TỔNG QUAN
Đặc điểm tự nhiên và hệ sinh vật khu vực nghiên cứu
Vườn Quốc gia Cát Tiên có tổng diện tích 71.188 ha, trải dài qua ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước Khu vực Nam Cát Tiên thuộc tỉnh Đồng Nai chiếm diện tích lớn nhất với 39.544,8 ha, tiếp theo là khu Cát Lộc ở Lâm Đồng với 27.260,3 ha, và khu Tây Cát Tiên tại Bình Phước với 4.382,8 ha VQG Cát Tiên có tọa độ địa lý từ 11°17'17'' đến
11 0 50’20” độ vĩ Bắc; từ 107 0 09’05” đến 107 0 35’20” độ kinh Đông
Nam Cát Tiên nằm trong huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai và Bình Phước, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 150km về phía Đông Bắc Khu vực này giáp sông Đồng Nai ở phía Đông, xã Đắk Lua ở phía Bắc, xã Thanh Sơn và Tà Lài ở phía Nam, cùng với xã Đăng Hà ở phía Tây Bắc và khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai ở phía Tây.
Hình 1.1 Bản đồ địa điểm nghiên cứu 1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Nam Cát Tiên có địa hình chủ yếu bằng phẳng, với độ cao dưới 350 m so với mực nước biển và ít sự chia cắt Đặc điểm địa hình tại đây thay đổi theo từng khu vực, với kiểu địa hình trung bình có độ dốc nhẹ, tập trung chủ yếu ở phía.
Khu vực Tây Nam của Nam Cát Tiên có độ cao từ 200-300m, với độ dốc 15-20 độ, là nguồn chảy của nhiều con suối lớn như Đaklua và Datapok ra sông Đồng Nai Phía Đông Nam của Nam Cát Tiên có địa hình bằng phẳng với một số đồi thấp, độ cao từ 130-150m và độ dốc 5-7 độ Địa hình bậc thềm sông Đồng Nai và đồi bát úp tiếp giáp đầm hồ có độ cao khoảng 130m, chạy dọc theo sông Đồng Nai, từ khu vực giáp ranh Bình Phước-Đồng Nai đến Tà Lài, với bề rộng khoảng 1.000m.
Kiểu địa hình thềm suối xen kẽ với hồ đầm: Độ cao so với mực nước biển thấp hơn
130m, như các bàu nước: Bàu Cá, Bàu Chim, Bàu Sấu [14], [15] (Hình 1)
VQG Cát Tiên có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 11, 12 đến tháng 3, 4 năm sau và mùa mưa từ tháng 4, 5 đến tháng 10, 11 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,5°C, lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2.300mm và độ ẩm khoảng 82%.
Chế độ thủy văn tại VQG Cát Tiên hoàn toàn phụ thuộc vào dòng chảy của sông Đồng Nai và các hệ thống suối, bàu nước Sông Đồng Nai chảy qua VQG Cát Tiên dài khoảng 82 km, tạo thành ranh giới tự nhiên cho khoảng 1/3 chu vi của Vườn Với bề rộng trung bình khoảng 100 m và lưu lượng nước bình quân khoảng 405 m³/giây, sông Đồng Nai là nguồn cung cấp nước chính cho các suối trong Vườn Suối Đắc Lua, lớn nhất tại Nam Cát Tiên, chảy ra sông Đồng Nai theo hướng Đông Nam và có nước quanh năm, đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối nước giữa các bàu và sông Trong mùa khô, nước từ các bàu chảy ra sông qua suối Đắc Lua, trong khi mùa mưa, nước từ sông bổ sung cho các bàu Suối Đắc Lua góp phần quan trọng vào chế độ thủy văn của các bàu và đảm bảo sự phát triển của các vùng đất ngập nước tại VQG Cát Tiên như bàu C4, bàu Thái Bình Dương, và nhiều bàu khác.
Hệ thống các bàu tại VQG Cát Tiên đã tạo nên một hệ sinh thái đất ngập nước đặc trưng, được công nhận là khu Ramsar của thế giới vào năm 2005 Ngoài suối Đắc Lua, khu vực Nam Cát Tiên còn có nhiều suối quan trọng khác như Đa Bitt, Đa Bao, Đa Tapoh, và Đa Sameth, tập trung chủ yếu ở phía Tây của Vườn, tất cả đều chảy ra sông Đồng Nai.
Thảm thực vật rừng của VQG Cát Tiên rất phong phú với 30 quần hợp thực vật khác nhau, bao gồm các ưu hợp đặc trưng như họ Dầu (Dipterocarpaceae) kết hợp với họ Tử vi (Lythraceae) và họ Đậu (Fabaceae) Gần đây, kết quả rà soát tài nguyên rừng cho thấy có 1.655 loài thuộc 168 họ và 57 bộ của 5 ngành thực vật khác nhau Thảm thực rừng được chia thành các kiểu chính như rừng lá rộng thường xanh (71,23%), rừng lá rộng nửa rụng lá (11,69%), và rừng tre nứa thuần loại (11,08%) Ngoài ra, VQG Cát Tiên còn có các kiểu thảm thực vật khác như đất ngập nước, rừng trồng, cây bụi và đất nông nghiệp (2,13%).
Vườn Quốc Gia Cát Tiên sở hữu sự đa dạng sinh học phong phú, với 1.729 loài động vật thuộc 238 họ và 51 bộ Trong số đó, có 571 loài động vật có xương sống trên cạn, thuộc 121 họ và 33 bộ Đặc biệt, nghiên cứu gần đây đã ghi nhận 343 loài chim tại đây, cho thấy vai trò quan trọng của môi trường trong việc bảo tồn và phát triển các loài động vật.
Bảng 1.1 Thành phần các nhóm loài động vật ở VQG Cát Tiên
Cá 130 31 9 Động vật phiêu sinh 126 27
1.1.3 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội
Theo kết quả điều tra kinh tế xã hội gần đây, tổng dân số của 11 xã xung quanh VQG Cát Tiên là 78.093 người, thuộc 20 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm 68,1% Các dân tộc miền núi phía Bắc như Tày và Nùng lần lượt chiếm 18% và 3%, trong khi các dân tộc bản địa như Châu Mạ và S’Tiêng chỉ chiếm 8% và 1% Kinh tế của người dân chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với 60-80% thu nhập đến từ chăn nuôi và trồng trọt Mặc dù đời sống đã cải thiện đáng kể trong những năm qua, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo vẫn cao, ảnh hưởng đến nỗ lực bảo vệ đa dạng sinh học của Vườn Các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học tại VQG Cát Tiên vẫn tồn tại, bao gồm săn bắt, buôn bán sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, xâm lấn đất rừng và ô nhiễm từ phát triển nông nghiệp.
Tổng quan về chim trĩ
1.2.1 Giới thiệu chung về họ chim Trĩ
Trên thế giới, khoảng 25% trong số 308 loài thuộc bộ Gà (Galliformes) đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao Đông Nam Á là khu vực có sự đa dạng cao nhất với 54 loài chim Trĩ (Phasianidae), trong đó Việt Nam sở hữu 22 loài, bao gồm 1 loài rất nguy cấp (CR), 1 loài nguy cấp (EN) và 4 loài sắp nguy cấp Một số loài chim Trĩ tại Việt Nam có vùng phân bố hẹp như Gà so cổ hung (Arborophila davidi) và Gà tiền mặt đỏ (Polyplectron germaini) Đặc biệt, Gà lôi lam mào trắng (Lophura adwardsi) đang ở tình trạng rất nguy cấp (CR) và loài Công (Pavo muticus) cũng đang trong tình trạng nguy cấp (EN).
Các loài chim Trĩ có thân hình mập mạp, kích thước lớn từ 14 – 250 cm với lông đuôi dài, chân chắc khỏe và không có lông che phủ Chúng có cánh ngắn, to rộng và mỏ ngắn khỏe, thích nghi với việc kiếm thức ăn trên mặt đất và trong bụi rậm, chủ yếu đi và chạy, chỉ bay khi cần thiết Đôi cánh to tròn giúp chúng bay nhanh khi gặp nguy hiểm, nhưng cách bay nặng nề khiến chúng chỉ bay được một đoạn ngắn Chim trống thường lớn và có màu sắc sặc sỡ hơn chim mái Tiếng kêu của chim Trĩ vang xa và đặc trưng cho từng loài, dùng để gọi bầy và ghép đôi trong mùa sinh sản Hầu hết các loài thuộc bộ Gà có tập tính đa thê, trong khi một số loài đơn thê như Gà so ngực gụ và Gà so cổ hung thay phiên nhau ấp trứng và chăm sóc con non.
Gà thường làm tổ đơn giản trên mặt đất, có thể là hốc cây, hõm đất hoặc đám cỏ khô trong bụi rậm Mỗi năm, chúng đẻ một lứa trứng, thường từ 2 đến 10 trứng, và chim non mới nở được phủ lông bông Các loài chim Trĩ thường có vùng sinh sống cố định để kiếm ăn, sinh sản và nghỉ ngơi, trừ khi bị đe dọa Mặc dù thức ăn của chúng chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng, nhưng hầu hết đều là loài ăn tạp, với côn trùng nhỏ là nguồn thức ăn quan trọng cho chim non Chúng chủ yếu kiếm ăn trên mặt đất, do đó, các ngón chân, móng chân và mỏ chắc khỏe giúp chúng thích nghi tốt với việc đào bới khi tìm kiếm thức ăn.
Tất cả các họ trong bộ Gà (Galliformes) đóng vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của con người nhờ cung cấp nguồn dinh dưỡng thiết yếu như thịt và trứng Trong số đó, họ chim Trĩ (Phasianidae) có ảnh hưởng lớn nhất đến con người qua nhiều lĩnh vực khác nhau Tại nhiều quốc gia đang phát triển, các loài chim Trĩ giúp duy trì ổn định kinh tế địa phương thông qua việc cung cấp thực phẩm và hoạt động thể thao Đặc biệt, Gà rừng được xem là loài có mối liên hệ sâu sắc nhất với lịch sử phát triển của con người nhờ quá trình thuần hóa.
Sự thuần hóa gà rừng không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng cho con người mà còn mang lại nhiều giá trị văn hóa và thể thao.
Các loài trong bộ Gà, đặc biệt là chim Trĩ, đang phải đối mặt với nhiều mối đe dọa nghiêm trọng, trong đó mất nơi sinh sống và nạn săn bắt là hai yếu tố chính Săn bắt, mặc dù không phải là mục tiêu chính, đã trở thành một mối đe dọa lớn đối với động vật hoang dã ở Đông Nam Á trong 50 năm qua, do sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế và kỹ thuật săn bắt Bẫy giò là một hình thức săn bắt đặc biệt nguy hiểm đối với các loài sống trên nền đất, bao gồm cả chim Trĩ, và tình trạng này đang diễn ra nghiêm trọng tại khu vực này Chim Trĩ thu hút sự chú ý của thợ săn vì chúng sống tập trung và có giá trị kinh tế cao Hầu hết các loài chim Trĩ không thể thích nghi tốt với sự thay đổi môi trường sống, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng cao, ngay cả trong các khu bảo tồn, do mất nơi sống và bị săn bắt.
1.2.2 Các loài chim Trĩ tại Nam Cát Tiên
VQG Cát Tiên là một trong những vườn quốc gia nổi bật với sự đa dạng về hệ thống chim, ghi nhận 343 loài, trong đó có 10 loài chim Trĩ Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên giữa khu vực Bắc Cát Tiên (Cát Lộc) và Nam Cát Tiên dẫn đến sự khác nhau trong thành phần chim Trĩ Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiện trạng của các loài chim tại Nam Cát Tiên, bao gồm Gà lôi hông tía (Lophura diardi), Gà rừng (Gallus gallus), Gà so ngực gụ (Tropicoperdix chloropus), Gà so cổ hung (Arborophila davidi), Gà tiền mặt đỏ (Polyplectron germaini) và Công (Pavo muticus imperator).
Gà lôi hông tía ( Lophura diardi (Bonaparte, 1856))
Gà lôi hông tía có kích thước từ 61 – 81 cm, với chim trống trưởng thành có bộ lông màu đen lam ánh thép Đầu, cằm và họng của chúng có màu đen, trong khi phần dưới lưng mang màu vàng đậm Hông và phần trên đuôi kết hợp giữa màu lam ánh thép và đỏ tía Da trần ở mặt và chân có màu đỏ, và đuôi dài cong hình lưỡi liềm là đặc điểm nổi bật Trên đỉnh đầu, có chùm mào lông màu lam ánh thép dài khoảng 70 – 90 mm, thường dựng hơi chếch về phía sau gáy.
Gà lôi hông tía mái sở hữu bộ lông nâu đặc trưng với bụng có đốm vảy trắng xen lẫn Phần da trần trên mặt và chân của chúng có màu đỏ nổi bật.
Gà lôi hông tía là loài sống thành bầy, phân bố rộng rãi ở Đông Nam Á, bao gồm Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam Chúng thường xuất hiện trong các sinh cảnh rừng thường xanh, rừng thường xanh nửa rụng lá, tre nứa và rừng thứ sinh, ở độ cao lên đến 800m so với mực nước biển Hiện trạng bảo tồn của loài này đang được quan tâm.
LC [11] và VU [19] Ảnh: Nguyễn Trần Vỹ
Hình 1.2 Gà lôi hông tía
Gà rừng ( Gallus gallus (Linnaeus, 1758)
Gà rừng có kích thước từ 43-76 cm, với đuôi trống dài khoảng 28 cm Chân của cả chim trống và mái có màu xám chì hoặc nâu, với vệt trắng hoặc đỏ bên tai Chim trống có mào, da mặt và dái tai màu đỏ, trong khi lông đầu đến ngực và lưng có màu nâu đỏ thẫm đến vàng da cam Lông cánh lớn và lông tam cấp có màu xanh nước biển óng ánh, trong khi lông sơ cấp màu đen, hông đỏ da cam và đuôi có ánh kim loại Chim mái có da mặt màu đỏ, đỉnh đầu và gáy màu nâu đỏ, với các vạch nâu hoặc vàng nâu trên cổ Gà rừng sống thành bầy, sinh sản từ tháng 12 đến tháng 4 với 5-10 trứng mỗi lứa Chúng phân bố rộng rãi ở nhiều quốc gia và khắp Việt Nam, thích nghi với nhiều môi trường sống như nương rẫy, khu dân cư, trảng cỏ, cây bụi, và rừng thứ sinh đến độ cao 1.800 m Hiện tại, gà rừng thuộc nhóm phổ biến và không nằm trong sách đỏ Việt Nam hay IUCN.
Hình 1.3 Gà rừng trống Ảnh: Thắng Nguyễn
Hình 1.4 Gà rừng mái
Gà tiền mặt đỏ ( Polyplectron germaini (Elliot, 1866))
Chim trống trưởng thành có mào lông ở đầu không rõ, da trần quanh mặt màu đỏ, bộ lông màu gụ thẫm với các sao màu lục biếc rõ ràng Chim mái có cựa nhỏ hơn, đốm trên cánh hình sao dạng 3 cánh nhỏ và tối hơn Chim non có màu lông đen xỉn, mỏ màu nâu, mắt nâu và chân màu xám chì Gà tiền mặt đỏ sống đơn lẻ ở độ cao khoảng 1.800 m, mùa sinh sản từ tháng 2 đến tháng 4 với tối đa 2 trứng màu trắng ngà, thời gian ấp khoảng 21-22 ngày Loài này có vùng phân bố hẹp và được ghi nhận trong sách đỏ thế giới với tình trạng NT và EN trong sách đỏ Việt Nam.
Hình 1.5 Gà tiền mặt đỏ (trống) Ảnh: Hoàng Quân
Hình 1.6 Gà tiền mặt đỏ (mái) Ảnh: Nguyễn Trần Vỹ
Hình 1.7 Tổ Gà tiền mặt đỏ đang ấp trứng tại VQG Cát Tiên (năm 2000) Ảnh: Tư liệu của VQG Cát Tiên
Hình 1.8 Tổ Gà tiền mặt đỏ có 2 trứng tại VQG Cát Tiên (năm 2000) Ảnh: Nguyễn Trần Vỹ
Hình 1.9 Tổ Gà tiền mặt đỏ có 2 chim non tại VQG Cát Tiên (năm 2000)
Gà so ngực gụ (Tropicoperdix chloropus (Blyth, 1859) )
Gà so ngực gụ có kích thước khoảng 30 cm, với đặc điểm ngoại hình nổi bật như vảy màu đen nhỏ trên cơ thể và băng màu nâu sậm ở ngực Trước đây, loài này được xếp vào giống Arborophila nhưng nghiên cứu di truyền gần đây cho thấy nó thuộc giống Tropicoperdix, gần gũi với Gà rừng và Gà tiền Gà so ngực gụ phân bố rộng rãi ở Đông Nam Á, có thể sống ở độ cao lên đến 1.400 m, xuất hiện tại Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, nơi mà nó đang được phân chia thành nhiều loài phụ khác nhau Loài này thuộc nhóm ít được quan tâm và không có trong sách đỏ của Việt Nam.
Hình 1.10 Gà so ngực gụ
Gà so cổ hung ( Arborophila davidi (Delacour, 1927))
Gà so cổ hung có kích thước khoảng 28 cm, với lông trước mắt màu đen và dải trắng kéo dài đến cổ, chuyển thành màu hung vàng Họng trên màu trắng, họng dưới có dải hung vàng nối với dải đen tạo thành yếm ở ngực Bụng phớt hung vàng nhạt, bên hông có băng màu trắng và đen xen kẽ Mỏ đen, gốc mỏ đỏ, mắt nâu và da trần quanh mắt đỏ Chân hồng đỏ Gà so cổ hung ăn giun đất, côn trùng cánh cứng và quả cây mềm Chúng có thể đi đơn lẻ, theo cặp hoặc thành đàn nhỏ từ 3-5 con ở các sườn đồi trong rừng, đặc biệt là ở độ cao từ 100-600m Chúng kiếm ăn trên nền đất và ngủ trên cây vào ban đêm Loài này có vùng phân bố hẹp, chủ yếu ở các tỉnh phía Nam Việt Nam như Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng, và cũng được ghi nhận ở phía Đông Campuchia.
NT trong sách đỏ thế giới [11] và EN trong sách đỏ Việt Nam [19] Ảnh: Nguyễn Tuấn
Hình 1.11 Gà so cổ hung (ghi nhận vào tháng 4) Ảnh: Nguyễn Trần Vỹ
Hình 1.12 Gà so cổ hung (ghi nhận vào tháng 1)
Công ( Pavo muticus imperator (Delacour, 1949))
Công là loài chim sống thành bầy, nổi bật với bộ lông đẹp, đặc biệt là công trống có lông màu lục ánh thép Trong mùa sinh sản, lông đuôi của chúng phát triển dài đến 1.500 mm để thu hút bạn tình, trong khi chim mái có màu sắc tương tự nhưng lông đuôi ngắn hơn Chim trưởng thành có da quanh mặt màu vàng cam và xanh, trong khi chim non có màu trắng Cả hai giới đều có cựa, nhưng cựa của con đực dài hơn Công làm tổ đơn giản trên mặt đất ở nơi kín đáo, khô ráo và thoáng mát Mỗi năm, chim mái đẻ từ 3 đến 8 trứng hình bầu dục, với thời gian ấp khoảng 26 ngày.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
- Thời gian đặt máy ngoài thực địa từ cuối tháng 2 đến tháng 7 năm 2020
- Địa điểm nghiên cứu: khu vực Nam Cát Tiên (Đồng Nai)
- Thu thập và tham khảo những tài liệu nghiên cứu có liên quan đến họ chim Trĩ
- Thu thập và tham khảo các tài liệu cần thiết cho việc định danh các loài chim Trĩ
- Thu thập và tham khảo các tư liệu nghiên cứu của Vườn Quốc gia Cát Tiên
2.2.2 Thu thập dữ liệu bằng máy bẫy ảnh
Máy bẫy ảnh được sử dụng để ghi nhận sự hiện diện của các loài thuộc bộ
Gà (Galliformes) tại Nam Cát Tiên là loại cảm biến chuyển động và hồng ngoại
Máy bẫy ảnh Bushnell Tropy Cam HD Brown (mẫu 119874C) hoạt động liên tục 24 giờ mỗi ngày trong rừng và được bảo vệ bằng hộp sắt có khóa, đảm bảo an toàn cho thiết bị.
Có 41 máy bẫy ảnh được đặt trong 2 kiểu sinh cảnh rừng chính ở Nam Cát
Trong nghiên cứu về các loài chim Trĩ tại Cát Tiên, các máy bẫy ảnh được lắp đặt trong rừng thường xanh và bán rụng lá, cũng như trảng cỏ từ cuối tháng 2 đến tháng 7 năm 2020, với hai máy bổ sung gần trảng cỏ C3 từ tháng 7 năm 2020 đến tháng 1 năm 2021 Tuy nhiên, do hai máy ở trảng cỏ không hoạt động liên tục, dữ liệu thu thập không đủ để phân tích Vị trí các máy bẫy ảnh được chọn để đảm bảo tính đại diện về điều kiện tự nhiên như kiểu rừng, độ dốc và khoảng cách đến nguồn nước Mặc dù chưa có nghiên cứu cụ thể về vùng sinh sống của chim Trĩ tại Cát Tiên, tài liệu trước đây cho thấy lãnh thổ sống của Gà lôi hông tía khoảng 0,3 km², từ đó xác định khoảng cách tối thiểu 1 km giữa các máy bẫy ảnh để đảm bảo tính độc lập trong ghi nhận Để ghi nhận hình ảnh hiệu quả, máy bẫy ảnh được gắn trên gốc cây ở độ cao 30-40 cm, chụp 3 hình liên tiếp với khoảng thời gian 0,3 giây giữa các lần chụp, giúp thu thập hình ảnh của các loài chim Trĩ và động vật sống trên nền đất.
16 Hình 2.1 Lắp đặt máy bẫy ảnh ngoài thực địa
17 Hình 2.2 Vị trí của các máy bẫy ảnh tại khu vực nghiên cứu
(Nguồn ảnh vệ tinh: https://www.planet.com/)
18 Hình 2.3 Vị trí của máy bẫy ảnh tại khu vực nghiên cứu trên nền ảnh vệ tinh
2.2.2.2 Các yếu tố tiềm năng ảnh hưởng đến sự hiện diện của các loài chim Trĩ
Khu vực nghiên cứu giữa phía Đông và phía Tây Nam Cát Tiên cho thấy sự khác biệt rõ rệt về điều kiện tự nhiên Phía Đông có địa hình bằng phẳng, độ cao dưới 200 m, ít suối và chủ yếu là rừng bán rụng lá với các loài cây như Bằng lăng, Tung, Râm và Gáo Ngược lại, phía Tây có địa đồi thấp, độ cao từ 200-300 m, nhiều suối nước vào mùa khô, và thảm thực vật chủ yếu là rừng lá rộng thường xanh.
Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng kiểu rừng có thể ảnh hưởng đến sự hiện diện của các loài chim Trĩ, với xu hướng nhiều loài hiện diện ở rừng thường xanh và rừng bán rụng lá, trong khi ít gặp ở rừng tre nứa Một nghiên cứu năm 2017 tại VQG Cát Tiên cho thấy không có sự khác biệt về mật độ giữa các loài chim Trĩ ở hai kiểu rừng này, do đó không đưa yếu tố kiểu rừng vào phân tích Tuy nhiên, độ dốc địa hình và khoảng cách đến nguồn nước lại được xác định là có ảnh hưởng đến phân bố của các loài chim Trĩ, cho thấy đây là những yếu tố tiềm năng cần xem xét.
Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng hiệu quả của công tác quản lý và nỗ lực tuần tra của lực lượng kiểm lâm có ảnh hưởng lớn đến sự hiện diện và phân bố của các loài động vật trong khu vực Sự hiện diện của con người và khoảng cách từ trạm kiểm lâm đến các máy bẫy ảnh được sử dụng để đánh giá hiệu quả quản lý và bảo vệ rừng Ngoài ra, các loài thiên địch như thú ăn thịt nhỏ và khỉ cũng tác động đến sự tồn tại của các nhóm loài Trong nghiên cứu này, các yếu tố như khoảng cách từ máy bẫy ảnh đến trạm kiểm lâm, nguồn nước và độ dốc địa hình được phân tích bằng phần mềm ArcGIS phiên bản 10.3, nhằm đánh giá ảnh hưởng của chúng đến phân bố của các loài chim Trĩ tại Nam Cát Tiên Sự hiện diện của con người và các loài thiên địch được xác định thông qua tổng số hình ảnh ghi nhận tại từng máy bẫy ảnh.
19 Hình 2.4 (a) Kiểu rừng kín thường xanh; (b) Kiểu rừng bán rụng lá (khi chưa rụng lá) Ảnh : Lê Đức Khánh
20 Hình 2.5 Kiểu rừng bán rụng lá vào đầu mùa khô (cây bắt đầu rụng lá) Ảnh : Bùi Quang Khởi
21Hình 2.6 Kiểu rừng bán rụng lá vào mùa khô (cây đang rụng lá)
2.2.3.1 Phân tích dữ liệu từ các máy bẫy ảnh
Hình ảnh từ các máy bẫy ảnh được phân tích để nhận diện loài chim Trĩ, sự hiện diện của con người và các thiên địch như thú ăn thịt nhỏ và khỉ Gói camtrapR phiên bản 0.99.9 được sử dụng trên phần mềm R phiên bản 3.5.3 để quản lý dữ liệu ảnh và xây dựng lịch sử ghi nhận từng loài cho mỗi máy ảnh Dữ liệu lịch sử ghi nhận loài là cơ sở để phân tích xác suất hiện diện và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự hiện diện của chim Trĩ Lịch sử ghi nhận được xây dựng từ các hình ảnh độc lập, với khoảng thời gian giữa hai lần chụp ít nhất 60 phút để tránh ghi nhận cá thể hiện diện quá lâu Bảng dữ liệu thể hiện số lần khảo sát và có hai giá trị: 0 (không ghi nhận) và 1 (đã ghi nhận).
22 Hình 2.7 Bảng lịch sử ghi nhận loài: o1, o2, là các lần khảo sát lặp lại
Để nâng cao độ chính xác của các mô hình toán học trong việc đánh giá xác suất hiện diện của loài, dữ liệu từ 6 ngày hoạt động liên tục của các máy ảnh đã được tổng hợp thành một lần khảo sát lặp lại, nhằm giảm thiểu số lượng giá trị 0 trong bảng lịch sử ghi nhận loài.
Thời gian hoạt động của các máy ảnh ngoài thực địa dao động từ 60 đến 138 ngày, với lịch sử ghi nhận loài từ 10 đến 23 lần khảo sát lặp lại Sự khác biệt về thời gian hoạt động giữa các máy đã được xem xét trong phân tích các mô hình xác suất hiện diện loài Bảng lịch sử ghi nhận loài này được sử dụng để xây dựng các mô hình đánh giá xác suất hiện diện loài mà không có yếu tố môi trường, đồng thời đánh giá các đặc điểm sinh thái của các loài chim Trĩ.
2.2.3.2 Xác suất hiện diện và các đặc điểm sinh thái của các loài chim Trĩ
Xác xuất hiện diện của các loài chim Trĩ tại Nam Cát Tiên
Xác suất hiện diện và xác suất bắt gặp trung bình của các loài chim Trĩ trong khu vực nghiên cứu được đánh giá thông qua mô hình xác suất hiện diện loài, không bao gồm các yếu tố môi trường Mô hình này sử dụng biến phụ thuộc là sự hiện diện (giá trị 1) hoặc vắng mặt (giá trị 0) theo bảng lịch sử ghi nhận loài, cho phép đánh giá xác suất hiện diện độc lập với xác suất bắt gặp Một số giả định cần thiết cho mô hình bao gồm: quần thể phải ở trạng thái “đóng”, các điểm khảo sát và lần thu mẫu lặp lại phải độc lập, và dữ liệu giữa các máy bẫy ảnh cũng phải độc lập Để ước tính xác suất hiện diện, quá trình khảo sát cần được lặp lại nhiều lần, ví dụ như khảo sát 5 lần với 2 lần ghi nhận sự hiện diện ở lần thứ 1 và thứ 4.
- ψ là xác suất hiện diện của một loài
- p i là các xác suất phát hiện được loài ở các lần thu mẫu i
Nếu một loài không xuất hiện trong cả năm lần khảo sát, có thể có hai khả năng về sự hiện diện của loài tại khu vực khảo sát: (1) Loài này hoàn toàn không có mặt tại đây.
(2) Loài có hiện diện nhưng quá trình khảo sát chưa ghi nhận được Cả hai khả năng trên được đưa vào trong công thức (a) và (b)
Trong nghiên cứu này, xác suất hiện diện của loài được ước tính thông qua công thức Pr(hB = 00000) = (1 − ψ) + 𝜓 ∏ 5 𝑖=1 (1 − 𝑝 𝑖 ) Các tham số quan trọng cần ước tính bao gồm ψ (xác suất hiện diện) và p i (xác suất bắt gặp khi có sự hiện diện) Để đơn giản hóa, giả định rằng xác suất ghi nhận sự hiện diện của loài (p) là giống nhau cho tất cả các máy ảnh Phương pháp ước lượng lợp lý cực đại (MLE) được áp dụng để đánh giá xác suất hiện diện của loài ψ.
Một số đặc điểm sinh thái của các loài chim Trĩ tại Nam Cát Tiên cho thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự hiện diện của loài Để đánh giá điều này, các mô hình hồi qui đa biến đã được xây dựng, trong đó các biến số môi trường được đưa vào mô hình xác suất hiện diện của loài theo phương trình (c) [78], [88].
- 𝑙𝑜𝑔𝑖𝑡(𝜃 𝑖 ) là giá trị về xác suất hiện diện của loài (𝜓)
- 𝑥 1 , 𝑥 2 , ,𝑥 𝑖 là giá trị của các biến số môi trường
- 𝛽 1 , 𝛽 2 , , 𝛽 𝑖 là các hệ số hồi quy thể hiện sự ảnh hưởng của các biến môi trường đối với xác suất hiện diện của loài;
- 𝛽 0 là hệ số chặn (intercept)
Các yếu tố môi trường được đưa vào phân tích trong nghiên cứu này bao gồm:
1) Độ dốc địa hình; 2) Khoảng cách từ máy bẫy ảnh tới nguồn nước; 3) Sự hiện diện của thiên địch đó là các loài thú ăn thịt nhỏ như các loài Chồn, Mèo rừng và Khỉ (thiên địch); 4) Sự hiện diện của người dân trong khu vực nghiên cứu (con người);
5) Khoảng cách đến các trạm kiểm lâm (trạm kiểm lâm) Để so sánh và lựa chọn mô hình thích hợp nhất từ các mô hình đã xây dựng, chỉ số AICc [90] được sử dụng để so sánh giữa các mô hình Mô hình tương quan thích hợp nhất là mô hình có chỉ số AICc thấp nhất và chỉ số wi (Akaike model weights) cao nhất [91] Trong trường hợp có nhiều mô hình có chỉ số ΔAICc (Delta_AICc) thấp và sự khác biệt giữa các chỉ số này nhỏ hơn 2, trung bình cộng giữa các mô hình này sẽ được áp dụng để ước tính hệ số hồi quy của các yếu tố môi trường có trong các mô hình này [92] Các biến độc lập liên tục được chuẩn hóa
Trước khi đưa vào các mô hình phân tích, dữ liệu được kiểm tra sự tương quan theo phương pháp Pearson Quá trình xử lý dữ liệu được thực hiện bằng phần mềm R phiên bản 3.5.3, sử dụng các gói camtrapR phiên bản 0.99.9 và Unmarked phiên bản 0.12-3.