Ở Anh, lòng trắc ẩn là một trong những giá trị cốt lõi của ngành y tế… Tại Việt Nam những yêu cầu về lòng trắc ẩn được thể hiện rất rõ trong nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp đối với cá nhâ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VÕ THỊ TƯỜNG VY
Thành phố Hồ Chí Minh - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu thu được và kết quả phân tích trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 06 năm 2022
Tác giả
Hoàng Thị Tố Nhi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được nghiên cứu này em đã nhận được nhiều nguồn lực hỗ trợ
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Võ Thị Tường Vy là hướng dẫn khoa học đã tận tâm hỗ trợ và động viên em hoàn thành nghiên cứu này
Bày tỏ sự trân quý đến các anh/chị/em công tác xã hội đã hỗ trợ trong việc thu thập số liệu trong quá trình nghiên cứu
Xin cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy cô khoa Tâm lý học và phòng Sau đại học trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tại trường
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÒNG TRẮC ẨN CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội 5
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 11
1.2 Lý luận chung về lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội 12
1.2.1 Lòng trắc ẩn 12
1.2.2 Nhân viên công tác xã hội 21
1.2.3 Lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội 30
Tiểu kết chương 1 42
Chương 2 THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU LÒNG TRẮC ẨN CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 43
2.1 Thể thức nghiên cứu 43
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu 43
2.1.2 Tiến trình nghiên cứu 48
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 48
2.2.1 Khái quát chung về khách thể nghiên cứu 48
2.2.2 Thực trạng biểu hiện lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội 50
Tiểu kết chương 2 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC PL1
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa Cảm thông (Sympathy), Đồng cảm (Empathy)
và Trắc ẩn (Compassion) 15 Bảng 1.2 Tiêu chí đo lòng trắc ẩn 33 Bảng 2.1 Quy đổi điểm bảng hỏi lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội
và bảng hỏi các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội 45 Bảng 2.2 Đánh giá mức độ biểu hiện lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã
hội và mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội 46 Bảng 2.3 Bảng điểm mức độ ứng xử phù hợp thể hiện lòng trắc ẩn 47 Bảng 2.4 Bảng đánh giá mức độ ứng xử phù hợp biểu hiện lòng trắc ẩn trong
các tình huống thực tế của nhân viên công tác xã hội 47 Bảng 2.5 Phân bố khách thể tham gia nghiên cứu (N= 55) 49
Trang 7Đóng vai trò là người mang sứ mệnh giúp đỡ, cũng như kết nối đối tượng cần được hỗ trợ trong xã hội với những dịch vụ, nguồn lực- nhân viên công tác xã hội ngày càng chứng minh được tầm quan trọng và khẳng định được tinh thần vì cộng đồng của mình Với đặc thù nghề nghiệp gắn liền với con người, để hoạt động hỗ trợ
có hiệu quả, nhân viên công tác xã hội có những yêu cầu về kỹ năng và phẩm chất- đặc biệt cần phải kể đến một yếu tố quan trọng đó là lòng trắc ẩn Tầm quan trọng của lòng trắc ẩn đã được công nhận ở nhiều hệ thống tư pháp, giáo dục hay hệ thống chăm sóc sức khỏe của nhiều quốc gia Ở Hoa Kỳ, lòng trắc ẩn được ghi nhận rất rõ trong nguyên tắc đạo đức của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (AMA), mục 1 nêu rõ: “Một bác sĩ sẽ phải tận tâm cung cấp các dịch vụ y tế phục vụ người dân với lòng trắc ẩn
và tôn trọng phẩm giá con người” Ở Anh, lòng trắc ẩn là một trong những giá trị cốt lõi của ngành y tế… Tại Việt Nam những yêu cầu về lòng trắc ẩn được thể hiện rất
rõ trong nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp đối với cá nhân công tác trong lĩnh vực chăm sóc con người, giáo dục…Thực tế, bản chất của lòng trắc ẩn là sự cảm thông
và mong muốn giúp đỡ, hỗ trợ Lòng trắc ẩn nuôi dưỡng cảm xúc của nhân viên công tác xã hội; thúc giục đối tượng này làm việc hiệu quả và khơi gợi tinh thần cống hiến cho xã hội, đặt lợi ích của tập thể lên cả lợi ích của cá nhân Khó để có thể thực hiện hoạt động vì cộng đồng mà không có lòng trắc ẩn, đặc biệt là đối với công tác của nhân viên công tác xã hội Với tầm quan trọng và mang ý nghĩa lớn cho cộng đồng, cần thiết có một đề tài nghiên cứu đánh giá biểu hiện lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội nhằm đánh giá và đề cao tính nhân văn của nghề, mặt khác là cơ sở để đưa
Trang 8ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động của nhân viên công tác xã hội Thêm vào đó, dù trên thế giới đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lòng trắc ẩn nhưng đây vẫn là một đề tài khá mới mẻ đối với những nhà nghiên cứu tại Việt Nam Với mục đích đóng góp thêm đề tài nghiên cứu về lòng trắc ẩn trong nước, đặc biệt là đối với đối tượng là nhân viên công tác xã hội, tôi lựa chọn đề tài “Lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu biểu hiện lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội tại thành phố
Hồ Chí Minh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các mặt biểu hiện và mức độ biểu hiện lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã
hội tại thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Khách thể nghiên cứu
55 nhân viên công tác xã hội đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết nghiên cứu
- Nhân viên công tác xã hội thường xuyên biểu hiện lòng trắc ẩn trong quá trình hỗ trợ, giúp đỡ đối tượng yếu thế
- Có sự khác nhau về mức độ giữa các mặt biểu hiện lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội
- Trong 3 mức độ biểu hiện của lòng trắc ẩn thì biểu hiện chánh niệm sẽ có mức độ biểu đạt cao hơn so với 2 biểu hiện còn lại
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội 5.2 Khảo sát thực trạng biểu hiện lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội
6 Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Có nhiều lý thuyết về lòng trắc ẩn khác nhau Trong
nghiên cứu này tôi tập trung nghiên cứu lòng trắc ẩn dựa trên lý thuyết của các tác giả Neff và Pommier nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu biểu hiện lòng trắc ẩn của
Trang 9nhân viên công tác xã hội với 3 biểu hiện chính: Lòng tốt (Kindness), Tương đồng nhân loại (Common humanity), Chánh niệm ( Mindfulness).
- Về địa bàn nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nhân viên công tác xã hội đang làm việc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
7 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Quan điểm tiếp cận
- Quan điểm hệ thống- cấu trúc: Xem xét đối tượng nghiên cứu (lòng trắc ẩn
của nhân viên công tác xã hội) với tư cách là một hệ thống cấu trúc bao gồm các mặt biểu hiện: lòng tốt, tương đồng nhân loại, chánh niệm
- Quan điểm thực tiễn: Lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội được phát
triển và thể hiện thông qua quá trình hỗ trợ, giúp đỡ, chính vì vậy để tìm hiểu về lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội cần nghiên cứu thông qua thực tiễn
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Mục đích: Để xây dựng hệ thống khái niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài, tác giả sử dụng nhóm phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm xây dựng hệ thống lý luận liên quan đến lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội để định hướng cho việc thực thi quá trình tìm hiểu thực trạng biểu hiện lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội
- Cách thực hiện: Tham khảo, nghiên cứu, tổng hợp lại các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí và thông tin từ nhiều kênh khác nhau liên quan đến lòng trắc
ẩn và lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục tiêu: Nhằm xác định thực trạng về biểu hiện lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Nội dung: Các vấn đề liên quan đến lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội
- Khách thể nghiên cứu: 55 nhân viên công tác xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trang 10- Cách thực hiện: Việc thu thập số liệu sẽ được tiến hành bằng phương pháp khảo sát nhân viên công tác xã hội đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh bằng bảng hỏi tự thiết kế Trong quá trình thiết kế bảng hỏi tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu những thang đo về lòng trắc ẩn của các tác giả trong và ngoài nước Bảng hỏi được tiến hành thử nghiệm trước khi đưa vào khảo sát thực tế Cụ thể bảng hỏi được thiết kế dựa trên 3 giai đoạn
+ Giai đoạn 1: Tự thiết kế bảng hỏi
+ Giai đoạn 2: Khảo sát thử trên 20 khách thể nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện bảng hỏi
+ Giai đoạn 3: Khảo sát chính thức
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
- Mục tiêu: Thu thập thông tin trực tiếp và sử dụng thông tin phỏng vấn làm tư
liệu cho đề tài nghiên cứu Tìm hiểu sâu hơn về biểu hiện lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh
- Nội dung: Sử dụng hình thức phỏng vấn với 5 câu hỏi mở soạn sẵn xoay quanh vấn đề liên quan đến lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Cách thực thực hiện: Phỏng vấn thông qua phiếu phỏng vấn
- Khách thể khảo sát: 10 nhân viên công tác xã hội đang làm việc tại thành phố
Hồ Chí Minh
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
- Mục tiêu: Xử lý thống kê làm cơ sở để bình luận số liệu thu thập được từ phương pháp điều tra bảng hỏi
- Nội dung: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích các số liệu liên quan với nhiệm vụ nghiên cứu
- Cách thức thực hiện: Các phép tính thống kê được sử dụng trong để tài gồm tính hệ số độ tin cậy, tần số, tỷ số phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm nghiệm T-test, kiểm nghiệm Anova và tương quan Pearson để bình luận những số liệu thu được
Trang 11Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÒNG TRẮC ẨN
CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
1.1 Lịch sử nghiên cứu lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Lòng trắc ẩn được quan tâm từ thời cổ đại, cách đây hơn 2.500 năm, khi Phật đã
tự mình tìm ra con đường giải thoát và giáo hóa nhân loại đi trên con đường TỪ BI – TRÍ TUỆ Trong đó, trí tuệ của lòng từ bi được đề cao và là cốt lõi trong giáo lý của nhà Phật Phật dùng tình thương và trí tuệ để giúp con người vượt qua đau khổ của chính họ Pháp này bền vững và được phát huy cho đến ngày hôm nay Ta dễ nhìn thấy cụm từ TỪ BI – TRÍ TUỆ trên cổng chùa vì cho đến ngày nay những giáo lý về lòng trắc ẩn hay từ bi vẫn ăn sâu và tác động mạnh đến tư tưởng và đời sống của tăng
lữ và Phật tử Từ bi của đạo Phật thể hiện rất rõ trong kinh kệ, lời Phật dạy với mơ ước xây dựng một xã hội công bằng, những con người nhân đạo đầy lòng vị tha, hướng con người đến cái thiện, hướng con người đến nhân loại và vạn vật Bên cạnh
đó ở Phương Tây lòng trắc ẩn cũng được nghiên cứu từ rất sớm do ảnh hưởng của tư tưởng triết học và giáo lý của Kitô giáo Tư tưởng về lòng trắc ẩn trong kinh thánh đã tác động đến đời sống của con người phương Tây, nhấn mạnh việc con người sống phải ngay thẳng và để cao đức hy sinh Như vậy, có thể khẳng định lòng trắc ẩn được quan tâm từ rất sớm Chính vì lòng trắc ẩn được biết đến từ rất sớm và đóng vai trò quan trọng nên ngoài việc đề cao lòng trắc ẩn trong giáo lý tôn giáo đã có nhiều nghiên cứu với những hướng tiếp cận khác nhau về lòng trắc ẩn Cụ thể, có thể tóm tắt một vài nghiên cứu điển hình như sau:
- Một số nghiên cứu về khái niệm và bản chất của lòng trắc ẩn:
Một số tài nghiên cứu lòng trắc ẩn trên cơ sở tập trung tìm hiểu về khái niệm
và bản chất của lòng trắc ẩn Aristotle là một trong những tác giả đưa ra những nhận định đầu tiên về lòng trắc ẩn Nhà hiền triết cổ đại đồng nhất lòng trắc ẩn với lòng thương hại Mặc dù ý kiến này gặp nhiều phản ứng trái chiều vì nhiều nhà nghiên cứu cho rằng lòng thương hại chưa lột tả được hết ý nghĩa của lòng trắc ẩn nhưng có thể
Trang 12thấy đây là một trong những nhận định đặt nền tảng cho những nghiên cứu sâu hơn sau này (Aristotle, 1984)
Tác giả Nietzsche chỉ ra rằng lòng trắc ẩn có thể là tác nhân khiến bùng phát
sự tức giận và hỗn loạn khiến cho con người có ý định trả thù nếu như một cá nhân cảm thấy đau khổ và bất hạnh vởi chính cuộc sống của họ (Neitzsche.F, 1956) Nghiên cứu này đã bắt đầu nghiên cứu về lòng trắc ẩn trên cơ sở tìm hiểu những tác động của lòng trắc ẩn đến với chính những người tham gia công tác hỗ trợ và giúp đỡ cộng đồng Có thể thấy tác giả bắt đầu có một cách nhìn hoàn toàn khác về lòng trắc
ẩn so với cách nhìn của những nhà nghiên cứu đương thời
Vào năm 1991 Nancy E.Snow đã nghiên cứu lòng trắc ẩn trên cơ sở của triết học Tác giả phân tích bản chất lòng trắc ẩn như một phạm trù nghiên cứu của tâm lý học đạo đức Ngoài ra trong nghiên cứu của mình tác giả còn phát thảo những lý thuyết lòng trắc ẩn dựa trên nền tảng của xã hội dân sự và chính trị (Snow, 1991)
Tác giả Neff đã đề xuất một khái niệm về lòng trắc ẩn bắt nguồn từ các nguyên tắc Phật giáo Tác giả cho rằng bản chất của lòng trắc ẩn là “xúc động trước đau khổ của người khác, cảm thông trước nỗi đau của họ, không muốn trốn tránh hoặc bỏ lơ nó,vì vậy có mong muốn làm giảm nỗi đau cho người đó” Neff cũng cho rằng 3 yếu tố tạo nên lòng trắc ẩn gồm: lòng tốt, tính tương đồng nhân loại và chánh niệm (Neff, 2003)
Năm 2006, tác giả Aydin Karacanta đã có một nghiên cứu về lòng trắc ẩn nhằm nghiên cứu về vai trò của lòng trắc ẩn với cảm giác tội lỗi và hỗ trợ nhóm Nghiên cứu được nghiên cứu trên 98 sinh viên đồng tính với hướng dẫn thuộc 3 nhóm khác nhau: nhóm tập trung vào điều khác; nhóm tập trung vào bản thân và nhóm tách biệt Họ được xem một đoạn video ngắn về cuộc phỏng vấn không có thật với một sinh viên đại học đồng tính mô tả về việc anh ta bị tấn công tình dục như thế nào, sau
đó phân tích cảm nhận, trắc ẩn và muốn được ủng hộ chương trình bảo vệ các nạn nhân tương tự của đối tượng trên (Aydin Karacanta, Julie Fitness, 2006)
Jennifer L Goetz và đồng nghiệp của mình trong nghiên cứu “Lòng trắc ẩn: Quá trình phát triển và đánh giá thực tế” đã đi tìm hiểu về bản chất của lòng trắc ẩn Nghiên cứu này đặt ra một giả thuyết lòng trắc ẩn là trải nghiệm của mỗi cá nhân, có
Trang 13chức năng liên kết và bảo vệ những người yếu thế, gặp nhiều khó khăn trong xã hội Tuy nhiên, trong quá trình xuất hiện, lòng trắc ẩn còn phụ thuộc vào sự tác động của hành vi khách quan, kinh nghiệm cá nhân cũng như những trải nghiệm trong quá khứ của chủ thể Nghiên cứu này khẳng định mỗi cá nhân sẽ có những trải nghiệm về lòng trắc ẩn khác nhau (Goetz, 2010)
Trong nghiên cứu “Đồng cảm và lòng trắc ẩn” tác giả Tania Singer và cộng sự
đã nghiên cứu lòng trắc ẩn dựa trên mối liên hệ với đồng cảm, đã phân tích rõ sự giống và khác nhau của đồng cảm và lòng trắc ẩn Ở nghiên cứu này chỉ rõ trong khi
sự đồng cảm đề cập đến việc cộng hưởng cảm xúc kể cả tiêu cực và tích cực ở người khác thì ở lòng trắc ẩn con người quan tâm đến sự đau khổ, khó khăn của người khác
đi kèm với mong muốn, động lực giúp đỡ họ (Singer, 2014)
Những công trình nghiên cứu trên đã hình thành được hệ thống khái niệm lòng trắc ẩn với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, bản chất của lòng trắc ẩn cũng được nghiên cứu sâu trên cơ sở so sánh, nghiên cứu với nhiều khái niệm khác như đồng cảm, từ bi, thương hại… Các nghiên cứu trên đã chứng minh được lòng trắc ẩn rất cần thiết đối với cuộc sống cũng như sẽ được biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau Lòng trắc ẩn sẽ được biểu hiện qua cảm xúc và hành động trong quá trình hỗ trợ đối tượng yếu thế Mặc dù có nhiều hướng nghiên cứu nhưng điểm chung có thể thấy đều gắn liền lòng trắc ẩn với phẩm chất của con người, khó tách khỏi Đề tài nghiên cứu
về lòng trắc ẩn về sau càng được tăng về cả số lượng và chất lượng, điều này chứng
tỏ lòng trắc ẩn ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu và có tầm quan trọng đối với cuộc sống của con người Có thể nói những nhận định, nghiên cứu này mang một ý nghĩa lớn, là “bước đệm” vững chắc cho những nghiên cứu sau này, xây dựng hệ thống cơ sở lý luận đa dạng và khoa học
- Một số nghiên cứu về thang đo lòng trắc ẩn:
Ngoài các hướng nghiên cứu trên thì việc tìm hiểu về thang đo lòng trắc ẩn cũng là một trong những hướng nghiên cứu mới mang lại nhiều giá trị:
Tác giả Susan Sprecher và Beverley Fehr trong nghiên cứu “Compassionate love for close others and humanity” đã nghiên cứu thử nghiệm thang đo Compassionate Love scale nhằm đánh giá lòng trắc ẩn và tình yêu thương nhân loại
Trang 14Mục đích của nghiên cứu này nhằm phát triển một thang đo nhằm đo lường lòng trắc
ẩn và tình yêu thương nhân loại dựa trên mối tương quan giữa lòng trắc ẩn và đồng cảm cùng một số định hướng liên quan khác; lòng trắc ẩn gắn liền với sự giúp đỡ và
hỗ trợ xã hội cho người khác và cách mà tôn giáo, tâm linh liên kết với lòng trắc ẩn, tình yêu nhân loại (Susan Sprecher; Beverley Fehr, 2005) Thang đo gồm có 21 câu
là nền tảng cho nghiên cứu về thang đo lòng trắc ẩn sau này
Tác giả Jeong Yeon Hwang cùng cộng sự của mình đã có một nghiên cứu phát riển Thang đo lòng trắc ẩn Satan Claura (SCBCS) dựa trên việc rút ngắn thang đo lòng trắc ẩn của Susan Sprecher và Beverley Fehr Nghiên cứu đã đã cho ra một thang
đo rút gọn với 5 câu hỏi cơ bản, khác với nghiên cứu của Susan Sprecher và Beverley Fehr thang đo này không nghiên cứu mối tương quan giữa lòng trắc ẩn với tôn giáo
và đồng cảm (Jeong Yeon Hwang, Thomas Plante, Katy Lacey, 2008)
Tác giả David Martins cùng cộng sự đã có một nghiên cứu về thang đo lòng trắc ẩn Phát triển và đánh giá các thuộc tính đo lòng trắc ẩn trong 10 mục tự báo cáo
về lòng trắc ẩn của 310 người dựa trên thang đo từ nghiên cứu của Susan Sprecher và Beverley Fehr (Martins, The Development and Evaluation of a Compassion Scale, 2013)
Vào năm 2010, tác giả Pommier dựa trên cơ sở lý thuyết của Neff đã có một nghiên cứu nhằm xây dựng thang đo lòng trắc ẩn Nghiên cứu đã tổng hợp các nghiên cứu về lòng trắc ẩn từ đó làm nền tảng để xây dựng nên một thang đo với độ tin cậy cao Thang đo lòng trắc ẩn của tác giả bao gồm 21 câu với những câu hỏi theo thang điểm từ 1-7 về cảm nhận của chủ thể về những vấn đề trong cuộc sống (Pommier, 2010) Theo tác giả có 6 thành tố cơ bản (03 thành tố tích cực và 03 thành tố tiêu tiêu cực) xây dựng nên thang đo lòng trắc ẩn Cụ thể 6 thành tố đó như sau: Lòng tốt và
sự thờ ơ; tương đồng nhân loại, vì nhân loại, cộng đồng chung với ích kỷ; chánh niệm với buông bỏ Lần gần đây nhất vào năm 2019 tác giả cùng cộng sự của mình đã phát triển và bổ sung về thang đo hoàn thiện với tất cả 16 câu đáp ứng được yêu cầu xây dựng một thang đo phù hợp để đo lòng trắc ẩn ở thời hiện đại (Pommier, 2019), theo tác giả, lòng trắc ẩn được cấu tạo thành từ 3 yếu tố chính lòng tốt, hiểu được tính tương đồng và chánh niệm
Trang 15Các nghiên cứu trên đã cho ra sản phẩm khoa học là những thang đo góp phần
hỗ trợ tìm hiểu về lòng trắc ẩn của con người, là cơ sở để khảo sát và đưa ra những
đề xuất nhằm nâng cao lòng trắc ẩn cho con người, cho phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất Tất cả thang đo đều được xây dựng dựa trên những công trình nghiên cứu sâu và được thay đổi nhằm mục đích xây dựng công cụ đo phù hợp với các tiêu chí
đo và yêu cầu của xã hội Trong đó thang đo của Pommier vào năm 2019 là thang đo được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và chú ý với sự ngắn gọn và hiệu quả
- Một số nghiên cứu về lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội:
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về lòng trắc ẩn có một số nghiên cứu nghiên cứu tập trung về lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội, chủ yếu là các nghiên cứu dựa trên mối tương quan với căng thẳng, stress:
Brian E Bride và cộng sự cũng có một nghiên cứu về lòng trắc ẩn và căng thẳng Tác giả cho rằng nhân viên công tác xã hội đứng trước một thách thức đặc biệt
đã cùng chịu ảnh hưởng từ điều không may mắn của người khác, và kết quả cho thấy thực sự có mối tương quan giữa việc hỗ trợ người yếu thế và sự gia tăng căng thẳng của nhân viên công tác xã hội Nghiên cứu đã đặt ra một vấn đề lớn đó là cần chú ý đến các tiêu chuẩn chăm sóc bản thân và tiêu chuẩn hành nghề của nhân viên công tác xã hội ( (Bride, 2007)
Năm 2008, Richard E Adams và cộng sự của mình đã có nghiên cứu đo lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội sau thảm họa đô thị Nghiên cứu này tập trung vào tình trạng kiệt sức nghề nghiệp và lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội sau
20 tháng sau vụ khủng bố ngày 11/9 ở World Trade Center Kết quả cho thấy các nhân viên công tác xã hội thực sự gặp căng thẳng trong quá trình hỗ trợ cộng đồng sau thảm họa và điều này có tương quan với lòng trắc ẩn (Adams, 2008)
Năm 2008 C.D Craig cùng cộng sự của mình đã có một nghiên cứu về lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội Trong nghiên cứu của mình tác giả đã nghiên cứu với mẫu là 532 nhân viên công tác xã hội với hai thang đo dùng để đo chất lượng cuộc sống chuyên nghiệp với 30 mục và Bảng câu hỏi về những chấn thương, sang chấn Nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp để giúp nhân viên công tác xã hội nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân viên công tác xã hội (Craig, 2008)
Trang 16Vào năm 2014, Maryanne Kapoulitsas và cộng sự đã nghiên cứu lòng trắc ẩn trên mối liên hệ với căng thẳng, stress Nghiên cứu cho rằng lòng trắc ẩn cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến những căng thẳng của chủ thể và bên cạnh đó còn
đề cập đến khả năng phục hồi tinh thần cho đối tượng có lòng trắc ẩn quá độ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần (Kapoulitsas, 2014)
Năm 2015, M.Alex Wagaman cùng cộng sự cũng có một nghiên cứu khẳng định nhân viên công tác xã hội có nguy cơ bị kiệt sức xã hội và căng thẳng sang chấn thứ phát bởi chính công việc mà họ đang thực hiện Nghiên cứu cũng đi sâu vào nghiên cứu vai trò của đồng cảm trong việc điều chỉnh vấn đề kiệt sức nghề nghiệp cũng như sự hài lòng về lòng trắc ẩn và sự căng thẳng của nhân viên công tác xã hội (Wagaman, 2015)
Sally B.Phelon và cộng sự cũng đã nghiên cứu 34 tổ chức vì xã hội ở Michigan nhằm khám phá sự căng thẳng của các nhân viên công tác xã hội cũng như khẳng định rằng việc gia tăng lòng tự trắc ẩn cũng như là một phương tiện để giảm thiểu mệt mỏi mà sự trắc ẩn đã mang lại (B.Phelon, 2017)
Năm 2018, M Elena Cuartero LCSW cùng cộng sự của mình đã có một nghiên cứu về hoạt động tự chăm sóc của nhân viên công tác xã hội nhằm khắc phục những căng thẳng do lòng trắc ẩn gây ra Theo tác giả lòng trắc ẩn xuất phát từ sự đồng cảm
và việc quá nhập tâm vào nỗi đau của người khác Nhân viên công tác xã hội trong quá trình thực hiện công việc của mình nếu như không biết cách quản lý và chăm sóc sức khỏe cho bản thân rất dễ gặp những tác động xấu đến sức khỏe Nghiên cứu này được thực hiện trên 270 nhân viên công tác xã hội nhằm đánh giá các hoạt động tự chăm sóc sức khỏe của đối tượng này Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với những cá nhân có những hoạt động chăm sóc cá nhân tốt có thể làm giảm những ảnh hưởng tiêu cực của lòng trắc ẩn cũng như tăng mức độ hài lòng với công việc của mình (LCSW, 2018)
Không thể phủ nhận tầm quan trọng của lòng trắc ẩn đối với nhân viên công tác xã hội Tuy nhiên, các nghiên cứu trên cũng cho chúng ta thấy một cách tiếp cận khác đó là thực trạng về việc đối tượng này sẽ rất dễ rơi vào trạng thái căng thẳng và kiệt sức nếu không kiểm soát được nhận thức và kiểm soát cảm xúc của cá nhân
Trang 17Những nghiên cứu trên đã đặt ra một yêu cầu mới là vừa phải nâng cao lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội vừa phải giúp đối tượng này đảm bảo về sức khỏe và rèn luyện lòng tự trắc ẩn- đây là hướng nghiên cứu phù hợp và đầy nhân văn dành cho những nghiên cứu về lòng trắc ẩn sau này
1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về lòng trắc ẩn, chủ yếu nghiên cứu dựa trên mối tương quan giữa lòng trắc ẩn với những khái niệm khác như đồng cảm; động lực phụng sự,… ta có thể kể đến một vài đề tài và tác giả có nghiên cứu về lòng trắc ẩn ở Việt Nam như sau:
PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng là một trong những tác giả có nhiều đóng góp trong nghiên cứu lòng trắc ẩn tại Việt Nam Vào năm 2018 tác giả đã nghiên cứu
“Mối liên hệ giữa trí tuệ cảm xúc và lòng trắc ẩn của người tu trì trong Công giáo” Thang đo chính của tác giả trong nghiên cứu này là Thang trí tuệ cảm xúc của Afolabi (2017) và Thang đo lòng trắc ẩn của Pommier (2011) Kết quả nghiên cứu cho thấy trí tuệ cảm xúc và các thành tố của lòng trắc ẩn ở người tu trì trong Công giáo có tương quan thuận với nhau Nghiên cứu đã gợi mở cho những nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc và lòng trắc ẩn sau này (Nguyễn Thị Minh Hằng, 2018) Đến năm 2019 tác giả và cộng sự nghiên cứu về mối liên hệ giữa lòng trắc ẩn và mức độ hài lòng cuộc sống qua đề tài: “Lòng trắc ẩn và mức độ hài lòng với cuộc sống của sinh viên Hà Nội” Để thực hiện đề tài này tác giả đã sử dụng hai công cụ đo lường chính là thang
đo lòng trắc ẩn do Pommier xây dựng (2011) và thang đo Hài lòng cuộc sống của Diener (1985) Nghiên cứu đã chỉ ra được rằng lòng trắc ẩn với sự hài lòng cuộc sống
có tương quan thuận với nhau ở mức độ thấp và cũng phát hiện được tác động của việc gắn bó với cha/mẹ/ người thân và việc tham gia các hoạt động từ thiện, tình nguyện xã hội đến sự hình thành và phát triển lòng trắc ẩn của con người (Nguyễn Thị Minh Hằng, 2019)
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Phúc trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của động lực phụng sự công đến sự hài lòng trong công việc của cán bộ công đoàn chuyên trách tại liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh” xem lòng trắc ẩn là một trong 4 nhóm nội dung chính của động lực phụng sự công Theo đó kết quả cho thấy lòng trắc ẩn là
Trang 18nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của cán bộ công đoàn chuyên trách (Nguyễn Hồng Phúc, 2018)
Như vậy ở Việt Nam nhìn chung vẫn còn ít đề tài nghiên cứu về lòng trắc ẩn, đặc biệt là lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội Việc tiếp thu kết quả từ những nghiên cứu đi trước và có một đề tài nghiên cứu về lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội sẽ đóng góp cho quá trình đánh giá và hỗ trợ đối tượng này
1.2 Lý luận chung về lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội
1.2.1 Lòng trắc ẩn
1.2.1.1 Khái niệm lòng trắc ẩn
Ở Phương Tây, nhà hiền triết Aristotle là một trong những người đầu tiên đề cập đến khái niệm lòng trắc ẩn, ông đồng nhất lòng trắc ẩn với thương hại và thường xuyên sử dụng từ thương hại thay cho lòng trắc ẩn Đến thời kỳ Victoria sự thương hại hay lòng trắc ẩn được hiểu như: “Cảm giác đau đớn trước một tội ác, sự phá hoại hoặc chứng kiến sự đau đớn xảy ra với một người không đáng phải lãnh chịu nó, và chúng ta suy ngẫm rằng nó có thể xảy ra với gia đình chúng ta, những người bạn của chúng ta, hoặc với chính bản thân chúng ta”, (Nussbaum, 1996) Những khái niệm trên mặc dù đã gây ra nhiều tranh cãi nhưng ta phải khẳng định đây là nền tảng cho
sự phát triển nghiên cứu lòng trắc ẩn sau này Trên cơ sở những khái niệm đầu tiên, các nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hơn khái niệm lòng trắc ẩn
Đối với đạo Phật, trắc ẩn được nghiên cứu từ rất sớm và có sự tương đồng với
từ “từ bi” Chính vì vậy trắc ẩn (compassion) còn được biết đến với hàm nghĩa là từ
bi Theo từ điển tiếng anh Oxford từ “từ bi” có nghĩa là “chịu đựng” Như đã đề cập,
từ bi (trắc ẩn) là một phạm trù lớn của Phật giáo Từ có nghĩa là hiền hòa, ban cho sự vui, thể hiện lòng khoan dung, độ lượng; bi là thông cảm, thương xót cứu giúp hết khổ Không dừng lại ở việc đem tình thương đến cho con người, từ bi của đạo Phật còn mở rộng ra đối với muôn loài Sự từ bi trong đạo Phật thể hiện ở chỗ Phật dạy con người biết yêu thương muôn vật, tôn trọng sự sống, cấm sát sinh Trong kinh Phật
có câu: “Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng sợ chết Vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết, chớ bảo giết” Từ bi cũng được thể hiện ở chỗ Phật giáo luôn chủ trương bình đẳng, đem đến cho mọi người tình yêu thương bao la không giới hạn,
Trang 19hoàn toàn vị tha không chút vị kỷ, như lời Phật đã từng dạy: “Không có đẳng cấp trong dòng máu đỏ, cũng không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn” Ngoài
ra từ bi đối với giáo lý nhà Phật còn xuất phát từ tình yêu thương bao la, chủ trương
“diệt khổ” nhằm giải thoát con người ra khỏi đau khổ, bất hạnh Điều này được Đức Phật lý giải tường tận qua “Tứ diệu đế” mà ngài đã giác ngộ Và cuối cùng Đức Phật luôn hướng con người đến một hình mẫu “Từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha”- đây cũng là một trong những biểu hiện không thể thiếu khi nói về từ bi của đạo Phật (Đặng Thị Lan, 2006) Có thể thấy dưới góc nhìn của Phật giáo, lòng trắc ẩn là bản tính cơ bản của con người với nội dung là thừa nhận và mong muốn làm giảm bớt sự đau khổ và phát sinh hành vi xã hội (Dalai Lama, 2001) Trắc ẩn không phải chỉ là một phản ứng tình cảm mà còn dựa trên lý trí, trí tuệ được gắn với khuôn khổ đạo đức liên quan đến việc giải thoát con người khỏi đau khổ Trong thời kỳ sơ khai của Phật giáo Đức Phật
đã dùng lòng trắc ẩn (lòng từ bi) để nâng đỡ, giúp đỡ người khác cho đến ngày nay lại được Dalai Lama khẳng định là nền tảng của Phật giáo
Trong một số nghiên cứu, nhiều tác giả đồng ý với quan điểm đồng thuận rằng lòng trắc ẩn bao gồm cảm giác dành cho người đang đau khổ và có động cơ hành động để giúp đỡ họ Lauzarus cho rằng: “Lòng trắc ẩn là bị lay động bởi người khác
và mong muốn giúp đỡ” Tương tự như vậy Goetz khẳng định: “Cảm giác nảy sinh trong khi chứng kiến sự đau khổ của người khác và điều đó thúc đẩy mong muốn được giúp đỡ đau này” Sprecher và Fehr trong nghiên cứu của mình cũng đưa ra khái niệm về lòng trắc ẩn, cụ thể lòng trắc ẩn được nhìn nhận như một loại tình yêu được thể hiện khi con người tiếp xúc với người khác và đối với cả nhân loại, thể hiện qua việc hỗ trợ và giúp đỡ người khác lúc họ đau khổ và cần sự hỗ trợ, giúp đỡ Loại tình yêu này được mô tả là vị tha và hy sinh quên cả mình
Lấy tư tưởng Phật giáo làm nền tảng nghiên cứu Neff cũng đưa ra khái niệm lòng trắc ẩn như sau: Lòng trắc ẩn là sự đồng cảm với nỗi đau của người khác, thấu hiểu nỗi đau của họ mà không né tránh hay bỏ lơ, mong muốn được hỗ trợ người khác
và giảm bớt đau khổ đối tượng này Các yếu tố tạo nên lòng trắc ẩn bao gồm lòng tốt, tương đồng nhân loại và chánh niệm (Neff, 2003) Về sau khái niệm này cũng được Pommier tán thành và sử dụng trong quá trình nghiên cứu của mình Đây cũng là khái
Trang 20niệm công cụ về lòng trắc ẩn được tác giả sử dụng là nèn tảng lý luận cho nghiên cứu này
1.2.1.2 Phân biệt trắc ẩn và một số khái niệm khác
Có nhiều hướng nghiên cứu về khái niệm của lòng trắc ẩn Trước đây, trắc ẩn thường bị hiểu nhầm với những khái niệm như: đồng cảm (empathy), cảm thông (sympathy) Nhưng qua nhiều nghiên cứu đã cho thấy bản chất ba khái niệm này là hoàn toàn khác nhau Để hiểu rõ hơn về bản chất của trắc ẩn ta sẽ cùng phân tích sự bản chất của những khái niệm này
Cảm thông (sympathy), là một cảm xúc được gây ra bởi ta nhận ra rằng đã có một điều tồi tệ xảy ra với người khác, được mô tả là được xuất hiện khi con người quan tâm đến phúc lợi của người khác Khi bạn cảm thông với một đối tượng nào đó bạn có thể có cảm xúc xót thương, chấp nhận đối họ Nhưng điều này không có nghĩa
là bạn hoàn toàn cảm nhận được cảm xúc cũng như hoàn cảnh của họ Ví dụ: Bạn có thể cảm thông với việc thu ngân ở cửa hàng tiện lợi thanh toán chậm hóa đơn của mình nhưng bạn không có trải nghiệm cảm xúc cũng như hoàn cảnh giống họ Đối với cảm thông bạn không trải qua cảm xúc của người khác mà đơn giản là bạn biết những gì người khác đang trải qua Trong sự cảm thông, bạn biết ai đó đang đau khổ
và bạn quan tâm đến điều này Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bản thân lòng trắc ẩn cũng có bản chất là sự cảm thông được khơi gợi khi chứng kiến những điều tồi tệ xảy
ra với người khác nhưng nó bao hàm thêm mong muốn được giúp đỡ (tất nhiên là không nhất thiết phải giúp đỡ bằng hành động) Tuy nhiên, ta có thể thấy ở một vài trường hợp chúng ta sẽ trắc ẩn với một vấn đề ngay cả khi chưa thực sự hiểu về quan điểm và cảm xúc của người đối diện Ví dụ: Khi nghe kể về một hoàn cảnh khó khăn,
ta có lòng trắc ẩn với hoàn cảnh đó và mong muốn được hỗ trợ, giúp đỡ ngay cả khi
ta chưa hiểu rõ về quan điểm, cảm xúc của người yếu thế đó
Đồng cảm (empathy), được hiểu là khả năng hiểu hoặc cảm nhận được những
gì mà người khác đang trải qua trong khung tham chiếu của họ, có nghĩa là khả năng đặt vị trí của mình vào người khác (Paul S.Bellet, MD; Michael J Maloney, MD, 1991) Ví dụ: Bạn rất đồng cảm với những khó khăn của các bạn sinh viên khi mới
ra trường vì bạn đã từng trải qua một quãng thời gian tương tự Bạn có thể đồng cảm
Trang 21vì bạn đã từng trải nghiệm một tình huống tương tự hoặc bạn liên tưởng về chính tình huống đó và hiểu được những trải nghiệm mà người này đã trải qua Trong nghiên cứu của mình tác giả David Jeffrey cho rằng mặc dù đồng cảm có bao gồm một vài yếu tố giống như cảm thông và lòng trắc ẩn tuy nhiên rõ ràng trong quá trình đồng cảm có quá trình liên tưởng, tưởng tượng của con người mặc dù có thể trước khi đồng cảm cũng đã trải qua quá trình trắc ẩn và cảm thông (Jeffrey, 2016) Cũng theo David Jeffrey đối với đồng cảm con người có thể có hoặc không có mong muốn, ý nghĩ hỗ trợ nhưng đối với trắc ẩn con người luôn có mong muốn được hỗ trợ người khác khỏi khó khăn Một người chỉ đồng cảm với người khác khi họ cảm nhận được hết những cảm xúc, hoàn cảnh của người khác nhưng họ có thể có lòng trắc ẩn ngay cả khi chưa biết được hết về hoàn cảnh, cảm xúc của người đối diện Ta có thể tóm tắt sự khác nhau giữa cảm thông, đồng cảm và trắc ẩn thông qua bảng sau đây:
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa Cảm thông (Sympathy), Đồng cảm (Empathy) và Trắc ẩn (Compassion)
Cảm thông (Sympathy)
Đồng cảm (Empathy)
Trắc ẩn (Compassion)
Định nghĩa Biết được người khác
đang trải qua một khoảng thời gian tồi tệ
Xác định, hiểu cảm xúc của người khác
Thương xót, quan tâm đến nỗi bất hạnh của người khác, và muốn giúp họ thoát khỏi khó khăn
Nhận thức Hiểu được rằng người
khác đang có khó khăn, nhưng không nhất thiết phải hiểu và cảm nhận hoàn cảnh của người khác
Hiểu được cảm xúc, hoàn cảnh của người khác
Hiểu được người khác đang phải trải qua một quãng thời gian khó khăn nhưng không nhất thiết phải hiểu được quan điểm, cảm xúc của người khác
Sự giúp đỡ Không nhất thiết phải
có mong muốn, động lực để giúp đỡ người khác
Không nhất thiết phải có mong muốn, động lực để giúp đỡ người khác
Có động lực, mong muốn để hỗ trợ, giúp
đỡ
Trang 221.2.1.3 Biểu hiện của lòng trắc ẩn
Có nhiều nghiên cứu về biểu hiện của lòng trắc ẩn, mỗi nghiên cứu sẽ có hướng tiếp cận khác nhau Neff và Pommier trong nghiên cứu của mình đồng thời rằng lòng trắc ẩn bao gồm ba thành tố cơ bản tạo thành đó là: Lòng tốt, đồng cảm và chánh niệm (Pommier, 2010) Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng cơ sở lý luận của Neff
và Pommier để phát triển và hình thành nhận định về biểu hiện của lòng trắc ẩn Như vậy, từ việc nghiên cứu về các thành tố cấu tạo thành lòng trắc ẩn có thể đúc kết những biểu hiện của lòng trắc ẩn bao gồm các thành tố cấu tạo như sau:
Lòng tốt
Neff và Pommier khẳng định lòng trắc ẩn là “mở rộng lòng tốt và hiểu bản thân hơn là sự phán xét gay gắt và tự phê bình” (Neff, 2003), lòng tốt chính là một phần để cấu tạo nên lòng trắc ẩn có thể hiểu lòng tốt là sự nhân từ và thấu hiểu, đồng cảm với người khác trong trường hợp người khác thất bại hay đau khổ thay vì chỉ trích, thờ ơ Cụ thể như sau:
Thường xuyên quan tâm đến người khác, điều này đồng nghĩa tới việc cá nhân thường xuyên dành sự chú ý; mong muốn được kết nối, liên kết với những cá nhân yếu thế trong xã hội thông qua đó biết được những khó khăn mà đối tượng này đang gặp phải Cá nhân có thể chủ động tìm kiếm, tìm hiểu về những đối tượng yếu thế thông qua nhiều kênh khác nhau (thông qua giới thiệu của bạn bè, hội nhóm, mạng
xã hội…) hoặc thông qua quá trình quan sát cuộc sống xung quanh Như vậy một trong những biểu hiện cơ bản của lòng tốt là cá nhân hướng trọng tâm, sự quan tâm sang cho những đối tượng yếu thế hơn
Mong muốn hỗ trợ, giúp đỡ người khác mà không vì lợi ích cá nhân Một trong những biểu hiện của lòng tốt được đề cập ở trên là đồng cảm nhưng nếu chỉ dừng lại
ở điều đó thì vẫn chưa khắc họa đủ biểu hiện của lòng tốt Sau khi đồng cảm với câu chuyện của người yếu thế cá nhân sẽ hình thành mong muốn được giúp đỡ, hỗ trợ đối tượng đó vượt qua khó khăn Tất nhiên mong muốn hỗ trợ này không xuất phát với động lực là kết quả đạt được một lợi ích cá nhân (danh vọng, vật chất, sự biết ơn…)
Sự đồng cảm với đối tượng yếu thế càng cao thì mong muốn được hỗ trợ, giúp đỡ càng lớn
Trang 23Thực hiện hành động giúp đỡ người khác, tìm kiếm những phương pháp hỗ trợ giúp mang lại hiệu quả tích cực cho những người yếu thế Sau khi cá nhân đồng cảm và hình thành mong muốn được giúp đỡ những người yếu thế thì sẽ bắt đầu xây dựng và thực hiện kế hoạch như gặp gỡ, an ủi, tổ chức quyên góp, thành lập nhóm thiện nguyện
Tính tương đồng nhân loại
Bên cạnh lòng tốt thì tính tương đồng cũng là một trong những biểu hiện của lòng trắc ẩn Ta có thể định nghĩa hiểu được tính tương đồng có nghĩa là cá nhân cảm nhận được những khó khăn của những người yếu thế là những trải nghiệm chung của con người chứ không phải là của riêng bất cứ một cá nhân nào
Theo Neff và Pomiler cho rằng tính tương đồng là sự nhận thức được rằng những cảm xúc của người khác không phải của riêng họ, những đau khổ không phải
là dị biệt của một người hay nhóm người
Những đau khổ và khó khăn đóng vai trò như một mẫu số chung cho phép con người chấp nhận nhau, liên kết và hỗ trợ nhau tốt hơn, là cơ sở mọi người đều bình đẳng, thông qua tính tương đồng nhân loại sẽ khơi gợi mong muốn được hỗ trợ và giúp đỡ của con người, vì vậy thật khó để tách đồng cảm ra khỏi lòng trắc ẩn
Chánh niệm
Chánh niệm cũng thể hiện ở chỗ con người giữ được tỉnh táo và bảo vệ chính bản thân mình Trong nghiên cứu của mình Neff và Pommier đã mô tả chánh niệm trong lòng trắc ẩn là sự cân bằng cảm xúc để giúp con người không bị cuốn sâu quá
đà vào nỗi đau của người khác nhưng cũng không phủ nhận nó
Một trong những điểm mấu chốt của chánh niệm chính là sự tỉnh thức Trong mối liên hệ với lòng trắc ẩn, chánh niệm là một thành phần cực kỳ quan trọng không thể thiếu và được thể hiện cụ thể như sau:
Chánh niệm trong lòng trắc ẩn thể hiện ở chỗ cá nhân biết được mình đang làm gì và chuyện gì đang xảy ra đối với những người yếu thế Nhờ có chánh niệm con người biết được điều gì đang xảy ra, biết được nguồn gốc, nguyên nhân nào dẫn đau khổ của người yếu thế, để tỉnh táo phân tích và nhận định đúng vấn đề nhằm đưa
ra phương hướng giải quyết phù hợp
Trang 24Chánh niệm cũng thể hiện ở chỗ cá nhân tịnh tâm, để nội tâm trở nên bình thản, buông xả hết ý thức tham sân si để có thể cảm nhận tốt nhất những gì mà người yếu thế đã từng trải qua cũng như giúp cá nhân nhìn lại bên trong, nhận thức được những sai lầm, nỗi đau đã từng trải qua Có chánh niệm, con người ta được khơi gợi
sự đồng cảm cũng như mong muốn được kéo con người ra khỏi đau khổ
1.2.1.4 Lòng trắc ẩn và các mối tương quan khác
Lòng trắc ẩn có nhiều tác động đến những yếu tố khác trong đời sống xã hội,
cụ thể ta có thể kể đến những tác động của lòng trắc ẩn với một vào đặc điểm như
sau: Lòng trắc ẩn mang lại nhiều cảm xúc tích cực; Lòng trắc ẩn là một trong những
yếu tố cần thiết trong lĩnh vực chăm sóc, phục vụ con người; Lòng trắc ẩn là yếu tố hữu ích trong giáo dục và gia đình
Lòng trắc ẩn mang lại nhiều cảm xúc tích cực- điều này được chứng minh qua
nhiều nghiên cứu trước đó Davidson 2006 trong nghiên cứu của mình đã cho nghiên cứu về hoạt động của não bộ khi họ thiền định từ bi và kết quả cho thấy có kích hoạt của những cảm xúc tích cực (Davidson, 2006) Như vậy, có thể thấy có một sự liên kết mật thiết giữa lòng trắc ẩn và sự hạnh phúc Trong truyền thống Phật Giáo lòng trắc ẩn có thể bảo vệ con người, giúp con người thoát khỏi những cảm xúc tiêu cực
là tham, sân, si Trong nghiên cứu của mình Sprecher và Fehr’s cũng cho ra kết luận tình yêu thương nhân loại cũng có liên quan tích cực với sự đồng cảm, giúp đỡ, tình nguyện và hỗ trợ XH (Susan Sprecher; Beverley Fehr, 2005) Crocker và Caneverllo vào năm 2008 cũng cho ra kết quả tương tự khi cho rằng khi có lòng trắc ẩn và tình yêu thương con người có thể đạt được hàng loạt những kết quả tích cực như: các mối quan hệ xã hội được cải thiện rõ rệt, cảm giác hạnh phúc được tăng cao, con người sẽ không cảm thấy cô đơn và buồn chán nữa (Crocker J, Canevello, 2008) Hay trong nghiên cứu của Neff cũng cho thấy rõ lòng trắc ẩn có tương quan thuận với sự hài lòng trong cuộc sống, kết nối xã hội và trí tuệ cảm xúc- một kết nối tổng thể đến hạnh phúc (Neff, 2003)
Có thể thấy cảm xúc tích cực ở đây chính là cảm nhận hạnh phúc của con người khi nhận thấy được giá trị của những việc mình đã làm hay cảm nhận lòng biết
ơn từ những cá nhân và tổ chức đã được họ giúp đỡ Trắc ẩn đơn giản đã “khơi dậy”
Trang 25tính thiện trong con người để họ bỏ lại lợi ích của bản thân mà làm vì lợi ích của người khác và xã hội, những cống hiến ấy xứng đáng được tôn vinh và trân quý bởi
họ đã sống cuộc đời không lãng phí Ngoài ra, cảm giác hạnh phúc còn đến từ việc con người được kết nối với nhau nhiều hơn, mối quan hệ xã hội được mở rộng hơn với đa dạng tầng lớp, vùng miền xã hội - được cảm nhận được nhiều câu chuyện và hoàn cảnh khác nhau Chính bởi sự liên kết xã hội đấy giúp cho cá nhân hình thành được cách nhìn đa chiều về cuộc sống, dễ chấp nhận và thông cảm hơn với người khác
Lòng trắc ẩn là phẩm chất cần có của công việc làm trong công tác liên quan đến phục vụ con người nói chung và nhân viên công tác xã hội nói riêng Trong những
nghiên cứu đầu năm 1985 tác giả Sarason đã đặt ra một vấn đề nghiên cứu mới nhưng cực kỳ quan trọng đối với cuộc sống con người đó là: Những nhân viên tham gia công tác phụng sự con người trong quá trình đánh giá không có tiêu chí nào liên quan đến lòng trắc ẩn, lòng nhân ái hay tình yêu thương mà đa số thông qua các buổi phỏng vấn hay bài kiểm tra đầu vào- điều này là một trong những thiếu sót lớn (Sarason, 1985) Glasser vào năm 2005 trong nghiên cứu của mình cũng đã nhấn mạnh “Chúng
ta đã bỏ qua việc thực hành lòng trắc ẩn trước gió rồi”, tác giả kỳ vọng trong các lĩnh vực liên quan đến con người cần được hỗ trợ và cung cấp sự hiểu biết về lòng trắc ẩn- (Glaser, 2005) Chính vì vậy có thể thấy nhiều nhà nghiên cứu đã đề cao lòng trắc
ẩn trong những hoạt động liên quan đến phục vụ con người Có thể lấy lĩnh vực tham vấn tâm lý để hiểu rõ về mối tương quan giữa lòng trắc ẩn với các lĩnh vực phụng sự con người Trong nghiên cứu của mình Bates nhấn mạnh lòng trắc ẩn giúp nhà trị liệu khám phá tốt hơn những nỗi đau của thân chủ (Bates, 2005) Teasdale trong nghiên cứu 1997 cũng cho rằng chính lòng trắc ẩn đã giúp cho thân chủ cảm nhận không phải chỉ họ mới thấu hiểu được nỗi đau của mình từ đó tách những đau khổ ra khỏi bản thân bởi nó không chỉ của thân chủ nữa (Teasdale, 1997) Vai trò của lòng trắc
ẩn trong trị liệu nhóm hay trong điều trị trầm cảm cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm Theo Bates chính nhờ việc cảm nhận được lòng trắc ẩn của nhà trị liệu thân chủ cũng khơi gợi dậy chính lòng trắc ẩn của bản thân và các thân chủ có thể cảm nhận lẫn nhau thông qua việc tương tác với nhau trong buổi trị liệu Về điều trị trầm cảm
Trang 26Allen và Knight (2005) đưa ra nhận định khi khơi gợi được lòng trắc ẩn của thân chủ, người này sẽ không còn tập trung vào những nỗi đau của bản thân nữa mà tập trung vào những người khác, vào xã hội, cộng đồng; thêm vào đó lòng trắc ẩn giúp thân chủ có liên kết với nhiều người trong xã hội giúp khả năng tương tác xã hội của thân chủ tốt hơn (Allen, N.B., & Knight, W.E.J., 2005)- như vậy có thể khẳng định lòng trắc ẩn trong một vài trường hợp cũng hỗ trợ cải thiện các triệu chứng trầm cảm Ngoài ra trong các liệu pháp trị liệu tâm lý phương pháp khơi gợi lòng trắc ẩn cũng đáng được lưu tâm Trong nghiên cứu của mình Stosny cho rằng việc thiếu lòng trắc
ẩn cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bất hòa trong gia đình, là lý do phổ biến nhất khiến cho mọi người tìm đến trị liệu gia đình, chính vì vậy con người cần phải khơi dậy được lòng trắc ẩn của họ- đây là một phương pháp trị liệu mang lại hiệu quả cao (Stosny, 2004)
Từ những nghiên cứu trên có thể khẳng định lòng trắc ẩn mang một cực kỳ quan trọng đối với những công việc liên quan đến con người Ta có thể tóm gọn như sau:
Thứ nhất, lòng trắc ẩn tạo động lực giúp người giúp đỡ tập trung mọi nguồn
lực, nhiều trường hợp hy sinh cả những lợi ích của bản thân để hỗ trợ xã hội và cộng đồng, vượt qua mọi khó khăn và thử thách
Thứ hai, lòng trắc ẩn giúp người giúp đỡ hiểu sâu, hiểu đúng hơn về hoàn cảnh
của người khác, ở đây là thân chủ- những đối tượng yếu thế, cần giúp đỡ
Thứ ba, lòng trắc ẩn giúp nuôi dưỡng tinh thần tích cực và lòng nhân ái Thứ tư, lòng trắc ẩn hỗ trợ người giúp đỡ và thân chủ thấu hiểu lẫn nhau nên
sẽ tạo điều kiện và mang lại hiệu quả cao cho quá trình trợ giúp
Cuối cùng, lòng trắc ẩn là yếu tố quan trọng trong giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình Gia đình và trường học là một trong hai nhân tố quan trọng trong
việc hình thành và phát triển nhân cách của con người Trong nghiên cứu của mình Goleman 2003 có gợi ý việc lồng ghép rèn luyện lòng trắc ẩn trong đào tạo giáo viên cũng như khuyến nghị dạy trẻ về cách kiểm soát cảm xúc, lòng trắc ẩn (Goleman, 2003) Dailai Lama trong Davidson và Harrington cho rằng việc giáo dục về lòng trắc
ẩn có thể tạo những thay đổi tích cực cho gia đình và trường học, thậm chí có thể
Trang 27“thay đổi nhân loại” Thực tế cho thấy đa số thầy cô và ba mẹ hiện tại chưa chú tâm đến việc giáo dục lòng trắc ẩn cho dẫn đến việc một số trẻ có thể thực sự chưa biết cách quan tâm, hỗ trợ mà ngược lại còn thờ ơ với những người xung quanh mình- điều này cực kỳ nguy hiểm bởi trẻ em chính là thế hệ tương lai của một quốc gia, sự thành bại của một xã hội phụ thuộc vào chính cách giáo dục trẻ em Nếu như một đứa trẻ được giáo dục tốt về lòng trắc ẩn các em sẽ cảm thông với những vấn đề của người yếu thế; quan tâm giúp đỡ mọi người; kiểm soát tốt cảm xúc của bản thân; bạo lực học đường cũng từ đó mà giảm đi nhanh chóng và ngược lại Ngoài ra, ở chiều hướng ngược lại trong quá trình giáo dục cả thầy cô và bố mẹ cũng cần phải sử dụng chính lòng trắc ẩn của bản thân để hiểu và cảm nhận được những vấn đề mà trẻ đang gặp phải, cảm thông với chính những lỗi lầm của trẻ, dành nhiều quan tâm và hỗ trợ cho trẻ- chính nhờ lòng trắc ẩn mà trẻ sẽ cảm nhận được tình yêu thương của cha mẹ và thầy cô dành cho mình từ có có những thay đổi và hướng đi tích cực hơn
Ta không thể phủ nhận những tác động, ý nghĩa mà lòng trắc ẩn mang lại, chính vì vậy công tác bồi dưỡng và giáo dục lòng trắc ẩn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng đối với cộng đồng và xã hội - đặc biệt là trong bối cảnh ngày càng có nhiều vấn đề nổi cộm, cần được giải quyết
1.2.2 Nhân viên công tác xã hội
1.2.2.1 Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội là một lĩnh vực được cả thế giới quan tâm nghiên cứu, chính
vì vậy có nhiều khái niệm khác nhau Ta có thể điểm qua một vài khái niệm cơ bản như sau:
Tại cuộc họp chung được tổ chức vào tháng 7 năm 2000, Liên đoàn Lao động
xã hội quốc tế (IFSW) đã phân tích rõ: “Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ con người, tăng năng lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi, con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng
xã hội là các nguyên tắc cơ bản của nghề”
Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW) cũng khái niệm: “Công tác
xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường
Trang 28hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó (Baker, 2003)
Hiệp hội công tác xã hội quốc tế và các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế (2011) thống nhất khái niệm như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người và
lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống (Bộ lao động thương binh và xã hội, 2016)
Đến năm 2014, Liên đoàn Lao động xã hội quốc tế (IFSW) lại tiếp tục có những sửa đổi liên quan đến khái niệm công tác xã hội cụ thể như sau: Công tác xã hội là một nghề dựa trên thực tế cuộc sống và là một ngành học nhằm thúc đẩy sự thay đổi và phát triển xã hội, gắn kết xã hội, trao quyền giải phóng con người Các nguyên tắc công bằng xã hội, quyền con người, trách nhiệm tập thể và tôn trọng sự khác biệt là những vấn đề trọng tâm của công tác xã hội Được củng cố bởi các lý thuyết về công tác xã hội, khoa học xã hội, nhân văn, văn hóa địa phương, công tác
xã hội giúp kết nối cộng đồng giải quyết các thách thức và nâng cao phúc lợi
Có thể thấy có rất nhiều khái niệm liên quan đến công tác xã hội được đưa ra nhưng ta có thể hiểu đơn giản công tác xã hội là những hoạt động nhằm giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng, giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội nhằm góp phần đảm bảo an sinh xã hội
1.2.2.2 Các chức năng của công tác xã hội
Liên đoàn lao động xã hội quốc tế (IFSW) vào năm 2014 đã thông qua những chức năng, nhiệm vụ chính của nghề công tác xã hội như sau: Nhiệm vụ cốt lõi của nghề công tác xã hội bao gồm thúc đẩy thay đổi xã hội, phát triển xã hội, gắn kết xã hội, trao quyền và giải phóng con người
Thúc đẩy xã hội: Công tác xã hội là một khoa học thừa nhận rằng các yếu tố
lịch sử, kinh tế xã hội, văn hóa, chính trị và cá nhân được kết nối với nhau và có thể
là yếu tố thúc đẩy hoặc là rào cản đối với sự phát triển và hạnh phúc của con người Các rào cản có thể là những tư tưởng cổ hủ (trọng nam khinh nữ, mê tín dị đoan…),
Trang 29nếp sống hay ảnh hưởng của chiến tranh… chính vì hoạt động công tác xã hội xác định những yếu tố phù hợp để tiếp tục phát triển, loại bỏ những yếu tố tiêu cực
Thay đổi xã hội, có những biện pháp, cách thức để thay đổi các yếu tố tiêu cực,
loại từ áp bức hoặc những điểm tiêu cực của xã hội Công tác xã hội đưa ra những kế hoạch, sáng kiến để thúc đẩy xã hội
Phát triển xã hội, thay đổi, đưa ra những chính sách toàn diện nhằm tăng
trưởng kinh tế và văn hóa xã hội (International Federation of Social Worker, 2014)
Trong tài liệu hướng dẫn thực hành Nhập môn công tác xã hội của Bộ lao động thương binh và xã hội đã chỉ rõ công tác xã hội có các chức năng chính là chức năng phòng ngừa, chức năng can thiệp, chức năng phục hồi, chức năng phát triển Cụ thể
ta có thể phân tích như sau:
Chức năng phòng ngừa: Xã hội có nhiều dịch bệnh cần được truyền thông sâu
rộng cũng như hỗ trợ phòng tránh như HIV/AIDS, lao hay gần đây nhất là dịch Covid 19… Để tránh những dịch bệnh này lây lan trong cộng đồng, công tác xã hội có chức năng truyền thông, hỗ trợ để cộng đồng hiểu rõ hơn về cách phòng tránh, kiến thức
về biểu hiện của dịch bệnh…
Chức năng can thiệp: Hay còn gọi là chức năng chữa trị hay trị liệu Chức
năng này là chức năng có thể được thể hiện rõ nhất đối với công tác xã hội Chức năng này chủ yếu là giúp, hỗ trợ cho những khó khăn của cá nhân, xã hội hay cộng đồng yếu thế, có những vấn đề cần được quan tâm và hỗ trợ
Chức năng phục hồi: Hỗ trợ những cá nhân, gia đình và cộng đồng khôi phục
lại chức năng xã hội đã bị suy giảm như giúp những đối tượng tái hòa nhập cộng đồng, vượt nghèo, khôi phục kinh tế sau thiên tai…
Chức năng phát triển: Thể hiện qua các hoạt động nhằm tăng nguồn lực, tăng
khả năng ứng phó với các tình huống có vấn đề như giải quyết việc làm cho những
cá nhân thất nghiệp, tập huấn các kỹ năng nuôi dạy con cho bố mẹ, các chương trình dạy làm kinh tế Thông qua các hoạt động này giúp cộng đồng nâng cao dân trí, kỹ năng
Trang 301.2.2.3 Đối tượng hỗ trợ của công tác xã hội
Có nhiều đối tượng được công tác xã hội trợ giúp trong cộng đồng nhưng chủ yếu là những đối tượng yếu thế đang gặp nhiều khó khăn cần được hỗ trợ Đối tượng này có thể là một cá nhân, gia đình, nhóm hay cả một cộng đồng
Đối với cá nhân có thể là những người mắc bệnh hiểm nghèo, khuyết tật, vô gia cư, bệnh tâm thần, các nạn nhân của những thiên tai, người thất nghiệp, nạn nhân của bạo lực gia đình… tóm lại có thể là bất cứ một cá nhân nào không thể tự giải quyết được những khó khăn của bản thân, cần có sự hỗ trợ của người khác về tinh thần, vật chất hay sức lực, không phân biệt giới tính, giàu hay nghèo, già hay trẻ
Những gia đình cần được hỗ trợ của đội công tác xã hội thường là những gia đình gặp nhiều vấn đề, gặp khó khăn, mâu thuẫn trong gia đình… tóm lại là những gia đình không vận hành tốt được mối liên hệ giữa các thành viên trong gia đình
Như vậy, có thể thấy có nhiều đối tượng cần được nhân viên công tác xã hội
hỗ trợ và giúp đỡ, đặc biệt trong bối cảnh ngày càng xuất hiện nhiều vấn đề xã hội phát sinh
1.2.2.4 Khái niệm nhân viên công tác xã hội
Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế – IASW đã đưa ra khái niệm: “Nhân viên công tác xã hội là người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, học có nhiệm vụ: Trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng này tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác liên cá nhân, giữa
cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn” (Bộ lao động thương binh và xã hội, 2016)
Nhân viên công tác xã hội đóng một vai trò quan trọng và phổ quát rộng rãi trong xã hội và thường làm việc ở một số lĩnh vực như:
Lĩnh vực phụ trách về giải quyết các vấn đề xã hội: chuyên viên tại các cơ quan, bộ , ngành liên quan đến xã hội như Bộ lao động thương binh và xã hội; Hội phụ nữ Việt Nam, An sinh xã hội; giải quyết việc làm…
Lĩnh vực y tế: trong các bệnh viện, cơ sở y tế cộng đồng…
Trang 31Lĩnh vực giáo dục: trong các trường học, cơ sở đào tạo
1.2.2.5 Nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội
Theo Bộ lao động, thương binh và xã hội nhân viên công tác xã hội có những nhiệm vụ chính sau đây:
Thúc đẩy, phục hồi, duy trì và tăng cường chức năng của cá nhân, gia đình và cộng đồng thông qua hoạt động trợ giúp, xóa bỏ và phòng ngừa nghèo đói, phát huy nguồn lực trong xã hội Bản chất của một nhân viên công tác xã hội không phải là người chỉ tham gia công tác giúp đỡ cá nhân, tổ chức, gia đình hay cộng đồng nào đó đến suốt cuộc đời mà còn hướng dẫn, tạo động lực để họ có thể tự vượt qua khó khăn của chính bản thân mà không cần dựa vào bất cứ một nhân tố nào khác
Xây dựng, hoạch định và thực thi các chính sách xã hội, chương trình hành động hệ thống dịch vụ xã hội, nguồn lực xã hội Tất cả những kế hoạch, hoạch định này đều được xây dựng trên cơ sở đem lại những hiệu quả tích cực cho cộng đồng Điều này đòi hỏi nhân viên công tác xã hội phải nắm bắt được rất rõ tình hình, nhu cầu, mong muốn của xã hội từ đó mới xây dựng nên những kế hoạch, chương trình phù hợp với thời cuộc, tình hình địa phương, nhu cầu của người dân Bên cạnh đó nhân viên công tác xã hội phải có nhiệm vụ liên kết cộng đồng, xã hội để quá trình thực hiện những chiến lược, chính sách được thành công
Theo dõi, kiểm soát các chính sách, chương trình thông qua các hoạt động biện
hộ, hoạt động chính trị để tăng năng lực cho những nhóm người yếu thế hay có nguy
cơ yếu thế Thực tế, chính phủ thường xuyên có những chính sách nhằm hỗ trợ cho những đối tượng yếu thế trong xã hội - tuy nhiên không phải ai cũng kịp thời nhận được thông tin này cũng như tiếp cận được với cách thức nhận hỗ trợ Lúc này, nhân viên công tác xã hội sẽ là người nắm thông tin, hỗ trợ đối tượng này sớm nhận được những chính sách hỗ trợ Ngoài ra, chính những nhân viên công tác xã hội cũng là người tuyên truyền, hỗ trợ những người gặp khó khăn đứng lên dành quyền lợi của mình khi bị cá nhân hay tổ chức khác chiếm đoạt (ví dụ như nạn trọng nam khinh nữ hay bạo lực gia đình)… theo đúng pháp luật Như vậy có thể thấy lúc này nhân viên công tác xã hội đóng vai trò thúc đẩy công bằng, bình đẳng xã hội
Trang 32Phát triển những kiến thức kỹ năng của công tác xã hội nhằm đảm bảo mục tiêu nghề nghiệp của mình Để có thể thực hiện tốt công việc phụng sự xã hội, nhân viên công tác xã hội cần trang bị cho mình rất nhiều kiến thức và kỹ năng để đạt công việc đạt được hiệu quả cao nhất Cụ thể để trở thành một nhân viên công tác xã hội
cá nhân này cần phải có những yêu cầu về phẩm chất đạo đức như: Cần phải biết cảm thông, niềm đam mê…; có những yêu cầu về kiến thức và kỹ năng như phải kiên trì, nhẫn nại, có những kiến thức cơ bản về trợ cấp xã hội … Chính vì vậy, đòi hỏi đối tượng này cần phải bổ sung và rèn luyện bản thân của mình thường xuyên để không
bị lạc hậu và đi chậm so với thời đại cũng như hỗ trợ tốt hơn cho vấn đề của cá nhân, cộng đồng hay xã hội Cụ thể những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ của nhân viên công tác xã hội sẽ được trình bày rõ ở phần sau
1.2.2.6 Yêu cầu về phẩm chất, kiến thức, kỹ năng đối với nhân viên công tác
xã hội
a) Những yêu cầu về phẩm chất
Yêu cầu về phẩm chất khi hành nghề là một vấn đề cực kỳ quan trọng mà bất
cứ một ngành nghề nào, đặc biệt là đối với những ngành nghề liên quan đến con người, nghề trợ giúp như công tác xã hội Có nhiều ý kiến nói đề cập đến phẩm chất của nhân viên công tác xã hội Tác giả Paulo Freie trong nghiên cứu của mình cho rằng nhân viên công tác xã hội cần có những phẩm chất như sau (Freire, 1990):
- Nhân viên công tác xã hội phải có sự tương đồng về lời nói và hành động bởi lẽ những lời nói thì dễ nói ra nhưng để làm thì rất khó, phải có sự nhất quán giữa việc làm và lời nói Điều này yêu cầu đối tượng này cần phải có trách nhiệm với tất cả những điều mình nói ra và ý thức được bản thân cần phải thực hiện tất cả những lời hứa của mình
- Nhân viên công tác xã hội phải có tinh thần, mong muốn được học hỏi, nghiên cứu liên tục Qua việc học tập, nghiên cứu nhân viên công tác xã hội sẽ trau dồi cho bản thân nhiều kiến thức, kỹ năng phục vụ cho công việc của bản thân
- Phẩm chất tiếp theo mà nhân viên công tác xã hội cần có chính là tính khoan dung Theo tác giả khoan dung hỗ trợ việc kết nối giúp cho con
Trang 33người gần nhau hơn ngay cả đối với những người có nhiều đặc điểm khác biệt
Ở Anh, một nghiên cứu về quan điểm của những người lớn tuổi về phẩm chất của nhân viên công tác xã hội được thực hiện và kết quả cho thấy họ đề cao những đặc điểm sau đây: Hiểu biết về các dịch vụ chuyên khoa, kiên trì, đáng tin cậy, dễ gần, biết hỗ trợ người khác, thông cảm và sẵn sàng lắng nghe (Manthorpe, 2007)
Một nghiên cứu khác của Bersford vào năm 2007 với đối tượng là thu thập ý kiến từ chính những đối tượng yếu thế- kết quả cho thấy cho thấy họ đề cao những phẩm chất sau đây của nhân viên công tác xã hội, cụ thể là: ấm áp, tôn trọng, không phán xét, bình đẳng với tất cả mọi người, trung thực, cởi mở, đáng tin cậy và giao tiếp tốt
Tương tự trong nghiên cứu ở HongKong 2019 cũng cho biết những đối tượng yếu thế trong xã hội mong muốn nhân viên công tác xã hội có những phẩm chất cụ thể thư sau:
+ Thái độ đối với công việc: nhân viên công tác xã hội được đề cao khi xem công tác xã hội là một sứ mệnh, lý tưởng của bản thân chứ không phải là một công việc bình thường
+ Thái độ với người yếu thế trong xã hội: Những cá nhân yếu thế trong xã hội mong muốn nhân viên công tác xã hội xem họ như những người bạn để có thể làm việc và sẻ chia cùng nhau Họ mong muốn nhân viên công tác xã hội đơn giản, bình đẳng với họ
+ Về cách thức giúp đỡ đối tượng yếu thế, nhân viên công tác xã hội được đề cao khi có thái độ làm việc như sau: Kiên trì, không dễ dàng từ bỏ và không chối bỏ trách nhiệm; những người tham gia điều tra cũng cho biết họ muốn nhân viên công tác xã hội hỗ trợ họ tự phát triển từ nguồn lực vốn có của mình, nếu họ làm sai, chưa tốt hãy hướng dẫn một cách rõ ràng hơn, người được hỏi cũng đề cao việc nhân viên công tác xã hội sẵn sàng từ bỏ những lợi ích cá nhân và làm việc ngoài giờ hành chính, nhiệt huyết và không tính toán (Kam, 2019)
Trang 34Tại Việt Nam, những phẩm chất của nhân viên công tác xã hội được được
hướng dẫn chặt chẽ Cụ thể Bộ lao động, thương binh và xã hội đã đề cập đến những
phẩm chất của nhân viên công tác xã hội như sau:
- Bản thân công việc công tác xã hội là một công việc phải đối mặt với nhiều
khó khăn, thử thách Hằng ngày nhân viên công tác xã hội phải đối mặt với nhiều
hoàn cảnh, vấn đề khác nhau và để có thể giúp được nhiều người trong xã hội bắt
buộc nhân viên công tác xã hội phải dành nhiều thời gian, tâm sức- điều này bắt buộc
đối tượng này phải hy sinh thời gian và lợi ích của cá nhân Chính vì vậy, để thực
hiện được công việc này trước hết nhân viên công tác xã hội cần sự cảm thông và tình
yêu thương con người, sẵn sàng giúp đỡ người yếu thế trong những tình huống cần thiết Có thể thấy những yêu cầu trên rất gần với những yếu tố cấu tạo nên lòng
trắc ẩn
- Thứ hai, nhân viên công tác xã hội cần có niềm đam mê nghề nghiệp, sự cam
kết với nghề nghiệp Xã hội luôn cần có sự giúp đỡ của những nhân viên công tác xã
hội, vì vậy việc việc đối tượng này gắn bó với nghề vừa đảm bảo được tính nhân văn,
vừa đảm bảo được số lượng nhân viên công tác xã hội đáp ứng nhu cầu của xã hội
- Trung thực là một yếu tố đạo đức quan trọng nhân viên xã hội cần có Yêu
cầu về phẩm chất đạo đức này nhằm đảm bảo lợi ích cho những cá nhân, tổ chức cần
được hỗ trợ
- Thái độ cởi mở cũng được xem như một yếu nhân cách cần có đối với nhân
viên công tác xã hội Sự cởi mở trong tính cách giúp nhân viên công tác xã hội liên
kết được các đội nhóm hỗ trợ xã hội từ đó hình thành đội ngũ nhân viên công tác xã
hội lớn mạnh; liên kết đối tượng cần được trợ giúp với nhà hảo tâm; dễ tiếp cận đối
với cá nhân, tổ chức yếu thế Tính cởi mở, sẵn sàng lắng nghe cũng là một trong
những biểu hiện của lòng trắc ẩn
- Nhân viên công tác xã hội cần có tính kiên trì, nhẫn nại Mỗi câu chuyện,
mỗi đối tượng yếu thế mà nhân viên công tác xã hội gặp phải đều có những khó khăn,
thử thách riêng và trong nhiều trường hợp có những cá nhân chưa muốn chia sẻ về
câu chuyện của mình hoặc kết quả của công tác hỗ trợ chưa mang lại hiệu quả cao
(thậm chí thất bại)- lúc này phẩm chất cần thiết nhất mà nhân viên công tác xã hội
Trang 35cần phải có là sự kiên trì, nhẫn nại, không bỏ cuộc Ngoài ra, việc thu hút những nguồn lực nhằm hỗ trợ cộng đồng và chuyển giao đến tận tay người cần hỗ trợ cũng không được hấp tấp mà phải cẩn trọng và có kế hoạch cụ thể
- Nhân viên công tác xã hội cần có lòng vị tha, sự rộng lượng Đây là một trong những biểu hiện đặc trưng của lòng trắc ẩn Nếu nhân viên công tác xã hội không có
sự rộng lượng và vị tha sẽ rất khó để có thể chấp nhận và sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ cộng đồng
- Nhân viên công tác xã hội được yêu cầu luôn có quan điểm cấp tiến và hoạt động hướng tới sự thay đổi trong trật tự xã hội- luôn hướng đến mục tiêu hỗ trợ cộng đồng
- Nhân viên công tác xã hội cũng cần là người người tỏ ra cương trực, sẵn sàng
từ chối sự gian lận trong người quản lý
Những yêu cầu về phẩm chất trên rất gần với những yếu tố cấu tạo nên lòng trắc ẩn là lòng tốt, tương đồng nhân loại và chánh niệm Một lần nữa có thể khẳng định lòng trắc ẩn là một trong những thành phần quan trọng để cấu tạo nên chân dung của một nhân viên công tác xã hội tốt
b) Những yêu cầu về kiến thức
Tại Việt Nam những yêu cầu về kiến thức của nhân viên công tác xã hội được đưa ra một cách rõ ràng và chi tiết, có thể liệt kê như sau:
- Kiến thức về chính sách và dịch vụ trợ cấp xã hội: Như đã đề cập ở trên, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội là theo dõi, kiểm soát các chính sách, chương trình Thông qua các hoạt động biện hộ, hoạt động chính trị để tăng năng lực cho những nhóm người yếu thế hay có nguy cơ yếu thế Để thực hiện tốt nhiệm vụ này yêu cầu nhân viên công tác xã hội phải nắm được tất cả chính sách và dịch vụ này nhằm thực hiện đúng, thực hiện đủ và đảm bảo quyền lợi cho những cá nhân gặp khó khăn được hỗ trợ
- Kiến thức về ứng xử giữa người và người trong xã hội, những tiêu chuẩn đạo đức văn hóa những kiến thức cơ bản về giao tiếp xã hội … nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, tạo lòng tin và tăng hiệu quả hơn trong quá trình thực hiện những kế hoạch, chương trình công tác xã hội
Trang 36- Các kiến thức liên quan đến cách thức làm việc với nhóm, cá nhân và cộng đồng
- Kiến thức chung về kinh tế- xã hội, pháp luật nhằm đảm bảo có thể hỗ trợ cho những cá nhân còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận với những thông tin này cũng như để những kế hoạch, chương trình công tác xã hội đảm bảo theo quy định của pháp luật
Ngoài những yêu cầu trên, để chất lượng của hoạt động công tác xã hội mang lại nhiều hiệu quả tích cực nhân viên công tác xã hội còn phải đảm bảo những kiến thức cơ bản khác về cuộc sống Tuy nhiên, trên đây là những yêu cầu cơ bản nhất mà một nhân viên công tác xã hội cần đạt được
c) Những yêu cầu về kỹ năng
Cụ thể nhân viên công tác xã hội cần phải đáp ứng được những kỹ năng như sau:
- Nhóm kỹ năng giao tiếp xã hội
Những kỹ năng có thể được kể ra như: Kỹ năng lắng nghe tích cực- nhằm thu thập
và hiểu biết những vấn đề mà người cần trợ giúp gặp phải; kỹ năng giao tiếp- tạo sự cởi mở, thân thiện và chuyên nghiệp khi tham gia các hoạt động công tác xã hội; kỹ năng tham vấn- tư vấn- nhằm giúp những cá nhân, gia đình tổ chức khi họ gặp nhiều khó khăn về tinh thần…
- Nhóm kỹ năng phát triển bản thân
Có thể kể ra được những kỹ năng cần thiết như sau: Kỹ năng nhận biết, giải quyết vấn đề; kỹ năng thuyết trình đến công chúng ; kỹ năng kiểm soát cảm xúc cá nhân, giữ được bình tĩnh tự tin trước mọi tình huống; kỹ năng nhận xét, đánh giá…Ngoài
ra, còn có nhiều kỹ năng khác hỗ trợ công việc của nhân viên công tác xã hội như kỹ năng làm việc với nhiều tổ chức, kỹ năng nhận xét, đánh giá…
1.2.3 Lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội
1.2.3.1 Khái niệm lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội
Trong quá trình hoạt động xã hội, nhân viên công tác xã hội lấy lợi ích của đối tượng yếu thế đặt lên hàng đầu Trong đó đối tượng yếu thế là những cá nhân, nhóm, cộng đồng cần được sự hỗ trợ và giúp đỡ còn nhân viên công tác xã hội là người mang
Trang 37lòng trắc ẩn muốn được giải quyết những vấn đề của đối tượng trên Lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội cũng cần đảm bảo các yếu tố về lòng tốt, chánh niệm, đồng cảm Từ việc nghiên cứu về lòng trắc ẩn ta có thể rút ra được khái niệm lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội như sau:
Lòng trắc ẩn là một phẩm chất của nhân viên công tác xã hội Lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội là khái niệm dùng để ám chỉ sự nhạy cảm của nhân viên công tác xã hội trước nỗi đau, khó khăn, cảm xúc tiêu cực của người yếu thế từ đó họ đồng cảm, cảm nhận được chúng và mong muốn được hỗ trợ, giúp đỡ người yếu thế
có được những trải nghiệm tích cực hơn trong cuộc sống
1.2.3.2 Biểu hiện lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội
Dựa trên biểu hiện của lòng trắc ẩn, ta có thể tóm gọn lại những biểu hiện cụ thể lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội như sau:
Lòng tốt
Nhân viên công tác xã hội tiếp cận những trường hợp còn gặp nhiều khó khăn thông qua nhiều kênh khác nhau Chủ động tìm hiểu cũng như chọn lọc những trường hợp cần được hỗ trợ
Nhân viên công tác xã hội nhận biết, cảm nhận được những khó khăn, mong muốn được vượt qua khó khăn của những cá nhân yếu thế
Nhân viên công tác xã hội mong muốn được giúp đỡ những cá nhân yếu thế trong xã hội nhưng xuất phát từ sự yêu thương đồng cảm, thực tâm hỗ trợ mà không nghĩ đến những yếu tố mang tính cá nhân như quyền lợi, sự công nhận hay vật chất…
Nhân viên công tác xã hội cùng với sự thấu hiểu của mình xây dựng kế hoạch nhằm mục đích hỗ trợ một cách tối đa giúp người yếu thế thoát khỏi nỗi đau và khó khăn của bản thân
Chánh niệm
Nhân viên công tác xã hội biết kiểm soát tốt cảm xúc của mình, biết chăm sóc tốt sức khỏe tinh thần của bản thân để có thể tỉnh táo và toàn tâm hỗ trợ những người yếu thế
Nhân viên công tác xã hội biết phân tích, tìm hiểu được nguồn gốc sâu xa của những nỗi đau và khó khăn của người yếu thế từ đó có những biện pháp hỗ trợ đúng
Trang 38đắn Nhân viên công tác xã hội biết được rõ mình đang làm gì và sẽ mang lại hiệu quả ra sao
Nhân viên công tác xã hội biết giữ cho tâm của mình bình thản không đánh giá, phán xét đối với câu chuyện, hoàn cảnh của những người yếu thế
Tương đồng nhân loại
Nhân viên công tác xã hội cảm nhận được những khó khăn, cảm xúc tiêu cực, nỗi đau của những người yếu thế bất kể người đó là ai và có mong muốn, có hành vi giúp đỡ họ Ở đây tức là đối xử công bằng và xem tất cả mọi người là một cộng đồng chung với nhau mà không có sự phân biệt
1.2.3.3 Tiêu chí đo lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội
Trong nghiên cứu của mình về xây dựng thang đo lòng trắc ẩn, tác giả Neff và Pommier cho rằng thang đo lòng trắc ẩn được cấu tạo từ ba tiêu chí lớn gồm:
- Lòng tốt (Kindness) bao gồm những yếu tố, tiêu chí đo như sau:
+ Nếu tôi thấy ai đó đang trải qua giai đoạn khó khăn, tôi sẽ cố gắng quan tâm
đến người đó
+ Khi người khác buồn, tôi cố gắng an ủi họ
+ Tôi muốn ở bên người khác trong lúc họ gặp khó khăn
+ Trái tim tôi hướng về những người bất hạnh
- Tương đồng nhân loại (Common humanity) Bao gồm những yếu tố, tiêu
chí đo như sau:
+ Ai cũng có những lúc cảm thấy hụt hẫng, đó là một phần của con người + Điều quan trọng là phải nhận ra rằng tất cả mọi người đều có điểm yếu và
không ai hoàn hảo
+ Đau khổ chỉ là một phần trải nghiệm của con người
+ Bất chấp việc tôi và người khác có những điểm khác biệt nhau, tôi biết rằng mọi người đều cảm thấy đau đớn giống tôi
- Chánh niệm ( Mindfulness) bao gồm những yếu tố, tiêu chí đo như sau:
+ Tôi có xu hướng kiên nhẫn lắng nghe mọi người nói về vấn đề của họ + Tôi rất chú ý khi người khác nói chuyện với mình
Trang 39+ Tôi cảm nhận được sự khó chịu của người khác ngay cả khi họ không nói
gì
+ Khi mọi người nói với tôi về vấn đề của họ, tôi cố gắng giữ quan điểm và
cảm xúc cân bằng trong mọi tình huống
Đây cũng chính là 3 tiêu chí được sử dụng để làm cơ sở lý luận nghiên cứu cho
đề tài này Sau quá trình nghiên cứu các đặc điểm ta có bảng phân tích về những tiêu chí đo lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội như sau:
Mức độ, tần suất chú ý đến sức khỏe và tinh thần của những cá nhân đang gặp khó khăn
Tích cực chủ động trong việc hỗ trợ các cá nhân cần
Mong muốn người khác có thể vượt qua khó khăn, đạt được nhiều lợi ích
Động cơ khi hỗ trợ, giúp đỡ người yếu thế
Lắng nghe vấn đề của người khác
Mức độ sẵn sàng để lắng nghe những khó khăn của người có nhu cầu giúp
đỡ
Thực hiện những hành vi giúp đỡ người khác
Mức độ nỗ lực trong quá trình cách để trợ giúp người yếu thế
Mức độ sẵn sàng chấp nhận sinh một vài lợi ích cá nhân vì lợi ích của người
yếu thế
Trang 40Nội dung Chỉ báo Tiêu chí đo
Mức độ, tần suất quan tâm đến khó khăn của những người chưa từng quen biết
Múc độ, tần suất quan tâm đến khó khăn của những người từng khiến tôi tổn thương, khó chịu
Biết được ai cũng có những giai đoạn khó khăn cần được hỗ trợ, giúp đỡ
Mức độ thấu hiểu những khó khăn chung của người mong muốn hướng tới sự công bằng vì ai cũng cần được
hỗ trợ, giúp đỡ dù họ là ai đi chăng nữa
Hiểu được mình cần hỗ trợ, giúp đỡ những người cần hỗ trợ dù họ là ai đi chăng nữa
Mức độ, tần suất của mong muốn giúp
đỡ người lạ khi họ gặp khó khăn Mức độ, tần suất của mong muốn giúp
đỡ người từng làm tôi khó chịu, tổn thương khi họ gặp khó khăn
Hỗ trợ mọi người xung quanh dù đó là ai đi chăng nữa
Mức độ, tuần xuất hỗ trợ, giúp đỡ cho người lạ vượt qua khó khăn
Mức độ, tần suất hỗ trợ, giúp đỡ cho những người đã từng khiến tôi khó chịu, làm tổn thương tôi
Chánh niệm
Mindfulness
Tập trung, giữ cảm xúc trung lập, không bị phân tâm, tác động
Khả năng bình tĩnh, tập trung lắng nghe khó khăn của người khác, không
bị phân tâm
Khả năng cân bằng, giữ cảm xúc trung lập, không để không bị ảnh hưởng bởi cảm xúc từ người yếu thế