Trong hoạt động vẽ, trẻ có cơ hội được trải nghiệm những cảm xúc đa dạng, được thể hiện các hình ảnh - hình tượng theo cảm xúc và ý tưởng riêng của mình một cách linh hoạt, với sự thay đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỒ CHÍ MINH
Phan Thị Hoàng Quyên
BIỆN PHÁP PHÁT HUY KHẢ NĂNG SÁNG TẠO TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ THEO ĐỀ TÀI TỰ DO
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỒ CHÍ MINH
Phan Thị Hoàng Quyên
BIỆN PHÁP PHÁT HUY KHẢ NĂNG SÁNG TẠO TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ THEO ĐỀ TÀI TỰ DO
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM THU HƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Phan Thị Hoàng Quyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, tôi đã được sự động viên, giúp
đỡ nhiệt tình của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình rất nhiều Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến:
TS Phạm Thu Hương người đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ và tạo điều kiện để tác giả học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Tập thể cán bộ quản lí và giáo viên mầm non cùng các cháu mẫu giáo 5-6 tuổi
ở các trường mầm non: Mầm non 20/10, Mầm non 19/5 TP, Mầm Non An Nhơn Tây, Mầm non Bông Sen đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả tiến hành nghiên cứu
và thực nghiệm
Phòng Sau đại học, Trung tâm thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh và Trung tâm thư viện Trường Cao đẳng Trung ương Thành phố đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp và bạn
bè đã luôn bên cạnh động viên, khích lệ và chia sẽ để tôi có động lực hoàn thành luận văn
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn và gửi lời chúc sức khỏe đến tất cả mọi người
Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 03 năm 2019
Tác giả
Phan Thị Hoàng Quyên
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT HUY KHẢ NĂNG SÁNG TẠO TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ THEO ĐỀ TÀI TỰ DO CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 7
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 9
1.2 Cơ sở lý luận về khả năng sáng tạo 11
1.2.1 Khái niệm chung về sáng tạo 11
1.2.2 Đặc điểm của sáng tạo 13
1.2.3 Các cấp độ của sáng tạo 14
1.2.4 Cơ sở sinh lý và cơ chế tâm lý của sáng tạo 15
1.3 Một số vấn đề về sáng tạo của trẻ mầm non 17
1.3.1 Khả năng sáng tạo của trẻ mầm non 17
1.3.2 Phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 19
1.3.3 Vai trò của sáng tạo đối với sự phát triển tâm lý trẻ mầm non 19
1.3.4 Đặc điểm sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 20
1.3.5 Các điều kiện phát huy những biểu hiện sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 25
1.4 Lý luận hoạt động vẽ theo đề tài tự do 27
1.4.1 Khái niệm hoạt động vẽ theo đề tài tự do 27
1.4.2 Bản chất hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo 28 1.4.3 Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với sự phát triển toàn diện của trẻ
Trang 6mầm non 28
1.4.4 Một số đặc điểm hoạt động vẽ và vẽ theo đề tài tự do của trẻ MG 5 – 6 tuổi 31
1.4.5 Nội dung hoạt động vẽ và chuẩn thể hiện khả năng sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi trong Chương trình giáo dục mầm non 32
1.5 Những biểu hiện sáng tạo trong HĐVTĐTTD của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 33
1.6 Tiêu chí đánh giá khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi trong HĐVTĐTTD 35
1.7 Biện pháp phát huy khả năng sáng tạo trong HĐVTĐTTD cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 40
1.7.1 Khái niệm biện pháp và biện pháp phát huy KNST cho trẻ MG 5 – 6 tuổi trong HĐVTĐTTD 40
1.7.2 Một số biện pháp tổ chức HĐVTĐTTD nhằm phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 41
Tiểu kết chương 1 43
Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BIỆN PHÁP PHÁT HUY KHẢ NĂNG SÁNG TẠO TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ THEO ĐỀ TÀI TỰ DO CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI 44
2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 44
2.1.1 Mục đích khảo sát thực trạng 44
2.1.2 Đối tượng khảo sát 44
2.1.3 Thời gian khảo sát 44
2.1.4 Nội dung khảo sát 44
2.1.5 Phương pháp khảo sát 45
2.2 Phân tích kết quả khảo sát thực trạng 46
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc phát triển khả năng sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong HĐVTĐTTD 46
2.2.2 Thực trạng tổ chức HĐVTĐTTD nhằm phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi 65
2.2.3 Thực trạng khả năng sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong HVTĐTTD 66
Tiểu kết chương 2 70
Trang 7Chương 3 THỰC NGHIỆM BIỆN PHÁP PHÁT HUY KHẢ NĂNG
SÁNG TẠO TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ THEO ĐỀ TÀI
TỰ DO CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI Ở TRƯỜNG
MẦM NON 72
3.1 Xây dựng các biện pháp tổ chức hoạt động VTĐTTD cho trẻ 72
3.1.1 Khái niệm biện pháp 72
3.1.2 Cơ sở đề xuất biện pháp 72
3.1.3 Một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo trong HĐVTĐTTD cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 73
3.2 Tổ chức thực nghiệm các biện pháp 81
3.2.1 Mục đích thực nghiệm 81
3.2.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 81
3.2.3 Điều kiện thực nghiệm 81
3.2.4 Nội dung thực nghiệm 82
3.2.5 Tiêu chí đánh giá 83
3.2.6 Tiến trình thực nghiệm 83
3.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 84
3.3.1 Kết quả so sánh mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ NĐC và NTN trong HĐVTĐTTD trước thực nghiệm 84
3.3.2 Kết quả so sánh mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ NĐC và NTN sau thực nghiệm 87
3.3.3 Kết quả so sánh mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ NĐC và NTN trong HĐVTĐTTD trước và sau thực nghiệm 91
3.3.4 Kết quả so sánh mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ NĐC và NTN theo giới tính 98
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thâm niên công tác của GVMN 46 Bảng 2.2 Khảo sát mức độ nhận thức của GV về HĐVTĐTTD của trẻ MG
5 - 6 tuổi 47 Bảng 2.3 Khảo sát mức độ tổ chức HĐVTĐTTD cho trẻ của giáo viên 48 Bảng 2.4 Khảo sát mức độ nhận thức của GV về sáng tạo của trẻ mầm non 49 Bảng 2.5 Khảo sát mức độ giáo viên sử dụng hình thức tổ chức hoạt động vẽ
tự do cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 50 Bảng 2.6 Kháo sát mức độ giáo viên thay đổi môi trường trong lớp học 53 Bảng 2.7 Khảo sát về biểu hiện sáng tạo của trẻ trong hoạt động vẽ 55 Bảng 2.8 Khảo sát mức độ tổ chức cho trẻ thực hiện những kỹ năng dạy
vẽ tự do 56 Bảng 2.9 Khảo sát mức độ sử dụng nguyên liệu tạo hình trong dạy vẽ tự do
cho trẻ 58 Bảng 2.10 Khảo sát mức độ sử dụng các biện pháp phát huy khả năng sáng tạo
của trẻ trong hoạt động vẽ theo đề tài tự do 60 Bảng 2.11 Những khó khăn GV gặp khi tổ chức HĐVTĐTTD cho trẻ 61 Bảng 2.12 Những nguyện vọng BGH, GV mong muốn để phát huy khả năng
sáng tạo của trẻ trong hoạt động VTĐTTD 63 Bảng 2.13 Kết quả khảo sát đánh giá chung về khả năng sáng tạo của trẻ 5 - 6
tuổi trong HĐVTĐTTD 67 Bảng 3.1 Kết quả so sánh mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ NĐC
và NTN trong HĐVTĐTTD trước TN 84 Bảng 3.2 Kết quả so sánh mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ NĐC
và NTN sau thực nghiệm 87 Bảng 3.3 Kết quả mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ NĐC trước TN
so với sau TN 91 Bảng 3.4 Kết quả mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của NTN trước TN so
với sau TN 93 Bảng 3.5 Kết quả ĐTB của NĐC và NTN trước và sau TN 96 Bảng 3.6 Kết quả mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ NĐC và NTN
theo giới tính 98
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Thâm niên công tác của GVMN 47Biểu đồ 3.1 So sánh mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ NĐC và NTN
trong HĐVTĐTTD trước TN 85Biểu đồ 3.2 So sánh mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ NĐC và NTN
sau TN 88Biểu đồ 3.3 So sánh mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của NĐC trước TN
so với sau TN 92Biểu đồ 3.4 So sánh mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của NTN trước TN
so với sau TN 94Biểu đồ 3.5 So sánh kết quả ĐTB của NĐC và NTN trước và sau TN 96Biểu đồ 3.6 Kết quả so sánh mức độ khả năng sáng tạo của trẻ NĐC và NTN
theo giới tính 99
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em hôm nay - thế giới ngày mai, trẻ em là tương lai của đất nước, là hạnh phúc của mỗi gia đình, là niềm tự hào của nền giáo dục Vì một tương lai tươi sáng, trẻ em cần được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục phù hợp, hiện đại và toàn diện về mọi mặt
Trong cuộc sống ngày nay, sự sáng tạo rất cần thiết và quan trọng với mỗi con người Bởi, sáng tạo là biến những điều bình thường thành mới lạ, biến điều tưởng chừng không thể thành có thể, cũng như khai thông những bế tắc Chính sự sáng tạo
đã làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật và thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại Tất cả những đồ vật mà ta thấy hay sử dụng hàng ngày đều là kết tinh của sự sáng tạo trong quá khứ Chúng sẽ đẹp hơn, hoàn hảo hơn, đa dạng hơn với nhiều công năng hơn, nhờ sự sáng tạo không ngừng trong tương lai
Ai cũng có thể phát triển tính sáng tạo của mình một cách có mục đích và hệ thống, vì đó là kỹ năng có thể rèn luyện được Một số người có khả năng sáng tạo vượt trội hơn những người khác chủ yếu là do ý thức tự rèn luyện Vì vậy, muốn đạt hiệu quả cao trong sáng tạo đòi hỏi phải bồi dưỡng khả năng sáng tạo ngay từ khi còn rất nhỏ
Con người luôn tiềm tàng khả năng sáng tạo từ rất sớm: Moza 3 tuổi đã tự mình hoà âm trên đàn, 5 tuổi đã sáng tác nhạc, 8 tuổi đã viết những bản xônát và giao hưởng đầu tiên Newton lúc lên 8 tuổi đã biết làm trò chơi cơ học khiến mọi người phải ngạc nhiên Edison khi 7 tuổi đã có phát minh đầu tiên về bóng đèn điện Cũng chính sự sáng tạo đó đã đưa Moza, Newton, Edison có những thành công rực rỡ trong con đường sự nghiệp sau này Qua đó cho thấy sự hình thành và phát triển khả năng sáng tạo trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là một tiền đề cho mọi hoạt động sau này của đứa trẻ, đồng thời tạo mọi điều kiện quan trọng cho trẻ học tập thông minh và sáng tạo ở lứa tuổi học đường
Trường mầm non là môi trường rất thuận lợi tạo điều kiện cho sự nảy nở và phát triển những ý tưởng sáng tạo đang còn ấp ủ trong trẻ Ở trường mầm non, trẻ được tham gia rất nhiều hoạt động phong phú, đa dạng Trong đó, hoạt động có khả
Trang 12năng rèn luyện khả năng sáng tạo tốt nhất là hoạt động tạo hình, mà đặc biệt hơn hết
là hoạt động vẽ
Trong hoạt động vẽ, trẻ có cơ hội được trải nghiệm những cảm xúc đa dạng, được thể hiện các hình ảnh - hình tượng theo cảm xúc và ý tưởng riêng của mình một cách linh hoạt, với sự thay đổi của sắc thái màu sắc, hay chỉ là những nét vẽ rất đơn giản Hoạt động vẽ đòi hỏi trẻ phải huy động một cách tích cực những biểu tượng và vốn hiểu biết của mình Tranh vẽ của trẻ mẫu giáo thể hiện vốn kinh nghiệm mà trẻ
có được qua quá trình trẻ tiếp xúc với thế giới xung quanh Sự đa dạng và hợp lý trong tranh vẽ của trẻ phụ thuộc vào vốn biểu tượng, vốn kinh nghiệm và phương pháp hướng dẫn của người lớn Tuy nhiên, trong các nội dung mà giáo viên thường chọn để dạy vẽ cho trẻ thì còn một nội dung rất hứng thú đối với trẻ và phát triển khả năng sáng tạo ở trẻ rất cao đó là vẽ theo đề tài tự do Trẻ phải vận dụng vốn sống, vốn kinh nghiệm có từ trước hay được giáo viên cung cấp qua tranh ảnh, video, qua các môn học khác để có thể tạo nên một hình vẽ mới lạ và vô cùng độc đáo từ chính trong những ý tưởng của trẻ
Tuy nhiên, trong thực tế, hầu hết các trường mầm non chưa thực sự giúp trẻ khám phá các phương tiện truyền cảm của hoạt động vẽ, cũng như chưa phát triển được khả năng sáng tạo của trẻ thông qua hoạt động vẽ theo đề tài tự do Trong quá trình tổ chức hoạt động, giáo viên thường cho trẻ vẽ một vật cụ thể, hướng trẻ quan tâm nhiều đến hình ảnh mô tả, đến cách tạo ra hình mà ít chú ý đến hình thức của nó Điều này thường dẫn đến việc trẻ nhớ lại những sơ đồ mô tả vật một cách máy móc
mà ít thấy được sự cuốn hút rất đa dạng, phong phú từ các phương tiện truyền cảm của hoạt động vẽ theo đề tài tự do
Xuất phát từ những khía cạnh lý luận và thực tiễn trên tôi chọn nghiên cứu đề
tài: “Biện pháp phát huy khả năng sáng tạo trong hoạt động vẽ theo đề tài tự do
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi” để có cái nhìn sâu sắc và tích lũy thêm nhiều kinh
nghiệm cho công tác giáo dục trẻ sau này
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo trong hoạt động vẽ theo đề tài tự do của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Trang 133 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng phát huy khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo đề tài tự do ở một số trường mầm non
- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp cho GVMN nhằm phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo đề tài tự do ở một
số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát huy khả năng sáng tạo trong hoạt động vẽ theo đề tài tự do của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
4.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức hoạt động vẽ theo đề tài tự do cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
5 Giả thuyết khoa học
Khả năng sáng tạo trong hoạt động vẽ theo đề tài tự do của trẻ 5 – 6 tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh sẽ được phát huy nếu áp dụng hợp lý một số biện pháp được đề xuất
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo trong hoạt vẽ theo đề tài tự do của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
6.2 Địa bàn nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng tại 2 trường mầm non thuộc Thành phố Hồ Chí Minh: Mầm non 20/10 quận 1, MN An Nhơn Tây Huyện Củ Chi
- Thực nghiệm một số biện pháp tại trường mầm non 20/10 quận 1 Thành phố
Hồ Chí Minh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu Trên cơ sở khái quát hóa, hệ thống một số vấn đề lý luận có liên quang
Trang 14làm nền tảng cơ bản cho việc nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm:
Thành phố Hồ Chí Minh Nhằm xác định hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp phát huy KNST cho trẻ MG 5 – 6 tuổi trong HĐVTĐTTD trong thực tiễn và sau khi thực nghiệm
Mục tiêu: Xác định các bước chuẩn bị, tổ chức và biện pháp tác động của giáo viên nhằm phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ trong HĐVTĐTTD, xác định mức độ biểu hiện sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong HĐVTĐTTD
theo đề tài tự do
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu (Anket):
Sử dụng phiếu điều tra để thu thập ý kiến của GVMN và ban giám hiệu về thực trạng tổ chức hoạt động vẽ theo đề tài tự do cho trẻ MG 5 – 6 tuổi tại địa bàn nghiên cứu, cụ thể như sau:
các biện pháp mà giáo viên đã thực hiện nhằm phát huy KNST cho trẻ
MG 5 – 6 tuổi trong HĐVTĐTTD
của trẻ trong hoạt động vẽ theo đề tài tự do nói riêng và các biện pháp được giáo viên thực hiện trong việc tổ chức HĐVTĐTTD cho trẻ MG 5 – 6 tuổi nói chung; nêu lên những khó khăn của giáo viên khi tổ chức HĐVTĐTTD
7.2.3 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động vẽ của trẻ:
Nghiên cứu các sản phẩm tạo hình vẽ theo đề tài tự do của trẻ MG 5 - 6 tuổi nhằm đánh giá tính sáng tạo của trẻ Trên cơ sở nghiên cứu về hoạt động vẽ và
Trang 15KNST của trẻ MG 5 – 6 tuổi, chúng tôi xác định biểu hiện sáng tạo trong hoạt động
vẽ theo đề tài tự do của trẻ MG 5 – 6 tuổi được thể hiện ở những điểm sau:
- Tên tranh vẽ: đặt tên mới lạ cho sản phẩm
- Đặc điểm nội dung tranh vẽ: có ý tưởng phong phú, mới lạ; sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau để thể hiện; thể hiện cảm xúc trong sản phẩm; nêu lên được ý tưởng của mình qua sản phẩm sau khi thực hiện xong
- Bố cục: bố cục hợp lý, hài hòa phù hợp với chủ đề
- Màu sắc: dùng màu sắc táo bạo, khác thường; phối màu phong phú, đa dạng; tô màu làm nổi bật nội dung chính
- Hình vẽ: sử dụng họa tiết chi tiết phù hợp với chủ đề
7.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu:
Tham khảo các ý kiến của các cán bộ quản lí và GV mầm non về các biện pháp phát huy tính sáng tạo trong hoạt động vẽ theo đề tài tự do của trẻ MG 5 – 6 tuổi nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu như sau:
trong HĐVTĐTTD, làm rõ thêm những ý kiến của GV về thực trạng khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi trong HĐVTĐTTD, làm cơ sở đề xuất một số biện pháp phát huy KNST trong HĐVTĐTTD cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
pháp giáo viên thường sử dụng, cách tổ chức cho trẻ tham gia vẽ tự do
Trang 16biện pháp đề xuất nhằm phát huy KNST trong HĐVTĐTTD cho trẻ MG
5 – 6 tuổi
– 6 tuổi trong HĐVTĐTTD ở trường mầm non
cho trẻ MG 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
Cách thức: Xây dựng chương trình thực nghiệm và áp dụng thực hiện các biện pháp đề xuát trên mẫu thực nghiệm Từ đó, so sánh và đối chiếu mức độ biểu hiện sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong HĐVTĐTTD giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước và sau khi thực nghiệm
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng toán học thống kê (sử dụng Microsoft Excel) để xử lý các số liệu đã thu thập được trong các quá trình điều tra và tiến hành thử nghiệm
8 Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề phát huy khả năng sáng tạo trong hoạt
động vẽ theo đề tài tự do của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
- Mô tả thực trạng về khả năng sáng tạo trong hoạt động vẽ theo đề tài tự do của
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi; đồng thời tìm hiểu thực trạng nhận thức của giáo viên về sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số biện pháp cho GVMN nhằm phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong HĐVTĐTTD ở một số trường mầm non tại TP HCM
- Xây dựng giáo án và tổ chức thực nghiệm các biện pháp đã đề xuất cho GVMN nhằm phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong HĐVTĐTTD ở một số trường mầm non tại TP HCM
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT HUY KHẢ NĂNG SÁNG TẠO TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ
THEO ĐỀ TÀI TỰ DO CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Những nghiên cứu về tính sáng tạo
Trong lịch sử nghiên cứu về tính sáng tạo, người ta luôn nhắc đến những thiên tài trên các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật như: Wolfgang AmadeusMozart, Albert Einstein, Lev Nikolayevich Tolstoy, Isaac Newton, Leonardo da Vinci…, vì vậy, nghiên cứu về tính sáng tạo và vai trò của nó đối với trẻ em cũng đã được quan tâm
từ rất sớm bởi các nhà khoa học giáo dục
Trong tiến trình lịch sử tiến hóa của nhân loại, hoạt động sáng tạo của con người là một phần không thể thiếu trong hoạt động sống Sáng tạo từ những vấn đề nhỏ lẻ đã trở thành một nền khoa học không ngừng phát triển, đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ nhiều phương diện, nhiều góc độ khác nhau: từ góc độ quá trình, góc độ nhân cách, góc độ sản phẩm (Lê Nam Hải, Hà Thị Hoài Hương, 2011)
Năm 1950, J.P.Guiford là người đầu tiên nói về đặc điểm của nhân cách sáng tạo và biểu đạt nó bằng một mô hình Ông cho rằng trí sáng tạo được xác định bởi một tổ hợp các đặc điểm và năng lực sau: tính lưu loát (fluency), tính mềm dẻo (flexibility), tính chi tiết (elaboration), tính độc đáo (originality), tính nhạy cảm vấn
đề (sensibility) và sự định nghĩa lại (redefinition) Qua đây cho thấy, tác giả nghiên cứu sáng tạo dựa trên cơ sở các phẩm chất của chủ thể Một con người sáng tạo cần
có nhiều sáng kiến, có khả năng thao tác thuần thục đối với những vấn đề khác nhau
Họ cũng rất nhạy cảm với vấn đề và độc đáo trong cách giải quyết vấn đề (Lê Nam Hải, Hà Thị Hoài Hương, 2011)
Cuối những năm 60 và đầu những năm 70 của thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu sáng tạo theo từng độ tuổi và đưa ra những biện pháp giáo dục tương ứng Ngoài
ra, các nhà nghiên cứu còn tập trung sâu vào từng kiểu tư duy như tư duy hội tụ và tư
Trang 18duy phân kì trong hoạt động sáng tạo cũng như khẳng định rằng tư duy phân kì
(divergwnce thinking) – một kiểu tư duy đặc trưng của kiểu sáng tạo hay KNST Từ
đó, nhiều nhà nghiên cứu ở Đức như: Han G.Jellen, Klaus Urban, Shoppe, Lratzmeier,… đã đưa ra khá nhiều công cụ nghiên cứu về KNST, tiềm năng sáng tạo của con người theo độ tuổi, dạng hoạt động… (Huỳnh Văn Sơn, 2009)
Có thể nhận thấy ở Liên Xô (cũ) đội ngũ các nhà Tâm lí học nghiên cứu về sáng tạo cũng khá đông đảo Tiêu biểu như: O.K.Chikhômỉrôp; Ia.A.Pônôvariôp, B.M Kêdrôp; X.L.Rubistêin, L.X.Vygotsky, N.G.Alêcxâyep…
Theo quan điểm L.X.Vygotsky: Lý thuyết về vùng phát triển gần Ông khẳng định về sự phát triển của trẻ em, phát triển khả năng sáng tạo không thể tách rời mối quan hệ với thế giới xung quanh, xã hội Mọi sự phát triển trong đó có sự phát triển khả năng sáng tạo của trẻ em phải được thực hiện thông qua chính hoạt động trong
đó vui chơi là hoạt động nền tảng để tạo nên điều đó Sự sáng tạo không thể tự mình trẻ tách ra mà cần có sự tương tác, phối hợp và cùng nhau chia sẻ (Vygotsky L.X, 1985)
Ngoài ra còn có nhiều tác giả khác ở Mỹ cũng nghiên cứu vấn đề sáng tạo như: Barron, Helmhoitz, Wallass Getzels…
Từ những năm 60 – 70 của thế kỷ XX, không chỉ ở Mỹ, Liên Xô mà Tây Âu đặc biệt là Đức cũng đã nhận ra ý nghĩa phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật cũng như ý nghĩa phát triển cá nhân của sáng tạo dưới góc nhìn mới của Tâm lý học, Giáo dục học và Xã hội học đã được quan tâm nghiên cứu thích đáng
Những công trình nghiên cứu về hoạt động vẽ và khả năng sáng tạo trong
Khi L.X.Vygotsky nghiên cứu về trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ đã cho thấy
vai trò của hứng thú đối với sự hình thành và phát triển khả năng sáng tạo của trẻ em
Trang 19trong hoạt động tạo hình Và ông đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc tự do trong hoạt động nghệ thuật”
Nhiều nhà nghiên cứu hoạt động tạo hình về tính sáng tạo của trẻ như A.V.Bacusimxki, N.P.Xaculina, T.X.Komarova… đã chứng minh những biểu hiện riêng lẻ của nhịp điệu đặc trưng cho nghệ thuật đích thực, đã biểu hiện trong tranh vẽ của trẻ mẫu giáo
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về khả năng sáng tạo và khả năng sáng tạo trong hoạt động vẽ có bề dày lịch sử rất lâu dài Cho đến ngày nay, vẫn còn được quan tâm rất nhiều và có sức hút ngày càng sâu rộng Không chỉ ở Liên Xô mà nhiều tác giả ở nhiều nước khác cũng có các công trình nghiên cứu đã quan tâm đến sự phát triển khả năng sáng tạo của trẻ như S.teintanova (Bungari), R.Muller, G.Resel (Đức), Xuzuki Xezo và Xinxaku Tada (Nhật), R.soka (Pháp), E.Kramer và B.Jefferson (Mỹ)… các tác giả trên đều có quan điểm chung là coi trọng vai trò hoạt động tích cực của bản thân trẻ trong quá trình phát triển nói chung cũng như vai trò của tác động sư phạm trong hoạt động tạo hình nói riêng
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu về tâm lý học trẻ em, vấn đề phát triển khả năng sáng tạo của trẻ luôn được quan tâm Nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu, nhiều quyển sách ra đời với mục đích nhằm rèn luyện và phát triển khả năng sáng tạo như:
- Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn với quyển sách: “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo”
nhằm rèn luyện tư duy sáng tạo và đề ra những biện pháp cụ thể phát huy tư duy sáng tạo
- Tác giả Lê Nam Hải và Hà Thị Hoài Hương với tạp chí khoa học: “Nghiên
cứu sáng tạo dưới quan điểm về nhân cách” coi sáng tạo là một thuộc tính nhân cách
của con người Nhân cách sáng tạo được nhìn nhận thông qua hoạt động của cá nhân khi thực hiện những nhiệm vụ, những công việc nhằm đạt được mục đích đề ra (Lê Nam Hải, Hà Thị Hoài Hương, 2011) Thông qua việc trình bày một số quan điểm về sáng tạo của các nhà khoa học tâm lý, tác giả nhấn mạnh một số phẩm chất đặc trưng của nhân cách sáng tạo nhằm cung cấp một cái nhìn tích cực về những phẩm chất cần
Trang 20có của con người sáng tạo
Một số công trình nghiên cứu về việc phát triển, nâng cao khả năng sáng tạo, tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động nghệ thuật của trẻ Mầm non với các đề tài như:
- Luận án Tiến sĩ của Lê Thanh Thủy nghiên cứu với đề tài: “Ảnh hưởng của
tri giác tới tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ 5-6 tuổi” nhằm nghiên
cứu ảnh hưởng của tri giác tới sự phát triển trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ, tìm kiếm con đường tác động, nâng cao khả năng tri giác của trẻ để từ đó hình thành và phát triển khả năng tưởng tượng, sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn trong hoạt động tạo hình (Lê Thanh Thủy, 1996)
- Luận văn Thạc sĩ của Hồ Hoàng Yến với đề tài: “Tìm hiểu mức độ tưởng
tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ ở một số trường mầm non ở Thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai” đã tìm hiểu mức độ tưởng tượng sáng tạo
trong hoạt động vẽ và trên cơ sở đó đã xây dựng, thử nghiệm một số biện pháp nâng cao khả năng này (Hồ Hoàng Yến, 2011)
- Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục của Nguyễn Thị Ngọc Kim nghiên cứu
về: “Một số biện pháp bồi dưỡng khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
thông qua hoạt động vẽ theo ý thích” cũng khái quát cơ sở lý luận về khả năng tưởng
tượng sáng tạo của trẻ và đề xuất các biện pháp để bồi dưỡng khả năng tưởng tượng sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi tại các trường MN thông qua hoạt động vẽ (Nguyễn
Thị Ngọc Kim, 2005)
- Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thu Hương nghiên cứu: “Tiềm năng sáng tạo và
biểu hiện của nó trong vận động theo nhạc của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi”cũng đã đưa
ra những biểu hiện sáng tạo của vận động theo nhạc và đánh giá được KNST trong vận động theo nhạc của trẻ MG và so sánh KNST của trẻ MG 5 – 6 tuổi ở Việt Nam
và trên thế giới
- Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Huỳnh Ngọc Thủy với đề tài: “Biện pháp phát
huy khả năng sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo đề tài ở trường mầm non” đã tiến hành thực nghiệm các biện pháp phát huy khả năng sáng tạo của
trẻ trong hoạt động vẽ theo đề tài và đã thực hiện bài test đo tiềm năng sáng tạo của Klaus K.Urban với tính khách quan và mang lại hiệu quả cao
Trang 21- Luận văn Thạc sĩ của Lại Thị Kim Cúc nghiên cứu đề tài: “Một số biện phát
phát huy khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động ca hát ở trường mầm non” cũng đã tìm ra một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi
trong hoạt động ca hát như sau: làm giàu vốn kinh nghiệm ca hát cho trẻ, tạo môi trường tốt nhất cho trẻ, rèn kỹ năng ca hát cho trẻ, giúp trẻ vận dụng kinh nghiệm Những biện pháp này tạo cho trẻ hứng thú, tích cực, mạnh dạn thể hiện bài hát theo các cách khác nhau
Ngoài ra, một số tác giả về sách Tâm lý học sáng tạo, giáo trình Tâm lý học sáng tạo cũng như các bài giảng về Tâm lý học sáng tạo như: PGS – TS Nguyễn Huy Tú, PGS – TS Huỳnh Văn Sơn, TS Nguyễn Đức Uy, Ths Đinh Minh Châu, Ths Trần Thị Nga, Ths Lê Văn Huy… cũng đã góp phần xây dựng hệ thống lý luận
về sáng tạo một cách hoàn chỉnh hơn
khả năng sáng tạo nếu như được tác động đúng cách Trẻ phải được sống trong môi trường, được hướng dẫn, tổ chức các hoạt động và được thể hiện những ước mơ, suy nghĩ của mình một cách sáng tạo Hoạt động tạo hình nói chung và hoạt động vẽ nói riêng có ý nghĩa rất lớn để hình thành khả năng sáng tạo ở trẻ
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về khả năng sáng tạo của trẻ trong hoạt động vẽ thì không nhiều Đa phần các công trình nghiên cứu đều quan tâm đến việc tìm kiếm những con đường có hiệu quả nhất để nâng cao khả năng tưởng tượng cho trẻ, đề cao vai trò hướng dẫn của người lớn trong việc giúp trẻ tiếp thu các kiến thức và kỹ năng tạo hình Mặc dù vậy, các tác giả lại chưa đi sâu nghiên cứu khả năng sáng tạo trong hoạt động vẽ nói chung và trong hoạt động vẽ theo đề tài tự do nói riêng Vì thế tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mong muốn góp phần phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mầm non
1.2 Cơ sở lý luận về khả năng sáng tạo
1.2.1 Khái niệm chung về sáng tạo
Cho đến nay, có nhiều nghiên cứu về sáng tạo và được trình bày dưới nhiều quan điểm khác nhau:
Theo từ điển triết học: “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra
Trang 22những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất Các loại hình sáng tạo được xác định bởi đặc trưng nghề nghiệp như khoa học kĩ thuật, tổ chức quân sự Có thể nói sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần” (Phan Dũng, 1992)
Theo nhà phân tâm học Freud – cha đẻ của Phân tâm học về sáng tạo Ông cho
rằng: “Sáng tạo, cũng giống như giấc mơ hiện hình, là sự tiếp tục và sự thay thế trò
chơi trẻ con cũ” (Vụ Giáo dục mầm non, 2005)
Theo quan điểm của nhà Tâm lý học Mĩ Willson: “Sáng tạo là quá trình mà kết
quả là tạo ra những kết quả mới cần thiết từ các ý tưởng dạng năng lượng, các đơn
vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của hai ba yếu tố được nêu ra” (Huỳnh Văn
Sơn, 2009)
Theo L.X.Vygotsky hoạt động sáng tạo được ông nhìn nhận như sau: “Sáng tạo
là hoạt động tạo ra cái mới không phân biệt kết quả tạo ra nó có ý nghĩa hiện thực
cụ thể hay có ý nghĩa về mặt tư duy – tình cảm” (Huỳnh Văn Sơn, 2009)
Đối với X.L.Rubinstêin cho rằng: “Sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra
những chất liệu mới có ý nghĩa xã hội và những chất liệu mới ấy có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần” (Huỳnh Văn Sơn, 2009)
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Sáng tạo là tìm thấy và làm nên cái mới” (Nguyễn Như Ý, 2007) “Sáng tạo là tạo ra cái mới, cách giải quyết mới không phụ thuộc vào cái đã có” (Hoàng Phê, 2009)
Điển hình như nhóm tác giả Trần Hiệp - Đỗ Long trong quyển “Sổ tay Tâm lí
học” có viết: “Sáng tạo là hoạt động tạo lập, phát hiện những giá trị vật chất và tinh
thần Sáng tạo đồi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kĩ năng và với điều kiện như vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc” (Trần
Hiệp, Đỗ Long, 1990)
Tác giả Nguyễn Huy Tú - một nhà nghiên cứu chuyên bàn về vấn đề sáng tạo
cho rằng: “Sáng tạo là một thuộc tính tâm lý đặc biệt, thể hiện khi con người đứng
trước hoàn cảnh có vấn đề Thuộc tính này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra giải pháp mới, độc đáo
Trang 23và thích hợp cho vấn đề đặt ra” (Nguyễn Huy Tú, 2004)
Nhìn chung tất cả những quan điểm của các nhà nghiên cứu đã trình bày ở trên
về sáng tạo đều nhấn mạnh đến cái mới và ý nghĩa xã hội của sản phẩm sáng tạo Tuy mỗi tác giả phân tích vấn đề theo một hướng khác nhau, mặc dù có nhiều điểm khác biệt, song hầu hết các tác giả đều nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt động sáng tạo, sản phẩm sáng tạo đối với sự phát triển con người và xã hội
Như vậy,trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi hiểu: “Sáng tạo là tạo
ra cái mới - đó là quá trình con người vận dụng những kinh nghiệm của bản thân, độc lập đưa ra những ý tưởng mới lạ hoặc cải tạo và biến đổi những sản phẩm có sẵn để tạo ra những sản phẩm mới nhằm phục vụ cho lợi ích chính đáng của bản thân và xã hội”
1.2.2 Đặc điểm của sáng tạo
Sáng tạo được bộc lộ ở ba tính chất hay ba thuộc tính cơ bản: Tính mới mẻ, tính độc lập và tính tối lợi (Nguyễn Huy Tú, 1996)
Tính mới mẻ: bộc lộ ở tính mới mẻ trong sản phẩm của tư duy hay hành
động, tinha mới mẻ này có thể đối với cá nhân hoặc đối với xã hội Khi đề cập đến sự sáng tạo của người trưởng thành, của nhà khoa học, nhà phát minh sáng chế, sáng tác…là nói đến tính mới mẻ trên bình diện xã hội
Ở lứa tuổi học sinh, trong quá trình sáng tạo, cái mới được phát hiện không nhất thiết phải có ý nghĩa toàn xã hội mà chỉ là đối với bản thân mình Do đó sự sáng tạo của học sinh thường không mang lại cái mới cho toàn xã hội nhưng hoạt động sáng tạo này có ý nghĩa xã hội rất lớn vì ở đó nhân cách trẻ được rèn luyện để trở thành những người sáng tạo sau này cho xã hội
Chính tư duy độc lập làm tiền đề nảy sinh những ý tưởng mới, phương pháp mới, giải pháp mới Điều kiện quan trọng để phát triển tính độc lập tư duy là việc đặt trẻ
em và người lớn trước vấn đề mà họ phải đi đến đích bằng con đường giải quyết vấn
đề đó
Theo Raja Roy Singh: “Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề sẽ trở thành công việc chuyển giao tẻ nhạt nếu như vấn đề đó được chuyển tới người học chứ không phải
Trang 24người học phát hiện và nêu ra” (Đức Uy, 1998) Khi đi vào vấn đề, nếu họ thử nghiệm độc lập để tìm ra giải pháp và càng khác lạ với thông thường thì càng được đánh giá là có tính sáng tạo
Người sáng tạo có khuynh hướng tránh lặp lại cách giải quyết cũ, họ hoài nghi, muốn từ bỏ cách truyền thống, có khi từ bỏ cả mục đích truyền thống Họ thường đưa ra các ý tưởng mới, cách thức mới để thực hiện ý tưởng độc đáo, mới lạ của mình
ra sản phẩm mới luôn có mối liên quan đến hiện thực Sáng tạo không phải là sự đoạn tuyệt của hiện thực mà là sự phản ánh của hiện thức tối đa nhưng trong tình huống mới, chất lượng mới và mục đích mới
Mục đích của việc sáng tạo bao giờ cũng nhằm vươn tới việc tạo ra cái mới, độc đáo, tốt hơn, có lợi hơn cho sự phát triển của xã hội Điều này trái ngược với việc nghiên cứu các sản phẩm sáng tạo của trẻ: không độc đáo hơn, không đẹp hơn, không lợi hơn Quan trọng là chúng ta đã tập cho trẻ học cách sáng tạo để thể hiện nhu cầu tự nhiên vốn có của trẻ Trẻ không bị phụ thuộc vào một công thức, một giải pháp, một đường mòn có sẵn Chúng ta giúp trẻ trở thành người sáng tạo Lợi ích này chính bản thân của trẻ cũng chưa ý thức được nhưng nó mang một ý nghĩa xã hội to lớn Điều này đã tạo cho trẻ được sự thoải mái, thỏa thích thực hiện những điều mà trẻ suy nghĩ, tưởng tượng ra
Như vậy, dựa trên nền tảng giáo dục của toàn xã hội thì học tập là hoạt động tái tạo, nhưng trên cá nhân thì hoạt động học tập là hoạt động sáng tạo, sáng tạo cho bản thân mình Vì vậy, sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển tiềm năng cá nhân
1.2.3 Các cấp độ của sáng tạo
Sự phân biệt các cập độ trong tâm lý học có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục
và đào tạo con người Theo nhà tâm lý học người Mỹ Jean Taylor có thể phân ra năm cấp độ khác nhau như sau:
Cấp độ I: Sáng tạo biểu hiện là dạng cơ bản nhất của sáng tạo, không đòi
hỏi tính độc đáo hay kỹ năng quan trọng nào Đặc trưng của cấp độ sáng tạo này là
Trang 25tính bộc phát “Hứng khởi” và sự tự do khoáng đạt
Cấp độ II: Sáng tạo chế tạo là bậc cao hơn sáng tạo biểu hiện Nó đòi hỏi kỹ
năng nhất định (Xử lý thông tin hoặc kỹ năng kỹ thuật… ) để thể hiện rõ ràng, chính xác các ý kiến của cá nhân Ở cấp độ này tính tự do, hứng khởi bộc phát đã nhường bước cho các qui tắc trong khi thể hiện cái tôi của người sáng tạo
Cấp độc III: Sáng tạo phát kiến có đặc trưng là sự phát hiện hoặc “tìm ra”
do “nhìn thấy” các quan hệ mới giữa các thông tin trước đây Đây chưa phải là cấp bậc cao nhất mà chỉ là chế biến các thông tin cũ và sắp xếp lại chúng để đi đến các quan hệ mới và đó là sự xuất hiện sáng kiến hay phát kiến
Cấp độ IV: Sáng tạo cải biến (đổi mới, cải cách) là cấp bậc sáng tạo cao Nó
thể hiện sự am hiểu sâu sắc các kiến thức khoa học hoặc nghệ thuật, kỹ thuật hay sản xuất, tức đòi hỏi một trình độ trí tuệ nhất định Từ đó xây dựng các ý tưởng cải tạo, cải cách có ý nghĩa xã hội zvaf khoa học kỹ thuật Lackben cho rằng dự án trong đầu càng xa với ban đầu bao nhiêu thì sự sáng tạo càng lớn hơn bấy nhiêu
Cấp độ V: Sáng tạo bậc cao là ý tưởng làm nảy sinh nghành mới, nghề mới,
trường phái mới, vượt cả trí tuệ đương thời Đại diện cho những nguời đạt cấp bậc này là Einstein trong vật lý học, Picasso trong hội họa, Chopin trong âm nhạc, Darwing trong sinh học, K.Marx, Hồ Chí Minh trong xã hội và khoa học chính trị… (Phạm Thu Hương, 2000)
Sáng tạo của trẻ em thường ở cấp bậc thấp nhất vì trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm, kỹ năng và trẻ luôn luôn có sự tự do khoáng đạt trong tâm hồn Đây là bậc quan trọng nhất của sự sáng tạo, vì nếu không có nó thì cũng không có bậc sáng tạo nào cao hơn Nếu sự hứng khởi và sự tự do khoán đạt bị hạn chế, bị gò ép vào khuôn mẫu ngay lúc đầu thì rất có hại cho sự sáng tạo
Như vậy, nếu như chúng ta hạn chế những biểu hiện sáng tạo của trẻ thì dần dần sẽ trở thành thói quen, ngấm dần vào trong tư duy của chúng và dần dần trẻ trở nên thụ động, ít sáng tạo Điều này, làm cản trở việc phát huy mọi tiềm năng và bộc
lộ khả năng của trẻ trong mọi lãnh vực hoạt động
1.2.4 Cơ sở sinh lý và cơ chế tâm lý của sáng tạo
Cơ sở sinh lý của sáng tạo
Trang 26Một trong những cơ sở sinh lí rất quan trọng của sáng tạo đó là sự phát triển não bộ Trong hoạt động sáng tạo của con người, bán cầu não là cơ sở để những ý tưởng xuất hiện khi nó hoạt động một cách tập trung theo nguyên tắc “khai sáng”
Sự khác biệt về chức năng của hai bán cầu não được đánh giá bởi các hoạt động của mỗi bán cầu não Bán cầu não trái là trung tâm điều khiển các chức năng trí tuệ như: trí nhớ, ngôn ngữ, logic, viết, sắp xếp, phân tích, phân loại, tư duy hội tụ Bán cầu não phải là trung tâm điều khiển các chức năng như trực giác, ngoại cảm, thái độ, cảm xúc, các liên hệ thị giác – không gian, cảm nhận âm nhạc, nhịp điệu, vũ điệu, các hoạt động và có sự phối hợp cơ thể, các quá trình tư duy phân kỳ Tư duy của
não phải là tố chất của sự sáng tạo
Các chức năng của não trái có đặc điểm là tuần tự và hệ thống, trong khi não phải có đặc điểm là ngẫu hứng và tản mạn Não trái có thể ghép các mảnh rời rạc thành một tổng thể có tổ chức, trong khi não phải theo bản năng nhìn thấy cái tổng thể trước, sau đó mới đến từng phần nhỏ Hai bán cầu não cần phải hoạt động cân bằng và phối hợp với nhau để con người phát triển toàn diện, hài hòa và sức khỏe tinh thần cũng như thể chất được cân bằng (A.W.Mubzert, 1994)
Như vậy, qua nhận định trên, chúng ta thấy rằng việc tạo điều kiện cho trẻ được sáng tạo, chính là cho não phải phát triển, điều này rất quan trọng, nhất là đối với trẻ mầm non đang trong thời kỳ phát triển tâm sinh lý mạnh nhất
Cơ chế tâm lý của sáng tạo
Có thể nói, nguồn gốc của hoạt động sáng tạo là nhu cầu sáng tạo của xã hội, của con người Trong những hoàn cảnh, tình huống khó khăn, con người có nhu cầu giải quyết nhiệm vụ mới Do đó, con người phải nổ lực, tìm kiếm, khám phá, phải nổ lực vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ đó Chính vì vậy mà xuất hiện hoạt động sáng tạo
Quá trình sáng tạo diễn ra một cách có quy luật tức là tuân theo những thời kỳ, những giai đoạn nhất định Chẳng hạn như L.X.Xumbaev chia hoạt động sáng tạo làm 3 giai đoạn:
- Hoạt động cảm hứng, tưởng tượng, ở giai đoạn này xuất hiện ý tưởng sáng tạo
- Sắp đặt logic những suy nghĩ, tư tưởng nhờ các thao tác khái quát hóa, trừu
Trang 27tượng hóa của tư duy
- Thực hiện ý tưởng ấy
Năm 1926, Wallas đã mô tả quá trình sáng tạo gồm 4 giai đoạn kế tiếp nhau như sau:
- Giai đoạn chuẩn bị (Preparation): là giai đoạn thu thập tri thức có liên quan và nghiền ngẫm để tìm cách giải quyết một vấn đề một cách sáng tạo
- Giai đoạn ấp ủ (Incubation): là khoảng thời gian mà con người ngừng suy nghĩ tích cực về vấn đề cần giải quyết và chuyển sang những việc khác Thời gian ấp
ủ có thể làm cho con người có cơ hội để phục hồi sau giai đoạn chuẩn bị căng thẳng, mệt nhọc
- Giai đoạn chiếu sáng (Illumination): sáng tạo thường xuất hiện trong sự bừng sáng bất ngờ (Insight), giúp con người nhìn thấy được ý tưởng, dù chưa hoàn chỉnh,
sự le lói ban đầu của giải pháp
- Giai đoạn xác minh (Verification): Ý tưởng mới mẻ phải được tôi luyện, phải được chuyển sang dạng có thể thử nghiệm được, rồi thử nghiệm thực sự
Mô hình 4 giai đoạn của Walles về quá trình sáng tạo cho chúng ta một cái khung quan niệm (Conceptual framework) để phân tích sự sáng tạo một cách có hiệu quả (Huỳnh Văn Sơn, 2009)
Trong thực tế, quá trình sáng tạo diễn ra rất linh hoạt Với trẻ em đó là sự bộc phát “hứng khởi” Ví dụ như khi được vẽ đề tài tự do, lúc đầu trẻ không biết nên vẽ
gì, rồi đột nhiên trẻ vẽ cái nhà, tiếp theo là những chi tiết khác mà trước đó trẻ chưa
hề nghĩ tới và cứ như thế trẻ vẽ liền một mạch những ý tưởng đang phát ra
1.3 Một số vấn đề về sáng tạo của trẻ mầm non
1.3.1 Khả năng sáng tạo của trẻ mầm non
Mọi trẻ em đều tiềm ẩn năng lực sáng tạo, nhưng sáng tạo của trẻ em không giống với sáng tạo của người lớn, sự sáng tạo chính là khi trẻ bắt đầu tái tạo, bắt chước mô phỏng một điều gì đó và thường không có tính chủ đích Sự sáng tạo của trẻ em phụ thuộc nhiều vào xúc cảm, vào tình huống và thường kém bền vững
Chúng ta có thể hiểu khả năng là cái chưa tồn tại thật sự nhưng nó có thể biểu hiện khuynh hướng phát triển của sự vật trong tương lai Khi tính đến khả năng phải
Trang 28phân biệt được các loại khả năng gần, khả năng xa, khả năng tất nhiên và ngẫu nhiên… từ đó mới tạo được các điều kiện thích hợp để biến khả năng thành hiện thực, thúc đẩy sự vật phát triển (theo wiki/Ability)
Theo quan niệm của E.P.Torrance, bất kể con người nào cũng có tiềm năng sáng tạo, chỉ có ở mức độ khác nhau mà thôi Khi có điều kiện thuận lợi thì khả năng này được bộc lộ ra một cách thuận lợi và phát triển tốt (Torrance, E.P., 1962)
Sự sáng tạo của trẻ em bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu có trước, một nhu cầu cấp bách tự nhiên và là điều kiện tồn tại của trẻ Trẻ không bao giờ sáng tạo cái gì trẻ chưa biết, không hiểu và không có hứng thú
Sáng tạo của trẻ mang tính chất tổng hợp các lĩnh vực trí tuệ, tình cảm, ý chí và đặc biệt là tưởng tượng sáng tạo Chúng ta thấy rằng, so với người lớn thì tri thức và kinh nghiệm của trẻ còn ít, trí tưởng tượng nghèo nàn, hứng thú đơn giản hơn Nhưng do sự dễ dãi, sự mộc mạc của trí tưởng tượng nên trẻ sống trong thế giới tưởng tượng và tin vào sản phẩm của tưởng tượng nhiều hơn
Theo Leonchiev A.N thì: “Khả năng sáng tạo là kết quả hoạt động của một người thành thạo về kiến thức, kỹ năng và khả năng cần thiết cho một loại sáng tạo
cụ thể”
Quá trình phát triển khả năng sáng tạo là một quá trình thay đổi định hướng dẫn đến sự xuất hiện của những phẩm chất mới, những khả năng đặc biệt quyết định sự thành công của sự sáng tạo (Tính nguyên bản của thiết kế, biểu hiện sáng kiến sáng tạo và làm chủ kỹ thuật nghệ thuật) (V.I Efremov)
Nói về kết quả của sự phát triển khả năng sáng tạo ở trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo, chúng tôi đã xác định được một số chỉ số về sự phát triển khả năng sáng tạo (theo V.I Efremov, S Pogodina): (1) tính độc đáo; (2) độc lập sáng tạo và đặc điểm của
nó, mong muốn giải quyết các vấn đề sáng tạo mà không cần sự giúp đỡ của người lớn, tự kiểm soát và đánh giá kết quả; (3) sở hữu các kỹ thuật nghệ thuật và đặc điểm của nó, sự tự tin và khéo léo trong việc sở hữu các công cụ và vật liệu, tốc độ làm việc
Từ những lý luận trên, chúng tôi hiểu: Khả năng sáng tạo là những năng lực mới mà cá nhân có thể đạt ở những mức độ khác nhau nhờ có sự vận dụng và đổi
Trang 29mới từ những kinh nghiệm sẵn có trong tư duy của mình, nhằm thỏa mãn mong muốn sáng tạo cá nhân hay thỏa mãn nhu cầu của xã hội
Như vậy, khả năng sáng tạo của trẻ liên quan chặt chẽ với hoạt động sáng tạo
và là yếu tố thể hiện rõ trong hoạt động sáng tạo cũng như quyết định chất lượng của hoạt động sáng tạo
1.3.2 Phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Phát huy và phát triển là hai khái niệm thuật ngữ khác biệt nhau Phát huy là một thuật ngữ chỉ những thay đổi bên ngoài các hiện tượng sự vật Phát triển là thuật ngữ nói đến sự biến đổi nội dung bên trong các hiện tượng sự vật Hai khái niệm phát huy, phát triển bổ trợ nhau cùng tồn tại bền vững một hiện tượng, sự vật trong đời sống tự nhiên – xã hội (theo vanchuongviet.org)
Đối với trẻ, KNST là năng lực diễn tả của bản thân theo cách riêng của mình Mọi trẻ đều có tiềm năng sáng tạo được thể hiện trong tất cả hoạt động của trẻ nhưng đặc biệt nổi trội là ở 4 hoạt động chính: âm nhạc, tạo hình, ngôn ngữ và chơi tưởng tượng (Phạm Thu Hương, 2000)
Nhiều nha nghiên cứu về sáng tạo như: Amabile (1983), Crople (1992), Sternberg và Lubart (1996)… cho rằng mỗi người đều có những năng lực nhận thức nhất định và với những năng lực ấy có thể tạo ra những sản phẩm sáng tạo ở một mức độ nhất định và KNST có thể dạy được cho trẻ em Những nghiên cứu trên là cơ
sở quan trọng để nhận thấy trẻ có biểu hiện sáng tạo cá nhân như thế nào Từ đó có những biện pháp đúng đắn, tạo điều kiện thuận lợi cũng như có những tác động giáo dục phù hợp nhằm phát huy khả năng sáng tạo góp phần hình thành năng lực sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
1.3.3 Vai trò của sáng tạo đối với sự phát triển tâm lý trẻ mầm non
Sáng tạo là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống con người, tạo ra những giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần có ý nghĩa đối với cá nhân và có ý nghĩa đối với xã hội Điều này thể hiện qua các nghiên cứu về vai trò sáng tạo đối với sự phát triển của trẻ như sau:
- Hoạt động sáng tạo là một hình thức giúp trẻ tự do thể hiện cái tôi của mình
Đề cập đến vấn đề này, X.L.Rubinstein cho rằng: “Mặc dù vốn kiến thức kinh
Trang 30nghiệm của trẻ còn hạn chế, nhưng trẻ có nhiều cơ hội để bộc lộ sự sáng tạo mang tính chủ quan của mình Điều quan trọng là phải xem cái gì là cái mới chủ quan của trẻ” (X.L.Rubinstein, 1989)
- Hoạt động sáng tạo giúp phát triển ngôn ngữ và trí tuệ cho trẻ Sự phát triển
ngôn ngữ cũng như việc hình thành những kỹ năng và khát vọng sáng tạo của trẻ được rèn luyện Với trẻ, muốn cho trí tưởng tượng sáng tạo phát triển phải cho trẻ được tham gia vào các hoạt động, trong đó hoạt động vui chơi là hoạt động cơ bản Đặc biệt, thông qua hoạt động vui chơi, trẻ được tiếp xúc với thế giới xung quanh
trong mọi hoàn cảnh và xác lập quan hệ với nhiều người khác một cách tự nhiên
Qua vui chơi, trẻ thật sự thoải mái và thể hiện đa dạng cảm xúc của mình, như S
Freud đã từng nói: “Đứa bé không bao giờ xấu hổ trước trò chơi của mình và không
che giấu những trò chơi của mình trước người lớn” (S.Freud, 1970) Trẻ được giao
lưu, trao đổi, trình bày ý kiến của mình và thỏa sức tưởng tượng sáng tạo
- Tình cảm thẩm mỹ và đời sống xúc cảm của trẻ được hình thành và phát triển
trong hoạt động sáng tạo Khi trẻ sáng tạo, những xúc cảm ở trẻ lay động, trẻ nhìn thấy cái đẹp, thích cái đẹp và cố gắng tạo ra cái đẹp trong vốn kinh nghiệm sẵn có của trẻ Tuy rằng, những sản phẩm sáng tạo của trẻ đôi khi không mang giá trị xã hội hay không mang tính độc đáo nhưng khi được hoạt động, được sáng tạo và trải nghiệm cảm xúc đã mang lại cho trẻ niềm vui và cũng là món quà vô giá mà sáng tạo mang lại cho trẻ
Vì vậy có thể nói, sáng tạo của trẻ như một trò chơi nảy sinh từ một nhu cầu cấp bách tự nhiên Khi trẻ sáng tạo là trẻ đang tự mình khám phá, tìm tòi và tạo ra cái mới như một trò chơi được nảy sinh từ nhu cầu tự nhiên của trẻ Thông qua hoạt
động sáng tạo mang lại ở trẻ lòng ham muốn tiếp thu những điều mới lạ, những ý
tưởng và sự tưởng tượng sáng tạo của mình Giúp cho những tri thức, kinh nghiệm
và ngôn ngữ của trẻ có nhiều cơ hội phát triển
1.3.4 Đặc điểm sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Ở độ tuổi mẫu giáo, cùng với sự hoàn thiện về nhận thức, không ngừng sáng tạo Sự sáng tạo của trẻ luôn chân thực, luôn hiện hữu trong hành vi của trẻ Nắm được đặc điểm sáng tạo của trẻ giáo viên có thể dễ dàng kích thích trẻ sáng tạo
Trang 31Những đặc điểm sáng tạo của trẻ mầm non như sau (Lê Thị Thanh Bình, 2006):
- Sáng tạo của trẻ biểu hiện một cách tự phát, độc lập và cũng xuất phát từ nhu cầu có trước, một nhu cầu cấp bách tự nhiên và điều kiện bên trong của trẻ
- Trẻ không phải ngẫu nhiên tập trung vào việc sáng tạo, mà chính sáng tạo cho phép trẻ ở lứa tuổi này có thể dễ dàng thể hiện hơn hết những điều đang tràn ngập tâm hồn trẻ
- Trẻ có thể sáng tạo đột nhiên, có cách làm tự do, không cần thuật nhớ, không cần sự bắt chước, bất kỳ chỗ nào thiếu trí nhớ hay những kỷ niệm bị rạn nứt chỉ còn lại những yếu tố rời rạc thì óc tưởng tượng sẽ móc ghép theo cách riêng
- Sáng tạo của trẻ ít khi nghiền ngẫm lâu về tác phẩm của mình, phần lớn trẻ sáng tạo liền một mạch Trẻ giải quyết nhu cầu sáng tạo của mình nhanh chóng và triệt để những tình cảm đang tràn ngập trong lòng nó Sản phẩm sáng tạo của trẻ có thể không hoàn hảo nhưng ưu thế là chúng nảy sinh trong quá trình sáng tạo của trẻ
- Trong mọi hoạt động của mình trẻ luôn có cảm giác thắc mắc, tò mò cao và một sự nỗ lực tự phát nhằm khám phá, thử nghiệm và thao tác theo kiểu độc đáo mang tính trò chơi Đó là biểu hiện sáng tạo của trẻ
- Tầm nhìn về thế giới xung quanh trẻ còn hạn chế, nên hầu như trẻ chưa biết phân tích các mối liên hệ khác nhau, các sáng tạo của trẻ còn mang tính ước lệ và trên nhiều phương diện còn rất ngây thơ
- Những biểu tượng của trẻ không chịu nằm trong lĩnh vực mơ mộng như người lớn, trẻ luôn muốn thể hiện bất cứ tưởng tượng nào của mình thành những hình tượng và hành động sinh động
- Sáng tạo của trẻ mang tính chất tổng hợp các lĩnh vực trí tuệ, tình cảm, ý chí
và đặc biệt là tưởng tượng sáng tạo được hưng phấn với một sức mạnh trực tiếp của cuộc sống
- Tri thức và kinh nghiệm của trẻ còn ít ỏi hơn so với người lớn, do vậy trí tưởng tượng trẻ còn nghèo nàn, hứng thú đơn giản và sơ đẳng hơn nhưng do sự mộc mạc của trí tưởng tượng nên trẻ sống trong thế giới tưởng tượng nhiều hơn, tin vào những sản phẩm của trí tưởng tượng nhiều hơn, kiểm tra những sản phẩm ít hơn Vì vậy mà trẻ dễ có những biểu hiện sáng tạo hơn
Trang 32Do đó mà trẻ MG 5 – 6 tuổi dễ có những biểu hiện sáng tạo hơn Sự sáng tạo của trẻ thường mang tính mộc mạc, sơ đẳng do tri thức và kinh nghiệm của trẻ còn ít
ỏi (Mai Thị Nguyệt Nga, 2007)
Tóm lại, sự sáng tạo của trẻ mặc dù chưa hoàn hảo, nhưng điều quan trọng không phải là sản phẩm hay kết quả trẻ làm nên mà là cảm giác thỏa mãn khi trẻ đang được sáng tạo, đang được rèn luyện trong hoạt động tưởng tượng sáng tạo và thể hiện sự sáng tạo đó Hoạt động sáng tạo mang lại khoái cảm trong khi chơi cho đứa trẻ, rèn luyện các tư chất cho trẻ
1.3.4.1 Đặc điểm ngôn ngữ tạo hình trong tranh vẽ của trẻ mẫu giáo
Ngôn ngữ tạo hình của trẻ ở đây được hiểu là phương tiện truyền cảm Trẻ nhỏ làm quen và tìm kiếm phương tiện truyền cảm rất sớm, ngay từ thời kỳ tiền tạo hình Trẻ sử dụng đường nét, hình dạng, màu sắc, bố cục để thể hiện những hiểu biết, suy nghĩ, xúc cảm, tình cảm của mình (Lê Thị Thanh Huyền, Nguyễn Ngọc Lài, Đặng Thị Phấn, 2016)
a Đường nét, hình dạng
Đường nét, hình dạng là những dấu hiệu đầu tiên của hình vẽ giúp trẻ nhận ra
và hiểu được mối liên hệ giữa vật thật và hình ảnh biểu đạt sự vật đó
Lúc đầu, do khả năng thao tác để tạo ra các đường nét còn hạn chế nên hình vẽ của trẻ còn màn tính sơ đồ, lắp ráp từ những hình học Với trình độ phát triển của năng lực nhận thức thẩm mĩ và kĩ năng vận động, trẻ ở tuổi này có thể cảm nhận được tính nguyên thể của các hình ảnh đối tượng miêu tả và biết dùng đường nét liền mạch, mềm mại, uyển chuyển để truyền đạt hình dáng trọn vẹn của mọi sự vật trong cấu trúc hợp lý Đặc biệt trẻ 5 – 6 tuổi đã có vốn kinh nghiệm phong phú cho nên các biểu tượng hình thành khá đầy đủ về hình dáng, cấu trúc và đặc điểm riêng biệt, khá linh hoạt trong việc biến đổi, phối hợp tính chất của đường nét và hình để thể hiện vẻ độc đáo, rất riêng của mỗi hình tượng sự vật cụ thể
b Màu sắc
Màu sắc chính là phương tiện quan trọng thể hiện sự sáng tạo của trẻ trong hoạt động tạo hình, là yếu tố mang lại hiệu quả thẩm mỹ cho hình ảnh và gây tác động thẩm mỹ nhất đến trẻ cũng như người xem tranh
Trang 33Trẻ mẫu giáo bé thường sử dụng màu theo ý thích và theo cảm xúc, trẻ có khả năng phân biệt và sử dụng được nhiều màu Những màu có chung một gốc thường được trẻ quy lại thành một màu đại diện Sang tuổi MG lớn, trẻ tiếp tục sử dụng đồng thời cả hai cách vẽ màu: “màu bắt chước” và “màu không bắt chước” Trẻ có thể thuộc lòng các mầu quy định theo chuẩn mẫu như đất thì màu nâu, bầu trời thì màu xanh dương, cỏ thì màu xanh lá…, trẻ có thể sử dụng màu tự do nhưng tình trạng vẽ màu tự do, ngẫu nhiên không liên hệ với nội dung ý đồ mô tả vẫn còn phổ biến Tuy nhiên, một số trẻ đã có vốn hiểu biết khấ phong phú về màu sắc, đã có khả năng độc lập quan sát để thấy được vẻ linh hoạt trong sự thay đổi màu sắc của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực và làm quen qua quá trình tri giác với một số cách phối hợp màu sắc Tính tích cực quan sát, nhận thức chính là điều kiện giúp trẻ biết sử dụng màu sắc một cách sinh động để thể hiện một cách sáng tạo nội dung tranh vẽ, qua đó
mà biểu lộ duy nghĩ, tình cảm, ước mơ của mình
c Bố cục
Ngoài đường nét, hình dạng, màu sắc, trẻ MG còn sử dụng một phương tiện truyền cảm khác đó là sự sắp xếp vị trí các hình ảnh trong không gian tranh vẽ hay còn gọi là xây dựng bố cục Bố cục là phương thức tổ chức nghệ thuật của một tác phẩm nghệ thuật
Trẻ MG lớn đã biết tạo nên bố cục tranh với thế cân bằng qua cách sắp xếp đối xứng Để tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa nội dung với hình thức của tranh, nhiều trẻ biết dùng cách sắp xếp thể hiện sự vận động, hành động và các mối quan hệ giữa các
sự vật, nhân vật để tạo ra một không gian có chiều sâu Tính nhịp điệu trong bố cục tranh vẽ của trẻ 5 – 6 tuổi thể hiện nhiều vẻ: bằng sự sắp xếp lặp đi, lặp lại của các hình ảnh cùng loại, bằng sự sắp xếp đan xen các hình ảnh không cùng loại, bằng sự phân biệt, thể hiện quan hệ chính – phụ…
Hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện tạo hình trong tranh vẽ của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tri giác hình tượng, vào sự lựa chọn góc độ nhìn và khả năng cảm nhận vẻ đẹp đa dạng, sinh động của thế giới xung quanh, đồng thời phụ thuộc vào khả năng tưởng tượng sáng tạo, biến đổi hình thượng và vào mức độ phong phú sâu sắc của các xúc cảm, tình cảm thẩm mỹ của trẻ
Trang 341.3.4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tranh vẽ của trẻ
Vẽ tranh là một hoạt động lao động và sáng tạo của chính bản thân trẻ Trẻ lựa chọn vẽ như thế nào, thể hiện cảm xúc ra sao trong quá trình vẽ tranh, từ lúc hình thành ý tưởng cho đến khi sản phẩm hoàn thành còn chịu ảnh hưởng bởi 1 số yếu tố sau đây (Lê Thị Thanh Huyền, Nguyễn Ngọc Lài, Đặng Thị Phấn, 2016):
- Môi trường
+ Trẻ học vẽ ở trường: Trong giờ vẽ theo mẫu, cô ra sức gò trẻ làm theo hình mẫu, do đó sự sáng tạo của trẻ bị hạn chế và hay vẽ giống với mẫu mỗi khi được yêu cầu
+ Gia đình là nơi khơi nguồn ý tưởng:
Thực tế hiện nay, do nhiều gia đình không có nhiều thời gian dành cho con, hoặc do ba mẹ can thiệp sâu vào việc học hành, vui chơi của con nên cũng làm cho trẻ giảm đi sự biểu lộ tình cảm, hạn chế khả năng sáng tạo trong tranh vẽ của trẻ.Trẻ rất cần được tôn trọng, vì thế cần chú ý đến thái độ của ba mẹ đối với sản phẩm của con mình
1.3.4.3 Tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ MG 5 – 6 tuổi
Trong hoạt động vẽ, trẻ đã bắt đầu sử dụng các phương thức hoạt động của trí tưởng tượng Sự sáng tạo của trẻ được thể hiện ở việc trẻ xây dựng những hình ảnh mới nhờ các phương pháp như nhân cách hóa, liên hợp, thay đổi màu sắc hay sắp xếp
vị trí của các đối tượng một cách khác thường, hay sử dụng phương pháp chắp ghép phối hợp nhiều ấn tượng khác nhau – những gì chúng nhìn thấy trong cuộc sống với các biểu tượng đã có từ sách, báo, phim ảnh… nhờ đó tranh vẽ của trẻ trở nên độc đáo
Trang 35Sự biến đổi hiện thực trong trí tưởng tượng không chỉ diễn ra bằng cách kết hợp những biểu tượng mà còn gán cho đối tượng hoặc làm méo mó một vài chi tiết các sự vật
Biểu hiện tưởng tượng sáng tạo của trẻ chúng ta không nên thiên quá nhiều về chuyên nghiệp, sáng tạo của trẻ trong hoạt động vẽ thể hiện ở việc tạo ra cái mới, cái
lạ so với tranh mẫu của cô, của bạn, là sự hồn nhiên trong sáng của lứa tuổi
Các kết quả nghiên cứu về tưởng tượng sáng tạo của trẻ trong hoạt động vẽ cho thấy: Ở trẻ MG ý đồ tạo hình được hình thành phần lớn không phải từ trước mà trong quá trình miêu tả, sức tưởng tượng của trẻ rất nhanh chóng “bùng lên” và cũng nhanh chóng “tắt lụi”, các ý đồ tạo hình thường không bền vững và đôi khi vắng mặt trong quá trình miêu tả (Hồ Hoàng Yến, 2011)
Tóm lại, từ những nghiên cứu trên có thể kết luận: “Tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ là quá trình xây dựng hình ảnh mới chưa có trong kinh nghiệm cá nhân, hoặc kinh nghiệm xã hội thông qua các nguyên vật liệu khác nhau”
1.3.5 Các điều kiện phát huy những biểu hiện sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5
- 6 tuổi
Quá trình tổ chức hoạt động vẽ theo đề tài tự do nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Theo PGS TS Đức Uy để phát huy khả năng sáng tạo cần có những điều kiện sau (Đức
Uy, 1998):
Sự an toàn tâm lý:
- Chấp nhận cá nhân như một giá trị vô điều kiện
Hiệu quả tác động trên trẻ khi trẻ nhận thức được thái độ này, là cảm thấy một bầu không khí an toàn Dần dần trẻ thấy là trẻ có thể làm bất kỳ cái gì, mà không mắc cỡ hay che đậy Do đó, trẻ có thể khám phá con người thật của mình, trẻ có thể thực hiện chính mình theo những thể thức mới mẻ và hồn nhiên Nói cách khác, trẻ đang tiến về sự sáng tạo
- Tạo nên một bầu không khí trong đó vắng mặt sự lượng giá từ bên ngoài
Khi chúng ta không phán xét, đánh giá trẻ một cách tiêu cực là chúng ta đang nuôi dưỡng sự sáng tạo cho trẻ Bởi vì khi trẻ thấy mình đang ở trong một bầu không
Trang 36khí thoải mái, không bị đo lường bằng tiêu chuẩn bên ngoài, thì trẻ cảm thấy hết sức
tự do Việc đánh giá tiêu cực luôn luôn là một sự đe dọa, luôn tạo nhu cầu phòng vệ bên trong trẻ Do đó, người lớn hãy tạo cho trẻ môi trường hoàn toàn vắng mặt sự đánh giá tiêu cực để trẻ cảm thấy thật sự thoải mái, cảm giác bị để ý không còn thì trẻ sẽ tự nhiên sáng tạo và dễ dàng bộc lộ chính mình hơn
- Sự hiểu biết triệt để
Chính điều này khi kết hợp với hai điều trên tạo thành nền tảng cho sự an toàn tâm lý tối đa Khi trẻ hiểu biết, cảm nhận đầy đủ một cách sâu sắc, ăn nhập tâm hồn thì trẻ dễ dàng diễn đạt hơn Trẻ sẽ có nhiều ý tưởng xuất hiện khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với môi trường, khi ấy trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ sẽ càng phong phú hơn
Tự do tâm lý:
Khi giáo viên cho phép trẻ được hoàn toàn tự do để diễn đạt bằng biểu tượng, thì sự sáng tạo được nuôi dưỡng Nó nuôi dưỡng sự cởi mở, sự tung bắt thú vị và hồn nhiên của những tri giác, những khái niệm và những ý nghĩa Đó là thành phần của
và trải nghiệm vì sáng tạo của trẻ là để thỏa mãn nhu cầu, để được chơi và được thử nghiệm trong sự thích thú của mình
Khơi dậy sự hứng thú của trẻ, sáng tạo của trẻ chỉ có thể bắt đầu khi trẻ thật sự thích thú và say mê tham gia trên tinh thần tự nguyện Tạo thật nhiều cơ hội để trẻ có thể tự trải nghiệm các hoạt động trong sự thoải mái, tự nhiên và vui thích nhất mà sáng tạo có thể đem lại cho trẻ
Tóm lại, trẻ sẽ phát huy tối đa khả năng sáng tạo khi chúng có một thế giới quan sinh động, trí tưởng tượng phong phú và tư duy nhạy bén Vì vậy, người lớn
Trang 37cần dạy cho trẻ biết tự tin vào bản thân, biết đối mặt và chấp nhận thất bại Những điều này sẽ giúp trẻ thể hiện và phát triển khả năng sáng tạo của mình hơn
1.4 Lý luận hoạt động vẽ theo đề tài tự do
1.4.1 Khái niệm hoạt động vẽ theo đề tài tự do
Hoạt động vẽ là một trong những nội dung giáo dục thẩm mỹ nhằm phát triển toàn diện cho trẻ MG, thông qua đó phát triển cảm giác, tri giác, phát triển khả năng cảm thụ và KNST, đồng thời vẽ còn là sự biểu lộ thái độ, tình cảm yêu ghét của trẻ đối với thế giới xung quanh
Theo từ điển tiếng Việt thì: “Vẽ là dùng bút mà tả hình trạng các vật cho được
như thực bằng đường nét hoặc màu sắc” (Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam,
1999)
Theo tác giả Nguyễn Quốc Toản: “Hoạt động vẽ là hoạt động tạo ra sản phẩm
trên mặt phẳng bằng nhiều chất liệu khác nhau” Đối với trẻ MG, ở hoạt động này
trẻ phải quan sát đối tượng, nhận xét thông qua ước lượng bằng mắt về hình dáng, tỷ lệ,… và diễn tả lại trên nền giấy bằng cảm nhận riêng của mình (Nguyễn Quốc Toản, 2009)
Khi bàn về hoạt động vẽ của trẻ MN, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã cho rằng:
“Vẽ là hoạt động mà ở đó tập hợp những cảm nhận mà trẻ có về cơ thể mình và về thế giới xung quanh được phóng chiếu vào đường nét, hình dạng do nó tạo ra”
(Nguyễn Ánh Tuyết, 2002)
Khi nghiên cứu về hoạt động tạo hình, tác giả Lê Thanh Thủy cho rằng:
“Hoạt động vẽ là dùng đường nét, hình mảng, màu sắc tạo bố cục thể hiện trên mặt phẳng hai chiều” (Lê Thanh Thủy, 2009)
Tóm lại, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm khác nhau về hoạt
động vẽ nhưng nhìn chung đều có những điểm giống nhau đó là: “Hoạt động vẽ là
hoạt động tạo ra sản phẩm trên mặt phẳng bằng đường nét và màu sắc”.Thông qua
tranh vẽ thể hiện được những gì trẻ thấy, trẻ suy nghĩ cũng như mức độ biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ
Đặc điểm chính của vẽ tự do là tính trực tiếp của nó: sự quan sát hoặc ý tưởng được phản ánh trên giấy mà không có bất kỳ trung gian hay kế hoạch nào
Trang 38Đối với trẻ, HĐVTĐTTD là hoạt động vẽ những gì trẻ thích, không theo một đề tài cho trước Trẻ được quyền lựa chọn nội dung mà trẻ thích HĐVTĐTTD nhằm rèn luyện, củng cố những kỹ năng mà trẻ đã học, giúp trẻ nhớ lại hoặc tưởng tượng
ra các hình tượng mà trẻ đã có trước đó
1.4.2 Bản chất hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo
Có rất nhiều công trình trong và ngoài nước đã tiến hành nghiên cứu về hoạt động vẽ cũng như đi tìm bản chất của hoạt động vẽ Tiêu biểu có những công trình nghiên cứu sau:
Nhà tâm lý học V.X.Mukhina đã xem hoạt động vẽ của trẻ như một quá trình lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội, được diễn ra thông qua sự lĩnh hội các phẩm chất, năng lực tâm lý được đúc kết trong lịch sử phát triển của loài người và in dấu ấn trong những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần của xã hội (Mulkhina V.X, 1981) Khi tìm hiểu về hoạt động vẽ, tác giả Lê Hồng Vân đã cho rằng: hoạt động vẽ không phải là sự “sao chụp” lại các sự vật và hiện tượng mà phải “nhào nặn” lại những gì thụ cảm trong nhận thức, chọn lọc một cách tinh tế những gì đặc sắc, tinh hoa trong vô vàn biểu tượng đã thu nhận để xây dựng nên một biểu tượng mới mang tính nghệ thuật (Lê Hồng Vân, 2002)
Theo tác giả Lê Thanh Thủy vẽ chính là sự thể hiện những biểu tượng, ấn tượng và suy nghĩ, tình cảm của trẻ, là sự giao tiếp, “nói chuyện” bằng các hình thức, phương tiện mang tính vật thể Vẽ giúp trẻ suy nghĩ và hình thành các ý tưởng sáng tạo (Lê Thanh Thủy, 2009)
Như vậy, hoạt động vẽ của trẻ vừa là một quá trình lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội, vừa là một hoạt động sáng tạo nghệ thuật phản ánh những suy nghĩ, tình cảm, những ấn tượng từ cuộc sống của đứa trẻ bằng các phương tiện, chất liệu nghệ thuật thông qua hình tượng mang tính nghệ thuật đặc trưng riêng của trẻ (Phạm Phục Long, 2002) Qua đó, trẻ được tiếp thu những kiến thức, kĩ năng và còn tạo ra một sản phẩm mang tính nghệ thuật
1.4.3 Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với sự phát triển toàn diện của trẻ mầm non
Hoạt động tạo hình là hoạt động sáng tạo nghệ thuật, trong đó con người không
Trang 39chỉ nhận thức cái đẹp của thế giới xung quanh mà còn cải tạo nó theo quy luật của cái đẹp
Hoạt động tạo hình nói chung và hoạt động vẽ nói riêng là hoạt động sáng tạo nghệ thuật, trong đó con người không chỉ nhận thức cái đẹp của thế giới xung quanh
mà còn cải tạo nó theo quy luật của cái đẹp bên cạnh đó, hoạt động tạo hình cũng là một phương tiện quan trọng giúp trẻ phát triển toàn diện (Lê Thị Thanh Bình, 2006)
Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với sự phát triển trí tuệ, nhận thức:
Trong quá trình tạo hình trẻ có nhiều cơ hội để tìm hiểu, khám phá các sự vật hiện tượng trong môi trường xung quanh như đặc điểm đặc trưng, sự tương quan giữa các đặc điểm đó, nhận biết hình dáng, màu sắc Ngoài ra, hoạt động tạo hình có tác dụng rất lớn đối với việc phát triển kỹ năng tri giác về hình dạng, kích thước, cấu trúc, màu sắc của đồ vật bằng mắt một cách có mục đích Trong hoạt động vẽ, trẻ tái tạo lại các hình tượng quen thuộc đã tri giác được Đó chính là những biểu tượng được hình thành trong quá trình nhận thức trực tiếp từ đồ vật, hiện tượng trong khi vui chơi, khi tiếp thu vốn sống, vốn kinh nghiệm Thông qua việc mô tả lại sự vật bằng tranh vẽ mà trẻ nhận biết được những thuộc tính và khả năng biểu cảm khác nhau của vật liệu tạo hình (giấy, bút, màu, bảng, phấn…)
Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với việc giáo dục đạo đức, tình cảm:
Thông qua hoạt động vẽ, trẻ biết phân biệt cái tốt, cái xấu, cái thiện, cái ác, được rèn luyện đức tính kiên trì, bền bỉ và thói quen làm việc có mục đích Đồng thời còn hình thành ở các em tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau Tham gia vào hoạt động vẽ, trẻ có những điều kiện tiếp thu chuẩn mực thẩm mỹ - đạo đức trong xã hội, trải nghiệm các xúc cảm tình cảm, học hỏi các kĩ năng xã hội qua các hành vi văn hóa xã hội qua các hình tượng, các sự kiện được miêu tả Hơn nữa, hoạt động vẽ còn giúp trẻ phản ánh những sự vật hiện tượng có trong thiên nhiên, những
gì làm trẻ rung động, suy nghĩ và có những tình cảm yêu ghét đối với chúng
Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với việc giáo dục thẩm mỹ:
Vẽ là một hoạt động nghệ thuật, do vậy mà các giờ học vẽ sẽ giúp trẻ phát triển khả năng cảm thụ thẩm mỹ và bồi dưỡng cho trẻ những xúc cảm với cái đẹp Việc làm quen, tiếp xúc với các tác phẩm nghệ thuật còn giúp trẻ cảm thụ được vẻ đẹp của
Trang 40thiên nhiên và cuộc sống được thể hiện qua ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt là các đường nét, màu sắc Bên cạnh đó, hoạt động vẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển cảm giác màu sắc của trẻ, trẻ học cách nhận biết vẻ đẹp của sự kết hợp nhiều màu sắc khác nhau, biết vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào cuộc sống hàng ngày từ đó có ý thức tôn trọng và bảo vệ cái đẹp
Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với việc giáo dục thể chất:
Hoạt động vẽ giúp trẻ hình thành và phát triển các kỹ năng như: kỹ năng cầm nắm, kỹ năng vẽ đường nét, kỹ năng vẽ các hình cơ bản và phối hợp các đường nét hình cơ bản để tạo nên hình dáng đồ vật, con người… Hơn nữa, việc học môn vẽ còn giúp trẻ biết cách sắp xếp các hình tượng, tạo nên bức tranh theo đề tài hoặc theo ý thích và cách sắp xếp các hình, mảng, hoạ tiết, màu sắc các hình cơ bản Cũng chính nhờ sự phát triển các kỹ năng mà các cơ bàn tay, ngón tay của các em được phát triển
từ vụng về tới linh hoạt Như vậy, hoạt động vẽ nói riêng, hoạt động tạo hình chung, trước hết có tác động hiệu quả tới việc giáo dục thể chất cho trẻ em
Hoạt động tạo hình còn là biện pháp trị liệu tâm lý đối với trẻ khuyết tật, những người có căn bệnh trầm uất, bệnh thần kinh Sự tự do thoải mái trong quá trình thể hiện, biểu lộ các xúc cảm, tình cảm sẽ giúp người bệnh điều hòa các quá trình ức chế
và hưng phấn, lấy lại thế cân bằng Có thể xem hoạt động tạo hình là “món ăn tinh thần”, một loại “vitamin” đặc biệt cho sự phát triển tâm lý và sinh lý của trẻ em
Ý nghĩa của hoạt động vẽ đối với việc giáo dục lao động:
Hoạt động vẽ còn có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục lao động cho trẻ em Trong quá trình các em tạo ra sản phẩm, bản thân các em cũng đã hình thành các phẩm chất của người lao động Các em có ý thức bảo quản, giữ gìn dụng cụ lao động, biết yêu quý thành quả lao động và người lao động
Mặt khác khi chuẩn bị cho giờ học vẽ, cô hướng dẫn trẻ cùng tham gia kê bàn ghế một cách cẩn thận, nhường nhịn, giúp đỡ nhau Đối với lớp mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn cô hướng dẫn các cháu trực nhật sắp xếp các vật liệu tạo hình sao cho thuận lợi, gọn gàng và đẹp mắt, không vứt các vật liệu thừa xuống sàn nhà mà phải
để gọn vào một chỗ để sau giờ học sẽ bỏ vào sọt rác Đây là môi trường lý tưởng để hình thành ở trẻ ý thức lao động, lòng yêu lao động