Kết quả nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên tại thành phố Phan Rang - Tháp Chàm ..
Trang 1Cao Thị Phước
GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Cao Thị Phước
GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VŨ THỊ NGÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Cao Thị Phước
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên” được hoàn thành tại Khoa Giáo dục Mầm non, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô, Khoa Giáo dục Mầm non, trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện giúp em trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Em xin bày tỏ tâm tình biết ơn sâu sắc đến TS Vũ Thị Ngân, Cô đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo, động viên, khích lệ em vượt qua mọi khó khăn nhất là trong thời gian đại dich covid -19 bùng phát
Tôi xin chân thành cảm ơn sự gúp đỡ nhiệt tình của Cán bộ quản lý, các Giáo viên dạy trẻ 5 - 6 tuổi của các trường mầm non Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm Đặc biệt trường mầm non Sơn Ca và trường mầm non Ánh Sáng
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý Soeurs trong nhà dòng, những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn động viên, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành nghiên cứu luận văn
Tác giả luận văn
Cao Thị Phước
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN 8
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 8
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 11
1.2 Lý luận giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 15
1.2.1 Khái niệm giáo dục 15
1.2.2 Khái niệm giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường 16
1.2.3 Khái niệm hoạt động khám phá thiên nhiên 19
1.2.4 Khái niệm giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 22
1.2.5 Vai trò của hoạt động khám phá thiên nhiên trong việc giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 23
1.2.6 Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 26
Trang 61.3 Lý luận quá trình giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo
5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên theo quan điểm giáo
dục lấy trẻ làm trung tâm 30
1.3.1 Mục tiêu giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo thông hoạt động khám phá thiên nhiên 30
1.3.2 Nội dung giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 31
1.3.3 Phương pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 33
1.3.4 Hình thức giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 34
1.3.5 Phương tiện giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 37
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM 40
2.1 Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên tại thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 40
2.1.1 Mục đích khảo sát thực trạng 40
2.1.2 Nội dung khảo sát thực trạng 40
2.1.3 Đối tượng khảo sát 40
2.2 Phương pháp khảo sát 42
2.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi 43
2.2.2 Phương pháp quan sát 43
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động (hồ sơ giáo viên) 44
2.2.4 Phương pháp xử lí số liệu 45
2.3 Tiêu chí đánh giá, thang đánh giá và cách tiến hành đánh giá 45
Trang 72.3.1 Tiêu chí đánh giá 45
2.3.2 Thang đánh giá kỹ năng bảo vệ môi trường của trẻ 5 - 6 tuổi: 46
2.3.3 Cách đánh giá kỹ năng bảo vệ môi trường của trẻ 5 - 6 tuổi 46
2.4 Phân tích kết quả thực trạng tổ chức giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên tại một số trường mầm non thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 47
2.4.1 Kết quả nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên tại thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 47
2.4.2 Kết quả thực trạng kỹ năng tổ chức GDKNBVMT của giáo viên và KNBVMT của trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 67
2.4.3 Kết quả nghiên cứu hồ sơ thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 81
Tiểu kết chương 2 87
Chương 3 THỬ NGHIỆM GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN TẠI TRƯỜNG MẦM NON ÁNH SÁNG, THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM 89
3.1 Cơ sở đề xuất thử nghiệm 89
3.1.1 Cơ sở lý luận 89
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 90
3.2 Nguyên tắc xây dựng phương án thử nghiệm giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 91
3.2.1 Nguyên tắc 1: Đảm bảo quan điểm tích hợp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường với tổ chức hoạt động nhận thức khám phá thiên nhiên 91
Trang 83.2.2 Nguyên tắc 2: Đảm bảo mục tiêu yêu cầu và nội dung giáo dục bảo
vệ môi trường cho trẻ theo chương trình giáo dục mầm non hiện nay 92 3.2.3 Nguyên tắc 3: Dựa vào đặc điểm, kinh nghiệm, khả năng của trẻ 5 - 6
tuổi 93 3.2.4 Nguyên tắc 4: Đảm bảo tính tích cực chủ động, độc lập, sáng tạo
trong hoạt động giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 93 3.2.5 Nguyên tắc 5: Đảm bảo kế hoạch giáo dục kỹ năng bảo vệ môi
trường thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 94 3.2.6 Nguyên tắc 6: Đảm bảo cung cấp đầy đủ môi trường giáo dục kỹ
năng bảo vệ môi trường cho trẻ hoạt động khám phá thiên nhiên phù hợp với điều kiện thực tế của trường, địa phương 95 3.3 Đề xuất Các biện pháp thử nghiệm giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên: 96 3.3.1 Biện pháp 1: Bồi dưỡng lý luận cho giáo viên về mục tiêu, nội
dung, phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 96 3.3.2 Biện pháp 2: Lựa chọn chủ đề phù hợp với hoạt động khám phá
thiên nhiên và xác định mục đích giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi 97 3.3.3 Biện pháp 3: Lập kế hoạch, tổ chức hoạt động giáo dục và hướng
dẫn ứng dụng giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên theo chủ đề “Cây xanh là bạn của chúng mình” 98 3.3.4 Biện pháp 4: Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng bảo vệ
môi trường thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 100 3.4 Tổ chức thử nghiệm 101 3.4.1 Mục đích thử nghiệm 101
Trang 93.4.2 Nội dung thử nghiệm 101
3.4.3 Thời gian thử nghiệm 102
3.4.4 Mẫu thực nghiệm 102
3.4.5 Tiến hành thử nghiệm 102
3.5 Kết quả thử nghiệm 104
3.5.1 Kết quả khảo sát trước thử nghiệm 104
3.5.2 Kết quả khảo sát sau thử nghiệm 109
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 PHỤ LỤC PL1
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thông tin cán bộ quản lý các trường nghiên cứu 41 Bảng 2.2 Thông tin GVMN dạy trẻ 5 - 6 tuổi các trường nghiên cứu 42 Bảng 2.3 Mức độ nhận thức của CBQL và GVMN về mức độ cần thiết của
việc GDKNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua HĐKPTN 47 Bảng 2.4 Nhận thức của CBQL và GVMN về mục tiêu GDKNBVMT cho
trẻ 5 - 6 tuổi thông qua HĐKPTN 48 Bảng 2.5 Nhận thức của CBQL và GVMN về nội dung GDKNBVMT cho
trẻ 5 - 6 tuổi thông qua HĐKPTN 49 Bảng 2.6 Nhận thức của CBQL và GVMN về các chủ đề thường sử dụng để
GDKNBVMT thông qua HĐKPTN cho trẻ 5 - 6 tuổi 50 Bảng 2.7 Nhận thức quan điểm về việc GDKNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi
thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 51 Bảng 2.8 Nhận thức của CBQL và GVMN về hình thức GDKNBVMT cho
trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 52 Bảng 2.9 Nhận thức các phương pháp CBQL và GVMN sử dụng để
GDKNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua HĐKPTN 54 Bảng 2.10 Nhận thức của CBQL và GVMN về điều kiện để GDKNBVMT
cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 58 Bảng 2.11 Nhận thức của CBQL và GVMN về nhưng phương tiện thường
dùng để GDKNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên (Có thể có nhiều chọn lựa) 59 Bảng 2.12 Ở trường MN, CBQL và GVMN thường tổ chức GDKNBVMT
cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động nào? 60 Bảng 2.13 Tại sao cần giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo
5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên? 61 Bảng 2.14 Những hỗ trợ mà GVMN nhận được từ BGH khi tổ chức các hoạt
động GDKNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua HĐKPTN ? 61
Trang 12Bảng 2.15 Những thuận lợi CBQL và GVMN gặp khi tổ chức GDKNBVMT
cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 62 Bảng 2.16 Những trở ngại mà CBQL và GVMN gặp khi tổ chức
GDKNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 64 Bảng 2.17 Kết quả 12 buổi quan sát quá trình tổ chức hoạt động có chủ đích
của giáo viên mầm non 68 Bảng 2.18 Kết quả 12 buổi quan sát mức độ kĩ năng bảo vệ môi trường của
trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động có chủ đích 72 Bảng 2.19 Kết quả 8 buổi quan sát quá trình tổ chức hoạt động ngoài giờ học
có chủ đích của giáo viên mầm non 74 Bảng 2.20 Kết quả 8 buổi quan sát kỹ năng bảo vệ môi trường ngoài giờ học
có chủ đích của trẻ 5 - 6 tuổi 79 Bảng 3.1 Kết quả quan sát kỹ năng bảo vệ môi trường của trẻ 5 - 6 tuổi
thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên trước TN 106 Bảng 3.2 Kết quả khảo sát kỹ năng bảo vệ môi trường của trẻ sau TN 109 Bảng 3.3 So sánh kết quả quan sát kỹ năng bảo vệ môi trường của trẻ trước
TN và sau TN 112 Bảng 3.4 Ý kiến của Cán bộ quản lý và Giáo viên 114
Trang 13DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Mức độ sử dụng các chủ đề của CBQL và GVMN 51
Biểu đồ 2.2 Mức độ nhận thức các hình thức tổ chức của CBQL và GV 53
Biểu đồ 2.3.Mức độ nhận thức các PP mà CBQL và GV thường sử dụng 57
Biểu đồ 2.4 Khó khăn của Cán bộ quản lý và Giáo viên mầm non 66
Biểu đồ 2.5 Mức độ kỹ năng bảo vệ môi trường của trẻ qua 12 buổi QS 73
Biểu đồ 2.6 Mức độ kỹ năng bảo vệ môi trường của trẻ qua 8 buổi QS 80
Biểu đồ 3.1 So sánh mức độ kỹ năng BVMT của trẻ trước và sau TN 113
Trang 14Stockholm năm 1972 về “Môi trường và con người” đã nêu rõ: “Việc giáo dục môi
trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để họ có được đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường”
Hội nghị lần thứ 12 (ngày 23/7/2020) của nhóm công tác ASEAN về giáo dục môi trường, đã đưa ra nội dung liên quan đến các kế hoạch hành động vì môi trường, một lần nữa khẳng định sự cần thiết đẩy mạnh giáo dục bảo vệ môi trường trong các cấp học ở các quốc gia trên thế giới (Monremedia.vn, 2020)
Trong báo cáo đánh gía toàn cầu về đa dạng sinh học (2020), Audrey Azoulay
tổng Giám đốc, UNESCO nhắc nhở: “Các thế hệ hiện tại cần có trách nhiệm truyền
lại cho các thế hệ kế tiếp một hành tinh mà không bị con người hủy hoại quá mức
có thể phục hồi Tri thức khoa học, địa phương và bản địa của chúng ta đã chứng minh rằng chúng ta có giải pháp và vì vậy không lí do bào chữa nào nữa”
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường là một bộ phận không tách rời của sự nghiệp giáo dục, và là nhiệm vụ của toàn dân Giáo dục bảo vệ môi trường đã trở thành chương trình Nghị sự của Chính phủ Việt Nam Luật Bảo vệ môi trường, các Chỉ thị, Quyết định, đã được ban hành Ngành Giáo dục mầm non trong thời gian qua đã triển khai nhiều hoạt động cụ thể nhằm thực hiện Quyết định 1363/QĐ-TTG và Chỉ thị 02/2005/CT-BGD & ĐT của Thủ tướng Chính Phủ về việc tăng cường công tác tổ chức triển khai các nhiệm vụ về
Trang 15giáo dục bảo vệ môi trường trong các cơ sở giáo dục Tuy nhiên, công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong thời gian qua chưa làm cho học sinh, sinh viên hiểu biết sâu sắc, đầy đủ, cũng như chưa được triển khai một cách thống nhất và rộng khắp (Chỉ thị 02, 2005)
Trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non mới và bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho lứa tuổi mẫu giáo được tích hợp xuyên suốt trong các chủ đề, nhằm giáo dục trẻ kiến thức, kỹ năng và thái độ đối với môi trường trong các hoạt động và trong chế độ sinh hoạt hàng ngày
Chương trình đã triển khai các nội dung với nhiều hình thức, phương pháp để giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ Tuy nhiên, giáo viên mầm non chưa tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, thực hành và đụng chạm với thực tế để giải quyết vấn đề môi trường Do đó, nhận thức, kỹ năng và thái độ bảo vệ môi trường của trẻ còn nhiều hạn chế Trẻ chưa ý thức và chưa phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo trong việc bảo vệ môi trường
Tại thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, trong chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên mầm non năm học 2016 - 2017 đã đưa nội dung giáo dục bảo
vệ môi trường để xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề “Xây dựng trường mầm non xanh - an toàn - thân thiện” Mặc dù, giáo viên mầm non đã nhận thức được sự cần thiết của giáo dục bảo vệ môi trường nhưng chưa đầu tư nhiều về thời gian để nghiên cứu, lên kế hoạch hành động thực hành, trải nghiệm, nhằm giáo dục trẻ bảo
vệ môi trường thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên, mà chỉ truyền đạt đến trẻ những kiến thức qua tranh ảnh, dẫn đến hiệu quả vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra, chưa tương xứng với sự cấp thiết cần giáo dục bảo vệ môi trường trên thực tế (Nguyễn Thị Lý, 2017)
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài nghiên cứu được chọn là: “Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực trạng, đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động
Trang 16khám phá thiên nhiên tại một số trường mầm non Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên tại một số trường mầm non Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm còn có những hạn chế; do nhận thức, do kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức thực hiện GDBVMT của giáo viên chưa phù hợp với yêu cầu giáo dục lấy trẻ làm trung tâm; chưa tích hợp vào các chủ đề và các hoạt động, cũng như chưa phát huy tính tích cực chủ động của trẻ
Nếu xác định được các nguyên nhân và tìm thấy những hạn chế, thì sẽ đề ra được các biện pháp phù hợp nhằm cải thiện thực trạng đó
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
5.2 Khảo sát thực trạng giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo
5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên tại một số trường mầm non Thành phố Phan Rang, Tháp Chàm
5.3 Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động khám phá thiên nhiên tại trường mầm non Ánh Sáng Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Xây dựng và thử nghiệm 8 kế hoạch giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên theo chủ đề “Cây
Trang 17xanh là bạn của chúng mình”
6.2 Giới hạn địa bàn khảo sát
Lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non công lập Sơn Ca và trường mầm non tư thục Ánh Sáng, Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm
6.3 Giới hạn thời gian
Đề tài khảo sát thực trạng trong thời gian từ ngày 05 tháng 01 năm 2021 đến ngày 29 tháng 01 năm 2021
Thử nghiệm 08 kế hoạch từ ngày 14 tháng 6 năm 2021 đến ngày 02 tháng 7 năm 2021
6.4 Giới hạn khách thể
Đề tài khảo sát 97 giáo viên và cán bộ quản lý, trong đó 9 hiệu trưởng, 16 hiệu phó chuyên môn và 72 giáo viên dạy trẻ 5 - 6 tuổi tại 12/18 trường mầm non thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, vì 12 trường này có kế hoạch giáo dục bảo vệ
môi trường và hoạt động khám phá thiên nhiên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lí luận
Mục đích: Nghiên cứu tìm ra những khái niệm cơ bản của đề tài: giáo dục kỹ
năng, bảo vệ môi trường, giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường, hoạt động khám phá thiên nhiên, giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông
qua hoạt động khám thiên nhiên
Cách thực hiện: Thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu lý luận có liên quan
đến đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Mục đích điều tra: Điều tra, thu thập ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên
để thấy được thực trạng nhận thức về quá trình tổ chức giáo dục kỹ năng bảo vệ môi
trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Nội dung điều tra: Dùng phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lý và giáo viên kết
hợp câu hỏi đóng và câu hỏi mở để khảo sát thực trạng quá trình giáo dục kỹ năng
Trang 18bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên
nhiên với 14 câu hỏi cho giáo viên và 13 câu hỏi cho cán bộ quản lý
Mẫu điều tra: 25 cán bộ quản lý, 72 giáo viên dạy trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại
12 trường mầm non thành phố Phan Rang, Tháp Chàm
Cách thực hiện:
Xây dựng và phát phiếu hỏi cho 25 cán bộ quản lý và 72 giáo viên dạy trẻ 5 -
6 tuổi tại 12 trường mầm non Thành phố Phan Rang, Tháp Chàm, sau 3 ngày chúng tôi đến thu lại phiếu
7.2.2 Phương pháp quan sát
Mục đích: Ghi nhận, thu thập, đánh giá thực trạng kỹ năng giáo viên tổ chức
quá trình giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường và làm rõ thực trạng kỹ năng của giáo viên trong thực hiện quá trình giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo
5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Nội dung: Quan sát giáo viên mầm non tổ chức hoạt động giáo dục và kỹ
năng bảo vệ môi trường của trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên
nhiên
Cách thực hiện: Lập phiếu và dự giờ quan sát quá trình giáo viên tổ chức
hoạt động và kỹ năng bảo vệ môi trường của trẻ 5 - 6 tuổi, cùng với các phương tiện như máy chụp hình, điện thoại quay phim, ghi chép, để phân tích kết quả thực trạng
về cách tổ chức giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường thông qua hoạt động khám phá
thiên nhiên của giáo viên và kỹ năng bảo vệ môi trường của trẻ
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động (hồ sơ giáo viên)
Mục đích: Tìm hiểu thực trạng lập kế hoạch tổ chức giáo dục kỹ năng bảo vệ
môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Nội dung: Nghiên cứu thực trạng kế hoạch giáo dục kỹ năng bảo vệ môi
trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên gồm;
mục đích yêu cầu, nội dung, phương tiện và các hoạt động trong kế hoạch
Mẫu nghiên cứu: Kế hoạch năm, tháng của hiệu phó chuyên môn và kế
hoạch giáo dục của giáo viên 2 trường mầm non công lập Sơn Ca và mầm non tư
thục Ánh Sáng trong chủ đề “Nước và hiện tượng tự nhiên”
Trang 19Cách thực hiện: Thu thập và phân tích các yếu tố mục đích yêu cầu, nội
dung, phương tiện, kế hoạch giáo dục
7.2.4 Phương pháp thử nghiệm
Mục đích: Xem xét tính khả thi và hiệu quả của phương án thử nghiệm qua
các kế hoạch giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông
qua hoạt động khám phá thiên nhiên theo chủ đề “Cây xanh là bạn của chúng mình”
Nội dung
Xây dựng quy trình thử nghiệm và tiêu chí đánh giá
Tiến hành thử nghiệm 8 kế hoạch cho trẻ 5 - 6 tuổi của lớp lá 5 tại trường mầm non Ánh Sáng
Mẫu thử nghiệm: Nghiên cứu được tiến hành với 21 trẻ lớp lá 5 tại trường
mầm non Ánh Sáng
Cách thực hiện
Chọn lớp và xây dựng kế hoạch tiến hành thử nghiệm: Chúng tôi chọn lớp Lá
5 trường mầm non Ánh Sáng để thử nghiệm tổ chức hoạt động chủ đề “Cây xanh là bạn của chúng mình”
Lấy ý kiến của hiệu phó chuyên môn, tổ trưởng khối lá, giáo viên lớp thử nghiệm về các kế hoạch giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên theo chủ đề “Cây xanh là bạn của chúng mình”
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: Tìm ra kết quả của quá trình khảo sát thực trạng, kiểm tra kết quả
của quá trình thử nghiệm
Nội dung: Xử lý và phân tích thông tin thu hồi từ bảng hỏi, phiếu điều tra, sổ
tay ghi chép, nhật ký, quay phim
Cách thực hiện: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý thống kê kết
quả khảo sát với hai thông số cơ bản là tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình cho một số nội dung trong phiếu khảo sát Từ đó liên hệ kết quả với lý thuyết, phân tích và lý giải kết quả
Trang 208 Đóng góp của đề tài
Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quá trình giáo dục kỹ năng bảo
vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên
nhiên
Phân tích làm rõ thực trạng giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên và tìm ra nguyên nhân, hạn chế trong việc sử dụng các biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường thông
qua hoạt động khám phá thiên nhiên của giáo viên
Cùng với giáo viên và cán bộ quản lý thảo luận, thiết kế xây dựng kế hoạch
Từ đó giúp giáo viên tổ chức kế hoạch thử nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên theo chủ đề “Cây xanh là bạn của chúng mình” có ý nghĩa và hiệu quả Kết quả thử nghiệm là minh chứng xác thực, khẳng định tính khả thi các biện pháp của đề tài “Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông
qua hoạt động khám phá thiên nhiên”
Trang 21Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là việc làm cấp thiết và quan trọng Lý luận về giáo dục học mầm non khẳng định vai trò quan trọng của việc giúp trẻ hiểu và thực hành kỹ năng bảo vệ môi trường được tiến hành trong cuộc sống và ngang qua cuộc sống Việc làm này có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành nhân cách và phát triển toàn diện cho trẻ Vì thế, các nhà tâm lý học - giáo dục học quan tâm nghiên cứu và đề nghị nhiều nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện khác nhau để giúp trẻ bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Năm 1948, lần đầu tiên trong lịch sử tại cuộc họp Liên Hợp Quốc về bảo vệ môi trường và tài nguyên ở Paris, thuật ngữ “Giáo dục môi trường” được sử dụng Tuy nhiên, ngành khoa học môi trường chỉ thực sự phát triển khi Trái Đất - ngôi nhà chung của toàn nhân loại bị suy thoái nghiêm trọng, gây ra những hậu quả nặng nề
mà con người phải gánh chịu bởi chính mình gây ra Ở nhiều nước trên thế giới, việc bảo vệ môi trường được đưa vào giảng dạy như một môn học chính khóa Cũng có những nước lại đưa vào giảng dạy như một môn học tự chọn Tuy nhiên, nếu chỉ học trên lớp thì chưa đủ mà cần phải được trải nghiệm thông qua mọi hoạt động trong ngày
Các nhà Giáo dục Úc tin tưởng rằng, giáo dục môi trường không phải đợi đến
độ tuổi nào thì tiến hành mới phù hợp Do đó, Cate McQuillan (2009) đã thiết kế, biên soạn kênh truyền hình online Dirtgirlworld là loại phim truyền hình dành cho trẻ nhỏ, nhất là lứa tuổi mẫu giáo nhằm truyền cảm hứng về môi trường, hướng đến cuộc sống hạnh phúc, bền vững (Cynthia Karena, 2010) Chương trình giáo dục bảo
vệ môi trường ở trường mầm non Úc: Trẻ được giáo dục bảo vệ môi trường thông qua việc trồng và chăm sóc cây như: cùng cô làm thức ăn cho cây từ những rác thải
Trang 22trong nhà bếp, lá cây, góp nhặt những vật liệu phế thải như chai lọ làm chậu trồng cây, quan sát sự phát triển của cây, khám phá sự nảy mầm, ra hoa, kết trái và cùng nhau thu hoạch Trẻ được cung cấp kiến thức và trải nghiệm để hiểu vì sao chúng ta nên trồng cây? cây xanh giúp gì trong việc bảo vệ môi trường? Điều này sẽ dẫn dắt trẻ suy nghĩ, khám phá và tìm cách giải quyết các vấn đề môi trường theo quan điểm sáng tạo của trẻ (Sally Sneddon & Anne Pettit, 2016)
Ở Bắc Mỹ và Chương trình giáo dục Ấn Độ có điểm tương đồng Các nhà giáo dục chú trọng vào việc nâng cao trình độ nhận thức và tình cảm của trẻ với môi trường Đặc biệt đề cao việc tổ chức học tập trong bối cảnh cụ thể của địa phương, nơi các em đang sống mà môi trường đã, đang bị ảnh hưởng bởi hoạt động của con người, nhằm cung cấp những kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn và hướng trẻ tìm cách giải quyết vấn đề về môi trường cách thiết thực (Anand & Gopal, 2005)
Cùng trong hướng tích cực đó các nhà Giáo dục Anh cho rằng, quan niệm “nghĩ toàn cầu, hành động địa phương” là thực sự quan trọng, vì trẻ không thể hiểu vấn đề môi trường toàn cầu nếu các cháu không biết về môi trường xung quanh (Juliette Green, 2015) Các nhà Giáo dục Anh rất quan tâm đến GDBVMT bằng trải nghiệm thông qua các hoạt động ngoài trời, vì nó cung cấp cho trẻ nhiều cơ hội đa dạng mà nhà giáo dục có thể sẽ bỏ lỡ như quan sát, khám phá môi trường để có thể thay đổi
cái nhìn một cách tốt hơn (Harold R Hungerford, 2013)
Tại Hà Lan và Tây Ban Nha, chính quyền đã có những chiến lược cụ thể hơn khi đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc gia với các mục tiêu; lập kế hoạch và thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường, thiết lập mối quan hệ giữa các sự kiện và hiện tượng tự nhiên với môi trường xã hội, đóng góp vào việc bảo vệ, bảo tồn, cải thiện các vấn đề về môi trường; giáo dục học sinh hiểu biết về di sản văn hóa, tham gia bảo tồn và cải tiến, tôn trọng thiên nhiên, không chặt phá - khai thác cây cối khi chưa được phép của người có thẩm quyền
Ở Đức và Thụy Điển, nhà nước còn xây dựng quỹ bảo vệ môi trường, đánh thuế ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng Nội dung nâng cao nhận thức về bảo
vệ môi trường phát triển bền vững được ghi trong Đạo luật Giáo dục Ngoài ra, các nhà giáo dục còn đẩy mạnh việc tư vấn, giáo dục trẻ hiểu hậu quả của việc ô nhiễm
Trang 23môi trường và đưa ra những giải pháp cụ thể như tạo không gian xanh những nơi mình sống Họ cho rằng, xây dựng một xã hội mà trong đó vấn đề môi trường phải được giải quyết một cách triệt để (Nguyễn Thị Ngọc Giàu, 2019)
Trong diễn đàn “Môi trường sinh viên Châu Á” tại Nhật Bản (ASEP, 2017), bà Narumi Yoshikawa, giáo viên tại Đại học Waseda đồng thời là người thiết kế chương trình cho biết, ASEP chú trọng vào việc mang lại cho trẻ các kiến thức, trải nghiệm thông qua các hoạt động thực tế như tham quan, trồng cây xanh và tiếp xúc với người dân địa phương, thay vì tập trung vào lý thuyết như phần lớn các chương
trình về bảo vệ môi trường khác “Chính điều này giúp các em tiếp thu nhanh và
hiểu thông điệp bảo vệ môi trường qua việc chăm sóc, bảo vệ thiên nhiên một cách
dễ dàng, gần gũi nhất”
Ở Hàn Quốc, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ với các nội dung như: Tiết kiệm trong tiêu dùng, tái tạo lại những thứ có thể sử dụng, phân loại rác Đặc biệt giáo dục trẻ hiểu giá trị của môi trường trong sạch và có những trải nghiệm thiết thực trong việc bảo vệ, gìn giữ môi trường (Hoàng Thị Thu Hương, Trần Thị Thu Hòa & Trần Thị Thanh, 2008)
Ở Philippines, một số trường học đã tổ chức chương trình học bổng về bảo vệ sinh thái cho những trẻ em nghèo để trả chi phí học tập Maurro and Vivina (2016) trong nghiên cứu Thanh toán học phí thông qua chất thải: Kinh nghiệm của một học sinh nhận học bổng của sinh thái Họ đã khám phá ra rằng những học sinh nhận trợ cấp học bổng đã học được nhiều phẩm chất, giá trị cũng như những kinh nghiệm khó khăn mà họ gặp phải khi làm việc Perdo, một học sinh 6 tuổi chia sẻ, em đã phải đi tìm nhặt những chai lọ nhựa và những vật liệu khác để bán, lấy tiền làm chi phí học tập và sinh sống Sau này, em đã tham gia chương trình học bổng và tham gia các chương trình bảo vệ sinh thái, bảo vệ môi trường (Mauro Allan P Amparado & Vivian Aimee M Diamante, 2016)
Ở Ý chú trọng đến phương pháp giáo dục Montessori với quan điểm chủ đạo:
“Trẻ nhỏ là những người chăm lo cho Trái đất và phải học cách quan tâm, gìn giữ thiên nhiên, đó chính là sự sống” Chúng ta là một phần trong mạng lưới sự sống và
sự tồn tại của chúng ta phụ thuộc vào sự cân bằng mong manh trong thế giới tự
Trang 24nhiên Dạy trẻ không vứt rác bừa bãi, nếu thấy rác trên mặt đất hãy nhặt lên và cầm theo cho đến nơi quy định để vứt rác Nhắc trẻ phân loại rác vì chúng không chỉ làm xấu cảnh quan mà còn làm hại cho các loài động vật (Tim Seldin, 2007)
Phương pháp giáo dục Reggio Emilia đã coi thiên nhiên là người thầy thứ ba và
đã dẫn dắt trẻ khám phá mối liên hệ giữa cây xanh và cuộc sống con người Khám phá những vật liệu từ thiên nhiên, mở ra cho trẻ cơ hội làm giàu thêm kiến thức về
sự phong phú và đa dạng của thế giới Đặc biệt, trẻ biết được cây xanh xả không khí trong lành, hút đi các khí độc hại, điều này đóng góp rất lớn trong việc bảo vệ hành tinh xanh và sức khỏe cho con người (Louise Boyd Cadwell, 2019)
Như vậy, vấn đề bảo vệ môi trường thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
đã được nhiều tác giả và nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và đưa vào thực hiện Đây có thể được coi là một phương tiện hữu hiệu để giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non, nhằm giúp trẻ thấy được sự nối kết giữa thiên nhiên xanh và môi trường liên quan gần gũi và tác động qua lại với nhau Xu hướng này cũng đang được chú trọng tại Việt Nam
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Vấn đề môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường đã thực sự trở thành chương trình Nghị sự của Chính phủ Việt Nam Nước ta coi giáo dục môi trường là một bộ phận không tách rời của sự nghiệp giáo dục và là nhiệm vụ của toàn dân Công tác giáo dục bảo vệ môi trường đã được đặt ra trong các văn bản của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, là cơ sở pháp lí cho việc triển khai công tác giáo dục bảo vệ môi trường trên thực tiễn Cụ thể:
Chỉ thị 36 - CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã coi vấn đề GDBVMT là giải pháp đầu tiên Chỉ thị đề ra 8 giải pháp lớn về BVMT, phát triển bền vững trong thời gian tới ở nước ta, trong đó có nhiều giải pháp liên quan đến giáo dục
Quyết định số 1363/QĐTTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc
Trang 25dân” Mục tiêu của đề án nhằm giáo dục học sinh, sinh viên các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân có hiểu biết về luật bảo vệ môi trường, có kiến thức để thực hiện bảo vệ môi trường
Chỉ thị số 02/2005/CT-BGDĐT ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ giáo dục
và Đào tạo về việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường (trong đó đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm đối với giáo dục mầm non) Ngành giáo dục mầm non trong thời gian qua đã triển khai nhiều hoạt động cụ thể để thực hiện Quyết định số 1363/QĐTTg Các cơ sở đào tạo, giáo viên mầm non đã phối hợp với Vụ giáo dục mầm non đẩy mạnh công tác nghiên cứu, biên soạn, tập huấn cho cán bộ, giáo viên nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non với các công trình như: Năm 1995, Nhà Xuất Bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội với quyển “Các công ước quốc tế về môi trường” tham khảo về luật môi trường trên thế giới
Lê Xuân Hồng trong Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học và Tài liệu về nội dung GDBVMT trong chương trình CĐSPMN - sản phẩm đề tài cấp bộ (2004) đã nghiên cứu biên soạn tài liệu đưa nội dung GDBVMT vào chương trình đào tạo CĐSPMN nhằm trang bị cho sinh viên những hiểu biết cơ bản về các vấn đề của môi trường, kỹ năng nhận biết và tham gia giải quyết các vấn đề môi trường Tài liệu cũng đưa ra những địa chỉ và những nội dung giáo dục cụ thể, có thể lồng ghép vào các bộ môn liên quan để dễ dàng ứng dụng vào chương trình của mình
Lê Thanh Vân (2003 - 2004) cũng nghiên cứu để đưa giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 3 - 6 tuổi trong trường mầm non theo quan điểm tích hợp để lồng ghép giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ trong các chủ đề
Ngoài ra cũng có rất nhiều tài liệu soạn thảo, thiết kế các trò chơi, tranh ảnh giúp trẻ dễ dàng nhớ những thông điệp bảo vệ môi trường thông qua việc chơi mà học (Nguyễn Thị Cẩm Bích & Lương Thị Bình, 2017) Tác giả Kim Phụng (2013) cho thấy, những hành động nhỏ của mỗi người trong cách sinh hoạt và sử dụng các thiết bị điện, nước, chặt cây, đốn rừng bừa bãi hoặc những thói quen sinh hoạt cũng
có tác động không nhỏ đến môi trường Phạm Thị Vui, Nguyễn Đình Việt (2016) thì khuyến khích mọi người, nhất là giáo dục các cháu ở lứa tuổi mầm non tham gia vào các công việc thu gom, phân loại, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác,
Trang 26để hình thành cho trẻ thói quen vệ sinh văn minh trong cuộc sống hàng ngày Đó là cách cụ thể và đơn giản nhất để giáo dục trẻ giữ gìn bảo vệ môi trường
Ý thức được tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ bảo vệ môi trường, tác giả Cao Thị Hồng Nhung (2018) cho rằng, dạy trẻ bảo vệ môi trường là một điều vô cùng cần thiết từ khi trẻ còn nhỏ Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là cung cấp những kiến thức sơ đẳng, cơ bản về môi trường phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ, nhằm tạo ra thái độ và hành vi đúng của trẻ đối với môi trường xung quanh Hoàng Thị Phương (2019), có một cái nhìn sâu sắc hơn khi cho rằng giáo dục môi trường cho trẻ mầm non là giúp trẻ có mối quan hệ giữa con người và môi trường, hình thành một số kĩ năng ứng xử tích cực trong việc giải quyết vấn đề môi trường và bước đầu có thói quen bảo vệ môi trường
Tác phẩm “Giải cứu Trái Đất trong 365 ngày” của tác giả Hoàng Anh Tú (2019) đã gởi các thông điệp đến các bạn nhỏ qua các siêu anh hùng, để hướng dẫn
kỹ năng cho trẻ làm sao để giải cứu trái đất với những việc làm đơn giản hàng ngày nhưng thiết thực, hữu ích, nhằm tiết kiệm tài nguyên từ điện, nước, thực phẩm, học cách phân loại rác Từng hành động nhỏ hàng ngày sẽ góp phần tạo nên những tác động lớn để làm trong lành nơi ở của chính mình và cả những thế hệ sau
Thông qua chương trình “Vì môi trường”, Toshiba Carbon Zero cho rằng: chúng ta phải thổi vào tâm hồn đứa trẻ ý thức bảo vệ môi trường vì đó là vấn đề sống còn của nhân loại Tất cả sự sống trên trái đất đều là nhân tố tạo nên môi trường sống Vì vậy, bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống của chính mỗi người nói riêng và cho cả nhân loại nói chung (http://toshibatec.com.vn/vi/article)
Gần gũi và thiết thực hơn với chúng ta trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục
và Đào tạo xây dựng nhiều nội dung chuyên đề, nhằm hướng dẫn giáo viên giúp trẻ bảo vệ môi trường qua hoạt động khám phá khoa học theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Giáo viên tổ chức cho trẻ khám phá bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú nhằm kích thích sự phát triển của trẻ, giúp trẻ yêu thiên nhiên và
có những hành vi ứng xử đúng đắn với môi trường thiên nhiên (BGD & ĐT, 2002) Ngoài ra, có một số đề tài luận văn liên quan đến vấn đề giáo dục BVMT cho trẻ mầm non như:
Trang 27Nguyễn Thị Tấm (2017), “Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học ở trường mầm non” và Nguyễn Quỳnh Mai (2018), “Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng” đã kêu gọi sự hợp tác của phụ huynh và cộng đồng ý thức việc giữ gìn môi trường cảnh quan và thu gom các nguyên vật liệu để thiết kế một số trò chơi học tập như trò chơi đôminô, lô tô, tranh ảnh, mô hình làm đồ dùng, đồ chơi để gây ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ và cộng đồng
Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2019), “Một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non 4 - 5 tuổi ở trường MN Đại Mạch - Đại Đồng, huyện Đông Anh, Hà Nội” Luận văn tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào các chủ đề xuyên suốt năm học, nhưng mới dừng lại ở việc gây ý thức cho trẻ mà chưa tạo điều kiện cho trẻ được thực hành, trải nghiệm để giáo dục trẻ bảo vệ môi trường
Lê Thị Kim Anh (2021) với luận án Tiến sĩ “Giáo dục hành vi bảo vệ môi trường qua trải nghiệm cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi” đã đưa ra các biện pháp để giáo dục hành vi bảo vệ môi trường ở cả ba mặt: nhận thức, kỹ năng hành động và thái
độ đối với môi trường Luận án đánh giá hành vi bảo vệ môi trường thông qua các bài tập tình huống, tranh vẽ, video mà chưa cho trẻ được trải nghiệm, thực hành và khám phá cách độc lập và sáng tạo để đánh giá hành vi bảo vệ môi trường của trẻ qua thực tế cuộc sống
Nhìn chung, nội dung các đề tài luận văn tập trung giáo dục trẻ phân loại rác,
bỏ rác đúng nơi quy định, sử dụng tiết kiệm điện, nước trong sinh hoạt hàng ngày
và sử dụng các vật liệu phế thải như giấy, vải, làm đồ dùng đồ chơi nhằm giáo dục trẻ ý thức BVMT Các luận văn chưa đề cập cho trẻ thực hành và có những hoạt động với môi trường thiên nhiên cây xanh để giáo dục kỹ năng BVMT cho trẻ Thông qua các đề tài nghiên cứu, các tư liệu, dự án làm cơ sở, đề tài của tôi được kế thừa rất nhiều kiến thức, lý luận, nội dung, nhận định về các vấn đề môi trường và tổ chức giáo dục môi trường cho trẻ mầm non Từ đó tôi rút ra được kinh nghiệm về nội dung tích hợp, phương pháp, hình thức, tổ chức giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non
Trang 28Đề tài mà chúng tôi nghiên cứu sẽ giới hạn trong việc giáo dục kỹ năng bảo
vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên theo chủ đề “Cây xanh là bạn của chúng mình” nhằm giúp trẻ khám phá được ích lợi của cây xanh trong việc bảo vệ môi trường, cũng như mối tương quan giữa thiên nhiên, con người và môi trường, nhằm giúp trẻ nhận thức, có kĩ năng và thái
độ trong việc chăm sóc, có trách nhiệm bảo vệ môi trường thiên nhiên qua việc tạo nên một không gian xanh trong cuộc sống
1.2 Lý luận giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
1.2.1 Khái niệm giáo dục
Theo Nguyễn Thị Thường, Hoàng Thị Ngọc Lan (2007) Giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, thái độ, tình cảm, tính cách, thói quen cư xử Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là quá trình tác động của toàn
xã hội và các thể chế xã hội tới con người như nền chính trị, văn hóa, tư tưởng, tôn giáo tới việc hình thành nhân cách con người, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, phương pháp nhằm chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người
Với tác giả Trần Thị Hương (2017), giáo dục (theo nghĩa rộng) là hoạt động giáo dục tổng thể được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người Giáo dục là một hoạt động tổng thể bao gồm giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục lao động và hướng nghiệp do nhà trường phụ trách trước xã hội Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận của hoạt động giáo dục tổng thể nhằm tổ chức, hướng dẫn người được giáo dục hình thành và phát triển phẩm chất của nhân cách bao gồm thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất, lao động, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan
hệ của họ
Theo tác giả Hà Thế Ngữ (2001) thì “Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị con người tham gia vào đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người”
Trang 29Cùng với hướng nhìn đó, nhóm tác giả Trần Thị Tuyết Oanh, Phạm Khắc
Chương, Phạm Viết Vượng, Bùi Minh Hiền, nnk., (2008) thì cho rằng, “GD theo
nghĩa rộng là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung
và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ” GD theo nghĩa hẹp là
“quá trình hình thành cho người được giáo dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm
tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu”
Theo Harprit Kaur- Former (2018), giáo dục là tìm cách nuôi dưỡng những
phẩm chất tốt đẹp ở con người và rút ra những điều tốt nhất trong mỗi cá nhân Giáo dục tìm cách phát triển năng lực bên trong bẩm sinh của con người Cung cấp cho
họ một số kiến thức, hiểu biết, kỹ năng, sở thích, thái độ và tư duy phê phán nhằm giúp người được giáo dục phát triển một số hiểu biết sâu sắc hơn những mối quan
hệ trong cuộc sống và có thái độ ứng xử phù hợp với những quy tắc của xã hội Sau khi tìm hiểu khái niệm giáo dục của một số tác giả cho thấy, giáo dục là:
Một quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch
Nội dung bao gồm cung cấp một số kiến thức, hiểu biết, kỹ năng, sở thích, thái
độ và tư duy phê phán, giúp người được giáo dục phát triển một số hiểu biết sâu sắc hơn những mối quan hệ trong cuộc sống và có thái độ ứng xử phù hợp với những quy tắc của xã hội
Có phương pháp, biện pháp tổ chức các hoạt động cho người học học tập và giao lưu
1.2.2 Khái niệm giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường
1.2.2.1 Khái niệm giáo dục kỹ năng
Khái niệm kỹ năng
A.V Petrovxki (1992) nhận định: Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kỷ xảo đã có để lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra
Trang 30Trong từ điển tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên (2008), kỹ năng được định nghĩa là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội, để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng
Theo nhóm tác giả Huỳnh Văn Sơn, Hồ Văn Liên, Bùi Hồng Quân, Mai Mỹ Hạnh, nnk., (2012), kỹ năng là năng lực thực hiện có kết quả một hành động nào đó, bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực của con người
Như vậy, từ những khái niệm trên cho thấy:
- Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội, để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng
- Kỹ năng là năng lực thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép
- Kỹ năng là nội dung của quá trình giáo dục
Khái niệm giáo dục kỹ năng
Từ các khái niệm giáo dục ở trên cho thấy rằng, giáo dục kỹ năng là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành kỹ năng, năng lực thực hiện có kết quả một hành động nào đó, bằng cách vận dụng những tri thức (kiến thức, kỹ xảo), những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép và tương ứng với mục đích đặt ra
1.2.2.2 Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường
Khái niệm môi trường
Theo UNEP (1980), “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và
nhân tạo, có tác dụng đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.”
(Các công ước quốc tế về môi trường, 1995)
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (2005) quy định: “Môi trường bao
gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
Trang 31Theo định nghĩa của Unesco (1981), môi trường bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa )
và vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật ) trong đó con người sống và bằng lao động, họ khai thác tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình (trích dẫn theo Lê Văn Khoa, 2009; Lê Xuân Hồng, 2004)
Môi trường là một tập hợp các điều kiện trong một không gian nhất định mà ở
đó, sinh vật có thể tồn tại Môi trường bao gồm các yếu tố bao quanh sinh vật, có tác động trực tiếp và tác động qua lại với sinh vật thông qua các hoạt động trao đổi chất và năng lượng, sinh trưởng - phát triển, cảm ứng, sinh sản, thông tin (Hoàng Thị Oanh & Nguyễn Thị Xuân, 2008)
Với những khái niệm trên, chúng tôi xác định khái niệm môi trường như sau: Môi trường là toàn bộ nhân tố tự nhiên và những yếu tố do con người tạo ra cần thiết cho sự sống con người, có liên quan mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực tiếp tới sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài người
Khái niệm bảo vệ môi trường
Trong Luật Bảo vệ môi trường của nước Việt Nam, khái niệm bảo vệ môi
trường được hiểu như sau: “Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường
trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học” (Điều 3, chương I, Luật Bảo vệ môi trường 2005)
Theo tác giả Hoàng Thị Thu Hương nnk., (2011) đã đưa ra khái niệm bảo vệ
môi trường như sau: “Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường
trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường; khai thác và sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên”
Từ những quan điểm khác nhau về bảo vệ môi trường cho thấy: Bảo vệ môi
trường là những hoạt động, hành động tích cực của con người, nhằm giữ gìn và bảo tồn môi trường tự nhiên, ngăn chặn và hạn chế những tác động xấu đối với môi trường, đồng thời tái tạo và làm cho môi trường thêm trong sạch, đảm bảo cân bằng
Trang 32sinh thái, khắc phục những hậu quả mà con người gây ra cho môi trường, sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên
Khái niệm giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường
Theo dự án VIE/95/041 năm 1996 định nghĩa: “Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi
trường là một quá trình thường xuyên, qua đó con người nhận thức được môi trường của họ và thu được kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động, giúp họ giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của thế hệ hiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng của các nhu cầu thế hệ tương lai.” (được trích dẫn trong Lê Xuân Hồng, 2006)
Dựa trên tài liệu của Bộ Giáo dục và đào tạo - Chương trình phát triển Liên
hợp quốc (1998) khái niệm “Giáo dục bảo vệ môi trường được hiểu là quá trình
nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm trước những vấn đề môi trường, bao gồm kiến thức, thái độ, hành vi, trách nhiệm, kĩ năng để tự mình và tập thể đưa ra những giải pháp giải quyết vấn đề môi trường trước mắt và lâu dài”
(Luật bảo vệ môi trường, 2014)
Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non được hiểu là quá trình nhằm phát triển ở trẻ những hiểu biết sơ đẳng về môi trường, quan tâm đến các vấn
đề về môi trường phù hợp với lứa tuổi, được thể hiện qua kiến thức, thái độ, kỹ năng, hành vi của trẻ đối với môi trường xung quanh (Hoàng Thị Phương, 2009)
Từ những khái niệm trên, chúng tôi cho rằng, giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành và phát triển ở trẻ những hiểu biết về môi trường để có những hành vi, thái độ, trách nhiệm tích cực đối với môi trường Cơ sở lý thuyết trên sẻ trải nền cho hoạt động khám phá thiên nhiên dưới đây
1.2.3 Khái niệm hoạt động khám phá thiên nhiên
Hoạt động
Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động tùy theo góc độ xem xét Dưới góc độ triết học, dưới góc độ sinh học và dưới góc độ tâm lí học Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng tôi xem xét hoạt động dưới góc độ tâm lí học
Trang 33Quan điểm tâm lí học cho rằng, cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau Hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới và cả về phía con người (chủ thể) Trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lí, ý thức của mình Hay nói khác đi, tâm lí, ý thức, nhân cách được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động (Nguyễn Xuân Thức, 2007) Theo lý thuyết về hoạt động của A.N.Leonchiev (1989), hoạt động là một đơn
vị của đời sống mà khâu trung gian là phản ánh tâm lí có chức năng hướng dẫn chủ thể trong thế giới đối tượng
Như vậy, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới và cả về phía con người (chủ thể) Trong hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lí, ý thức của mình
Thiên nhiên
Các nhà nghiên cứu sinh thái học ở Mỹ định nghĩa, thiên nhiên được chia thành các phạm trù cơ bản là không khí, nước, đất, năng lượng, khoáng chất, đất nông nghiệp, rừng, vườn hoang, động vật hoang dã, thủy sản và đa dạng sinh học (Holecheck nnk., 2000)
Trang 34Theo Clayton và Myes cho rằng thiên nhiên gồm 4 loại; thiên nhiên trong gia đình (cây trồng ở nhà, các động vật nuôi trong gia đình), các địa điểm thiên nhiên (công viên, vườn, cây xanh đô thị), thiên nhiên được quản lí (rừng, vườn thú, thủy sản), thiên nhiên hoang dã gồm những khu vực xa xôi (rừng quốc gia, khu bảo tồn) (Robert & Angel, 2016 – Robert G., & Angel, C (2016)
Theo định nghĩa của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì thiên nhiên hay còn được gọi là tự nhiên, thế giới vật chất vũ trụ… bao gồm tất cả các dạng vật chất và năng lượng tồn tại từ cấp độ bé là hạt nguyên tử đến cấp độ to lớn như ngôi sao, thiên hà, ngân hà…
Nếu nói theo cách hiểu đơn giản, thông dụng thì thiên nhiên bao gồm tất cả những gì bao quanh con người mà không do bàn tay con người tạo nên Thiên nhiên
bao gồm không khí, khí hậu, nguồn nước, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn động thực vật, các yếu tố địa lý, địa hình
Thiên nhiên là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên để phục vụ cho cuộc sống
và sản xuất sinh hoạt của con người Đơn giản là chúng ta hít thở không khí từ thiên nhiên, uống nước từ tự nhiên, khai thác các loại khoáng sản, lâm sản, thổ sản, hải sản… để phục vụ cho nhu cầu của con người Theo nghĩa rộng nhất, là thế giới
tự nhiên, vật chất hoặc vật chất hoặc vũ trụ "Thiên nhiên" có thể nói đến các hiện tượng của thế giới vật chất, và cả cuộc sống nói chung
Thiên nhiên là tất cả các loài động vật, thực vật và những thứ khác trên thế giới không phải do con người tạo ra, và tất cả các sự kiện và quá trình không phải
do con người gây ra (Collins English Dictionary)
Tác giả Hoàng Thị Phương (2005) cho rằng, thiên nhiên là toàn bộ vũ trụ, trong đó có thế giới tự nhiên vô sinh (nước, không khí, ánh sáng, đất, cát, sỏi, ) thế giới hữu sinh (động vật, thực vật, vi sinh vật), các hiện tượng tự nhiên (nắng, mưa, gió ) chúng có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau
Như vậy khái niệm thiên nhiên là một khái niệm rất rộng, thiên nhiên là toàn
bộ vũ trụ, trong đó có thế giới tự nhiên vô sinh, thế giới hữu sinh, các hiện tượng tự nhiên gần gũi xung quanh trẻ Thế giới tự nhiên vô sinh ở xung quanh gồm: nước, không khí, ánh sáng, đất, cát, sỏi và thế giới hữu sinh là thực vật đặc biệt là cây cối,
Trang 35con vật và các hiện tượng tự nhiên nắng, mưa, gió Thế giới vô sinh và hữu sinh có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau
Khái niệm hoạt động khám phá thiên nhiên
Từ những khái niệm về hoạt động, hoạt động khám phá và khái niệm thiên nhiên cho thấy:
- Hoạt động khám phá thiên nhiên là tác động qua lại giữa con người và đối tượng thiên nhiên để tạo ra sản phẩm cả về thiên nhiên và cả về phía con người (chủ thể) Trong hoạt động với đối tượng thiên nhiên, con người vừa tạo ra sản phẩm cải tạo thiên nhiên, vừa tạo ra tâm lí, ý thức của mình
- Hoạt động khám phá thiên nhiên là hoạt động tương tác của con người với các đối tượng thiên nhiên, nhằm mục đích tìm hiểu, phát hiện ra những gì tồn tại trong thiên nhiên mà trước đó chưa biết, nhờ đó làm thay đổi nhận thức của con người Sản phẩm của hoạt động khám phá thiên nhiên là làm thay đổi nhận thức, thay đổi sự hiểu biết của con người về thiên nhiên và làm biến đổi cả thiên nhiên ở xung quanh
1.2.4 Khái niệm giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên là một quá trình tác động sư phạm có mục đích và kế hoạch, nhằm hình thành năng lực hành động tích cực giúp trẻ phát triển tốt nhất những khả năng tiềm ẩn; để có những chọn lựa tích cực nhằm tìm tòi, phát hiện những gì ẩn giấu từ thế giới tự nhiên
Quá trình này tập cho trẻ quan sát, so sánh, phân loại, suy luận, thử nghiệm,
dự đoán, thảo luận giúp trẻ hiểu biết về môi trường để có những hành vi, thái độ, trách nhiệm tích cực đối với môi trường thiên nhiên - là thế giới tự nhiên gần gũi xung quanh trẻ, như nước, không khí, ánh sáng, đất, cát, sỏi, động vật, thực vật… đặc biệt là cây cối và các hiện tượng tự nhiên nắng, mưa, gió có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau Từ đó hình thành nơi trẻ lòng yêu thiên nhiên, trách nhiệm tích cực đối với môi trường và các kĩ năng bảo vệ môi trường cần thiết như:
Trang 36phân loại rác và bỏ rác đúng nơi quy định, sử dụng điện, nước đúng cách và tiết kiệm, biết nhắc nhở người khác giữ gìn, bảo vệ môi trường
1.2.5 Vai trò của hoạt động khám phá thiên nhiên trong việc giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
1.2.5.1 Quan điểm giáo dục thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng, thế giới xung quanh rất mới mẻ, hấp dẫn trẻ luôn muốn tìm hiểu, khám phá Thiên nhiên mang đến cho trẻ nhiều cơ hội tốt để phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – kĩ năng
xã hội và thẩm mĩ
Đắm mình trong thế giới thiên nhiên trẻ được vui chơi, chạy nhảy giúp cơ thể khỏe mạnh, tình thần vui vẻ, lạc quan; tránh các nguy cơ béo phì, hạn chế các bệnh rối loại về chuyển hóa (Juliette Green, 2015)
Tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên sẽ kích thích các giác quan phát triển qua việc nghe, nhìn, sờ, nếm, ngửi (Daniel R Meier Stephanie Sisk-Hilton, 2020) Thiên nhiên kích thích thính giác để nghe các âm thanh khác nhau của dòng suối, tiếng chim hót, tiếng xào xạc của lá cây Sự phong phú về màu sắc, chủng loại, kích thước của hoa lá, cây xanh, đất cát…là yếu tố quan trọng để phát triển thị giác của trẻ Vị giác được trải nghiệm thực tế khi trẻ nếm và nhận biết được vị ngọt, chua, cay, đắng của các loại quả Khứu giác được kích thích khi ngửi mùi hương từ thiên nhiên hoa lá tỏa ra
Quá trình khám phá thiên nhiên giúp trẻ tăng thêm sự tập trung chú ý, quan sát, suy nghĩ, nêu lên nhiều câu hỏi và tìm cách giải quyết vấn đề, qua đó thúc đẩy các quá trình nhận thức phát triển một cách tự nhiên mà hiệu quả (Hoàng Thị Phương, 2019) James Kicinski-Mccoy (2017) đã ví von thiên nhiên như là một thư viện khổng lồ mà trẻ là nhà khoa học nhỏ không ngừng khám phá theo lăng kính rất riêng của trẻ: khám phá thiên nhiên qua tiếng động, âm thanh, qua khung cảnh êm dịu, một bông hoa nở, một chiếc lá rơi… Quá trình trẻ say mê khám phá những điều
bí ẩn trong thiên nhiên sẽ là cơ hội tốt để thổi vào lòng trẻ sự nối kết hành vi chăm sóc, bảo vệ cây xanh với việc bảo vệ môi trường sống của chúng ta
Trang 37Khi tiếp cận với thiên nhiên, tư duy và ngôn ngữ của trẻ được phát triển; Trẻ trao đổi, thảo luận, suy nghĩ và nêu ý kiến để cùng nhau khám phá sự mới lạ và những thay đổi của vạn vật trong thiên nhiên Nhờ chia sẻ, giao tiếp trẻ học được cách ứng xử, tương tác với con người, với môi trường và khám phá bản thân (Juliette Green, 2015)
Tác giả Louv cho rằng, trải nghiệm tích cực với môi trường thiên nhiên có vai trò quan trọng trong sự phát triển cảm xúc, rèn luyện cho trẻ sự kiên định, bền bỉ, dũng cảm, tự điều khiển, ứng phó với những thử thách trong cuộc sống Điều này giúp trẻ phát triển tình cảm - kỹ năng xã hội, hòa nhập với môi trường, xã hội một cách tốt hơn (Robert & Angel, 2016)
Điều này được nhà văn Hoàng Anh Tú khẳng định: “Nếu chúng ta dạy trẻ
quan tâm, chăm sóc đến mọi người và môi trường thiên nhiên xung quanh, trẻ sẽ biết ơn cuộc sống nhiều hơn Chỉ khi đó, đứa trẻ mới có thể tham gia bảo vệ môi trường, thêm yêu động vật, yêu cây cối, và chắc chắn đó không phải là đứa trẻ bạo hành ” (Hoàng Anh Tú, 2019) Đồng quan điểm ấy, anh Hoàng Quý Bình, người
sáng lập Dự án “Đổi giấy lấy cây” (Green Life) cho hay, khi một đứa trẻ biết yêu môi trường, yêu thiên nhiên, chúng sẽ hình thành tính cách tử tế Yêu môi trường hiểu rộng ra không chỉ yêu những người trong gia đình mà là cả cộng đồng Tình yêu này rất thiêng liêng, giúp trẻ có thêm niềm tin trong cuộc sống, giúp trẻ trưởng thành, vượt qua khó khăn và thách thức, tạo nên những giá trị cho cuộc đời
Tiếp xúc với thiên nhiên, nhân cách con người được hình thành và phát triển Thiên nhiên còn mang đến cho trẻ nhiều nguồn nguyên vật liệu mở để trẻ trải nghiệm, từ đó trẻ sẽ yêu quý, tôn trọng, khám phá ra vẻ đẹp của thiên nhiên và có trách nhiệm với thiên nhiên hơn (Juliette Green, 2015 & Louise Boyd Cadwell, 2019)
1.2.5.2 Vai trò của hoạt động khám phá thiên nhiên trong việc giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ
Sử dụng thiên nhiên vào hoạt động học của trẻ là một triết lí, nguyên tắc cốt lõi của các nhà giáo dục thời cổ điển cho đến chương trình giáo dục mầm non hiện nay trên thế giới (Amus, 2016) Thiên nhiên mang đến nhiều cơ hội để trẻ có những
Trang 38hoạt động tích cực, tiếp xúc với nhiều nguồn nguyên vật liệu đa dạng, phong phú sẽ thôi thúc trẻ tìm tòi, nghiên cứu và trải nghiệm với thực tế để trẻ học cách bảo vệ môi trường
Được hòa mình với thiên nhiên, trẻ sẽ có muôn vàn cơ hội khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh cũng như những giá trị mà thiên nhiên mang lại cho cuộc sống qua từng lá cây, bông hoa, ngọn cỏ Khám phá, trải nghiệm với thiên nhiên trẻ sẽ hiểu cây xanh giúp cân bằng hệ sinh thái, ngăn chặn tia cực tím, tiết kiệm nước và chống xói mòn đất Thân cây, lá cây có còn có chức năng cản bụi, cản tiếng ồn Thường xuyên tiếp xúc với môi trường thiên nhiên sẽ tạo điều kiện để trẻ phát huy
và thể hiện tình yêu thương của bản thân với cuộc sống
Hoạt động khám phá thiên nhiên giúp trẻ hình thành ý thức trách nhiệm giữ gìn sản phẩm của mình cũng như của người khác làm ra, giúp trẻ biết thưởng thức
và phát hiện ra cái đẹp trong đời sống, trong tự nhiên, trong lao động thông qua những hành động đơn giản hàng ngày nhưng đầy ý nghĩa mà con người thực hiện với thiên nhiên
Nói cách khác, việc tiếp xúc với môi trường thiên nhiên ở trường mầm non cũng như những hành động khám phá, chăm sóc thiên nhiên mà trẻ thực hiện hàng ngày như trực nhật, nhặt rác, nhặt lá vàng, phân loại rác, tưới cây, lau lá sẽ hình thành những phẩm chất nhân cách quan trọng như: yêu thiên nhiên, quý trọng người lao động, có thói quen lao động, có trách nhiệm với công việc được giao, biết cách sống lành mạnh với môi trường, bảo vệ đồ dùng, đồ chơi, học cách tiết kiệm điện, nước… Điều này giúp trẻ ý thức hơn trong việc đóng góp công sức của mình để bảo
vệ môi trường Thông qua việc khám phá thiên nhiên sẽ giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu tìm tòi, khám phá, vừa giúp trẻ có cơ hội bộc lộ cảm xúc chân thật của mình với môi trường (Sally Sneddon &Anne Pettit, 2016)
Những hành động nhỏ, những nhiệm vụ đơn giản như; thu gom rác, trang trí bồn hoa, sắp xếp các chậu cây cảnh, chăm sóc vườn rau, cây xanh được ghi lại để làm các album hoặc làm những đoạn phim ngắn sẽ giúp trẻ có những rung cảm khi nhớ lại những thành quả mình đã làm, giúp trẻ thêm hứng thú, có thêm nhiều sáng kiến và hứng thú tham gia vào các hoạt động chung
Trang 39Chính khi tham gia lao động, các cơ tay, chân và các dây thần kinh hoạt động giúp cho sức khỏe thêm dẻo dai, trẻ nhanh nhạy để xử lý và giải quyết vấn đề tốt hơn Mỗi ngày ngắm nhìn những “thành quả lao động” sẽ giúp trẻ trân trọng những người lao động và góp phần nhỏ bé của mình trong các công việc đơn giản hàng ngày để chăm sóc thiên nhiên Chính qua những hành động đó đã hình thành cho trẻ phẩm chất đạo đức tốt là lòng biết ơn, nâng niu, chăm sóc môi trường xung quanh, biết trân quý những thành quả của người lao động
Ngay từ nhỏ phải cho trẻ hiểu được môi trường xung quanh là nơi trẻ sống và phát triển Trẻ có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, môi trường không tốt thì cuộc sống con người sẽ không tốt Mỗi cá nhân đều phải có nghĩa vụ bảo vệ và xây dựng môi trường sống ngày một tốt đẹp hơn (Hoàng Thị Phương, 2019)
1.2.6 Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
1.2.6.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Đặc điểm trí tuệ - nhận thức của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh và chiếm
ưu thế Vào cuối độ tuổi, ở trẻ bắt đầu xuất hiện kiểu tư duy trực quan sơ đồ và những mầm mống đầu tiên của tư duy logic (Nguyễn Ánh Tuyết, 2003) Trẻ có thể hiểu được bản chất, mối quan hệ của sự vật, hiện tượng Trẻ có khả năng vận dụng vốn kinh nghiệm để giải quyết một số vấn đề đơn giản trong cuộc sống, biết thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ của mình, đồng thời có ý thức đối với hành vi văn hóa văn minh trong cuộc sống (Nguyễn Ánh Tuyết, 2007) Bên cạnh đó, những đặc điểm riêng về ngôn ngữ, tư duy, nhận thức, thể chất của trẻ 5 - 6 tuổi đã phát triển
đa dạng và phong phú hơn, mang một số đặc điểm riêng như sau:
Trẻ 5 - 6 tuổi đã tích lũy được vốn kiến thức rất phong phú, kỹ năng nhận xét,
so sánh cũng đã phát triển hơn so với mẫu giáo nhỡ Trẻ không chỉ nhận xét, nêu vấn đề, trả lời câu hỏi của cô mà còn đặt câu hỏi cho bạn bè
Chú ý của trẻ mẫu giáo lớn tập trung và bền vững, ghi nhớ cũng có tính chủ định hơn (Nguyễn Ánh Tuyết, 2003)
Trang 40Ở trẻ phát triển tính ham hiểu biết và các hứng thú nhận thức Khi hoàn thành các nhiệm vụ lao động và học tập, trẻ không chỉ sử dụng các hành động đã học thuộc mà còn biến đổi chúng để thu được kết quả mới, và suy nghĩ để tìm lời giải thích cho hiện tượng đã phát hiện ra
Như vậy, nhận thức của trẻ 5 - 6 tuổi rất phong phú, trẻ hứng thú khám phá thiên nhiên cách tích cực và độc lập, đồng thời tiếp thu, lĩnh hội kiến thức theo phương thức của riêng mình Trẻ có thể hiểu được bản chất, mối quan hệ của sự vật, hiện tượng, biết vận dụng vốn kinh nghiệm để giải quyết một số vấn đề đơn giản trong cuộc sống, biết thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ của mình, đồng thời có ý thức đối với hành vi văn hóa văn minh trong cuộc sống Sự phát triển đó sẽ là yếu tố thuận lợi cho giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường
Đặc điểm nhân cách - tình cảm của trẻ 5 - 6 tuổi
Đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo nói chung và ở trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng phát triển khá mãnh liệt, trong đó nổi bật lên là tính đồng cảm, dễ xúc cảm đối với con người và các sự vật xung quanh
Tình cảm của trẻ đa dạng, có khả năng đồng cảm với cây cỏ, con vật, các hiện tượng trong thiên nhiên, con người Những lợi ích của cảm xúc khi trẻ tương tác với thiên nhiên qua hoạt động chăm sóc cây, hoa, con vật giúp trẻ biết thể hiện tình yêu thương, chăm sóc và có mối quan hệ với thiên nhiên Trẻ cảm thấy vui mừng khi cây ra hoa, kết quả, thương xót khi cây bị chết, con vật bị ốm (Nguyễn Ánh Tuyết, 2003)
Các hiện tượng tự nhiên, phong cảnh thiên nhiên gây cho trẻ các rung động mạnh mẽ, qua các hoạt động trẻ trải nghiệm, trẻ thể hiện cảm xúc nhưng cũng có thể điều khiển những cảm xúc bộc phát (Mai Thị Nguyệt Nga, 2006)
Nhân cách trẻ đang hình thành và phát triển, trẻ đã bắt đầu tự ý thức về bản thân (Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2003) Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của trẻ đạt tới mục đích đề ra, ý thức có khả năng sáng tạo, nảy sinh
và phát triển trong hoạt động (Nguyễn Xuân Thức, 2007) Chính vì thế, trẻ có thể lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức, các quy tắc hành vi trong cuộc sống Việc tuân