẫn không gây ức chế cho cây
Hệ số khô kiệt của đất tại vị trí thu mẫu Rau dừa nước (1,74) lớn hơn hệ số khô kiệt của đất tại vị trí thu mẫu Rau mương thon (1,53) Điều này chứng tỏ, độ ẩm của đất tại khu vực thu mẫu Rau dừa nước cao hơn nhiều so với khu vực thu mẫu Rau mương thon
3.2 ĐẶC ĐIỂM VỀ HÌNH THÁI, GIẢI PHẪU LOÀI RAU DỪA NƯỚC
3.2.1 Định loại
Tên thông thường: Rau dừa nước
Tên khoa học: Ludwigia adscendens (L.) H.Hara
Tên đồng danh: Ludwigia adscendens subsp diffusa (Forssk.) P.H.Raven
Tên khác: Rau dừa trâu, Thụy thái, Thủy long, Du long thái
Họ Rau mương: Onagraceae
Khu vực thu mẫu thuộc tiểu khu 11 của Khu bảo tồn, thu mẫu ở sinh cảnh lung,
trấp Hệ thực vật nơi đây bao gồm các loài thủy sinh như Sen (Nelumbo nucifera Gaertn.), Súng (Nymphaea sp.), Bèo cái (Pistia stratiotes)…
Cây thân thảo, thường mọc bò ở nơi ẩm ướt, có bùn hoặc nổi trên mặt nước ở các đầm, ao nhờ có rễ phao nổi màu trắng, hình trứng, xốp Thân có tiết diện tròn, phân cành nhiều, cành được mọc ra từ các kẽ lá, về sau các cành hơi thẳng đứng Thân cây sống ở bùn ướt thường cứng cáp, kích thước to và phát triển hơn thân cây sống ngập trong nước, phần thân chủ yếu có màu xanh nhạt Thân cây ngập trong nước thường xốp và mọng nước hơn, khả năng đứng vững trong không khí kém, thân
có sắc tố đỏ và có kích thước nhỏ
Trang 39Rễ chùm, mọc ra từ các mấu giúp cây bám vào đất ẩm Cây sống trong nước có
rễ phao xốp màu trắng chứa khí giúp cây ngập trong nước nhưng vẫn thực hiện các chức năng sinh lí bình thường
Lá hình trứng hay hơi thuôn, đến cuống hơi hẹp lại, đầu tù hay hơi tròn, dài 4
-8 cm Lá mọc so le, mép lá nguyên, gân lá hình lông chim, cuống lá thường dài bằng một nửa phiến lá, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt Lá của những cây sống trong các môi trường khác nhau thường có màu sắc khác nhau: lá của cây sống trên bùn ẩm thường xanh thẫm còn lá nổi trên mặt nước có màu xanh nhạt hơn Hoa to, cánh hoa hình trứng màu trắng và phần gốc cánh hoa có màu vàng tươi, hoa mọc đơn độc ở nách lá, cuống dài khoảng 1 cm, ra hoa vào khoảng tháng 10 Tràng 5 cánh, hình xoan, có vân; đài 5, hình dải nhọn, đài dính vào bầu, có lông mịn
ở mặt trên và lông dài mượt ở mặt dưới Nhị 10, xếp thành hai vòng, những nhị ở phía ngoài ngắn hơn, chỉ nhị mảnh, bao phấn thuôn, dài 0,7 – 1 mm, màu hơi vàng
Bộ nhụy do 5 lá noãn hợp thành, bầu 5 ô, đầu nhụy hình cầu
Quả nang hình trụ dài 3 - 4 cm, mở thành 5 mảnh, có lông nhỏ; hạt nhỏ, nhiều, hình chữ nhật Quả nang khi già tự mở, hạt phát tán nhờ nước