Phật giáo đã đi vào ca dao, tục ngữ người Việt một cách tự nhiên và để lại dấu ấn sâu sắc, song các công trình về vấn đề này chưa thật sự được quan tâm nghiên cứu của giới chuyên môn.. V
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thúy Loan
DẤU ẤN PHẬT GIÁO TRONG CA DAO, TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thúy Loan
DẤU ẤN PHẬT GIÁO TRONG CA DAO, TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành : 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã kế thừa những thành quả khoa học của các nhà khoa học và đồng nghiệp với sự trân trọng và biết
ơn Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 4 năm 2022
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thúy Loan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, lòng kính trọng chân thành và sâu sắc nhất của tôi đối với Cô Nhờ sự giúp
đỡ và hướng dẫn tận tình, nghiêm túc của Cô trong suốt quá trình thực hiện luận văn này đã giúp tôi trưởng thành hơn rất nhiều trong cách tiếp cận một số vấn đề Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh, Phòng Sau Đại học, các Thầy Cô trong Khoa Ngữ Văn đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã giúp đỡ, động viên
và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học Thạc sĩ cũng như hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 4 năm 2022
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thúy Loan
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VÀ CA DAO, TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT 11
1.1.Khái quát về Phật giáo 11
1.1.1 Sự hình thành Phật giáo và quá trình Phật giáo du nhập vào nước ta 11
1.1.2 Nội dung cơ bản của Phật giáo 13
1.2.Khái quát về ca dao, tục ngữ người Việt 18
1.3.Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học dân gian người Việt 26
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 DẤU ẤN PHẬT GIÁO TRONG CA DAO, TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 37
2.1.Dấu ấn Phật giáo gắn với đời sống sinh hoạt hàng ngày trong ca dao, tục ngữ người Việt 37
2.1.1 Trong ca dao, tục ngữ về tình yêu quê hương đất nước 37
2.1.2 Trong ca dao, tục ngữ về tình cảm gia đình 45
2.1.3 Trong ca dao, tục ngữ về tình yêu nam nữ 55
2.1.4 Trong ca dao, tục ngữ về các mối quan hệ xã hội 63
2.2 Dấu ấn Phật giáo gắn với đời sống tâm linh trong ca dao, tục ngữ
người Việt 68
2.2.1 Trong ca dao tục ngữ về nhân quả 68
2.2.2 Trong ca dao, tục ngữ về tu hành 73
2.2.3 Trong ca dao, tục ngữ về các phong tục, tập quán 78
Tiểu kết chương 2 86
Trang 6Chương 3 DẤU ẤN PHẬT GIÁO TRONG CA DAO, TỤC NGỮ
NGƯỜI VIỆT - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 87
3.1.Ngôn ngữ mang màu sắc Phật giáo 87
3.1.1 Nguyên nhân các từ ngữ mang màu sắc Phật giáo được dùng nhiều trong ca dao, tục ngữ 87
3.1.2 Từ ngữ mang màu sắc Phật giáo trong ca dao, tục ngữ 89
3.2.Hình ảnh mang màu sắc Phật giáo 99
3.2.1 Hình ảnh mang màu sắc Phật giáo trong ca dao, tục ngữ gắn liền với hình thức thờ cúng 99
3.2.2 Hình ảnh mang màu sắc Phật giáo trong ca dao, tục ngữ phong phú, đa dạng, nhiều tầng nghĩa 101
3.2.3 Hình ảnh mang màu sắc Phật giáo trong ca dao, tục ngữ mang tính chất biểu tượng 103
3.3.Thời gian nghệ thuật mang màu sắc Phật giáo 118
3.3.1 Dùng đơn vị tính thời gian của đạo Phật làm tiền đề cho cảm xúc, đề cập đến những vấn đề cuộc sống 118
3.3.2 Thời gian chính xác, nhất định gắn với các ngày lễ lớn của Phật giáo 121
3.4.Không gian nghệ thuật mang màu sắc Phật giáo 124
3.4.1 Không gian hiện thực khách quan gắn liền với hình ảnh chùa làng thân quen 124
3.4.2 Không gian tâm tưởng mang màu sắc thiền 127
Tiểu kết chương 3 130
KẾT LUẬN 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133 PHỤ LỤC PL1
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học dân gian như dòng sông hiền hòa nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc Dòng sông ấy là nơi phản chiếu chân thực cuộc sống của ông cha ta từ xưa cho đến nay trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, thể hiện tinh thần dân chủ và nhân văn, bộc lộ tâm hồn tinh tế, cung cấp tri thức trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tình cảm… và khơi gợi cảm hứng sáng tạo cho văn học viết Hòa cùng dòng chảy ấy có một bộ phận không nhỏ là ca dao, tục ngữ với đặc tính dễ nói,
dễ hiểu, dễ nhớ đã giữ vai trò quan trọng và khắc họa chân thật, trọn vẹn bức tranh cuộc sống tinh thần của nhân dân ta
Đạo Phật với tinh thần nhập thế, dung hợp được truyền vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ II, ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt trong đời sống tinh thần của người Việt Đạo Phật góp phần hình thành tư tưởng văn hóa, làm phong phú đời sống tôn giáo ở nước ta Giáo lý của đạo Phật nhằm mục đích giúp cho con người thân tâm
an lạc từ đó gia đình yên ổn, đất nước được ổn định tạo ra xã hội hòa ái
Tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng và văn học có mối quan hệ mật thiết,
hỗ tương, đặc biệt là văn học dân gian đã trở thành vấn đề trung tâm trong nghiên cứu văn hóa để con người hiểu biết về cội nguồn, về chính mình và hướng đến tương lai phát triển bền vững Vì thế, ngày nay nghiên cứu văn hóa tâm linh không chỉ chiều rộng mà cả chiều sâu và nó được xem như một trong những nhiệm vụ của khoa nghiên cứu văn học
Nghiên cứu ca dao, tục ngữ mang màu sắc Phật giáo ở một phạm vi nhất định giúp phác thảo lại con đường, cơ chế mà Phật giáo thâm nhập và đời sống tinh thần của dân tộc ta và những giá trị cốt lõi của nó trong đời sống văn hóa dân tộc Qua
đó khám phá cách thức, nhận thức mà nhân dân ta tiếp biến tôn giáo này để nó trở thành yếu tố ưu việt trong quá trình phát triển xã hội
Giải mã các đơn vị ca dao, tục ngữ mang màu sắc Phật giáo chúng ta sẽ thấy được những tinh yếu cốt lõi của Phật giáo như từ, bi, hỉ, xả sẽ giúp con người đẩy lùi lối sống vị kỷ, thực dụng, đề cao cá nhân, trở nên biết quan tâm chia sẻ với người khác Khi chuyển hóa nhận thức và hành vi hướng đến chân, thiện, mỹ thì cái
Trang 8ác giảm đi, mọi xung đột, thù hận được xóa bỏ, con người sẽ được an lạc hơn, đời sống xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Hơn nữa, đó cũng là sự quay lại chiêm nghiệm quá khứ đồng thời mở ra một tương lai với nhiều yêu cầu đổi mới về tư duy, sáng tác văn học, nghiên cứu và cả phát triển kinh tế xã hội
Phật giáo đã đi vào ca dao, tục ngữ người Việt một cách tự nhiên và để lại dấu
ấn sâu sắc, song các công trình về vấn đề này chưa thật sự được quan tâm nghiên
cứu của giới chuyên môn Vì vậy, tôi chọn đề tài “Dấu ấn Phật giáo trong ca dao, tục ngữ người Việt” để góp phần làm rõ thêm một cái nhìn, một cách tiếp cận về
giá trị của thể loại văn học dân gian Nếu được quan tâm đúng mức, khảo sát thu thập thông tin trên diện rộng cũng như phân tích sâu các giá trị của nó ở nhiều góc
độ khác nhau nhất là văn hóa, lịch sử chúng ta có thể làm tài liệu hữu ích cho việc nghiên cứu tôn giáo, nghiên cứu, giảng dạy văn học nói chung và văn học dân gian nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những công trình nghiên cứu về dấu ấn Phật giáo trong văn học dân gian
Năm 2010, có bài nghiên cứu Ảnh hưởng của Phật giáo trong Văn học dân
gian của Ths Thích Đồng Văn đăng trên trang tchanhpb.violet.vn ngày 01/02/2010
Trong bài viết này, tác giả trình bày những ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học dân gian Tác giả cho rằng những truyện ngụ ngôn, những truyện cố tích được lấy chất liệu từ các Phật thoại Những truyện cổ tích thế sự có kết có cốt chuyện lại
chuyên chở giáo lý nhân quả - nghiệp báo của nhà Phật Ông cho rằng “Trong hàng
ngàn năm phong kiến, các tôn giáo phương Đông, đặc biệt là Phật giáo, đã du nhập
và có tác động nhất định đến mọi mặt đời sống của nhân dân, là những hình thái ý thức xã hội tồn tại trong xã hội Phật giáo và văn học dân gian (trong đó có cổ tích) chắc chắn có tác động và ảnh hưởng lẫn nhau”, “tinh thần Phật giáo trong tục ngữ
là một tổng hợp kết tinh của những triết lý dân gian có ý nghĩa nhân sinh cao đẹp thấm đượm tình người”,“Ông cha ta vừa tiếp thu tư tưởng Phật giáo làm kim chỉ nam vừa tạo nền luân lý nhân bản Xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam, Phật giáo
Trang 9trong quá trình du nhập đã hòa mình, thích nghi với tâm hồn dân Việt kết thành mối dây bền chặt giữa Phật giáo và dân tộc”
Năm 2014, có luận văn Thuyết nhân quả trong văn học dân gian Việt Nam
của Hoàng Thị Huế, Đại học quốc gia Hà Nội, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Luận văn gồm hai chương chính: Chương một tác giả khái quát chung về thuyết nhân quả Phật giáo, vài nét về kho tàng văn học dân gian Việt Nam Chương hai tác giả nêu một số biểu hiện của thuyết nhân quả trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Trong chương hai, tác giả có đề cập đến các biểu hiện của thuyết nhân quả với đời sống sản xuất, hôn nhân và gia đình trong ca dao, tục ngữ
Năm 2016, có bài viết Đạo Phật trong văn học dân gian Việt Nam của tác giả
Nguyễn Dư trên trang Thư viện Hoa Sen Bài viết gồm ba phần chính: Phật giáo
trong ca dao tục ngữ, Phật giáo trong truyện dân gian, Phật giáo trong tranh dân gian Với bài nghiên cứu này, tác giả đã lấy các câu ca dao, tục ngữ làm dẫn chứng nhưng chưa đi sâu vào phân tích các yếu tố cũng như ảnh hưởng của Phật giáo như thế nào vào tác phẩm Bên cạnh đó, tác giả đã tóm tắt các câu chuyện cổ Phật giáo
và giải thích chi tiết các điển tích, các thuật ngữ liên quan đến Phật giáo
Năm 2021, có công trình nghiên cứu Giáo dục triết lý Phật giáo qua tác phẩm văn học dân gian của hai tác giả là PGS.TS Nguyễn Thanh Tú và Ths Đào
Thị Ngân Huyền trên trang Ban Hoằng pháp trung ương ngày 15/06/2021 Mở đầu
bài viết tác giả trình bày tư tưởng nhập thế của đạo Phật đồng thời làm rõ mối quan
hệ khăng khít giữa đạo Phật và văn hóa người Việt Tác giả cho rằng đạo Phật và
dân tộc ta “như hình với bóng” nhưng về bản chất thì “bóng từ hình mà có” Để
làm sáng tỏ vấn đề này, tác giả phân tích vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính và vở tuồng Trương Ngáo qua đó chỉ ra những biểu hiện Phật giáo trong tác phẩm đồng thời trình bày mối quan hệ giữa Phật giáo và văn học dân gian từ đó đưa ra những
kiến nghị giáo dục chú trọng dạy “người”
2.2 Những công trình nghiên cứu về dấu ấn Phật giáo trong ca dao tục ngữ
Năm 2012, có công trình Nhân quả qua ca dao của tác giả Thích Phước
Thái đăng trên trang Vĩnh Minh Tự Viện ngày 14/05/2012 Bài viết trình bày rất sâu
sắc về lý Nhân quả trong đạo Phật cả về không gian lẫn thời gian Tác giả khẳng
Trang 10định nhân quả là một chân lý Tác giả cho rằng người Việt vì hiểu được nhân quả nên nhân dân ta đã áp dụng rất nhiều vào cuộc sống hàng ngày Để chứng minh điều này, ông đã chứng mình và phân tích tỉ mĩ về nhân quả qua các câu tục ngữ: “hiền gặp lành”, “Ở ác gặp dữ”, “Có tật giật mình”, “Sinh sự, sự sinh” Từ đó, ông kết
luận rằng “mỗi ngươì hãy tự lo trước cho mình Bằng cách là nên tạo nhiều điều
lành Cố gắng ăn chay niệm Phật giữ giới tu hành Ðó là tự mình khéo biết đầu tư hạnh phúc phước báo cho mình trong hiện đời cũng như mai hậu”
Năm 2014, có bài Ứng xử của người Phật tử đi chùa trong ca dao, tục ngữ
của Vũ Thị Hạnh Trang đăng trên báo Giác ngộ ngày 24/07/2014 Nội dung bài viết
trình bày về các nghi lễ, tâm thức của người Phật tử trong chốn tu hành đồng thời nói lên những nét chính yếu để giữ gìn vẻ nghiêm tịnh cho môi trường tu tập Tác giả đã khéo léo dẫn chứng các câu ca dao, tục ngữ rất phù hợp người đọc dễ dàng thấu cảm, ứng dụng vào cuộc sống
Năm 2014, có công trình nghiên cứu Ảnh hưởng giáo lý Phật giáo qua ca dao - tục ngữ của tác giả Vũ Thị Hạnh Trang - Cao học chuyên ngành Văn hoá
học Khoá 2012 - 2014 đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 3 năm 2014 và trang Phật giáo ngày 12/10/2014 Trong bài nghiên cứu này, tác giả trình bày những
đặc trưng mang màu sắc Phật giáo trong ca dao, tục ngữ như: Vấn đề về ăn chay, quan niệm về luân hồi và kiếp sau, quan niệm về chữ “duyên” hay quan niệm về Phật và ma, cả quan niệm về sự tu hành Bài viết chỉ dừng lại ở các nhận định và đưa ra các câu ca dao hoặc tục ngữ dẫn chứng chưa đi vào phân tích kỹ từng khía cạnh nội dung và nghệ thuật nhưng tác giả đã chỉ ra sự gắn bó mật thiết giữa đạo Phật và văn hóa bản địa và đưa ra các nhận định chính xác, sâu sắc về các biểu hiện của Phật giáo trong ca dao, tục ngữ
Năm 2017, có bài Chữ hiếu qua ca dao Việt Nam và trong kinh điển Phật
giáo của tác giả Thích Nhật Từ đăng trên báo Phật giáo A Lưới ngày 13/08/2017
Trong bài nghiên cứu này, tác giả giải thích ý nghĩa ngày Vu Lan là ngày lễ báo hiếu của dân tộc Việt Nam Tác giả đã nghiên cứu quan điểm chữ hiếu người Việt qua ca dao và quan điểm chữ hiếu trong đạo Phật Tuy nhiên, tác giả trình bày hai quan niệm này hoàn toàn độc lập, chưa có sự so sánh điểm giống và khác nhau giữa
Trang 11hai quan điểm về hiếu này Qua bài viết tác giả thể hiện mong muốn “Hy vọng
những điều trình bày trong bài viết ngắn này sẽ có thể giúp cho bạn đọc hình dung trọn vẹn tinh thần hiếu đạo, báo ân cha mẹ trong Phật giáo và từ đó để tự mỗi chúng ta phải thể hiện nếp sống hiếu đạo phù hợp với lời Phật dạy, trong một chiều kích lợi ích lớn hơn Ðạo hiếu trong Phật giáo mang nhiều giá trị giáo dục đạo đức
Do đó, phàm làm con, bất luận là người xuất gia hay tại gia, phải có ý thứ”
Năm 2018, trên Tạp chí Giáo dục, Số 422 (Kì 2 - 1/2018), tr 50-52; bìa 3 có
bài viết Ảnh hưởng của Phật giáo đối với người Việt qua ca dao, tục ngữ của
Phạm Thị Thúy, trường Đại học sư phạm Hà Nội, đăng trên Tạp chí giáo dục ngày
23/01/2018 Nội dung bài viết trình bày các triết lý nhân sinh của Phật giáo như: luân hồi, nghiệp báo, tứ diệu đế, thập nhị nhân duyên, niết bàn Ảnh hưởng của Phật giáo trong ca dao, tục ngữ trên các thuyết nhân quả, tinh thần từ bi, đạo hiếu, chữ tâm Qua đó, tác giả đã dẫn chứng và phân tích các bài ca dao, tục ngữ để rút ra nhận định về mối quan hệ giữa ca dao, tục ngữ và Phật giáo
Năm 2019, có bài viết Phật giáo và ca dao tục ngữ Việt Nam trên wedsite:
(không có tên tác giả)
https://thienvien.vn/phat-giao-va-ca-dao-tuc-ngu-viet-nam.html Bài viết đã giới thiệu khái quát mối liên hệ giữa Phật giáo và ca dao tục
ngữ Việt Nam Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống, tình cảm, tư tưởng của nhân dân Lập luận bài viết rõ ràng mạch lạc Mỗi một luận điểm tác giả đều khái quát quan niệm cụ thể của Phật giáo và chứng minh luận điểm ấy qua nhiều bài ca dao giúp người đọc tiếp thu dễ dàng
Năm 2021, có công trình nghiên cứu Triết lý, tư tưởng Phật giáo trong ca dao,
tục ngữ Việt Nam của tác giả Thích Tâm Ý – Học viên Cao học Khóa III, Học viện
PGVN tại Tp.HCM đăng trên Tạp chí nghiên cứu Phật học ngày 13/08/2021 Ở
công trình nghiên cứu này, tác giả đã trình bày ba nội dung chính Nội dung thứ nhất, khái lược về ca dao, tục ngữ như định nghĩa, nội dung Nội dung thứ hai, tác giả trình bày tư tưởng Phật giáo qua ca dao, tục ngữ Việt Nam gồm tư tưởng về đạo hiếu, tư tưởng luân hồi nghiệp báo, tư tưởng vô thường, tư tưởng “tâm” Tác giả chứng minh ông bà ta đã chịu ảnh hưởng và hấp thụ các tư tưởng Phật giáo thông qua các ví dụ bằng các câu ca dao, tục ngữ cụ thể Cuối cùng, vai trò của ca dao, tục
Trang 12ngữ trong việc truyền bá tư tưởng Phật giáo Tác giả cho rằng “Trong kho tàng ca
dao, tục ngữ Việt Nam thấm đẫm tư tưởng Phật giáo, về mặt nhân văn qua những
câu ca dao, tục ngữ chúng ta có thể truyền tải những giá trị, những bài học luân lý
đạo đức cho con cháu, từ thế hệ này sang thế khác một cách dễ dàng Về phương
diện Phật giáo, qua những câu thơ ca đó, tư tưởng Phật giáo được truyền tới quần
chúng nhân dân một cách tự nhiên, dễ dàng, hoàn toàn không gượng ép, khuông
sáo, như những làn gió mát lướt qua nhận thức chúng ta một cách êm ái, như chính
những lời ru à ơi của mẹ ngày nào”
Năm 2021, có công trình nghiên cứu Tính nhân quả trong ca dao, tục ngữ Việt
Nam và nền tảng đạo đức con người của Thích Nữ Huệ Đàm – Học viên Thạc sĩ
Khóa III, Học viện PGVN tại Tp.HCM đăng trên Tạp chí nghiên cứu Phật học ngày
31/08/202 Trong bài viết này, tác giả khái quát những biểu hiện nhân quả trong
ca dao, tục ngữ ở khía cạnh nội dung qua đó khẳng định những giá trị, nền tảng đạo đức mà triết lý về nhân quả mang lại cho người Việt trong ca dao, tục ngữ Từ
đó cho thấy những ảnh hưởng tích cực trong đời sống xã hội do thuyết nhân quả
mang lại
2.3 Tình hình nguồn tư liệu khảo sát
Tư liệu khảo sát chủ yến về ca dao, tục ngữ gồm:
Ca dao, tục ngữ Phật giáo Việt Nam của tác giả Lệ Như Thích Trung Hậu
(2015) Hà Nội: Nxb Hồng Đức Mặt dù chưa nói rõ nguồn tài liệu nào nhưng đây
là công trình này tác giả đã sưu tầm trong ba mươi năm từ nhiều nguồn tài liệu khác
nhau, chọn ra khoảng 2000 câu ca dao, tục ngữ mang màu sắc Phật giáo Tác giả
sắp xếp thành hai phần: Phần 1 sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái La tinh, phần 2 sắp
xếp theo chủ đề như Đức Phật, Pháp, Tăng già Đây là công trình sưu tầm không có
chú thích, giải nghĩa
Tuyển tập Kho tàng tục ngữ người Việt tập 1 và tập 2 của Nguyễn Xuân
Kính - Nguyễn Thúy Loan - Phan Lan Hương - Nguyễn Luân Đà Nẵng: Nxb Văn
hóa thông tin Công trình tập hợp 16098 câu tục ngữ tinh chọn từ 52 đầu sách (gồm
63) tập, trong đó cuốn xuất bản sớm nhất vào năm 1896 và mới nhất 1999 Đây là
Trang 13công trình tập hợp đầy đủ nhất và có chú giải rõ ràng Công trình được sắp xếp theo
thứ tự La tinh và hệ thống tra cứu theo chủ đề khá thuận tiện cho việc khảo cứu
Tuyển tập Ca dao (Tinh hoa văn học dân gian người Việt) của Nguyễn Xuân
Kính (2009) Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội Đây là công trình sưu tầm không có
chú giải gồm bốn tập, được chia thành nhiều chủ đề khác nhau như: Đất nước và
lịch sử, sinh hoạt văn hóa và văn nghệ, lao động và nghề nghiệp, quan hệ gia đình
và xã hội
Qua các công trình này tôi đã khảo sát, thống kê, tuyển chọn ra khoảng
1333 câu ca dao, tục ngữ mang màu sắc Phật giáo nhằm phục vụ cho mục đích
nghiên cứu
Qua các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy có nhiều bài nghiên
cứu về sự ảnh hưởng của các triết lý, tư tưởng Phật giáo đến ca dao, tục ngữ người
Việt Tuy nhiên, các công trình này chỉ dừng lại ở một khía cạnh nhất định như về
cách ứng xử, về đạo hiếu, hay nhân quả chưa có sự khái quát và toàn diện Hơn nữa,
các công trình trên chủ yếu là nghiên cứu về mặt nội dung, chưa có công trình nào
đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu của người
đi trước để lại là nguồn tài liệu tham khảo quý giá để chúng tôi tham khảo trong quá
trình nghiên cứu luận văn này
Trong đề tài này, tôi muốn kế thừa, bổ sung nhằm phát triển các vấn đề của
các công trình nghiên cứu trước để có cái nhìn khái quát hơn về triết lý của Phật
giáo, yếu tố của Phật giáo trong ca dao, tục ngữ Trong giới hạn luận văn, tôi muốn
đi sâu vào phân tích có hệ thống các luận điểm trên cơ sở phương pháp luận đúng
để mỗi người có tư duy đúng, hành động đúng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành khảo sát và phân tích
các biểu hiện của Phật giáo trong ca dao, tục ngữ Việt về nội dung lẫn nghệ thuật để
thấy rõ dấu ấn Phật giáo và các ảnh hưởng tích cực của nó trong đời sống của người
Việt Qua đó, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu sâu hơn
về ca dao, tục ngữ mang màu sắc Phật giáo
Trang 143.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành sưu tầm và hệ thống lại các đơn vị ca dao, tục ngữ có biểu hiện Phật giáo Tiếp đến, phân tích, lý giải những biểu hiện của Phật giáo trong đời sống hàng ngày cũng như tâm linh của người Việt ở phương diện nội dung Cuối cùng tìm ra những dấu ấn đặc trưng trong ca dao, tục ngữ qua phương diện nghệ thuật
4 Đối tương và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Văn học dân gian có rất nhiều vấn đề cần được quan tâm Tuy nhiên, trong giới hạn về thời gian nghiên cứu, tôi chỉ tiến hành khảo sát và phân tích các biểu hiện của Phật giáo trong ca dao, tục ngữ người Việt
Kho tàng tục ngữ người Việt tập 1, Nguyễn Xuân Kính - Nguyễn Thúy
Loan - Phan Lan Hương - Nguyễn Luân (2002) Đà Nẵng: Nxb Văn hóa thông tin
Kho tàng tục ngữ người Việt tập 2 Nguyễn Xuân Kính - Nguyễn Thúy
Loan - Phan Lan Hương - Nguyễn Luân (2002) Đà Nẵng: Nxb Văn hóa thông tin
Ca dao quyển 1 (Tinh hoa văn học dân gian người Việt), Nguyễn Xuân Kính
(2009) Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội
Ca dao quyển 2 (Tinh hoa văn học dân gian người Việt), Nguyễn Xuân Kính
(2009) Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội
Ca dao quyển 3 (Tinh hoa văn học dân gian người Việt), Nguyễn Xuân Kính
(2009) Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội
Ca dao quyển 4 (Tinh hoa văn học dân gian người Việt), Nguyễn Xuân Kính
(2009) Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội
Từ đó, chúng tôi chọn lọc ra 1333 đơn vị ca dao, tục ngữ mang màu sắc Phật giáo và tiến hành nghiên cứu dựa trên tài liệu này
Trang 155 Đóng góp của đề tài
Thể loại ca dao, tục ngữ có rất nhiều công trình nghiên cứu nhưng số lượng công trình nghiên cứu về ca dao, tục ngữ mang dấu ấn Phật giáo lại rất hạn chế Có rất ít công trình nghiên cứu đi sâu vào tiếp cận ca dao, tục ngữ theo hướng Phật giáo
để làm nổi bật những đặc trưng về nội dung lẫn nghệ thuật của nó Vì thế, xuất phát
từ mục đích nghiên cứu đề tài “Dấu ấn Phật giáo trong ca dao, tục ngữ người Việt” chúng tôi hy vọng đề tài sẽ góp phần làm rõ hơn nét đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: Tiếp cận tác phẩm văn học dân gian nói chung, ca dao, tục ngữ nói
riêng theo hướng theo hướng Phật giáo
Thứ hai: Chỉ ra các dấu ấn của Phật giáo trong ca dao, tục ngữ nhìn từ phương
diện nội dung
Thứ ba: Chỉ ra các dấu ấn của Phật giáo trong ca dao, tục ngữ nhìn từ phương
diện nghệ thuật
Thứ tư: Nhận thức rõ hơn về mối quan hệ, ảnh hưởng giữa Phật giáo và ca dao,
tục ngữ; đồng thời hiểu thêm giá trị về nhiều mặt của ca dao, tục ngữ trong đời sống dân gian
Thứ năm: Sưu tầm, hệ thống các đơn vị ca dao, tục ngữ mang dấu ấn Phật giáo phục vụ cho học tập, nghiên cứu thuận lợi hơn
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hệ thống: Đặt ca dao, tục ngữ vào hệ thống thể loại văn học
dân gian Việt Nam để thấy được những nét đặc sắc của các thể loại này Trên cơ sở
đó, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện và phát hiện những điều mới lạ có liên quan đến dấu ấn Phật giáo trong ca dao, tục ngữ
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Sử dụng kết quả nghiên cứu của các
ngành văn hóa học, lịch sử học… để hiểu rõ hơn về bản chất, các triết lý của Phật giáo Từ đó, cảm nhận sâu sắc hơn về dấu ấn Phật giáo trong ca dao, tục ngữ
Phương pháp so sánh: Ca dao, tục ngữ chiếm số lượng lớn các tác phẩm
trong các thể loại văn học dân gian Việt Nam Khi nghiên cứu dấu ấn Phật giáo trong các thể loại này cần có cái nhìn so sánh với các thể loại khác để thấy được những điểm chung và riêng từ nét đặc sắc, ý nghĩa của thể loại này
Trang 16Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp thống kê nhằm có số liệu
chính xác, tạo nên cơ sở nghiên cứu khoa học, tránh sự võ đoán
Bên cạnh đó, chúng tôi vận dụng thao tác phân tích, bình luận, tổng hợp để chứng minh cho các lập luận, lí lẽ cá nhân trên cơ sở khai thác phân tích các dẫn chứng trích từ những công trình sưu tầm, biên soạn về ca dao, tục ngữ người Việt
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Khái quát về Phật giáo và ca dao, tục ngữ người Việt Chương này trình bày nguồn gốc, quá trình du nhập vào Việt Nam và các triết lý cơ bản của Phật giáo Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ khái lược về ca dao, tục ngữ như: Định nghĩa, nội dung, nghệ thuật Đặc biệt, chỉ rõ ảnh hưởng của Phật giáo vào các thể loại văn học dân gian
Chương 2 Dấu ấn Phật giáo trong ca dao, tục ngữ người Việt - Nhìn từ phương diện nội dung: Ảnh hưởng của Phật giáo gắn với đời sống hàng ngày, dấu
ấn của Phật giáo gắn với đời sống tâm linh trong ca dao, tục ngữ người Việt
Chương 3 Dấu ấn Phật giáo trong ca dao, tục ngữ người Việt - Nhìn từ phương diện nghệ thuật: Ngôn ngữ mang màu sắc Phật giáo, hình ảnh mang màu sắc Phật giáo, không gian nghệ thuật mang màu sắc Phật giáo, thời gian nghệ thuật mang màu sắc Phật giáo
Đặc biệt là phần phụ lục, chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc ra 1333 đơn vị ca dao, tục ngữ mang màu sắc Phật giáo và xếp theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Việt để bạn đọc thuận tiện hơn trong quá trình học tập, nghiên cứu được thuận lợi hơn Phần này là minh chứng cho thấy sự ảnh hưởng sâu rộng của Phật giáo đối với người Việt trong tư duy, tình cảm được bộc lộ qua ngôn ngữ và sinh hoạt sống
Trang 17Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VÀ CA DAO,
TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT 1.1 Khái quát về Phật giáo
1.1.1 Sự hình thành Phật giáo và quá trình Phật giáo du nhập vào nước ta
1.1.1.1 Sự hình thành của Phật giáo
Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Về điều kiện tự nhiên: Ấn Độ cổ đại là một lục địa nằm ở phía Nam Châu Á thuộc khu vực Đông Nam Á: Lãnh thổ vừa có núi cao, vừa có biển rộng, vừa có đồng bằng, lại có sa mạc; Khí hậu vừa có nắng nóng, vừa có tuyết rơi; Phía Đông có sông hằng chảy về, Phía Tây có sông Ấn chảy về
Về kinh tế - xã hội: Vào khoảng thế kỉ X - I (TTL) là nền kinh tế chiếm hữu
nô lệ, nông nghiệp phát triển mạnh mẽ với mô hình “Công xã nông thôn” ruộng đất thuộc về nhà nước Chính điều này làm cho xã hội Ấn Độ phân hóa và tồn tại bốn đẳng cấp
- Giai cấp Bà La Môn - đẳng cấp có địa vị xã hội cao nhất, gồm những nhà hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp
- Giai cấp Sát Đế Lị - đẳng cấp vua quan và võ sĩ
- Giai cấp Vệ Xá - đẳng cấp của người bình dân như nông dân, thợ thủ công, thương nhân
- Giai cấp Thủ Đà La - giai cấp thấp nhất gồm những người bị bại trận, phá sản, không có tư liệu sản xuất
Sự phân biệt đẳng cấp vô cùng khắc nghiệt trên nhiều mặt Thủ Đà La là giai cấp thấp nhất nên chịu nhiều áp bức bóc lột nhất, họ vô cùng căm ghét ba đẳng cấp trên Bên cạnh đó, xã hội Ấn Độ còn có sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi và tôn giáo làm cho xã hội vô cùng ngột ngạt Mặt khác, giai đoạn này các học phái đua nhau phát khởi Phật giáo - kêu gọi tình yêu thương, sự bình đẳng xã hội và chống lại sự phân biệt chủng tộc ra đời trong giai đoạn này là ước mơ, là khát vọng, là điểm tựa của các giai cấp dưới Vì thế nó vấp phải làn sóng phản đối của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp
Trang 181.1.1.2 Người sáng lập ra đạo Phật
Người sáng lập ra đạo Phật là Đức phật Thích - Ca ông sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 trước Tây lịch và mất năm 483 trước Tây lịch Ngài tên là Tất - Đạt - Đa vốn là Thái tử của Ấn Độ, con vua Tịnh - Phạn Mẫu thân là hoàng hậu Ma - Da Năm 29 tuổi Ngài đã quyết tâm xuất gia tầm đạo để giải thoát khổ đau cho con người trong xã hội Trải qua sáu năm tu hành khổ hạnh, Ngài nhận ra muốn tìm được chân lý phải theo con đường trung đạo Sau bốn mươi chín ngày ngày nhập định dưới cây bồ đề, Đức Phật đã giác ngộ được đạo quả vô - thượng, chính - đẳng,
chính - giác Tại vườn Lộc Uyển, Đức Phật đã bắt đầu bài pháp đầu tiên đó là “Tứ
diệu đế” Lúc bấy giờ Ngài 35 tuổi Sau đó, Ngài đã đi khắp nơi truyền bá tư tưởng
của mình đồng thời sáng lập ra tôn giáo mới đó là Phật giáo Tư tưởng Phật ban đầu được truyền miệng, sau khi Phật nhập niết bàn, giáo pháp của ngài được các chúng
đệ tử kết tập lại thành giáo điển qua bốn lần diễn ra tại những địa điểm và thời gian
khác nhau đã viết thành văn, gọi là “Tam tạng” gồm:
- Tạng kinh: Ghi lại lời Phật dạy
- Tạng luật: Gồm các giới luật của đạo Phật
- Tạng luận: Gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả thế hệ sau
1.1.1.3 Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta
Trước khi Phật giáo du nhập vào nước ta, nhân dân ta đã có đời sống tín ngưỡng khá phong phú, trong đó có tín ngưỡng đa thần như thần mây, thần mưa, thần sấm, thần sét… Đến thế kỷ thứ II, nền kinh tế phát triển, đặc biệt là chính sách
mở rộng đã thu hút các đoàn thương nhân Ấn Độ, trong đó có thương nhân Phật tử
và Tăng sĩ người Ấn Độ Ban đầu họ đi theo với mục đích cầu an, về sau trong quá trình giao thương và sinh sống họ bắt đầu truyền bá những tín ngưỡng Phật giáo vào nước ta Bằng sự linh hoạt và uyển chuyển, đạo Phật đã từng bước hòa nhập vào đời sống người Việt, được người Việt chấp nhận bởi tư tưởng và triết lý nhân văn của
nó
Theo các cứ liệu lịch sử, Chử Đồng Tử là người Phật tử Việt Nam đầu tiên học pháp từ Phật Quang còn mang nặng màu sắc Ấn Độ Đến Man Nương bắt đầu Việt
Trang 19Nam hóa dần Sau này Man Nương được xem là người Phật mẫu trong tín ngưỡng Phật giáo Việt Nam được thờ tại chùa Phúc Nghiêm Kế đến là tín ngưỡng tứ pháp đặc biệt là Phật Pháp Vân Điều đó cho thấy quá trình bản địa hóa Phật giáo của Việt Nam và ngược lại một cách tự nhiên, nhẹ nhàng không có sự chống đối, xung khắc với văn hóa bản địa
Sau Chữ Đồng Tử có nhiều danh sĩ bản địa hoặc nước ngoài như Khâu Đà La
và Ma Ha kỳ Vực người Ấn Độ Các Tu sĩ người Trung Quốc sang lánh nạn, các nhân vật lịch sử như Tu Định, Man Nương sinh sống ở nước ta trong thời gian dài
Vì thế, họ đã có những ảnh hưởng nhất định với nền văn hóa nước ta và ngược lại Trong đó có những vị cao tăng tiếng tăm lừng lẫy như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, Đạo Thanh, Huệ Thắng, Đạo Thiền…
Qua hơn 2000 năm, Phật giáo ở Việt Nam lúc suy, lúc thịnh qua từng thời đại
có sự khác nhau Vào thời đại nhà Lý và nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh và được xem là quốc đạo Đến thời nhà Hậu Lê rồi Nguyễn Triều, Nho giáo chiếm ưu thế phục vụ cho việc cai trị dân tộc, Phật giáo dần suy thoái Khi Pháp sang xâm lược nước ta, Phật giáo càng suy đồi, không còn thuần túy, cao siêu mà chỉ là một tôn giáo thờ thần với nhiệm vụ lo việc cúng bái Vào những thập niên đầu thế kỷ
XX, do ảnh hưởng phong trào chấn hưng Phật giáo trên thế giới, Phật giáo Việt Nam cũng bắt đầu chuyển mình phục hưng Đến năm 1964, các hội đoàn Phật giáo miền Nam Việt Nam đã thống nhất thành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Năm 1981 chín tổ chức Phật giáo trong cả nước đã tổ chức đại hội, thống nhất
làm một và lấy danh hiệu là “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” Dù trải qua nhiều
thăng trầm cùng vận mệnh của đất nước, nhưng Phật giáo luôn đồng cam cộng khổ trong công cuộc dựng nước, giữ nước của dân tộc Tuy hòa mình chảy vào lòng dân tộc nhưng Phật giáo vẫn giữ được vẻ đẹp riêng và những đóng góp to lớn, quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta
1.1.2 Nội dung cơ bản của Phật giáo
1.1.2.1 Thuyết Nhân - duyên - quả
Theo đức Phật con người làm chủ các hành vi của mình, con người làm chủ số phận của mình Không có một đấng quyền năng nào ban phát số phận của con
Trang 20người mà chỉ có họ mới tạo nên số phận của chính mình mà tất cả đều tuân theo quy
luật nhân - duyên - quả hay còn gọi là luật Nhân quả Luật nhân quả là cái hoàn
toàn tự nhiên, thiên nhiên không chỉ trong thế giới con người mà cả trong vũ trụ và vạn vật Luật này con người không thể đặt ra mà chỉ có thể khám phá ra
Nhân là chỉ nguyên nhân, quả là kết quả Nhân quả là một định luật tất nhiên
có tương quan mật thiết với nhau và chi phối tất cả mọi vật Tuy nhiên, nhân quả là một định luật nằm trong lý nhân duyên Trong vũ trụ mọi vật đều có mối quan hệ mật thiết với nhau, kế thừa nhau Hay nói đúng hơn là mọi vật đều có nhân duyên với nhau, không có cái nào biệt lập với cái nào Trong đó, nhân là chính của quả và ngược lại Tuy nhiên, để đi từ nhân đến quả phải có yếu tố duyên Duyên là quá trình, là yếu tố quyết định từ nhân đến quả Chẳng hạn một quả trứng không thể nở
ra con gà nếu không có điều kiện nhiệt độ thích hợp ta gọi trứng là nhân, gà là quả, nhiệt độ là duyên Mọi sự vật trong vũ trụ đều là do nhiều nhân duyên hợp thành, không có nhân nào tự kết thành quả nếu không có duyên, không có nhân nào tồn tại độc lập mà không có sự trợ duyên của các nhân khác
Nhân nào thì quả ấy Nhân tốt cho ra quả tốt và ngược lại Hay đúng hơn nhân
đi đôi với quả, khi thay đổi nhân thì quả cũng thay đổi, gieo nhân càng nhiều thì gặt quả càng nhiều Nhưng quả còn phụ thuộc vào duyên ví dụ ta gieo thật nhiều đậu nếu không tưới nước, bón phân thì chắn chắn hạt nảy mầm sẽ ít quả không nhiều
Vì thế, con người có thể thay đổi quả bằng cách thay đổi duyên Trong cuộc sống con người cần gieo nhân lành thì mới gặp quả tốt, gieo nhân ác đương nhiên sẽ gặp quả xấu Tuy nhiên, nếu ta lầm lỡ làm điều sai ta cố gắng thay đổi duyên bằng cách sám hối, tu tập sửa mình để tránh những quả xấu
Sự phát triển từ nhân đến quả không nhất thiết như nhau, có khi nhanh hoặc chậm tùy vào duyên Có khi gieo xuống một thời gian mới trổ Ví dụ như gieo lúa khoảng bốn tháng sau mới thu hoạch Có khi gieo nhân xuống vài năm hoặc vài chục, vài trăm năm sau mới có quả Thậm chí ta gieo trồng ta muốn nhanh thu hoạch có thể chăm tưới nước bón phân thì cây sẽ phát triển nhanh hơn quá trình thu hoạch sẽ đến nhanh hơn và kết quả bộ thu hơn Vì vậy chúng ta đừng thắc mắc vì
Trang 21sao có những người ở ác gặp nhiều may mắn, kẻ ở hiền luôn bị xui xẻo tất cả đều là duyên đưa đẩy đến nhanh hay chậm mà thôi
Các giáo lý của Phật giáo nói chung cũng như luật nhân quả nói riêng không phải là một lý thuyết suông, nó được đặt trên nền tản của lý trí và thực nghiệm Luật nhân quả được Đức Phật trong phạm vi tinh thần và không chỉ áp dụng trong một thời gian nhất định mà trông suốt quá khứ, hiện tại và tương lai mà Đức Phật gọi đó
là luân hồi
1.1.2.2 Thuyết tứ diệu đế
Tứ diệu đế là bài Pháp đầu tiên mà Đức Phật chuyển pháp luân, đầu tiên ngài thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển và cũng là bài pháp cuối cùng mà ngài thuyết pháp lại trước khi nhập niết bàn Tứ diệu đế được xem là cốt lõi, nền tảng của hệ thống giáo lý nhà Phật, cho đến ngày nay tất cả các tông phái của Phật giáo đều sử dụng giáo lý này
Có nhiều nguồn tài liệu định nghĩa về Tứ diệu đế hay Tứ thánh đế nhưng chung quy lại Tứ diệu đế là bốn sự thật mầu nhiệm mà Đức Phật phát hiện ra Bốn
sự thật này, là kim chỉ nam giúp con người từ bỏ khổ đau đến bờ hạnh phúc, từ phàm nhân trở thành Thánh, từ Thánh trở thành Phật Tứ diệu đế không phải chỉ đơn thuần là lý thuyết, là giáo lý mà nó là quá trình thực tập đem lại sự giác ngộ hoàn toàn cho con người Do đó, con người cần phải tinh tấn tu tập trong suốt quá trình sống của mình Con người muốn thoát khổ, cần phải hiểu rõ nhân duyên của khổ, biết được vì sao mà có khổ, cái khổ phát sinh từ đâu, dựa vào đó mà nỗ lực diệt trừ cái khổ Vì thế Đức Phật đã khái quát bốn chân lý ấy gồm: Khổ đế là chân lý về khổ Tập đế là chân lý về nguyên nhân của khổ Diệt đế là chân lý về khả năng chấm dứt khổ Đạo đế là chân lý về con đường thoát khổ
Khổ đế: Khổ đế là những chân lý về cái khổ Khổ đế gồm hai nhóm chính là
khổ về thân và khổ về tâm Khổ về thân như: Sinh, lão, bệnh, tử Khổ về tâm gồm:
Ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, ghét mà gặp gỡ là khổ
Tập đế: Là sự thật đúng đắn về nguyên nhân chứa những nhóm khổ Đức Phật
đã đưa ra mười nguyên nhân đau khổ là do: Tham, sân, si, mạng, nghi, thân kiến,
Trang 22biến kiến, kiến thủ, giới cấm và tà kiến Đấy là những dục vọng đưa con người đến khổ đau
Diệt đế: Là chấm dứt, dập tắt Đế là sự thật đúng đắn Diệt đế là sự thật về
chấm dứt đau khổ hay còn có tên gọi khác là sự thật về an lạc, hạnh phúc
Đạo đế: Đóng vai trò then chốt, như một chìa khóa mở ra toàn bộ thế giới an
lạc cho Tứ diệu đế Chúng ta biết được thế nào khổ đau, vì sao chúng ta khổ đau thì cuộc sống thật là tăm tối nhưng Đức Phật với lòng từ bi đã mở ra con đường mới cho chúng đến hạnh phúc viên mãn và mãi mãi không còn sinh tử luân hồi Đây cũng chính là Bát chánh đạo
1.1.2.3 Bát chánh đạo
Bát chánh đạo là một trong những giáo lý căn bản của đạo đế Bát chánh đạo
là tám sự thật hành trì chân chánh giải thoát nỗi khổ đạt được Niết bàn Bát chánh đạo gồm: Chánh kiến: thấy đúng Chánh tư duy: nghĩ đúng Chánh ngữ: lời nói đúng Chánh nghiệp: hành động đúng đưa đến hạnh phúc Chánh mạng: nghề nghiệp không sát sanh, không gây đau khổ cho chúng sinh Chánh tinh tấn: siêng năng tu tập Chánh niệm: Ghi nhớ và suy nghĩ Chánh định: tập trung vào tư tưởng,
tu tập thiền định Bát chánh đạo có thể huân tập trong mọi hoàn cảnh, giúp con người cải tạo các hành vi bất chính hướng đến các giá trị chân, thiện, mĩ
Chánh kiến: Chánh là đúng đắn, kiến là nhận thức, vậy chánh kiến là nhận
thức đúng đắn Chánh kiến là bước rất quan trọng vì nhận thức đúng mới có thể đưa đến hành động đúng
Chánh tư duy: Là suy nghĩ chân chính, không trái với lẽ phải Tư duy chân
chính là tư duy biết diệt ngũ dục, tư duy lành thiện, từ bi với chúng sinh, xa rời tham sân si, không làm khổ người, khổ mình
Chánh ngữ: Là lời nói chân chính Không nói dối chỉ nói lời chân thật
Không nói lời chia rẽ nên nói lời hòa hợp Không nói lời thô tục nên nói lời nhã nhặn Không nói lời vô ích nên nói lời hữu ích
Chánh nghiệp: Là tuân theo ngũ giới không sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói
dối, nghiện ngập Luôn làm việc thiện dựa trên tâm từ, tạo ra công đức
Trang 23Chánh mạng: Là sống bằng các nghề nghiệp lương thiện không bóc lột người
khác, xâm hại đến lợi ích người khác
Chánh tinh tấn: Là siêng năng, cố gắng, chú tâm và kiên trì đi đến lý tưởng
đúng đắn mà mình đeo đuổi Nên tinh tấn hành thiện pháp, tinh tấn tăng trưởng thiện pháp, tinh tấn ngăn ác pháp, tinh tấn diệt ác pháp
Chánh niệm: Niệm là ghi nhớ suy nghĩ Chánh niệm gồm: Chánh ức niệm tức
suy nghĩ về quá khứ Quán chánh niệm quan sát hiện tại và khởi đầu tương lai Chánh niệm khuyến tập ý thức tập trung vào khoảnh khắc của hiện tại
Chánh định: Định được hiểu là thiền định, tập trung vào thiền pháp có lợi cho
mình và có lợi cho người Quá trình này đòi hỏi con người phải thật sự tinh tấn
1.1.2.4 Ngũ giới
Đức Phật đưa ra rất nhiều giới luật nhằm áp dụng cho nhiều hạng người khác nhau Riêng đối với hàng Phật tử tại gia người đưa ra năm giới là: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu Khác với các tôn giáo khác, Đức Phật chỉ dẫn đường khuyến khích con người thực hiện Ngài không buộc người Phật tử tuân theo một cách triệt để mà tùy thuộc vào tâm của mỗi người
Không sát sanh: Nghĩa là không sát hại mạng sống bao gồm con người, các
loài vật từ lớn đến bé kể cả côn trùng, sâu bọ…Chúng ta không giết hại, không làm đánh đập gây tổn thương, đau đớn cho người và vật khác Không ra tay, xúi giục, cổ
vũ cho các hành động sát sinh Khi thấy người khác sát sinh ta nên mở rộng lòng từ
bi xót thương và can ngăn
Không trộm cắp: Trộm cắp là lấy đi những gì thuộc quyền sở hữu của người
khác mà chưa được sự cho phép Các sở hữu như trí tuệ, thời gian, tài sản từ những vật có giá trị như nhà cửa, đất đai cho đến những vật nhỏ bé như cây kim, cọng cỏ người khác chưa cho mà mình tự ý lấy đều là trộm cắp Các hành vi cướp giật, dùng quyền hành, vũ lực ép buộc, các thủ đoạn lừa đảo, cân non đong thiếu, giật nợ, giật hụi, trốn thuế … đều là trộm cắp Người Phật tử không nên trộm cắp Không bày mưu, xúi giục người khác trộm cặp Không sử dụng tài sản do người khác trộm cắp
mà có Khi thấy người khác trộm cắp ta nên khuyên bảo, căn ngăn
Trang 24Không tà dâm: Tà dâm là quan hệ tình dục phi lễ, phi pháp Đối với người
xuất gia phải đoạn trừ dâm dục, còn người tại gia thì không được tà dâm Nam nữ được gia đình, xã hội, luật pháp công nhận là vợ chồng đó là chánh Các mối quan
hệ trước hôn nhân, ngoại tình, dụ dỗ, lừa gạt, cưỡng ép, thủ dâm, đồng giới, vợ chồng không biết tiết chế quan hệ không đúng lúc, đúng nơi… đều gọi là tà dâm Người Phật tử không nên phạm vào lỗi này, càng không bày mưu, sắp đặt, xúi giục cho người khác tà dâm Nếu biết người khác phạm giới này ta nên chân thành khuyên bảo
Không nói dối: Là không nói sai sự thật, nói lời thêu dệt, nói lời hai chiều, nói
lời thô ác Nói sai sự thật là chuyện có nói không, chuyện không nói có; việc phải nói trái, việc trái nói phải; việc nghe nói không, việc không nói nghe; trước mặt ngọt ngào, sau lưng chê bai… là những lời nói dối
Không uống rượu: Không uống rượu hay không sử dụng các chất kích thích
ngây nghiện Bản thân người Phật tử không sử dụng, đồng thời không khuyến khích, xúi giục người khác sử dụng
Ngũ giới là nền tản trí tuệ, đạo đức và tình thương Người giữ được ngũ giới
sẽ không rơi vào ác nghiệp luân hồi, thân tâm an lạc, gia đình hạnh phúc, xã hội hưng thịnh Ngũ giới không những đem lại lợi ích cho Phật tử mà bất kỳ ai muốn có cuộc sống lành thiện đều có thể thực hiện được
Phật giáo lấy con người là trung tâm, xây dựng triết lý dựa trên nền tảng thực nghiệm Khi du nhập vào nước ta đã sớm hòa mình với tính ngưỡng dân gian và văn hóa bản địa nên dễ dàng được chấp nhận Phật giáo Việt Nam là nền Phật giáo nhập thế, có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của dân tộc trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt góp phần làm phong phú đời sống tôn giáo của người Việt
1.2 Khái quát về ca dao, tục ngữ người Việt
1.2.1 Khái quát về ca dao
1.2.1.1 Định nghĩa
Trong quyển Việt Nam văn học sử yếu (1968) của Dương Quảng Hàm định
nghĩa: “Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát
ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình phong tục của người bình dân
Trang 25Bởi thế ca dao cũng được gọi là phong dao (phong: phong tục) nữa (Dương Quảng
Hàm, 1968)
Trong quyển Văn học dân gian Việt Nam (2001) của Đinh Gia Khánh định
nghĩa: “Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt Theo cách hiểu thông thường thì ca
dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại” (Đinh Gia Khánh, 2001)
Nhìn chung ca dao là một thể loại văn học dân gian, là những lời thơ trữ tình truyền miệng từ đời này qua đời khác dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, biểu hiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân Việt Nam Do tính chất truyền khẩu nên ca dao thường có dị bản
1.2.1.2 Nội dung
Nội dung ca dao rất phong phú, đa dạng Diễn tả trực tiếp hoặc gián tiếp tâm
tư tình cảm cá nhân, đời sống xã hội, các phong tục tập quán tín ngưỡng hay chân lý nào đó hay đơn giản là các bài hát về việc trẻ con Ca dao được chia thành nhiều tiểu loại như: Đồng dao, hát ru, các bài ca dao than thân, ca dao lao động Đồng dao
là những bài hát dành cho trẻ con, gắn liền với các hoạt động vui chơi và trò chơi Hát ru là những bài ca dao nhẹ nhàng để ru em bé ngủ Các bài hát nhà nghề là những bài hát trong lúc lao động để quên đi mệt mỏi, vui vẻ làm việc như: Bài hát của người thợ cấy, bài hát của người chèo đò Các bài tả tâm lý người đời Các bài
có tính cách xã hội như tả tình cảnh các hạng người trong xã hội hay phong tục, tập quán, tín ngưỡng, dị đoan của người bình dân nước ta Các bài dạy những điều thường thức như canh nông, sản vật, thiên văn, sông núi… Các bài hát phong tình
1.2.1.3 Nghệ thuật
Thể thơ
Đa số ca dao được sáng tác theo thể thơ lục bát Với những âm điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển, thể thơ này góp phần làm cho bài ca dao đầy ý tứ dễ đi vào lòng người:
“Bao giờ dân nổi can qua/Con Vua thất thế lại ra quét chùa”
Song thất lục bát cũng là thể thơ sử dụng khá phổ biến trong ca dao Thể thơ này thường theo nhịp 3/4 diễn tả tâm trạng đầy khúc mắc, những tình cảm khổ đau, không trọn vẹn
Trang 26Ngoài ra ca dao còn sử dụng thể vãn và thể hỗn hợp Thể vãn gồm một câu có bốn hoặc năm chữ, chữ cuối câu trên vần với chữ thứ hai hoặc chữ cuối của câu
dưới Thể hỗn hợp là sự kết hợp hai hoặc ba thể khác nhau trong một bài ca dao
Thể này âm điệu nhịp nhàng, không gò bó về niêm vần nên nhân vật thoải mái bộc
bạch sự tình, những khúc mắc trong lòng.“Quả cao nho nhỏ/ Cái vỏ vân vân/ Nay
anh học gần/ Mai anh học xa/ Anh lấy em từ thuở mười ba/ Đến năm mười tám thiếp đà năm con/ Ra đường thiếp hãy còn son/ Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng”
Kết cấu
Đa phần kết cấu trong ca dao truyền thống được sáng tác theo lối đối đáp Đó
là những cuộc trò chuyện bằng thơ Nhân vật chính là những chàng trai và cô gái, cũng có khi là lời ru của người mẹ, người bà Kết cấu này được chia thành hai tiểu loại: Một là kết cấu đối đáp một vế thường là những bài hát ru Qua những lời hát ru nhân vật trữ tình bộc lộ gián tiếp tâm tư tình cảm của mình với những người trong gia đình hoặc ngoài xã hội Hai là kết cấu đối đáp hai vế thường là những bài hát giao duyên, bên này đối rồi bên kia đáp lại cứ như thế đối đáp trùng điệp cho đến khi cuộc hát kết thúc Dấu hiệu nhận biết của tiểu loại này là các cặp đại từ nhân xưng tương ứng với nhau như: anh - em, mình - ta, chàng - thiếp, mận - đào, trúc - mai…
Ngoài ra ca dao còn sử dụng kết cấu theo lối trần thuật nhằm diễn đạt những cảm hứng trữ tình phong phú, đa dạng Tiêu biểu của thể loại này là những bài vè kể chuyện theo hình thức thơ ca
Thủ pháp nghệ thuật
Ca dao thường sử dụng thủ pháp nghệ thuật lối so sánh như tỉ dụ, ẩn dụ, hoán
dụ, nhân cách hóa Đây là một lối cụ thể hoá những cái trừu tượng, nó còn làm cho
lời thêm ý nhị, tình tứ và thắm thiết “Thiếp như trái Phật thủ khác gì/ Đẹp thì thấy
đẹp, ăn thì khó ăn” Đôi khi dùng biện pháp tỉ dụ so sánh trực tiếp nhưng thật kín
đáo không hề sổ sàng.“Ăn thì ăn những miếng ngon/ Làm thì chọn việc cỏn con mà
làm” Đặc biệt, khi thể hiện tình cảm thông qua hình thức ẩn dụ thì không lời thơ
nào đẹp, gợi cảm và thắm thiết bằng câu ca dao Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong ca dao
Trang 27mang tính khái quát cao trở thành những hình ảnh ước lệ tượng trưng tạo nên tính
hàm súc trong ca dao như “trúc - mai”, “thuyền - bến”, “mận - đào”… “Sen xa hồ
sen khô hồ cạn,/ Liễu xa đào liễu ngã đào nghiêng” Thông qua hình thức nhân
cách hóa, con người thường gửi gắm tâm sự vào những vật xung quanh, tránh nói đến cái tôi của mình.“Vàng thật chẳng phải thao đâu/ Đừng đem thử lửa mà đau
lòng vàng”
Bên canh đó, ca dao còn sử dụng thủ pháp xây dựng hình tượng bằng lối miêu
tả để gây ấn tượng mạnh, đôi khi tác giả dân gian còn dùng lối so sánh kết hợp với
lối miêu tả “Rủ nhau ra tắm hồ sen/ Nước trong bóng mát, hương chen cạnh mình/
Cứ chi vườn ngọc, ao quỳnh/ Thôn quê vẫn thú hữu tình xưa nay”
Ngoài ra ca dao còn dùng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác để xây dựng hình ảnh và diễn đạt tình cảm của nhân vật nhằm gợi hình, gợi cảm như ngoa dụ, phóng đại, tương phản, đối xứng, trùng điệp …
Nhân vật và biểu tượng
Nhân vật:
Nhân vật trong ca dao là nhân vật trữ tình tâm trạng Đây là nhân vật giao tiếp gồm nhân vật là chủ thể trữ tình và nhân vật là đối tượng trữ tình Nhân vật trung tâm của ca dao là nhân vật Nam và nhân vật Nữ song hành cùng nhau Trên phương diện tình yêu đôi lứa nhân vật trong ca dao là nhân vật tâm trạng nên thể hiện tất cả các cung bậc của tình yêu dưới những dạng thức tình cảm như nét quyến luyến, vấn vương, nét thương nhớ, tương tư khi xa cách, sự táo bạo suồng sã, sự thất tình, buồn thương
Trên phương diện các mối quan hệ gia đình nhân vật trong ca dao cũng được
đề cập ở nhiều vị trí khác nhau Nhân vật trong ca dao có khi là một người con trong gia đình luôn giữ tròn đạo hiếu với ông bà cha mẹ Có khi là mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu Có khi là mối quan hệ vợ chồng, mối quan hệ giữa nhân vật trữ tình và đối tượng trữ tình cũng mang nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau có thể là sự thủy chung son sắt cũng có thể là là sự thờ ơ lạnh nhạt vì hôn nhân không có tình yêu Hoặc cả mối hệ vợ cả - vợ lẽ
Trang 28Nhân vật trữ tình trong ca dao là nhân vật mang nhiều tâm trạng, gắn với nhưng vai giao tiếp cụ thể Ở bất kỳ vị trí nào, nhân vật ca dao cũng tuân theo các quan niệm ứng xử theo truyền thống văn hóa xử thế của người Việt
Biểu tượng
Trong ca dao sử dụng khá nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng Đó chính là
ký hiệu bao gồm cái biểu hiện và cái được biểu hiện được gắn kết nhau bằng một mối liên hệ nhất định mang tính truyền thống, và được cộng đồng chấp nhận Người ta dùng hình ảnh này để tỏ ý nghĩa nọ Biểu tượng nghệ thuật sẽ chi phối trực tiếp đến các thành
tố thi pháp ca dao như ngôn ngữ, đề tài, chủ đề, kết cấu, nhân vật trữ tình, góp phần tổ chức các yếu tố nội dung và nghệ thuật trong bài ca dao làm cho tác phẩm trở nên giàu sức hút hơn Trong đó có biểu tượng đơn tức chỉ bao gồm một sự vật, một hình ảnh duy nhất mang tính biểu trưng như “con cò” biểu trưng cho hình ảnh người nông dân hay người phụ nữ lam lũ, vất vả hay “dâu” biểu trưng cho người con gái Và biểu tượng đôi bằng cặp đôi hai hình ảnh chẳng hạn “Sông - nước” biểu trưng cho làng quê Việt Nam, “muối - dưa” biểu trưng cho tình nghĩa vợ chồng, “thuyền - bến” biểu trưng cho tình yêu đôi lứa
Đặc trưng ngôn ngữ
Đặc trưng ngôn ngữ trong ca dao là tính mộc mạc, giàu chất thơ, ít sử dụng từ Hán việt Được hình thành và diễn xướng trong quá trình lao động nên ngôn ngữ ca dao hồn nhiên, giản dị thể hiện tình cảm một cách bộc trực Tuy nhiên không quá sổ sàng mà rất đổi ý nhị, tinh tế mượn hình ảnh thiên nhiên nói lên tình cảm con người Ngôn ngữ có sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường Phần lớn
ca dao được diễn xướng trong lao động tập thể và hát đối đáp, nghi lễ nên được thể hiện nhiều dưới dạng độc thoại, đối thoại Lời nói gần gũi với sinh hoạt của cuộc sống đời thường Đó còn là hình ảnh con cò, con trâu, cái cày, cái cuốc những người bạn thân quen của người nông dân, nhưng khi bước vào ca dao, nó đã trở thành những hình tượng nghệ thuật Tính hình tượng ấy, kết hợp thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát kết hợp với nhịp chẳng tạo nên nét đặc trưng mang lại giá trị nghệ thuật
truyền thống cho dân tộc “Cơi trầu anh têm ra đây/ Nhân duyên chưa định trầu này
chưa ăn”
Trang 29Ngôn ngữ giàu chất khẩu ngữ Đôi khi trong ca dao ta bắt gặp những bài ca dao mang ngôn ngữ nói hàng ngày, đa phần hình thức này có mục đích rõ ràng là dùng nhấn mạnh tư tưởng, tình cảm thể hiện cảm xúc một cách tự nhiên và gần
gũi“Chồng gì anh vợ gì tôi/ Chẳng qua là cái nợ đời chi đây”
Không gian và thời gian nghệ thuật
Thời gian trong ca dao là những khoảnh khắc đương thời Trong ca dao thời gian của tác giả, thời gian của người diễn xướng và thời gian của người thưởng thức hòa thành một Thời gian đó chính là thời gian hiện tại Các cụm từ để chỉ thời gian trong ca dao: “ bây giờ”, “hôm nay”, “chiều chiều”, “đêm đêm”, “hôm qua”, “sáng ngày” Thời gian nghệ thuật trong ca dao vừa là thời gian thực tại khách quan, vừa
là thời gian hư cấu chủ quan theo ước muốn của nhân vật trữ tình.“Chiều chiều ra
đứng ngõ sau/ Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều” Hay “Tìm em đã tám hôm nay/ Hôm qua là tám, hôm nay là mười” Thời gian gian trong ca dao mang tính ước lệ,
có thể thay đổi các cụm từ chỉ thời gian, không cần đảm bảo cái logic, cốt yếu là cái tình bên trong Ví dụ ta có thể thay đổi cụm từ “đêm qua” thành “đêm nay”…
Không gian nghệ thuật trong ca dao: không gian nghệ thuật trong ca dao cũng vừa là không gian thực tại khách quan, vừa là không gian hư cấu, tưởng tượng của nhân vật trữ tình Không gian thực tại là không gian đúng như hiện thực gắn với làng quê bình dị quen thuộc, không gian xã hội, không gian sinh hoạt như “xứ Huế”,
“xứ Nghệ”, “thôn Đông”, “thôn Đoài”, “cây đa”, “bến nước” Không gian ấy là
nơi nảy nở bao cảm xúc của những con người thôn quê đôn hậu, chân thành “Ai đi
Châu Đốc, Nam Vang/ Ghé qua Đồng Tháp bạt ngàn bông sen” Ngoài không gian
thực tại, còn có một không gian nữa đó là “không gian tâm trạng” - không gian
mang tính tượng trưng gắn liền với cảm xúc của nhân vật “Qua cầu ngả nón trông
cầu/ Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu” Không gian trong ca dao còn là không
gian mang tính cá thể hóa được nhiều người diễn xướng trong nhiều bối cảnh khác nhau Vì thế nó mang những nét chung nhất của cảm xúc - tâm lý con người và trở thành không gian ước lệ tạo nên sức hấp dẫn cho ca dao
Trang 301.2.2 Khái quát về tục ngữ
1.2.2.1 Định nghĩa
Tục ngữ được sử dụng như một câu nói trong giao tiếp hàng ngày Mặt khác,
nó lại mang đầy đủ tiêu chí của một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh cả nội dung lẫn nghệ thuật Bên cạnh đó, ranh giới giữa tục ngữ và ca dao chưa rõ ràng Chính vì thế vẫn chưa có sự thống nhất về định nghĩa thế nào là một câu tục ngữ
Trong quyển Việt Nam văn học sử yếu (1968) của Dương Quảng Hàm định
nghĩa: “Tục ngữ (tục: thói quen có đã lâu đời; ngữ: lời nói) là những câu nói gọn
ghẽ và có ý nghĩa lưu hành tự đời xưa, rồi do cửa miệng người đời truyền đi Tục ngữ còn gọi là ngạn ngữ vì chữ ngạn nghĩa là lời nói của người xưa truyền lại Còn phương ngữ (phương: địa phương, vùng) là những câu tục ngữ chỉ thông dụng trong một vùng chứ không lưu hành khắp trong nước.” (Dương Quảng Hàm, 1968)
Trong quyển Văn học dân gian Việt Nam 2002 của Đinh Gia Khánh định
nghĩa:“Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao
động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỉ” (Đinh Gia Khánh, 2002)
Trong quyển Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan định
nghĩa: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh
nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng
tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh; còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh” Cũng trong nội dung này tác giả cho rằng “Tục ngữ
là một thể loại sáng tác ngang hàng với các thể loại ca dao, dân ca, tuy tác dụng có khác” (Vũ Ngọc Phan, 2017)
Như vậy, tục ngữ là một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh cả nội dung lẫn hình thức: Nó là một đơn vị ngôn ngữ, có khả năng tạo thành một câu độc lập, có hình thức cấu trúc ổn định, có khả năng khái quát cao, do nhân dân sáng tạo nên và được lưu truyền qua nhiều thế hệ Tục ngữ được xem là một thể loại văn học ra đời sớm nhất, phong phú nhất, tồn tại lâu nhất Tục ngữ phản ánh mọi quan điểm của nhân dân về các mặt đạo đức, lịch sử, xã hội, tôn giáo Trong ngôn ngữ tục ngữ góp phần
Trang 31làm cho lời nói gắn gọn, súc tích, truyền tải được nhiều thông tin khó nói hoặc không tiện nói trực tiếp Chính vì thế, tục ngữ được sử dụng trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày hoặc trong văn viết mượt mà, giàu hình ảnh nhằm tạo nên giá trị và sức hút mạnh mẽ
1.2.2.2 Nội dung
Nội dung tục ngữ bao hàm tất cả tinh hoa trí tuệ truyền thống dân tộc, nó là một kho tàng quý báu kinh nghiệm đời sống, lịch sử - xã hội được tích lũy, lưu truyền qua hàng nghìn năm lao động và đấu tranh dựng nước và giữ nước Tuy còn gắn chặt với kinh nghiệm nhưng đó là dạng kiến thức khoa học và trình độ nhận
thức của nhân dân lao động thời xưa đã đạt tới
Tục ngữ nói về thời tiết và kinh nghiệm lao động như các hiện tượng tự nhiên
và dự đoán thời tiết: Lao động sản xuất, phản ánh tập quán làm ăn của nhân dân trong trồng trọt, đặc biệt là trồng lúa Kinh nghiệm chài lưới và chăn nuôi Các nghề thủ công như nghề gốm, nghề dệt… Nhìn chung, tục ngữ về thời tiết và lao động sản xuất đã phản ánh một số nét chính về điều kiện, phương thức lao động, một số đặc điểm của đời sống dân tộc ta
Tục ngữ phản ánh con người- đời sống- xã hội gồm: Những ký ức về thời kỳ lịch sử xa xưa của dân tộc ta Những hiện tượng, nhân vật lịch sử, những biến đổi
về chính trị Các tập tục sinh hoạt hàng ngày như ăn, mặc, ở, đi lại, cưới xin, hội hè, sinh hoạt tôn giáo Các đặc điểm, tập tục và những quan điểm thân tộc của nhân dân
ta trong xã hội phong kiến Tục ngữ còn phản ánh đời sống và tình hình đấu tranh
giai cấp, đấu tranh chống áp bức bóc lột của nhân dân trong xã hội phong kiến
Tục ngữ phản ánh những đức tính tốt đẹp của nhân dân lao động: Tính cẩn thận, tính cần cù, tính kiên trì, nhẫn nại, tinh thần lạc quan, ý thức cao về cái đẹp của tâm hồn
Tục ngữ về tình cảm gia đình: Tình cảm vợ chồng, tình cảm cha mẹ đối với con cái và con cái đối với cha mẹ, tình cảm anh em
Tục ngữ phản ánh truyền thống, tư tưởng và đạo đức tốt đẹp của nhân dân ta
Tư tưởng nhân đạo, thể hiện ở sự quý trọng con người, truyền thống yêu lao động, lòng tự hào đất nước giàu đẹp và con người tài hoa
Trang 321.2.2.3 Nghệ thuật
Cấu trúc tục ngữ mang tính chắc gọn và đối xứng
Trong tục ngữ tiêu chí lớn nhất và điểm nổi bậc nhất là tính chắc gọn lời ít, ý nhiều, tiết kiệm ngôn ngữ đến mức tối đa Tục ngữ không chỉ ngắn gọn mà còn chặt chẽ, không thừa, không thiếu Mỗi đơn vị từ đều chứa đựng một thông tin nhất định Nếu có một dịch chuyển cũng đủ để phá vỡ toàn bộ câu Trong thực tế ta có thể thêm vào các liên từ, các cụm từ nối nhưng hàm nghĩa của nó sẽ bị thu hẹp trong
một phạm vi Ví dụ: “Bụng làm dạ chịu” Nhờ đặc tính chắc gọn, tỉnh lược đi các
yếu tố liên kết mà tục ngữ có thêm nhiều hàm nghĩa, chức năng thực hành và ứng dụng được mở rộng
Các thủ pháp tạo nghĩa
- Thủ pháp nghệ thuật: Để lời nói mượt mà, nhịp nhàng dễ tiếp thu, dễ nhớ, tục ngữ khá thành công khi xây dựng hình tượng bằng các phép tu từ như so sánh,
ẩn dụ, nhân hóa, ngoa dụ…
1.3 Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học dân gian người Việt
Văn học dân gian phản ánh hiện thực cuộc sống một cách chân thật và đầy đủ nhất, nó được ví như dòng sữa mát nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc Đạo Phật chứa đựng tinh thần từ, bi, hỷ, xả hướng tình thương, đem hạnh phúc cho mọi người, mọi loài, đấy cũng là khát vọng của nhân dân ta Bên cạnh đó, hiểu sâu sắc về lẽ vô thường, vạn vật đều trải qua thành, trụ, dị, diệt không có gì là trường tồn, nên Phật giáo luôn khuyến con người không nên chạy theo danh lợi, vật chất mà cần phải thoát khỏi cuộc sống vị kỷ trở nên khoan dung, nhân hậu hơn Đặc biệt, Phật giáo
Trang 33luôn hướng thiện, chống cái ác đồng thời cảm hóa con người Cốt lõi của Phật giáo
là không làm điều ác, làm các việc lành, giữ tâm trong sạch Giá trị cao đẹp này luôn đúng với mọi không gian và thời gian, hoàn toàn phù hợp với lối sống và cách nghĩ của nhân dân ta Chính vì thế, Phật giáo từ buổi đầu du nhập đã bám rễ vào mọi mặt của đời sống dân tộc ta Trong văn học nói chung và văn học dân gian nói riêng đạo Phật đã để lại dấu ấn sâu sắc góp phần hoàn chỉnh thêm về giá trị nội dung và nghệ thuật Có thể nói Phật giáo góp phần làm cho văn học nghệ thuật thêm thăng hoa Vị trí của Phật giáo đối với văn học dân gian không phải chỉ trong một thời đại hay một giai đoạn mà nó được hình thành, phát triển và giữ vai trò trọng yếu theo suốt chiều dài thăng trầm của lịch sử nước nhà
1.3.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến các thể loại tự sự dân gian
Các thể loại tự sự như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười thân quen như lời ru của mẹ Từ thuở ấu thơ ai cũng một lần nghe bà kể chuyện xưa Để rồi trong tâm thức mỗi chúng ta ai cũng ước được ông Bụt giúp đỡ khi khó khăn, cố gắng làm nhiều việc tốt để được ông Tiên thưởng Nhưng ít ai để ý, những điều đó chính là những yếu tố của Phật giáo Các yếu tố nhân quả, luân hồi, nghiệp báo…đi vào loại hình tự sự dân gian một cách hài hòa, tự nhiên
Các thể loại tự sự thường lấy chất liệu từ các Phật thoại Trong quá trình truyền pháp, một số Phật thoại được làm mờ đi phần giáo lý và đưa các yếu tố dân gian trở các truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích, truyện cười, thần thoại, truyền
thuyết… Căn cứ vào nội dung, khảo di, nguồn gốc sưu tầm trong tuyển tập Những truyện cổ mang màu sắc Phật giáo Việt Nam của tác giả Lệ Như Thích Trung Hậu
xuất bản năm 2014, nhà xuất bản Hồng Đức chúng ta thấy như sau: Truyện ngụ
ngôn “Thầy bói xem voi” nhằm khuyên con người làm điều gì cũng phải xem xét một cách toàn diện Truyện này bắt nguồn từ truyện “Xẩm sờ voi” được trích trong
kinh Đại Bát Niết Bàn và kinh Trường A Hàm được viết với mục đích khuyên con
người không nên chấp trước, tránh rơi vào chủ nghĩa hình thức Ở miền Bắc có “Sự
tích cá he”, ở miền Nam có “Sự tích con bìm bịp” lấy tích từ Phật thoại trong Kinh
Tam Tạng “Sự tích ông Bình Vôi” lấy từ một Phật thoại cùng tên Hay truyện cười
“Mèo lại hoàn mèo” khuyên con người nên sống khiêm tốn, phải biết lượng sức của
Trang 34mình đừng huyênh hoang, phô trương quá mức Truyền thuyết về “Chữ Đồng Tử”
theo tính ngưỡng dân gian nó là bản hùng ca về người anh hùng trung, hiếu, nghĩa Với Phật giáo, đây là cứ liệu quan trọng khẳng định Chữ Đồng Tử là đệ tử Phật giáo đầu tiên của nước ta đồng thời khẳng định Phật giáo du nhập vào Việt Nam thời
Hùng Vương khoảng 200 - 300 năm trước Tây lịch Truyện “Man Nương” vốn là
truyền thuyết tứ pháp chùa Dâu của nhà Phật, song truyện được khai thác kết hợp với tính ngưỡng dân gian về bốn vị thần Mưa, Gió, Sấm, Sét
Các truyện viết về các vị Phật: “Quan Âm tái thế”, “sự tích Nam Hải Quan
Âm”, “Quan Âm Thị Kính” các vị này trước khi thành Phật đều là những người từ
bi, khoan dung Sau khi thành Phật một lòng cứu người độ thế, giúp đỡ người hiền
Bên cạnh đó, nhiều truyện viết về sự tích về các chùa như: “Sự tích Chùa Một Cột”,
“Sự tích Chùa Thiên Tượng”, “Sự tích chùa Trà Nồng”, “Sự tích Bà Dì Tư (Chùa Phù Dung)”, “Sự tích Chùa Ngọc Hồ”, “Sự tích Chùa Bóng” Các truyện cổ tích
lịch sử về các nhà tu hành chịu ảnh hưởng của Phật giáo như: “Sự tích Khuông Việt
Đại Sư”, “Sự tích Thiền sư Pháp Thuận”, “Truyền thuyết về tổ sư Huyền Quang”,
“Truyền thuyết về sư Tổ Đỉa”, “Sự tích về Thiền sư Vạn Hạnh” Các truyện này
chủ yếu lấy chất liệu từ Phật giáo, mang yếu tố kỳ ảo Truyện kể về quá trình hình thành các chùa, bày tỏ sự tôn kính, ngưỡng vọng về tài năng cũng như đức độ của các nhân vật lịch sử có thật
Nhiều tác phẩm có tư tưởng chịu ảnh hưởng từ “thuyết nhân quả” “Sự tích
con khỉ” kết thúc có hậu cái thiện luôn chiến thắng cái ác cô gái hiền lành lương
thiện cuối cùng có cuộc sống sung túc, gia đình trọc phú keo kiệt độc á bị trừng trị
đến nỗi thành khỉ Truyện “Của Thiên trả Địa” cuối cùng những kẻ cố tình chiếm
lấy của cải không thuộc về mình, của cải bất nghĩa, phi pháp mà có rồi cũng phải trả
giá Truyện “Sự tích con muỗi” lên án những kẻ bạc tình, bạc nghĩa ắt sẽ có kết quả
không tốt Người vợ trong câu chuyện vì bội bạc mà bị biến thành con muỗi Qua các câu chuyện trên, ta thấy tất cả đều có kết thúc có hậu theo quy luật nhân quả khi con người làm thiện thì sẽ hưởng phước những kẻ gian ác, bội bạc cuối cùng phải chịu quả xấu Cách thể hiện này vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính nhân văn;
Thuyết luân hồi được thể hiện rõ nét qua truyện “Tấm Cám” nàng Tấm hết lần này
Trang 35đến lần khác bị mẹ ghẻ bức hại nhưng đều được hóa kiếp Điều đó cho thấy được sự bất diệt trong vòng sinh tử con người Theo quan niệm nhà Phật chết không có nghĩa là hết, trong cái chết sẽ mang mầm cho sự sống; Yếu tố nghiệp cũng thể hiện rất rõ trong các thể loại tự sự dân gian Khi thân, khẩu, ý chúng ta tạo tác cái gì thì
chúng ta sẽ nhận lãnh cái đó Trong truyện ngụ ngôn Hai con cò và một con rùa mụ
rùa tính tình kiêu căng, đanh đá hay chửi bới cuối cùng cũng vì cái nghiệp ấy mà phải nhận cái kết thảm thương, quả đúng là cái miệng hại cái thân
Hình tượng Bụt và Phật trong các thể loại tự sự dân gian xuất hiện khá nhiều
Do đạo Phật du nhập vào Việt Nam qua hai con đường một là trực tiếp từ Ấn Ðộ sang nên Buddha được phiên âm thành Bụt, hai là thông qua Trung Quốc từ Phật đà được phiên âm thành Phật Bụt và Phật là nhân vật quen thuộc trong các sáng tác
dân gian Trong truyện Tấm Cám, Thằng Bườm, Cây tre trăm đốt Bụt được xây
dựng trong trí tưởng tượng của nhân dân nhưng đóng vai trò rất quan trọng câu chuyện Bụt xuất hiện một cách bất ngờ, đầu tóc bạc phơ, mắt sáng ngời, miệng
luôn tươi cười, tay chống gậy, thái độ ân cần Câu đầu tiên Bụt luôn hỏi “Vì sao con
khóc” Bụt xuất hiện kịp thời khi những nhân vật hiền lành, hiếu thảo gặp khó khăn
Bụt luôn biến mất sau khi hoàn thành sứ mệnh Hình ảnh của Bụt không chuyên chở giáo lý, xuất hiện như một yếu tố thần kỳ nhằm phát triển cốt truyện đưa đến kết
thúc có hậu Trong truyện Tấm Cám mỗi lần Tấm gặp khó khăn Bụt đều có mặt để
giúp đỡ Lần một là lúc Tấm bị Cám lừa lấy hết cá, Bụt đã hướng dẫn nàng đem cá
về nuôi Lần hai là lúc Bống bị bắt làm thịt, Bụt an ủi Tấm và khuyên nàng tìm xương cá chôn ở chân giường Lần ba là lúc Tấm bị bắt nhặt thóc ra thóc gạo ra gạo, Bụt cho chim sẻ xuống giúp Bụt xuất hiện mọi lúc, mọi nơi không cần đến chùa hay vái lạy, Bụt xuất hiện đem đến tia hy vọng mới cho nàng Tấm
Hình tượng Phật xuất hiện trong truyện dân gian rất nhiều Ta thấy có sự khác biệt: Bụt xuất hiện nhiều trong các truyện bình dân; Phật xuất hiện nhiều trong các câu chuyện của các giới tri thức, tu sĩ Bụt thường xuyên xuất hiện để giúp đỡ những người bình dân lương thiện nhưng không trừng phạt kẻ ác; Phật cũng xuất hiện giúp đỡ những chân tu, những người hiền lành đồng thời trừng trị kẻ ác Bụt thường được khắc họa ngoại hình râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, mắt sáng
Trang 36ngời…Phật xuất hiện dưới nhiều hình thức Có khi Phật về báo mộng trong Sự tích
chùa Một Cột, Sự tích quả Sầu Riêng Có khi Phật hiện ra uy nghiêm trước tòa sen
như trong Sự tích chim tu hú Đặc biệt Phật hóa thân thành nhiều nhân vật khác nhau để thử lòng người khác trong Sự tích con nhái Phật hóa thân thành cô gái thử lòng Hòa thượng, Trong Sự tích con khỉ Phật hóa thân thành cụ già để thử lòng cô
gái hầu Trong tình tiết câu chuyện Phật xuất hiện đúng lúc và đóng vai trò như
quan tòa phân xử theo khuôn mẫu của “luật nhân quả” người nhân hậu, thẳng ngay
luôn được hưởng giàu sang hạnh phúc, những kẻ gian ác, điêu hoa phải nhận kết cục thảm thương Sự xuất hiện của Phật là đem lại là điểm nhân văn, thể hiện ước
mơ của nhân dân ta về lẽ công bằng xã hội
Các yếu tố Phật giáo đi vào trong sáng tác trữ tình dân gian một cách dung dị, đơn giản, không nặng nề giáo lý Phật giáo trong nhóm thể loại tự sự dân gian như một yếu tố kỳ ảo giúp phát triển cốt truyện, trên nền thuyết nhân quả các câu
chuyện xây dựng theo kết thúc có hậu “thiện giả thiện lai, ác giả ác báo” Đặc biệt
trong truyện cổ tích Phật giáo mang tính giáo dục hơn là truyền đạo Các truyện cổ tích Phật giáo thường có sự xuất hiện của đức Phật nhưng Người thường không truyền đạt bất kỳ giáo lý nào về Phật giáo Nội dung các truyện thường xoay quanh các nhân vật nghèo khổ, xấu xí nhưng sống có đạo đức, hiền lành, tốt bụng biết yêu thương giúp đỡ người khác nhất định có kết quả tốt đẹp Ngược lại những nhân vật xinh đẹp, trưởng giả, giàu có nhưng xấu xa, tham lam, hại người, không biết yêu thương giúp đỡ người khác sẽ bị trừng phạt và lãnh hậu quả xấu Các câu chuyện này thường có kết cấu đơn giản, ngắn gọn, ngôn ngữ dễ hiểu phù hợp với mọi lứa tuổi nhất là trẻ em trong quá trình tiếp thu và hình thành nhân cách Chính vì thế mà các bậc thầy cô, cha mẹ thường kể cho trẻ em nghe nhằm mục đích giáo dục các em sống nhân nghĩa, đạo đức tránh làm điều xấu ác
Ở thể loại tục ngữ: Chất liệu của một số tác phẩm cũng được lấy cảm hứng từ các Phật thoại, các chuyện cổ mang màu sắc Phật giáo nhằm khuyên răn, dạy bảo
con người về một điều gì đó trong cuộc sống: Tục ngữ “Của Thiên trả Địa” được
lấy từ Phật thoại cùng tên là bài học cho những kẻ tham tiền tài, danh vọng phi
nghĩa mà có rồi cũng phải trả giá Tục ngữ “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn” được
Trang 37lấy từ nhan đề của câu chuyện cổ mang màu sắc Phật giáo khuyên con người nên
khiêm nhường ta giỏi ắt có người khác giỏi hơn Câu tục ngữ “Cái Kiến mày kiện
củ khoai” được lấy từ nhan đề của câu chuyện cổ Cái kiến mày kiện củ khoai,
khuyên con người không nên vướng vào những vụ kiện tụng vô ích về Và sau này
những anh con trai nhà nghèo thường thêm vào:“Mày chê tao đói lấy ai cho giàu/
Nhà tao chím đụn mười trâu/ Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân” để trở thành bài ca
dao mỉa mai những cô gái bắc bậc kiêu kỳ
1.3.2 Ảnh hưởng của Phật giáo đến các thể lọai trữ tình dân gian
Các thể loại trữ tình dân gian, đặc biệt là ca dao đã phản ánh cuộc sống, tâm tư tình cảm của nhân dân ta qua nhiều thế hệ một cách chân thật và đầy đủ nhất Đến với cá thể loại tự sự dân gian ta thấy, tư tưởng Phật giáo được đề cập, trình bày dưới nhiều khía cạnh khác nhau Có thể nói rằng không có đạo giáo nào hay luồng tư tưởng nào được nhắc đến nhiều như Phật giáo Điều này, đã khẳng định cốt lõi tư tưởng Phật giáo đã được nhân dân ta tiếp thu, và vận dụng vào mọi sinh hoạt của mình bởi những lợi lạc của nó Trong loại hình tự sự dân gian, ảnh hưởng của Phật giáo được thể hiện trên các phương diện:
Chủ đề trong các thể loại trữ tình dân gian phong phú và đa dạng, song có nhiều tác phẩm viết về chủ đề Phật, Pháp, Tăng Các tác phẩm về chủ đề này có thể
dùng danh từ “Phật” hoặc danh từ “Bụt” và thường ca ngợi công đức, vai trò của
Phật trong đời sống tâm linh: Chủ đề về Pháp nhằm xoay quanh các vấn đề các pháp môn tu hành như Thiền, Tịnh độ hoặc các phương pháp và giới luật tu hành:
“Tu thân rồi mới tề gia,/ Lòng ngay nói vậy gian tà mặc ai.”, “Còn trời còn nước còn non/ Còn chùa còn Bụt tôi còn tụng kinh” Chủ đề về Tăng già thường nhắc về
các ngoại cảnh hoặc nghi thức cầu cúng trong nhà Phật: “Chùa làng phong cảnh
hữu tình/ Đầu năm cầu Phật dân làng an vui”
Tư tưởng Phật giáo thấm nhuần vào trong từng làng điệu dân ca, từng câu ca dao ngọt ngào răn dạy thế hệ sau thông qua tinh thần từ bi, nhân quả, nghiệp báo,
lành/ Tu nhơn tích đức để dành cho con”
Trang 38Tinh thần từ bi trước hết thể hiện ở chỗ mở lòng yêu thương đến tất cả chúng
sinh muôn loài, sẵn sàng hy sinh tất cả vì chúng sinh: “Xin mở lòng Bồ tát/ Tỏ đức
hóa sanh ra tay cứu độ” Tinh thần từ bi còn thể hiện ở sự bao dung với kẻ thù, con
người đạt đến trạng thái vô ngã sẵn sàng buông bỏ tất “Lấy oán thù đáp oán thù/
Oán thù không dứt niềm từ lại tiêu/ Lấy tình thương xóa hận thù/ Hận thù bay mất niềm từ lại sanh.”
Thuyết nhân quả chi phối các thể loại trữ tình dân gian theo hướng tiếp thu Phật giáo trên tinh thần hướng con người nổ lực làm điều thiện, tránh việc ác Những người bất lương, làm nhiều việc xấu sẽ có kết quả không tốt, còn những
người nhân ái, hiếu thảo, thủy chung sẽ gặp nhiều may mắn “Ở hiền gặp lành/
Những người nhơn đức trời giành phúc cho”
Thuyết luân hồi được biểu hiện rất sâu đậm trong lòng mọi người, tuy có phần giản dị, sơ đẳng; song nó đã góp phần xây dựng điều thiện, diệt trừ cái ác; mở
đường cho con người tiến gần hơn với chánh pháp “Người trồng cây hạnh người
chơi/ Ta trồng cây đức để đời về sau”
Vô thường trong các thể loại tự sự cho thấy sự ngắn ngủi trong kiếp nhân sinh, vui đó buồn đây, sớm còn tối mất không ai tránh khỏi Những vật chất, quyền lợi,
danh vọng tất cả rồi cũng sẽ hoại đi: “Đời người như bóng phù du/ Sớm còn tối mất,
công phu lỡ làng” Vì thế Phật giáo khuyên con người “Tu cho trọn kiếp bụi hồng / Kẻo già lại tiếc rằng lòng từ bi”
Xa lánh cuộc sống tham ái, dục vọng; tìm về chánh đạo “Mặc ai chuốc lợi,
mua danh/ Miễn ta học đặng đạo lành thì thôi”
Niềm tin về tín ngưỡng, nhất là Phật giáo như một nguồn an ủi vô tận, một chỗ dựa tinh thần vững chắc, niềm vui sống trong sáng và hạnh phúc vĩnh hằng mà con người đang khao khát hy vọng trong cuộc đời đã phải chịu nhiều thống khổ Nó được vận dụng nhuần nhuyễn vào các sáng tác trữ tình dân gian, đồng thời các sáng tác ấy tác động vào nhận thức con người từ đó họ thay đổi hoàn toàn lối sống trở nên thiện mỹ hơn
Trang 391.3.3 Ảnh hưởng của Phật giáo đến với các thể loại sân khấu dân gian
Yếu tố Phật giáo đã thấm nhuần trong các loại hình truyền thống của dân tộc
ta Phật giáo ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống của nhân dân ta và nó đi sâu và nghệ thuật truyền thống một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn và trở nên quen thuộc Do quá quen thuộc chúng ta chẳng để ý, chẳng suy nghĩ cho đến một ngày nhận ra nó
vô cùng quan trọng
Tư tưởng Phật giáo chi phối khá rõ nét qua các tác phẩm sân khấu dân gian và chèo, tuồng… của người Việt ta Tư tưởng triết lý bao trùm là tinh thần từ, bi, trí, dũng Nhân vật trung tâm bao giờ cũng lấy từ hình mẫu của con người nhân ái, bao
dung, sống vì chính nghĩa Vở tuồng “Quan Âm Diệu Thiện” là một tấm gương về
một vị công chúa chịu nhiều khổ sở nhưng vẫn quyết tâm hy sinh cứu nhân độ thế Hơn nữa, nàng là một người con chí hiếu với song thân Nhờ đức tính bao dung, hiếu thảo và giàu đức hy sinh của mình bà đã giác ngộ được đấng sinh thành về cõi
Phật Các vở chèo cổ “Trương Viên”, “Lưu Bình Dương Lễ”, “Kim Nhan”, “Chu
Mãi Thần” đều mang tính thiện thưởng - ác phạt, kết thúc có hậu
Xét về phương diện xử lý tác phẩm, yếu tố Phật giáo có ý nghĩa rất quan trọng quá trình xử lý thẩm mỹ của tác phẩm Theo nhận định của TS Thái Thị Kim Lan
trong bài báo Nghệ thuật sân khấu truyền thống từ góc nhìn Phật giáo đăng trên
báo Tuổi trẻ ngày 25/07/2006
(https://tuoitre.vn/nghe-thuat-san-khau-truyen-thong-tu-goc-nhin-phat-giao-152335.htm), khi xây dựng vở chèo “Quan Âm Thị Kính” có
sự thay đổi rất nhiều khi NSND Trần Bảng đặt tác phẩm dưới ánh sáng mỹ học Phật giáo Lần đầu tiên, vào năm 1956 - 1957 tác giả đơn thuần đặt tác phẩm dưới góc nhìn của xã hội - lịch sử Đến lần hai, vào năm 1968 do chưa thấu đáo những yếu tố đạo Phật nên tác phẩm thiếu đi chữ “Tâm” và chữ “Nhẫn” Cuối cùng, đến lần thứ ba, sau khi thức ngộ Phật giáo ông xây dựng tác phẩm hoàn chỉnh về nghệ thuật và mẫu mực
về nội dung của một vở chèo truyền thống dưới ánh sáng Phật pháp
Chủ thể tiếp nhận được trải qua mọi cung bậc cảm xúc hỷ, nộ, ái, ố với các nhân vật Từ đó tư tưởng Phật giáo đi sâu vào tiềm thức của chủ thể tiếp nhận, họ sẽ
có cái nhìn về cuộc sống theo khuôn mực Phật pháp, đồng thời sẽ tự nhìn nhận về bản thân và lựa chọn cho mình thái độ sống đúng đắn
Trang 40Với văn học dân gian Phật giáo góp phần nâng đỡ sự sáng tạo Phật giáo là chất liệu, là mảnh đất màu mỡ khơi nguồn cho những cảm hứng sáng tác Tư tưởng Phật giáo gần gũi với tư tưởng của dân tộc, từ đó đi vào tác phẩm một cách tự nhiên như hơi thở Tư tưởng Phật giáo chi phối mạnh mẽ trong sáng tác dân gian “thuyết nhân quả”, “luân hồi”, “nghiệp báo”, “từ bi” là kim chỉ nam tạo nên những giá trị luân lý cho tác phẩm