Những nghiên cứu về tác phẩm “Truyền kì mạn lục” dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới Đến thế kỉ XX, với biên độ mở rộng của văn hoá nói chung cũng như của văn học nói riêng, “Truyền kì mạn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Huỳnh Hoàng Phương Uyên
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG
“TRUYỀN KÌ MẠN LỤC” CỦA NGUYỄN DỮ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HOÁ ỨNG XỬ GIỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Huỳnh Hoàng Phương Uyên
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG
“TRUYỀN KÌ MẠN LỤC” CỦA NGUYỄN DỮ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HOÁ ỨNG XỬ GIỚI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ THU YẾN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình nào khác
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Thu Yến, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ văn và Phòng Sau Đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu tại trường
Xin chân thành cảm ơn thầy cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn không thể tránh được những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp quan tâm đến luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2021
Tác giả
Huỳnh Hoàng Phương Uyên
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14
1.1 Khái lược về Nguyễn Dữ và tác phẩm “Truyền kì mạn lục” 14
1.1.1 Tác giả Nguyễn Dữ 14
1.1.2 Tác phẩm Truyền kì mạn lục 17
1.2 Khát quát về “giới” 19
1.2.1 Khái niệm “giới” 19
1.2.2 Bản chất của “giới” 22
1.2.3 Phân biệt “giới” và “giới tính” 24
1.3 Văn hoá ứng xử giới 25
1.3.1 Quan niệm về ứng xử của nữ giới thời trung đại 25
1.3.2 Quan niệm về ứng xử của nam giới thời trung đại 30
Chương 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA VĂN HOÁ ỨNG XỬ GIỚI TRONG “TRUYỀN KÌ MẠN LỤC” 38
2.1 Hình tượng nhân vật nam dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới 38
2.1.1 Người đàn ông lý tưởng 38
2.1.2 Người đàn ông ham mê sắc dục 43
2.1.3 Người đàn ông với tư tưởng nam quyền 46
2.2 Hình tượng nhân vật nữ dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới 51
2.2.1 Người phụ nữ tòng thuộc, bị động 51
2.2.2 Người phụ nữ là liệt nữ 54
Chương 3 ĐỐI SÁNH HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG
“TRUYỀN KÌ MẠN LỤC” VỚI HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT
Trang 6TRONG MỘT SỐ KHÚC NGÂM, TRUYỆN THƠ NÔM TIÊU BIỂU
TRÊN PHƯƠNG DIỆN VĂN HOÁ ỨNG XỬ GIỚI 65
3.1 Văn hoá ứng xử giới của nhân vật nam trong “Truyền kì mạn lục” và các truyện thơ Nôm, khúc ngâm ở giai đoạn sau 65
3.1.1 Về công danh sự nghiệp 65
3.1.2 Về sự chung thuỷ trong tình yêu 68
3.1.3 Về sự nhất quán trong tính cách 71
3.2 Văn hoá ứng xử giới của nhân vật nữ trong “Truyền kì mạn lục” và các truyện thơ Nôm, khúc ngâm ở giai đoạn sau 73
3.2.1 Về vấn đề nữ sắc 73
3.2.2 Về ý thức đấu tranh của nhân vật nữ 79
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn xuôi viết bằng chữ Hán là một bộ phận quan trọng trong lịch sử Văn học Việt Nam Trong đó có những tác phẩm tiêu biểu được nhiều thế hệ truyền
tụng và lưu giữ như tác phẩm “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ Xuyên
suốt tác phẩm là những câu chuyện nửa thực, nửa ảo nhưng lại thấm đượm nỗi niềm thế thái nhân tình đã được Nguyễn Dữ phô diễn bằng ngòi bút Hán văn điêu luyện của mình Tác phẩm ra đời vào thế kỉ XVI, khi tình hình xã hội rơi vào trạng thái bất ổn, mâu thuẫn giữa tầng lớp thống trị và nhân dân lao động trở nên gay gắt, quyết liệt Xã hội bắt đầu xuất hiện sự phân hoá mạnh mẽ giữa các tầng lớp Quan hệ giữa người với người cũng trở nên phức tạp hơn Chiến tranh phong kiến ngày càng ác liệt và kéo dài, nội chiến triền miên khiến đất nước bị các tập đoàn phong kiến chia cắt Cuộc sống của muôn dân từ đó cũng không còn an lạc mà trở nên điêu đứng, cơ cực nhiều hơn Để có thể phản ánh thực tế đa dạng ấy và giải thích được những biến động trong bối cảnh lúc bấy giờ thì không thể chỉ dừng lại đơn giản ở chỗ ghi chép sự tích đời trước Có thể nói, nhu cầu phản ánh quyết định sự đổi mới của thể loại văn học Và Nguyễn
Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sửa ngôn từ,… để tái tạo thành những thiên truyện mới Toàn bộ tác phẩm đã thấm sâu tinh thần và màu sắc của con người trong đời sống Phạm vi phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều vấn đề của
xã hội và đặc biệt là về con người được đề cập tới Với “Truyền kì mạn lục”,
văn học cổ điển Việt Nam đã đạt tới đỉnh cao trong văn xuôi chữ Hán vào những thập kỉ đầu của thế kỉ XVI
Con người và giới tính là một trong những vấn đề quan trọng luôn được mọi người quan tâm Giới tính ở đây không chỉ là sự phân biệt dựa trên cơ chế sinh học là nam hoặc nữ, mà còn có tác dụng giúp con người xác định được bổn phận và chức năng của mình trong đời sống cộng đồng Từ đó giúp con
Trang 8người hình thành một cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực để giúp xã hội ngày một hoàn thiện và tốt đẹp hơn Văn hoá ứng xử giới là công cụ để thúc đẩy sự phát triển của con người và xã hội, thể hiện trong tư tưởng, ý thức và hành động Chính vì điều này, biểu hiện của văn hoá ứng xử giới được thể hiện ở khá nhiều mặt trong các loại hình nghệ thuật, nhưng có lẽ không có loại hình nghệ thuật nào thể hiện được vấn đề giới tính một cách đầy đủ, trọn vẹn, có chiều sâu như trong văn chương Đặc biệt là khi trong lịch sử, có một thời kỳ lâu dài, xã hội phương Đông nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng vận hành theo kiểu xã hội nam quyền, người nam giới đã thống ngự nữ giới và áp đặt các chuẩn mực của họ về cái đẹp, về hành vi, về đức hạnh cho người phụ nữ Từ đó, tạo nên những bất công cho người phụ nữ và có lợi cho nam giới Và văn học chính là chiếc gương soi phản chiếu thực tế cuộc sống đó, nhiều tác phẩm đã phản ánh được hiện thực xã hội thông qua hình tượng nhân vật nam giới và nữ giới Cụ thể là vào những thế kỷ đầu tiên của nền văn học viết Việt Nam, kiểu nhân vật chủ yếu là những người đàn ông, họ có thể là các thiền sư, các nho gia hay có thể là đạo sĩ Mặc dù
có sự hiện diện của nhân vật người phụ nữ nhưng họ vẫn thường bị nhìn qua lăng kính của tư tưởng nam quyền Ngoài ra ngày trước còn có quan niệm thường coi người phụ nữ như là nguồn gốc của sự cám dỗ, có thể đe dọa công phu tu trì đạo đức của nhà tu hành, đe dọa lý tưởng “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của thánh nhân
quân tử Và có thể nói “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ đã truyền tải đầy đủ
thông điệp ấy Đọc tác phẩm này, chúng ta không chỉ thấy được bối cảnh của thời đại với những hiện thực phức tạp Bên cạnh đó còn gợi ra một cách nhìn nhận về thái độ ứng xử của con người trong xã hội phong kiến Từ đó chi phối mỗi cá nhân trong vai trò hoàn thành chức năng phận vị của mình Song song với nội dung đó, tác phẩm cũng góp phần mở ra một cái nhìn mới, rõ nét hơn về hình tượng nhân vật nam giới và nữ giới trong văn học trung đại
Trang 9Đó là những lí do thôi thúc chúng tôi lựa chọn “Hình tượng nhân vật trong
“Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới” làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn này
2 Mục đích nghiên cứu
Qua mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc, con người trong đời sống cũng như trong văn học nói riêng đều có những tư tưởng, tình cảm, quan niệm chính trị, văn hoá, đạo đức, thẩm mĩ và những mối quan hệ đa dạng Con người nhìn từ góc độ văn hoá ứng xử giới tất nhiên là con người thuộc về một giới xác định – nam hoặc nữ Nhưng văn hoá ứng xử giới là một hiện tượng lịch sử
xã hội Nó hình thành, biến đổi trong thời gian và không gian, không hoàn toàn giống nhau, từ đời này qua đời khác, từ dân tộc này đến dân tộc khác
Đành rằng sự hạn chế trong nhận thức cùng với những định kiến xã hội bị ảnh hưởng bởi tư tưởng nam quyền đã tác động không nhỏ đến văn hoá ứng xử giới, song cần có cái nhìn lịch sử về các hiện tượng văn học ấy trong tương quan với thời đại văn hoá nó ra đời Ngoài ra, nghiên cứu văn hoá ứng xử giới cũng chính là đi tìm hiểu một phần văn hoá của thời đại, lật lại từng trang lịch
sử dân tộc, qua từng trang văn để hiểu và cảm nhận rõ ràng, sâu sắc hơn về hiện thực cuộc sống trong xã hội cũ
Tóm lại, thông qua việc tìm hiểu nhân vật nam và nữ dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới, chúng tôi mong muốn sẽ đóng góp thêm kiến thức phong phú hơn về bối cảnh thời đại và văn hoá cũng như cách ứng xử giữa người với người trong tương quan giữa hai kiểu nhân vật nam giới và nữ giới trong nền văn học trung đại Từ đó, ứng dụng kết quả nghiên cứu này vào công tác giảng dạy để thêm phần hiệu quả Tôi mong rằng đề tài này sẽ góp một phần nhỏ vào khoa học nghiên cứu văn học Việt Nam, mảng văn học trung đại, lĩnh vực văn xuôi, khơi gợi thêm được sự hứng thú của mọi người về văn hoá ứng xử giới trong tác phẩm văn học trung đại nói riêng cũng như nền văn học nước nhà nói chung
Và sẽ có thêm nhiều công trình khoa học có giá trị về vấn đề này
Trang 103 Lịch sử vấn đề
Việc nắm được lịch sử vấn đề là một việc rất quan trọng, không thể thiếu
khi thực hiện đề tài “Hình tượng nhân vật trong “Truyền kì mạn lục” nhìn từ
góc độ văn hoá ứng xử giới” Đặc biệt là khi tác phẩm này rất thu hút các nhà
nghiên cứu Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu về tác phẩm “Truyền
kì mạn lục”, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều công trình tâm huyết đã được
thực hiện Ở đây, chúng tôi xin chia lịch sử vấn đề thành hai mảng chính, đó
là: Những nghiên cứu về tác phẩm “Truyền kì mạn lục” và những nghiên cứu
về “Truyền kì mạn lục” dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới
3.1 Những nghiên cứu về tác phẩm “Truyền kì mạn lục”
Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Vũ Khâm Lân,… đều là những tác giả sớm
nhất trong nền văn học Việt Nam đã nghiên cứu qua “Truyền kì mạn lục”, hầu hết họ đều đánh giá cao tác phẩm này Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục”
ca ngợi “Truyền kì mạn lục” có “văn từ thanh lệ”, Vũ Khâm Lân trong “Công
dư tiệp kí” đã từng gọi đó là “thiên cổ kỳ bút”, còn Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” đã coi đây thật sự là “áng văn hay của bậc đại gia”
Tuy vậy, họ chú ý nhiều đến văn phong, nghệ thuật, chứ thật chưa chú ý đến nội dung, nhất là “hình tượng nhân vật” trong tác phẩm
Gần đây, Trần Ích Nguyên (Đài Loan) đã có một công trình nghiên cứu
công phu: Nghiên cứu so sánh “Tiễn đăng tân thoại” và “Truyền kỳ mạn lục
(Trần Ích Nguyên, 2000) Trong bài viết này, tác giả đã đi sâu khai thác, tìm
hiểu sự đón nhận “Tiễn đăng tân thoại” ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam từ
đó cho thấy ý nghĩa của việc nghiên cứu so sánh “Tiễn đăng tân thoại và Truyền
kỳ mạn lục” Trong bài viết của mình, Trần Ích Nguyên luôn đưa ra sự đối sánh
về nguồn gốc, nội dung tư tưởng và nghệ thuật của hai tác phẩm sau đó chốt lại
bài viết bằng những nhận định khách quan mang tính phát hiện “Truyền kỳ
mạn lục” được coi là tác phẩm phóng tác từ “Tiễn đăng tân thoại”, tuy nhiên
sự vay mượn chủ yếu là trên phương diện cốt truyện Đối với tác giả bài viết
Trang 11thì: “Tóm lại, việc lấy tài liệu của bất kỳ một tác phẩm văn học nào đều có thể
là từ nhiều nguồn Chỉ cần các tác giả không thỏa mãn với việc mô phỏng, thì
dù có tiếp thu ảnh hưởng của nước mình hay nước ngoài thì cũng chẳng làm
tổn hại gì đến tính sáng tạo độc đáo” (Lưu Cự Tài, 2001) “Truyền kỳ mạn
lục” của Nguyễn Dữ không chỉ là tác phẩm để thỏa mãn tính hiếu kỳ của người
đọc mà còn gửi gắm triết lí nhân sinh và tỏ bày thái độ chính trị - xã hội Đặc
biệt, khác với “Tiễn Đăng tân thoại”, “Truyền kỳ mạn lục” đều có phần lời bình của tác giả ở cuối mỗi truyện - một đoạn văn nghị luận ngắn (Trừ Kim
Hoa thi hoại ký) Phần lời bình này thể hiện quan điểm của người viết và có
mục đích thuyết giáo Việc so sánh “Tiễn đăng tân thoại” và “Truyền kỳ mạn
lục” của Trần Ích Nguyên giúp ta có cái nhìn tổng quát giữa hai tác phẩm này
để nhận ra điểm tương đồng và sự sáng tạo riêng của từng tác giả Tuy nhiên, bài viết chỉ chú trọng nhiều đến việc so sánh hai tác phẩm mà không đi sâu nghiên cứu về đặc sắc trong một khía cạnh cụ thể, chẳng hạn như cách xây
dựng hình tượng nhân vật của “Tiễn đăng tân thoại” hay “Truyền kỳ mạn lục” Năm 2008, PGS.TS Trần Nho Thìn đã có một bài viết về “Truyền kỳ mạn
lục” với cách tiếp cận tác phẩm từ các góc độ khác nhau: thế giới nhân vật,
quan hệ giữa cái kỳ và cái thực Ở bài viết này khi tìm hiểu thế giới nhân vật
trong “Truyền kỳ mạn lục” từ nhân vật trí thức, đạo sĩ, người nhà chùa cho đến
nhân vật nhân vật phụ nữ, tác giả bài viết nhận định: “Các loại nhân vật chủ yếu mà chúng ta vừa xem xét trên đây biểu hiện tư tưởng chính trị đạo đức và quan niệm về con người của ông” (Trần Nho Thìn, 2008) Đặc biệt, khi bàn về
quan hệ giữa cái kỳ và cái thực trong “Truyền kỳ mạn lục”, tác giả khẳng định:
“Tất cả các truyện đều có hai phần, phần kể chuyện cuộc sống hiện thực và phần kể chuyện có yếu tố kỳ” (Trần Nho Thìn, 2008) Yếu tố kỳ xuất hiện để khai thông mạch truyện khi cuộc sống hiện thực vận động đến chỗ bế tắc Với
cách đọc “Truyền kỳ mạn lục” từ nhiều góc độ khác nhau, người đọc sẽ có
những cảm nhận phong phú và toàn diện về tác phẩm này
Trang 123.2 Những nghiên cứu về tác phẩm “Truyền kì mạn lục” dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới
Đến thế kỉ XX, với biên độ mở rộng của văn hoá nói chung cũng như của
văn học nói riêng, “Truyền kì mạn lục” giờ đây lại được các nhà nghiên cứu
soi chiếu dưới những góc nhìn đa dạng, phong phú hơn Đặc biệt là hình tượng nhân vật và cách ứng xử của họ bước đầu cũng được tìm tòi khám phá
Các nhà nghiên cứu Bùi Kỷ và PGS Bùi Duy Tân thể hiện thái độ khen ngợi những người phụ nữ chính chuyên, “tam tòng tứ đức”, đáp ứng chuẩn mực Nho gia và tuyệt đối lên án, phê phán những người phụ nữ vượt ngoài lễ giáo
phong kiến Trong “Lời giới thiệu “Truyền kì mạn lục” (bản dịch của Trúc
Khuê Ngô Văn Triện), Bùi Kỷ đã có một vài nhận xét, đánh giá sơ lược về các
câu chuyện trong tác phẩm Chẳng hạn như đối với Khoái Châu nghĩa phụ
truyện và Nam Xương nữ tử truyện – ông đã viết: “Tả rõ phụ nữ ở xã hội cũ, dù
ăn ở thuỷ chung với chồng thế nào cũng chịu một thân phận hèn kém: Một đằng
vì thua bạc mà gán vợ, một đằng vì ngờ vực hão huyền để vợ phải quyên sinh Đáng giận thay! Cái thuyết “tòng phu” đã làm hại bao nhiêu bạn quần thoa trong bao nhiêu thế kỉ!” (Nguyễn Dữ, 2002) Tuy có đề cập đến thân phận thấp hèn của người phụ nữ trong tương quan với nam giới, nhắc đến bất công trong đạo “Tam tòng” nhưng ông không nhấn mạnh những đặc điểm này mà chú ý nhiều hơn đến ngợi khen, thương xót những người phụ nữ tiết hạnh
Trong khi đó, PGS.TS Trần Thị Băng Thanh khi viết lời tựa cho “Truyền
kỳ mạn lục” đã có cái nhìn nhân bản khi nhận định về số phận các nhân vật và
cách kết thúc truyện Nhà nghiên cứu đã bày tỏ sự cảm thông với những nhân vật nữ giới dù là chuyện tình yêu của họ có đi ngược lại lễ giáo phong kiến:
“Kết quả là người dân lương thiện, đặc biệt là người phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ Nguyễn Dữ dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này Dưới ngòi bút của ông, họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần, giàu lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số phận bi thảm Đến cả loại nhân vật “phản
Trang 13biện” như nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký), nàng Nhị Khanh (Mộc miên
thụ truyện), các hồn hoa (Tây viên kỳ ngộ ký) và “Xương Giang yêu quái lục”
cũng đều vì số phận đưa đẩy, đều vì “nghiệp oan” mà đến nỗi trở thành ma quái Họ đáng bị trách phạt, nhưng cũng đáng thương” Lời tựa này giúp người đọc trút bỏ bớt cái nhìn khắt khe đối với những nhân vật xưa nay bị xa lánh như
ma nữ Tuy nhiên, lời tựa mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá với cái nhìn đầy nhân bản và thiên về khai thác hình tượng nhân vật nữ giới nhiều hơn so với nam giới Do vậy, việc đánh giá thái độ ứng xử giới cũng như bổn phận, trách nhiệm giữa người nam và nữ trong xã hội lúc bấy giờ vẫn còn chưa được khai thác đầy đủ và được tiếp nhận một cách toàn diện
Nguyễn Phạm Hùng cũng là một trong những nhà nghiên cứu quan tâm
đến đề tài người phụ nữ trong “Truyền kì mạn lục” Trong bài viết “Tìm hiểu
khuynh hướng sáng tác trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ”, ông đã đưa
ra một số nhận định về vấn đề người phụ nữ trong tập truyện này Nhà nghiên cứu đã đánh giá: “Tựu trung, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam người phụ
nữ xuất hiện rầm rộ như thế ở “Truyền kì mạn lục” với cả diện mạo, tâm hồn
lẫn tình cảm, nhu cầu khát vọng sống với chính mình,… Nếu trước đây, hình ảnh người phụ nữ quý tộc có đi vào sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Húc v.v… thì thường chỉ dừng lại ở sự nhận thức trên bình độ tâm lý, còn ở đây, nó
là một đối tượng nhận thức, đối tượng thẩm mỹ trọn vẹn, thành vấn đề người phụ nữ trong văn học,…” (Nguyễn Phạm Hùng, 2001) Ông nhấn mạnh bi kịch của nhân vật nữ, nêu ra những nguyên nhân phá huỷ khát vọng hạnh phúc chân chính của người phụ nữ để khẳng định lòng nhân đạo của Nguyễn Dữ Những khao khát hạnh phúc chân chính của người phụ nữ thường dẫn họ đến chỗ chết,
và thường tự tận… “Cái chết đeo đuổi hầu hết các số phận người phụ nữ trong
“Truyền kì mạn lục” Dường như đó là giải pháp phổ biến và cũng là giải pháp
cuối cùng của tác giả khi giải quyết vấn đề này – đó là bế tắc đến cùng cực của Nguyễn Dữ trước những vấn đề con người trong xã hội đó Rất ít số phận người
Trang 14phụ nữ trong tác phẩm được sống sót,và sự sống sót đó hầu như cũng không đem lại một tương lai tươi sáng nào” (Nguyễn Phạm Hùng, 2001)
Nói chung, những phát hiện của Nguyễn Phạm Hùng về nhân vật nữ trong
“Truyền kì mạn lục” trình bày trong bài viết trên đã đóng góp thêm tiếng nói
trong lịch sử nghiên cứu vấn đề này Qua bài viết nhà nghiên cứu đã khẳng định
vị trí đặc biệt của “Truyền kì mạn lục” trong tiến trình văn học ở đề tài người
phụ nữ và chỉ ra tinh thần nhân đạo của Nguyễn Dữ về họ Tuy nhiên, những nhận xét này còn khá sơ lược, và mới chỉ dừng lại ở số phận người phụ nữ Ngoài ra về vấn đề văn hoá ứng xử giới, đây được xem là một khái niệm
đã được PGS.TS Trần Nho Thìn nhắc đến trong công trình nghiên cứu
“Phương pháp tiếp cận văn hoá trong nghiên cứu giảng dạy văn học” Qua đó
giúp chúng ta có cái nhìn khái quát về văn hoá ứng xử giới trong suốt chiều dài tiến trình văn học từ văn học dân gian, văn học trung đại và văn học hiện đại Giáo sư Trần Nho Thìn đã đưa ra một nhận định về việc tiếp cận văn bản dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới cần phải chú ý đến sự tương tác giữa cả hai hình tượng nhân vật nam và nữ, sự quy định lẫn nhau trong không gian văn hoá của bối cảnh thời đại (Trần Nho Thìn, 2018) Điều này khác biệt hoàn toàn so với những quan điểm trước đó Đây cũng chính là thông điệp cơ bản của công trình nghiên cứu này Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đó vẫn còn mang tính khái quát
và chưa tập trung cụ thể vào một tác phẩm nào
Nguyễn Đăng Na cũng là một người dành nhiều tâm huyết khi nghiên cứu
về Truyền kì mạn lục Ở bài viết “Truyện ngắn trong sự phát triển của văn xuôi
tự sự Việt Nam trung đại”, nhà nghiên cứu chia nhân vật nữ trong Truyền kì mạn lục thành ba kiểu nhân vật “có thể hạnh phúc” và đưa ra hướng tiếp cận
từ hai góc độ chính là thi pháp học và xã hội học Ngoài ra, ông đã ít nhiều dứng từ góc độ nữ giới để nhìn nhận số phận người phụ nữ Tuy nhiên ở công trình này nhà nghiên cứu cũng chưa đặt ra vấn đề nghiên hệ thống nhân vật ở mức độ khái quát, toàn diện cả hai giới
Trang 15Tóm lại, đã có không ít những nhà nghiên cứu với những bài viết có quy
mô về “Truyền kỳ mạn lục” và bước đầu đề cập đến khái niệm văn hoá ứng xử
giới, tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa thật chú ý đến vai trò của hình tượng người nam và người nữ trong tác phẩm dưới sự chi phối của khái niệm “giới” nhằm làm tròn chức năng, nghĩa vụ với xã hội Trường quan sát của những nhà nghiên cứu này không hoặc ít bao hàm vấn đề về giới Chính vì thế mà luận văn của chúng tôi hy vọng sẽ góp phần làm gợi ra hướng nghiên cứu về văn hoá ứng xử giới theo hướng toàn diện và khái quát dưới góc nhìn của nhân vật
nam và nhân vật nữ trong một tác phẩm cụ thể - mà ở đây là “Truyền kì mạn
lục” để giúp người đọc thấy thêm những phương diện và chức năng khác của
hai kiểu nhân vật trên trong tập truyền kì này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là nhân vật nam và nhân vật nữ trong
tác phẩm“Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ
Để có cái nhìn đầy đủ và khách quan hơn, chúng tôi chọn nghiên cứu thêm hình tượng nhân vật nam và nữ trong một vài tác phẩm văn học Việt Nam trung đại – đặc biệt là một số khúc ngâm và truyện thơ Nôm tiêu biểu và tư liệu lịch
sử, tư liệu văn hoá để so sánh khi cần thiết Một số tư liệu tiêu biểu là: Truyện
Kiều – Nguyễn Du, Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu, Chinh phụ ngâm khúc
(Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều),
Phạm Công – Cúc Hoa (khuyết danh),…
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Hình tượng nhân vật trong Truyền kì mạn lục dưới góc nhìn
văn hoá ửng xử giới”, chúng tôi sẽ khảo sát và phân tích thông qua hai mươi câu chuyện trong tác phẩm:
1 Hạng Vương từ ký (Câu chuyện ở đền Hạng Vương)
2 Khoái Châu nghĩa phụ truyện (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu)
Trang 163 Mộc Miên thụ truyện (Chuyện cây gạo)
4 Trà Đồng gián đán lục (Chuyện gã trà đồng giáng sinh)
5 Tây Viên kỳ ngộ kí (Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây)
6 Long Đình đối tụng lục (Chuyện đối tụng ở Long cung)
7 Đào Thị nghiệp oan ký (Chuyện nghiệp oan của Đào Thị)
8 Tản Viên từ phán sự lục (Chuyện Chức Phán sự đền Tản Viên)
9 Từ Thức Tiên hôn lục (Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên)
10 Phạm Tử Hư du thiên tào lục (Chuyện Tử Hư lên chơi Thiên tào)
11 Xương Giang yêu quái lục (Chuyện yêu quái ở Xương Giang)
12 Na Sơn tiều đối lục (Chuyện đối đáp của tiều phu ở núi Na)
13 Đông Triều phế tự lục (Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều)
14 Thuý Tiêu truyện (Chuyện nàng Thuý Tiêu)
15 Đà giang dạ ẩm ký (Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang)
16 Nam Xương nữ tử truyện (Chuyện người con gái Nam Xương)
17 Lý Tướng quân truyện (Chuyện Lý tướng quân)
18 Lệ Nương truyện (Chuyện Lệ Nương)
19 Kim Hoa thi hoại ký (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa)
20 Dạ Xoa bộ soái lục (Chuyện tướng Dạ Xoa)
Bên cạnh đó ở chương ba, chúng tôi còn sử dụng thêm một số truyện thơ
Nôm và các khúc ngâm như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Thoại Khanh – Châu
Tuấn, Phạm Công – Cúc Hoa, Nhị độ mai, Nàng Phương Hoa, Hoàng Trừu, Cung oán ngâm khúc,… đối sánh với Truyền kì mạn lục, để cung cấp một cái
nhìn khái quát và toàn diện hơn về nội dung của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp tiếp cận văn hoá học, phương pháp hệ thống, phương pháp
so sánh kết hợp với thao tác thống kê
Trang 17- Phương pháp tiếp cận văn hoá học: Trong xã hội phong kiến Việt Nam,
sự ảnh hưởng của Nho giáo là rất lớn Do đó, xã hội Việt Nam truyền thống nếu xét từ quan điểm giới là xã hội nam quyền Đây là một kiểu xã hội mà trong
đó các chuẩn mực đạo đức của người nữ do người nam áp đặt Chẳng hạn như: người nữ phải tiết hạnh, cả đời chỉ được có một chồng duy nhất, “xuất giá tòng phu”, còn người nam thì không bị ràng buộc như vậy; trong tình yêu, nam giới thường là người chủ động, còn nữ giới luôn ở thế bị động… Chính hệ thống giáo lý phong kiến đó đã chi phối cách nhìn nhận, cách đánh giá của xã hội đối với vai trò của nam và nữ trong xã hội phong kiến Bởi vậy phương pháp này giúp người viết luận văn có góc nhìn cụ thể về bối cảnh thời đại
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: giúp người viết luận văn có cái nhìn khách quan và toàn diện trong quá trình nghiên cứu Chúng tôi so sánh nhân vật trong câu chuyện này với nhân vật trong câu chuyện khác hoặc so sánh nhân vật của Nguyễn Dữ với nhân vật của tác giả khác để thấy được các mối liên hệ
đa dạng, đa chiều cũng như nét chung, nét riêng độc đáo của hình tượng nhân
vật nam và nữ Chúng tôi dự kiến sẽ so sánh hình tượng nhân vật trong “Truyền
kì mạn lục” với nhân vật trong một số khúc ngâm và truyện thơ Nôm
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: dựa trên cơ sở đã phân tích, từ đó người viết luận văn đưa ra những đánh giá tổng quan về hình tượng nhân vật trong tác phẩm dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng thao tác thống kê, phân loại: Chúng tôi sử dụng thao tác này để khảo sát và thống kê hình tượng nhân vật nam và
nữ trong “Truyền kì mạn lục”, từ đó phân loại nhân vật, tìm hiểu tính cách, số
phận của họ trong tác phẩm này
6 Đóng góp của luận văn
Với đề tài này, luận văn của chúng tôi mong muốn sẽ đóng góp một phần nhỏ vào cái nhìn khái quát hơn về văn hoá ứng xử giới đặc biệt giữa nam và nữ
trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ nói riêng cũng như trong văn học
Trang 18trung đại nói chung Từ đó tìm hiểu và lý giải cách miêu tả, cách nhìn nhận về vai trò, chức năng của một con người trong xã hội phong kiến Đồng thời, đề tài cũng có một phần đối sánh với các tác phẩm thuộc thể loại truyện thơ Nôm
và ngâm khúc để thấy được sự phát triển cũng như tiếp thu văn hoá ứng xử giới giữa các thể loại từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được triển
khai trong ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương này bước đầu sẽ cung cấp một số kiến thức về tác giả Nguyễn Dữ
và tác phẩm “Truyền kì mạn lục” Nội dung tiếp theo là làm rõ một số khái
niệm, thuật ngữ liên quan đến “giới” và quan niệm “văn hoá ứng xử giới” giữa nam và nữ trong văn học nói chung cũng như trong văn học trung đại nói riêng
Chương 2: Hình tượng nhân vật trong truyền kì mạn lục dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới
Trong chương này chúng tôi sẽ đi khảo sát các hình tượng nhân vật nam
và nữ trong Truyền kì mạn lục dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới, tương ứng
với các đặc điểm trong tư tưởng, giao tiếp Thông qua đó, thể hiện được vai trò, thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị của nam giới và nữ giới trong xã hội phong kiến Đồng thời, cũng sẽ tìm hiểu được nguyên nhân chi phối các biểu hiện đó
để hoàn chỉnh cái nhìn toàn diện hơn về chức năng phận vị của con người theo ứng xử giới trong văn học trung đại
Chương 3: Đối sánh hình tượng nhân vật trong truyền kì mạn lục với hình tượng nhân vật trong một số khúc ngâm, truyện thơ Nôm tiêu biểu
Chương này so sánh hình tượng nhân vật nam và nữ trong “Truyền kì mạn
lục” của Nguyễn Dữ với nhân vật nam và nữ trong một số truyện thơ Nôm và
khúc ngâm tiêu biểu để thấy được các mối liên hệ đa dạng cũng như nét chung, nét riêng độc đáo, sự tiếp thu biểu hiện văn hoá ứng xử giới ở giai đoạn trước
Trang 19và những phát hiện tiến bộ mới mẻ được kế thừa và phát huy ở giai đoạn sau Qua đó, luận văn mong muốn giúp người đọc có được cái nhìn toàn diện về sự tiếp thu và phát triển tư tưởng văn hoá ứng xử giới trong văn học trung đại qua từng thời kì
Trang 20Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái lược về Nguyễn Dữ và tác phẩm “Truyền kì mạn lục”
1.1.1 Tác giả Nguyễn Dữ
Tài liệu về Nguyễn Dữ cũng như cuộc đời và sự nghiệp của ông đến nay không có nhiều Theo các tài liệu ghi chép từ trước đến nay, Nguyễn Dữ là người xã Đường Lâm, huyện Gia Phúc, Hồng Châu, nay là xã Đoàn Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Chưa rõ ông sinh và mất năm nào, chỉ biết ông là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496) Với vốn hiểu biết thâm thuý, có thông tin cho rằng ông có thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Bùi Duy Tân, 2001), cũng có thể là bạn đồng học của Phùng Khắc Khoan (Nguyễn Lộc, 1976) Về vấn đề này, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra các giả thuyết:
- Dựa theo lời của Nguyễn Phương Đề trong “Công dư tiệp kí”, Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục”, Bùi Huy Bích trong “Hoàng Việt thi tuyển” cho
rằng Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm Giả thuyết này hiện đang tồn tại trong Giáo trình của Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
- Lại Văn Hùng dẫn theo Trần ích Nguyên trong “Nghiên cứu so sánh
Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục” lại cho rằng Nguyễn Dữ là người
đồng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông dự đoán “Nguyễn Dữ sinh vào khoảng thập niên cuối thế kỉ XV và mất khoảng thập niên thứ tư thế kỉ XVI, thọ 50 tuổi” và không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Dù còn có những điều không rõ như trên nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng: Nguyễn Dữ sinh ra vào khoảng cuối thế kỉ XV và lớn lên vào nửa đầu thế kỉ thứ XVI Đấy là thời kì nhà nước phong kiến Việt Nam bắt đầu đi vào con đường suy yếu, và sự suy yếu đã nhanh chóng trở nên trầm trọng Chỉ trong vòng ba mươi năm từ khi Lê Thánh Tông mất đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua đã có tới 6 ông vua lên ngôi rồi bị giết hoặc bị phế truất Có vị
Trang 21bị coi là “vua quỷ”, có vị bị coi là “vua lợn” Những gì mà Lê Thánh Tông – vị vua được coi là anh minh số một của nền phong kiến Việt Nam – dầy công xây dựng đã nhanh chóng sụp đổ Lê Hiển Tông đã từng than thở về tình trạng quan trường hư nát và dù đã có chấn chỉnh nhưng vẫn không cứu vãn được tình trạng
suy vi đó “Đại Việt sử kí toàn thư” đã viết: “ Sao mà những kẻ tại chức đều bị
vị, không nghĩ đến phép tắc của triều đình Người vì nước quên nhà thì ít, người
bỏ phận thiếu chức thì nhiều, tha giàu bắt nghèo, không chừa thói cũ tham tiền khoét của vẫn theo lối xưa” Thế rồi “chính sự phiền hà, lòng dân oán hận”, “thổ mộc bừa bãi” lại thêm đại hạn, đói khổ, nhân dân thất nghiệp, trộm cắp nổi dậy
Vua hoang dâm xa xỉ, bất lực hoặc chết yểu Trong “Đại Việt sử kí toàn thư”
có ghi chép rằng: “các quyền thần đánh lẫn nhau, giết nhau dưới cửa khuyết, dây máu chốn kinh sư” Chiến tranh loạn lạc xảy ra khắp nơi: năm 1511, Thân Duy Nhạc dấy quân ở Kinh Bắc, Trần Tuân làm loạn ở Sơn Tây, năm 1512, Nguyễn Nghiêm loạn ở Sơn Tây, Hưng Hoá, năm 1515, loạn Phùng Chương ở Tam Đảo, loạn Đặng Hân, Đặng Ngật ở Thanh Hoá, loạn Trần Công Ninh ở Yên Lãng, Trần Cảo khởi binh đánh nhà Lê Những cuộc chiến tranh ấy đã khiến cho suốt cho cả vùng Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây đến Thanh Hoá và cả kinh đô Thăng Long chìm đắm trong khói lửa chiến tranh Thêm vào nữa là cuộc chiến tranh Lê – Mạc, một cuộc chiến tranh dai dẳng, quyết liệt, một cuộc chiến mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng viết:
Cá đầm, sẻ bụi vì ai đuổi Núi xương, sông máu thảm đầy vơi
(Ngụ ý – Nguyễn Bỉnh Khiêm) Tình trạng ấy gây nên một sự xuống cấp, suy thoái trong hàng ngũ Nho
sĩ Lê Quý Đôn đã từng than thở: “Từ năm Đoan Khánh trở về sau, lời bàn luận sáng suốt bẵng đi, thói cầu cạnh mỗi ngày một thịnh, người có chức ít giữ được phong độ thanh liêm, nhún nhường, trong triều đình không nghe có lời can gián, gặp có việc thì rụt rè, cẩu thả, thấy lúc nguy thì bán nước để toàn thân, dẫu
Trang 22người gọi là bậc danh nho, cũng đều yên tâm nhận sủng vinh phi nghĩa, rồi nào thơ, nào ca, trao đổi, khoe khoang, tán tụng lẫn nhau, tập tục sĩ phu thối nát đến thế là cùng…”
Đứng trước một hiện thực như vậy, những nhà nho có khí tiết không thể tránh khỏi sự ngơ ngác, sự chán chường bởi sự đổ vỡ của niềm tin, lí tưởng Không ít người đã từ quan mà về quê, trong số ấy có Nguyễn Dữ Là con của Nguyễn Tường Phiêu - một bậc đại khoa, tước vị vào hàng nhất phẩm - Nguyễn
Dữ đã cáo quan mà về, phản ứng ấy của ông là biểu hiện của một sự “phát phẫn” của một trí thức, một danh sĩ trước thời cuộc Nguyễn Dữ cảm thấy xã hội ấy
không có chỗ cho mình Cáo quan về, viết “Truyền kỳ mạn lục”, đấy là một
hiện tượng “phát phẫn trứ thư” (phát phẫn viết sách) của ông Nguyễn Dữ đã dồn vào tác phẩm của mình tất cả những điều mắt thấy tai nghe với một mong muốn khuyến khích điều thiện, răn phạt cái ác, thương xót kẻ cùng quẫn, oan khuất
Như vậy, Nguyễn Dữ đỗ đạt và từng làm quan dưới triều Hậu Lê, nhưng chắc chắn không làm quan dưới thời nhà Mạc và có thái độ chống đối tân triều quyết liệt Ông không chọn quê hương, chốn mình sinh ra làm nơi ẩn dật như bao danh sĩ khác Nguyễn Dữ tìm đến ẩn mình nơi núi rừng Thanh Hoá xa xôi
và yên tĩnh Đây là quê ngoại, nơi ông trở về phụng dưỡng mẹ già Nhà Nho ẩn dật Nguyễn Dữ tỏ ra hết sức gắn bó và am hiểu vùng đất này, và nơi đây cũng trở thành không gian cho rất nhiều tác phẩm của ông
Tất cả những điều trên đây giải thích với chúng ta vì sao “Truyền kỳ
mạn lục” tuy là những câu chuyện kì ảo, sưu tầm trong dân gian nhưng lại phản
ánh hiện thực một cách sinh động và sâu sắc Người đọc khi tìm hiểu tác phẩm
này không chỉ có thêm cái nhìn chân thật hơn về bối cảnh xã hội thời đại đương thời, bên cạnh đó còn hoà vào thế giới nhân vật rất phong phú do Nguyễn Dữ xây dựng trong tác phẩm của mình đặc biệt là dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới khá rõ ràng và đặc sắc Có thể nói, đến Nguyễn Dữ, thể loại truyền kì đã
Trang 23đạt đến đỉnh cao, và “Truyền kì mạn lục” cũng được xem là tác phẩm sáng giá
nhất trong sự nghiệp sáng tác văn chương của ông Giáo sư Nguyễn Đăng Na
đã từng nhận xét về tác phẩm này: “Đến với Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ đã
phóng thành công con tàu nghệ thuật văn xuôi tự sự vào quỹ đạo nghệ thuật, bắt đầu cho việc lấy đối tượng là con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh” (Nguyễn Đăng Na, 1997)
1.1.2 Tác phẩm Truyền kì mạn lục
Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Nguyễn Dữ còn để lại duy
nhất một tập truyện văn xuôi chữ Hán “Truyền kì mạn lục” Từ các công trình
nghiên cứu về tác phẩm này cho thấy hiện đang có nhiều văn bản Ngoài bản được khắc in năm 1712 (có bài tựa của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định sơ niên 1547) còn có một số bản chép tay Các bản này ngoài phần nguyên văn chữ Hán của Nguyễn Dữ còn có phần tăng bổ giải âm tập chú có chú thích điển
cố và chữ khó
Dựa vào thời điểm mà Hà Thiện Hán viết lời tựa cho tác phẩm này năm
1547 và kết hợp với tư liệu cuộc đời Nguyễn Dữ, có thể thấy “Truyền kỳ mạn
lục” ra đời vào nửa đầu thế kỷ XVI (khoảng những năm 20 – 30) Đấy là lúc
mà giai cấp thống trị thì tranh giành quyền lực, chém giết lẫn nhau Tất cả đều giả dối, vô đạo, tham lam, độc ác và đều có kết cục bi thảm hoặc bị trừng phạt, hoặc bị phủ nhận, hoặc bị lên án chê cười Trong xã hội ấy, các tầng lớp khác đặc biệt là người phụ nữ chính là nạn nhân đau khổ nhất của thiết chế xã hội, của quan niệm Nho giáo, mọi hành vi ứng xử đều bị chi phối bởi tư tưởng nam quyền khắc nghiệt Trong số ấy, có người được lên xem tiên cảnh, được thành tiên, được giải oan vì đức độ, vì trung thực, vì những phẩm chất tốt đẹp Cũng
có người phải ngậm ngùi đau khổ vì chính những hành động của mình
Về bố cục,“Truyền kì mạn lục” gồm 20 truyện, chia làm 4 quyển Trong truyện có xen những bài thơ, ca, từ, biền văn; trừ truyện số 19 “Kim Hoa thi
thoại kí” (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa) còn lại mỗi truyện đều có “Lời
Trang 24bình” thể hiện chính kiến của tác giả Trong đó nhà văn không bình về nghệ thuật văn chương mà chủ yếu bàn về nội dung, ý nghĩa đạo đức của truyện
Cốt truyện chủ yếu có nguồn gốc từ những câu chuyện được lưu truyền trong dân gian nhưng đã được cải biên để phục vụ cho mục đích của người viết, cũng có nhiều truyện do tác giả sáng tác, hư cấu hoặc vay mượn tình tiết từ truyền kì đời Đường, Minh Tuy nhiên phần sáng tạo của Nguyễn Dữ là hết sức lớn, thể hiện tài năng của tác giả cũng như vị trí và giá trị nghệ thuật lớn lao
của “Truyền kì mạn lục” không chỉ trong sự phát triền của văn xuôi nghệ thuật
Việt Nam mà còn cho cả sự phát triển của thể loại truyền kì khu vực Đông Á
Hệ thống nhân vật của “Truyền kỳ mạn lục” đa dạng phong phú bao
gồm đủ mọi loại từ vua, quan như Hạng Vương, Hồ Tông Thốc, Nguyễn Trung Ngạn, Trụ quốc họ Thân… Đến cả những con người bình thường như Vũ Thị
Thiết, Thị Nghi, Đào Thị, Lệ Nương,… Phần lớn các nhân vật trong “Truyền
kỳ mạn lục” là những con người thuộc tầng lớp bình dân, trí thức bình dân hoặc
phụ nữ … “Nếu Lê Thánh Tông hướng văn học vào việc phản ánh con người, lấy con người làm đối tượng trung tâm phản ánh thì, Nguyễn Dữ đi xa hơn một bước: phản ánh số phận con người, chủ yếu là số phận bi kịch của người phụ
nữ Nhờ đó mà Nguyễn Dữ đã mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam thời trung đại Thông qua số phận các nhân vật, Nguyễn Dữ đi tìm lời giải đáp của xã hội: Con người phải sống ra sao để có hạnh phúc? Làm thế nào để nắm bắt hạnh phúc? Hạnh phúc tồn tại ở thế giới nào? (Thiên tào, cõi tiên, cõi trần, thế giới bên kia?) Nguyễn Dữ đưa ra rất nhiều giả thiết, nhưng tất cả đều bế tắc” (Nguyễn Đăng Na, 1997)
Về hình thức nghệ thuật, khi viết “Truyền kỳ mạn lục” nhà văn Nguyễn
Dữ đã “tuân thủ những nguyên tắc loại hình được chấp nhận bằng văn ngôn, song chỉ tuân thủ bề ngoài Ông đã phá vỡ những quy tắc lâu đời về hình thức thể loại và tạo ra những tác phẩm theo kiểu tự do hơn Tập hợp từ “mạn lục” trong nhan đề đã chỉ ra sự độc đáo về loại hình tác phẩm” (Bùi Duy Tân, 1992)
Trang 25Ý kiến đánh giá này đã khẳng định sự sáng tạo của Nguyễn Dữ về phương diện nghệ thuật truyền kỳ Nguyễn Dữ là tác giả đầu tiên khẳng định vị trí của thể truyền kỳ trong văn xuôi Việt Nam, đưa vào thể loại này những yếu tố của văn học dân gian tạo ra màu sắc riêng của thể loại truyền kỳ Việt Nam Nói như giáo
sư Bùi Văn Nguyên thì “Tất cả hai mươi truyện trong “Truyền kỳ mạn lục”, nếu
được phân tích tỉ mỉ, bộc lộ ít nhiều yếu tố văn học dân gian đúng với bút pháp của thể truyền kì” (Bùi Văn Nguyên, 1986) Rõ ràng có một sự kết hợp hài hoà giữa thể loại truyền kỳ – một thể loại ngoại lai với các yếu tố của văn học dân tộc trong ngòi bút của Nguyễn Dữ
Với nội dung phong phú, mang tính hiện thực cao, cùng thủ pháp nghệ
thuật đặc sắc, “Truyền kỳ mạn lục” thực sự trở thành áng văn “thiên cổ kỳ bút” Chắc chắn rằng, càng nghiên cứu “Truyền kỳ mạn lục” chúng ta sẽ càng phát
hiện ra giá trị muôn mặt của nó và cũng từ đó càng hiểu hơn những điều mà Nguyễn Dữ gửi gắm với bao thế hệ mai sau
1.2 Khát quát về “giới”
1.2.1 Khái niệm “giới”
Trong các công trình nghiên cứu, có nhiều định nghĩa về khái niệm
“giới” Ở đây, chúng tôi không đi sâu phân tích từng định nghĩa mà chỉ hướng tới đưa ra một quan niệm đáng tin cậy nhằm làm chỗ dựa trong quá trình thực hiện luận văn này
Theo M.L Andersen - một giáo sư xã hội học, định nghĩa giới được hiểu như sau: “Giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi được tạo nên với hai giới tính Trong khi con trai và con gái là những yếu tố sinh học thì việc trở thành một phụ nữ hay một nam giới là một quá trình văn hóa” (Hoàng Bá Thịnh, 2008) Như vậy theo M.L.Andersen khái niệm “giới”
bị chi phối bởi hoàn cảnh văn hoá xã hội
Một định nghĩa khác được sử dụng trong bài báo của GS.TS Lê Thị Quý: “Giới là những khác biệt giữa nữ giới và nam giới trong cùng hộ gia đình,
Trang 26trong và giữa các nền văn hóa, là cấu trúc xã hội - văn hóa có thể biến đổi theo thời gian Những khác biệt này được phản ánh trong các vai trò, trách nhiệm, khả năng tiếp cận các nguồn lực, những sức ép, những ưu tiên, các nhu cầu, nhận thức và quan điểm… được thấy trong cả hai giới Do vậy, giới không đồng nhất với phụ nữ
mà được xem là cả nữ giới và nam giới cùng những mối quan hệ tương tác của họ”
Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam định nghĩa: “Giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ Xã hội tạo ra gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được” (Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, 2005)
Một số định nghĩa trên đây về giới cho phép ta hình dung cách tiếp cận đa dạng về thuật ngữ này Tuy nhiên, chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng:
“Khái niệm giới không chỉ đề cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và
nữ Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho mỗi giới Những quy định/mong đợi xã hội này phù hợp với các đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo; vì thế
nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có khác biệt giữa các cộng đồng, xã hội” (Hoàng Bá Thịnh, 2008)
Như vậy khái niệm “giới” mà chúng tôi đề cập trong luận văn này sẽ
là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ như vai trò, thái độ, hành
vi ứng xử và các giá trị Vì vậy, “giới” là sản phẩm của xã hội - văn hóa
Nghiên cứu về giới không phải xu hướng mới trong lịch sử nhân loại học Nó có thể đã được nói đến từ thời cổ đại cả ở phương Đông lẫn phương
Tây Paul Rakita Goldin, tác giả cuốn “Văn hóa giới ở Trung Hoa thời cổ đại”
khẳng định “Các học giả Trung Hoa cổ đại đã bàn luận tới giới tính công khai
và nghiêm túc như một trong những đề tài quan trọng nhất của sự nghiên cứu con người” (Paul Rakita Goldin, 2002) Quả thực, cho đến nay, khoa học về giới đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: Người ta nghiên cứu giới
Trang 27theo quan điểm sinh lý, chỉ ra sự khác biệt về cấu tạo cơ thể, về sức khoẻ, về tính dục giữa nam và nữ để ứng dụng vào y học, sinh học… Người ta cũng có thể nghiên cứu giới theo quan điểm xã hội để ứng dụng trong phân công lao động xã hội giữa nam và nữ, giải quyết vấn đề ngành nghề cho nam và nữ, so sánh và cân đối thu nhập giữa nam và nữ, đo lường độ tuổi nghỉ hưu phù hợp cho nam và nữ,… Giới cũng có thể được nghiên cứu trong tâm lý học để chỉ ra được đặc trưng dị biệt trong tâm lý giữa phái nam và phái nữ,… Giới cũng có thể được nghiên cứu theo quan điểm văn hoá để chỉ ra cái nhìn về giới của nam
và nữ đối với nhau, chỉ ra địa vị gia đình và xã hội của nam giới và nữ giới,
Trong nghiên cứu văn học, người ta có thể vận dụng phương pháp nghiên cứu giới của nhân vật văn học để tìm hiểu các kiểu hình tượng nam/nữ Chẳng hạn, nhân vật người anh hùng Lục Vân Tiên trong tiểu thuyết cùng tên nghĩa khí, có học thức, chính trực, khuôn phép, nhân hậu, trọng ân nghĩa Đó
là hình ảnh của một chàng trai vừa rời trường học bước vào đời, lòng đầy hăm
hở muốn lập công danh, mong thi thố tài năng cứu người, giúp đời, giữa đường bênh vực kẻ yếu, ra tay nghĩa hiệp, “vị nghĩa vong thân”, chiến thắng nhiều thế lực bạo tàn Lục Vân Tiên xứng đáng là hình mẫu lý tưởng cho nam giới trong
xã hội Nho gia lúc bấy giờ Hay nghiên cứu nhân vật phụ nữ như nàng Kiều
trong “Truyện Kiều” từ quan điểm giới, người ta có thể thấy quan niệm trinh
tiết nghiệt ngã của Nho giáo đã trói buộc nàng Kiều, khiến nàng mang mặc cảm tội lỗi vì mình không còn trong trắng, và từ chối sống tình vợ chồng với Kim Trọng sau mười lăm năm ly biệt, chờ đợi Qua đó, hiểu được một cách toàn diện những nguyên nhân dẫn đến bất hạnh của Kiều, từ nguyên nhân xã hội đến nguyên nhân thuộc về quan niệm giới Nói khác đi, vấn đề giới giúp cho việc nhận thức nhân vật toàn diện hơn Trước đây, nhân vật nam hoặc nữ thường chỉ được nhìn theo quan điểm giai cấp, áp bức hay bị áp bức, theo quan điểm đạo đức, đáng khen hay đáng chê thì với điểm nhìn giới, chúng ta thấy thêm những phương diện khác của nhân vật
Trang 281.2.2 Bản chất của “giới”
Vai trò giới được biết đến thông qua quá trình học tập và khác nhau theo từng nền văn hóa và thời gian, do vậy giới có thể thay đổi được Những đặc điểm có thể hoán đổi đó là những khái niệm, nếp nghĩ và tiêu chuẩn mang tính chất xã hội Chúng thay đổi từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác trong một bối cảnh cụ thể của một xã hội, do các yếu tố xã hội, lịch sử, tôn giáo, kinh
tế quyết định Vì vậy, địa vị của người phụ nữ phương Tây khác với địa vị của người phụ nữ phương Đông, địa vị xã hội của phụ nữ Việt Nam khác với địa vị
xã hội của phụ nữ Hồi giáo, địa vị của phụ nữ nông thôn khác với địa vị của phụ nữ vùng thành thị
Quá trình thay đổi các đặc điểm của “giới” thường cần nhiều thời gian bởi
vì nó đòi hỏi một sự thay đổi trong tư tưởng, định kiến, nhận thức, thói quen và cách cư xử vốn được coi là mẫu mực của cả xã hội Sự thay đổi về mặt xã hội này thường diễn ra chậm và phụ thuộc vào mong muốn và quyết tâm thay đổi của con người
Trong văn học, ý thức về giới thường bị chi phối bởi tư tưởng hệ và bị tác động bởi hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội Trải qua những quá trình lâu dài, con người cũng có những quan niệm riêng về chức năng phận vị của mình khi
ý thức về giới Chẳng hạn người phụ nữ trong xã hội phong kiến luôn là nạn nhân của tư tưởng nam quyền, chịu nhiều bất công, ngang trái, thậm chí khi nhắc đến người phụ nữ trong các tác phẩm văn học ở giai đoạn đầu trước thế
kỉ XVI, chúng ta vẫn thấy sự xuất hiện của họ rất mờ nhạt Thay vào đó, hình tượng người nam nhi luôn là đối tượng trọng tâm và được các nhà văn, nhà thơ nhắc đến khá phổ biến Ta sẽ làm một bảng khảo sát để chứng minh điều này:
Trang 29Bảng thống kê tần suất xuất hiện của nhân vật nữ trong một số tập tác
phẩm tiêu biểu trước thế kỷ XVI
Như vậy, có thể nói, trước thế kỷ XVI, người phụ nữ vẫn còn xuất hiện
mờ nhạt trong văn học Việt Nam Sự xuất hiện của họ thường gắn với chức năng giáo huấn đạo đức Những vẻ đẹp hấp dẫn về phương diện giới, những khát vọng, quyền lợi riêng tư của họ cũng chưa được các tác giả thời kỳ này trân trọng và chú ý miêu tả, toàn bộ phẩm chất, giá trị cũng như đời sống tinh thần và thể chất của họ vẫn luôn được nhìn bằng đôi mắt của nam quyền Hình tượng nam giới đóng vai trò chủ đạo trong suốt quá trình này Trong bối cảnh
“văn hoá giới” đặc biệt đó, “Truyền kỳ mạn lục” xuất hiện, với tỉ lệ xuất hiện
giữa nhân vật nam giới và nữ giới được xem là khá đồng đều Đó cũng chính
là điểm mới rất đáng lưu tâm của nhà văn Nguyễn Dữ trong nền văn học nước nhà lúc bấy giờ
Về sau, khi văn học có cái nhìn rộng và cởi mở hơn, người phụ nữ cũng xuất hiện khá phổ biến ngoài ra còn được bộc lộ khát vọng cá nhân, được các nhà văn nhà thơ trân trọng và đồng cảm, chia sẻ nhiều hơn như trong các tác
phẩm: “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn,… Như vậy qua từng giai
Trang 30đoạn, văn hoá ứng xử giới sẽ luôn vận động, phát triển, và yếu tố văn hoá xã hội có vai trò quyết định quá trình thay đổi ấy
1.2.3 Phân biệt “giới” và “giới tính”
Trong đời sống hằng ngày, thuật ngữ giới (gender) thường bị dùng lẫn lộn với giới tính (sex) Thực chất đây là hai phạm trù tương hỗ nhưng không đồng nhất Nếu giới tính chỉ nhấn mạnh đến tính (nam/nữ) (Trung văn dịch là tính biệt) thì giới nhấn mạnh đến sự phân biệt nam/nữ trên cả phương diện xã hội (dịch sang Trung văn có nghĩa là xã hội “tính biệt” - giới tính nam/nữ xét trên phương diện xã hội) Sự khác biệt này đã được Robert Stoller chỉ rõ:
“Trong khi giống gắn liền với đặc điểm sinh lý, giới là yếu tố do văn hoá quy định, gồm toàn bộ những phản hồi được điều kiện hoá đối với cái nhìn của xã hội về tính cách của nam và nữ” (Nguyễn Hưng Quốc, 2005)
Sự khác nhau giữa “giới” và “giới tính” có thể tóm tắt trong bảng dưới đây:
Khái niệm xã hội học
Đây là khái niệm được
nhắc đến trong luận văn
Khái niệm sinh học
Bẩm sinh nghĩa là sinh ra đã có
Đồng nhất
Do các yếu tố sinh học chi phối
Không thể thay đổi
Ví dụ: chỉ có phụ nữ mới có thể sinh con
Giới học thuật phân biệt hai khái niệm sex/gender và chúng tôi cũng sẽ dùng khái niệm tính (chỉ giới tính trên phương diện sinh học) để dịch sex và khái niệm tính biệt (sự khác biệt của giới tính về phương diện văn hoá xã hội, nói cách khác, văn hoá ứng xử giới) để dịch gender (Trần Nho Thìn, 2018)
Trang 31Simone de Beauvoir có một luận điểm rất quan trọng: “Người ta không sinh ra là phụ nữ mà người ta trở thành phụ nữ” Tính biệt không phải là hiện tượng bẩm sinh, tự nhiên như thân thể sinh học mà là một hiện tượng văn hoá
xã hội, được hình thành do nhiều nhân tố như: chính trị, giáo dục, đạo đức, tôn giáo,… Mỗi dân tộc, mỗi thời đại, mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp, lại có văn hoá ứng xử giới khác nhau
Trình bày cụ thể hơn nội hàm của tính biệt, Kimmel Michael viết:
“Tính biệt không đơn giản là một hệ thống phân loại qua đó nam, nữ xét
về mặt sinh học được phân loại, được tách biệt, được xã hội hoá thành các vai trò tương đương Tính biệt còn diễn đạt sự bất bình đẳng phổ quát giữa nam và
nữ Khi chúng ta nói về tính biệt, chúng ta nói về tôn ti, về quyền lực và bất bình đẳng chứ không đơn thuần là khác biệt Do vậy, hai nhiệm vụ của bât cứ nghiên cứu về giới nào, theo tôi đều phải giải thích cả sự khác biệt và sự bất bình đẳng hay nói văn hoa hơn, sự khác biệt và sự thống trị Mọi sự giải thích tổng quát về tính biệt đều phải hướng đến hai vấn đề trung tâm và các vấn đề phát sinh từ chúng” (Kimmel Michael, 2011)
Như vậy, khái niệm giới mà chúng tôi sử dụng bao hàm cả khái niệm giới tính Nó không những chỉ giải thích người đàn ông và phụ nữ ở khía cạnh sinh lý mà còn quan tâm đến cả phương diện văn hóa - xã hội của họ như trong mối quan hệ gia đình, quan hệ nam nữ
1.3 Văn hoá ứng xử giới
1.3.1 Quan niệm về ứng xử của nữ giới thời trung đại
Người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa là những người phải chịu nhiều thiệt thòi, áp bức bóc lột của giai cấp cường quyền, thậm chí cuộc đời họ vướng vào nhiều chông gai, sóng gió Người phụ nữ mang vẻ đẹp thanh thoát, nhẹ nhàng với tâm hồn và tình yêu trong sáng nhưng họ luôn bị các thế lực tàn bạo vùi dập một cách không thương tiếc Sự bất công dưới chế độ phong kiến càng
Trang 32được hiện hữu rõ khi theo tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, họ chỉ coi phụ nữ như tầng lớp cuối của xã hội không có chỗ để họ vực dậy đấu tranh
Người phụ nữ xưa không được làm chủ chính cuộc sống của mình, phải thuận theo những khuôn phép chật hẹp trói buộc cuộc đời họ trong những khung sắt giam giữ tâm hồn họ không có gì gọi là cho riêng mình Đặc biệt khi xã hội phong kiến rất coi trọng “tam tòng, tứ đức” thì đã biến cuộc đời mỗi phụ nữ khi được sinh ra là phải luôn sống hy sinh cho người khác, sống vì người khác không phải cho mình
Tam tòng: tam là ba; tòng là theo Tam tòng là ba điều người phụ nữ
phải theo, gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”
- Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha
- Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng
- Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con
Ở Việt Nam thời trung đại, tư tưởng “Tam tòng” đã ăn sâu vào tiềm thức của toàn xã hội Ngoài phần tích cực là giúp người phụ nữ tự rèn mình theo tiêu chuẩn để hướng tới cái đẹp thì “Tam tòng” đã tạo ra áp lực buộc chặt người phụ nữ vào những khuôn phép khắc nghiệt, khiến họ phải chịu nhiều khổ đau, bất hạnh
Trước lúc theo chồng, người phụ nữ phải phục tùng uy quyền tuyệt đối của người cha, nghe theo lời giáo huấn của cha mà không có quyền nêu chính kiến hay sống theo sở nguyện và khát vọng cá nhân Điều người cha yêu cầu chủ yếu
ở người con gái không phải là tài năng, sắc đẹp hay khát vọng riêng tư của cô ta
mà là những phẩm hạnh đã được tổng kết trong những cuốn sách huấn đạo giới
nữ Người cha cũng là người quyết định toàn bộ việc hôn nhân của con gái, người
phụ nữ “không có quyền tự do đối với việc hôn nhân của mình mà hoàn toàn do
cha mẹ sắp đặt” (Phương Yến, 2008) Khi về nhà chồng, người phụ nữ bị bó buộc bởi quan niệm “xuất giá tòng phu” Quan niệm này buộc người phụ nữ khi lấy chồng phải hoàn toàn phục tùng chồng, tuân theo mệnh lệnh của chồng mà không
Trang 33có yêu cầu ngược lại Dù có lấy phải người chồng không ra gì vẫn phải nhẫn nhục chịu đựng, phải “cắn răng chịu khổ” mà không được lên tiếng kêu than, không được ly hôn Ngoài ra, tư tưởng “Tam tòng” không chỉ yêu cầu người phụ nữ “tòng phụ”, “tòng phu” mà còn đòi hỏi họ phải “tòng tử” khi người chồng qua đời Đây
là luật lệ thể hiện thái độ không tán đồng việc người phụ nữ tái giá Vì vậy, khi tái giá, người phụ nữ không chỉ bị phê phán về phẩm hạnh mà còn bị tước đi những quyền lợi chính đáng: “Một người đàn bà chết chồng thì luật bắt phải ra tay không, giao gia tài cho bên chồng, dầu của ấy là của vợ chồng đồng công mà tạo lập ra cũng mặc Chồng chết, có con trai mà đi lấy chồng để kiếm phương kế nuôi con, sau lại về ở với con trong nhà chồng trước, luật cũng không nhìn người đàn bà ấy
là vợ người chồng trước nữa, chết đi, không được thờ chung với chồng vào từ đường” (Phan Khôi, 1929) Quan niệm yêu cầu người phụ nữ “tòng tử” chính là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng sùng bái người đàn bà thủ tiết mà chúng tôi sẽ nói
rõ hơn khi phân tích hình tượng người liệt nữ trong phần sau
Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ
nữ phải có, là: công – dung – ngôn – hạnh
- Công: khéo léo trong việc làm
- Dung: hòa nhã trong sắc diện
- Ngôn: mềm mại trong lời nói
Trang 34Công là đủ mùi xôi, thức bánh, Nhiệm nhặt thay đường chỉ mũi kim
Dung là mặt ngọc trang nghiêm, Không tha thiết, không chiều lả tả
Ngôn là dạy trình thưa vâng dạ Hạnh là đường ngay thảo kính tin Xưa nay mấy kẻ dâu hiền
Dung, công, ngôn, hạnh là tiên phàm trần
(Gia huấn ca – Nguyễn Trãi)
Tuân theo công, dung, ngôn, hạnh, người phụ nữ phải học hỏi, làm theo
mong muốn của nam giới từ cách nấu nướng, may vá sao cho khéo léo:
Đồ ăn thức nấu cho vừa, Thường thường giữ lấy muối dưa ngon lành
Nghề bánh trái chiều thanh vẻ lịch, Cũng học dần thói cách người ta,
Vá may giữ nếp đàn bà, Mũi kim nhỏ nhặt mới là nữ công
(Gia huấn ca – Nguyễn Trãi)
Đến cách điểm trang dung mạo sao cho đoan trang, không được mỹ miều, chải chuốt:
Ăn mặc chớ mỹ miều chải chuốt, Hình dung đừng ve vuốt ngắm trông, Một vừa hai phải thì xong,
Giọt dài giọt ngắn cũng không ra gì?
(Gia huấn ca – Nguyễn Trãi)
Trang 35Rồi cách nói năng sao cho dịu dàng, hoà mục:
Nói đừng chau mặt, chau mày, Nghe ra ngậm đắng nuốt cay hay nào Sách có chữ "nhập gia vấn húy”
Khi nói năng phải kỹ kiêng khem Dịu dàng tiếng thuận lời mềm,
Cứ lời chồng dạy mới yên cửa nhà (Gia huấn ca – Nguyễn Trãi)
Và cách ứng xử sao cho cung phụng, nhu thuận người chồng:
Phận con gái ở nhà thi lễ, Lắng mà nghe kể chuyện tam cương:
Dẫu ái ân cùng chiếu cùng giường, Đạo chồng sánh quân thân chi đạo
(Gia huấn ca – Nguyễn Trãi) Li-Hsiang trong công trình nghiên cứu “Khổng giáo và người phụ nữ -
một cách giải thích triết học” đã khẳng định: “Không giống như nam giới,
người phụ nữ tài năng và có học thức không được chính thức ra ngoài xã hội
để triều đình có thể sử dụng, để tài năng, và học vấn của họ có thể được khẳng định Do không có cơ hội được chứng minh, trình độ học thức cao của người phụ nữ thường bị coi là một sự dư thừa và vô dụng không mang tính xã hội, không phù hợp với tính chất giới hoặc những điều tốt đẹp được mọi người chấp nhận” (Rosenlee & Li-Hsiang Lisa, 2006) Rõ ràng không phải người phụ nữ không có đủ tài năng để hoạt động trên lĩnh vực giáo dục và chính trị mà chính thành kiến về giới tính đã tạo một rào cản vững chắc để kìm hãm họ
Tóm lại, đề cao “Tam tòng”, “Tứ đức” ở người phụ nữ là một trong những đặc điểm quan trọng trong hệ thống quan điểm văn hóa về nữ giới ở Việt Nam thời trung đại Quan điểm này yêu cầu một chiều ở người phụ nữ sự phụ thuộc nam giới hoàn toàn và phải rèn mình theo tiêu chí nam giới yêu cầu mà
Trang 36không yêu cầu ngược lại ở người đàn ông Bên cạnh một vài nét tích cực có thể chấp nhận được, “Tam tòng” “Tứ đức” về cơ bản là hệ thống tư tưởng gây ra nhiều bất công, bất lợi cho người phụ nữ, đặc biệt khi nó bị nam giới lạm dụng, yêu cầu đến mức cực đoan Theo tiêu chí của nhà Nho, những người phụ nữ chính diện lý tưởng thường là những người tuân theo công thức “Tam tòng”,
“Tứ đức” như đã phân tích trên đây, ngược lại những người phụ nữ không tuân theo chuẩn mực nghiêm ngặt này bị Nho gia coi là người phụ nữ phản diện
Xây dựng hình tượng người phụ nữ trong “Truyền kỳ mạn lục”, Nguyễn Dữ
chưa thoát khỏi ảnh hưởng của tư tưởng này
Điều này đã được thể hiện rất nhiều qua các tác phẩm văn học viết về chủ
đề người phụ nữ:
Con ơi mẹ bảo đây này Học buôn học bán cho tày người ta Con đừng học thói chua ngoa
Họ hàng ghét bỏ người ta chê cười
Dù no dù đói cho tươi Khoan ăn bớt ngủ, liệu bày lo toan Phòng khi gánh vác việc làng Tiếng thơm lưu lại rỡ ràng mẹ cha Trước là đẹp mặt cho chồng Sau là họ mạc cũng không chê cười…
(Ca dao)
1.3.2 Quan niệm về ứng xử của nam giới thời trung đại
Ở phương Đông, theo hệ tư tưởng Nho giáo nam giới thường là trụ cột của gia đình, là trụ cột của mọi mối quan hệ Trong xã hội phương Đông ca ngợi nhiều danh tướng tài giỏi như Tần Thủy Hoàng, Quan Vân Trường, Khổng Minh…; ở Việt Nam có Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần
Trang 37Quốc Toản, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi… Họ là những vị tướng tài ba, những con người xuất chúng, đem lại tiếng thơm cho muôn đời sau,…
Trước thế kỉ XVIII, nổi bật trong các tác phẩm văn chương trung đại là hình ảnh của các vị anh hùng hào kiệt giúp dân cứu nước, các đấng trượng phu hào hiệp, các bậc quân tử khẳng khái Đến thời Lê, Nho giáo giành được địa vị độc tôn, trở thành ý thức hệ chính thống của dân tộc từ thời Lê Thánh Tông Giới trí thức và cũng là bộ phận tác giả văn học chủ chốt của thời kỳ này là nhà nho Học thuyết Nho giáo, với sự phân chia trật tự xã hội theo triết lý âm/dương, những lý tưởng “tam cương”, “ngũ thường” áp đặt đối với nam giới và đạo
“tam tòng”, “tứ đức” ràng buộc người phụ nữ khiến sự phân biệt giữa nam và
nữ càng trở nên triệt để Nam tôn nữ ty, nam cao nữ thấp, nam ngoại nữ nội
là những quy tắc mặc nhiên được thừa nhận và tuân thủ Đàn ông là giới nắm đặc quyền về mọi mặt chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa Chỉ có đàn ông mới được đi học và tham gia vào những kì thi chọn người ra làm quan Vì thế, lực lượng sáng tác tuyệt đại đa số vẫn là các nhà nho nam giới và mẫu hình con người lý tưởng trong văn học thời kỳ này là bậc thánh nhân, người quân tử
*Người quân tử trong học thuyết Nho giáo
Khổng Tử dạy: người quân tử không thuần túy chỉ địa vị xã hội của người
đó, mà chủ yếu chỉ phẩm chất đạo đức mà người đó đạt được Ông cho rằng:
“Tề Cảnh Công có một ngàn cỗ xe bốn chỗ nhưng sau khi chết, dân không thấy
có công đức gì mà khen Bá Di và Thúc Tề chết đói ở chân núi Thú Dương, nhưng đến nay dân hãy còn ca ngợi “Thành bất dĩ phú, diệc chi dĩ dị” (thật chẳng vì giàu, chỉ vì đức lạ) Có lẽ là nói về điều này chăng” (Nguyễn Hiến Lê, 2002)
Khi đề cập đến mẫu người quân tử, Khổng Tử thường đưa ra những tiêu chuẩn khác nhau, song chung quy lại, người quân tử phải đạt được chín điều sau:
Trang 38(1) Nhìn thì phải để ý nhìn sao cho sáng;
(2) Nghe thì phải lắng tai nghe cho rõ ràng;
(3) Sắc mặt phải giữ cho ôn hòa;
(4) Tướng mạo thì phải giữ cho khiêm cung;
(5) Nói năng phải giữ bề trung thực;
(6) Làm việc phải trọng sự kính cẩn;
(7) Có điều nghi hoặc thì phải hỏi han;
(8) Khi giận thì nghĩ đến sự hoạn nạn có thể xảy ra;
(9) Thấy lợi thì phải nghĩ tới điều nghĩa
Theo Khổng Tử, chín điều này phải có sự hài hòa với nhau mà ông gọi là
“trung dung” Để đạt được những điều này, trước hết người quân tử phải rèn luyện được 5 đức cơ bản: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Đây cũng là tư tưởng xuyên suốt đạo làm người của Nho giáo nói riêng, hệ thống tư tưởng Nho giáo nói chung
Người quân tử theo Nho giáo phải biết giữ đức nhân của mình, có thể vì nhân mà sát thân chứ không thể vì thân mà hại nhân Để gìn giữ đức nhân người quân tử phải tự kiềm chế mình để tuân theo lễ tiết của xã hội, vững vàng như núi trước mọi thử thách của cuộc đời “Khắc kỷ phục lễ vi nhân”, tức là điều gì không hợp với lễ thì đừng nhìn, đừng nghe, đừng nói, đừng làm Theo Khổng
Tử, là người ai cũng có nỗi sợ hãi của mình, bản thân ông cũng nói nhiều đến chữ “sợ” (úy); nhưng không có chỗ nào ông khuyên người ta tham sống sợ chết
cả Ngược lại, ông còn khuyên người có nhân và chí khí thì phải biết chọn cái chết một cách xứng đáng: “Người có chí khí và người có đức nhân không tham sống mà hại người Họ phải xả thân để thành nhân” Để đạt được tất cả những phẩm chất đạo đức đó, để hành động như một người quân tử giúp đời, Khổng
Tử cho rằng, người quân tử phải luôn lấy “tu thân” làm đầu Tu thân là cơ sở
để xây dựng nhân cách cho mình, để hành đạo giúp đời (tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải “hành
Trang 39đạo” Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và “Đạo” ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng và cần phải tuân theo
Những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo được tóm gọn lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Nho giáo “đào tạo” ra những người nam nhi mang trong mình tinh thần, trách nhiệm cao cả, một sứ mệnh thiêng liêng với xã hội là lãnh đạo và cầm quyền Người quân tử
ra làm quan, cai trị theo kiểu Nho giáo chính là lí tưởng của đạo Nho Yêu cầu của Nho giáo về tiêu chuẩn đạo đức để con người tu thân là rất toàn diện Không những đề cao tinh thần tu thân, bản thân Khổng Tử còn là một tấm gương về tu thân Ông muốn cả xã hội tu thân để tạo thành một “vương quốc của người quân tử”
Trong mối quan hệ giữa vua và bề tôi, nguyên tắc đạo đức của Nho giáo,
về cơ bản, là quân nhân thần trung Cả quân và thần đều phải đáp ứng những yêu cầu sau:
Thứ nhất, phải chính danh Đứng trước thực trạng xã hội rối ren, Khổng
Tử cho rằng, đó không phải là nguyên nhân một sớm một chiều, mà là một quá trình bắt nguồn từ sự sa đọa của các thế lực cầm quyền, làm cho “danh” không được “chính”, tức là “danh” không phù hợp với “thực” Vì vậy, ông yêu cầu vua trước hết phải “chính danh” Chính danh là “vua cho ra vua”, nếu danh bất chính thì lời nói không đúng đắn, dẫn đến việc làm sai, khi đó người với người trong xã hội không kính trọng nhau, không còn hòa khí, luật pháp lỏng lẻo và người dân sẽ mất nơi tin cậy, nhờ vả Khi dân không còn trông cậy, nhờ vả, thì dân sẽ không còn tin ở bậc cầm quyền, lúc đó dù muốn hay không thì xã tắc cũng khó tránh bề suy sụp (Nguyễn Hiến Lê, 2002)
Trang 40Thứ hai, phải có sự tôn trọng của cả hai phía với nhau Khổng Tử yêu cầu:
“Nhà vua sai khiến bề tôi thì dựa vào điều lễ, bề tôi phụng sự nhà vua thì dựa vào điều trung” (Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung)
Thứ ba, cả vua và bề tôi đều được Khổng Tử coi là người cầm quyền; họ phải đạt được cả nhân đạo và thiên đạo Bởi lẽ, một ông vua đồng thời cũng phải là người thầy của dân, phải là người nhân đức nhất trong những người nhân đức Người làm chính trị mà có đức nhân thì như đứng vào vị trí của sao Bắc đẩu, vị trí mà tất cả các ngôi sao khác đều phải hướng đến Vua phải đảm bảo cho dân được no ấm, phải xây dựng được lực lượng quân sự hùng hậu và đặc biệt, phải có được lòng tin của dân Không những thế, vua phải làm cho dân giàu và biết giáo hóa dân Vua sáng còn là người biết trọng dụng người đức
độ, tài năng, phải biết rộng lượng đối với bề tôi của mình Vua phải là người hết lòng vì dân chúng Mạnh Tử đã khuyên các bậc vua chúa: “Ngài vui cái vui của dân thì dân cũng vui cái vui của mình, ngài lo cái lo của dân thì dân cũng
lo cái lo của mình Vì thiên hạ mà vui, vì thiên hạ mà lo, thế mà không làm vương thì chưa có vậy”
Trong đạo làm tôi, Khổng Tử đề cao chữ “Trung”, nhấn mạnh lòng biết
ơn, sự phục tùng, tinh thần phục vụ hết lòng hết sức của bề tôi đối với vua, với quốc gia Theo ông, người làm tôi, làm quan trước hết phải là người có đức trong mọi hành động, có thái độ đúng ở mọi nơi, mọi lúc, chứ không phải khi nhận chức tước mới là làm quan Khi chứng kiến cảnh xã hội có chiến tranh, huynh đệ tương tàn, Mạnh Tử đã phê phán những kẻ làm quan mà không đúng danh phận của mình, chỉ biết hùa theo điều ác của vua, phò vua chỉ biết sửa soạn binh đao đi đánh chiếm nước khác, gây chiến tranh Ông kết tội: “Hùa theo điều ác của vua mà không can ngăn là tội nhỏ, xúi giục điều ác của vua là tội lớn Những quan đại phu thời nay đều xúi giục điều ác của vua, cho nên bảo rằng quan đại phu thời nay là người có tội lớn” (Giản Chi & Nguyễn Hiền Lê, 2005) Với lời kết tội này, ông đã nêu lên tư tưởng về “Đạo làm quan”: “Khi