1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ca dao nam bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục

198 5 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ca dao Nam Bộ Dưới Góc Nhìn Văn Hóa Trang Phục
Tác giả Phùng Dương Hạnh
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Trường học Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hóa Nam Bộ lại là sự kết tinh nhiều nguồn văn hóa của các dân tộc Việt, Chăm, Hoa, Khmer,…Con người từ nhiều vùng miền khác nhau đã đem nét văn hóa truyền thống của vùng miền, dân tộ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phùng Dương Hạnh

CA DAO NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA TRANG PHỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phùng Dương Hạnh

CA DAO NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA TRANG PHỤC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh – 2022

Trang 3

hướng dẫn của giảng viên Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực, các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Long An, ngày 23 tháng 11 năm 2021

Tác giả

Phùng Dương Hạnh

Trang 4

hướng dẫn rất nhiệt tình, đầy trách nhiệm của PGS TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc nhất đến cô và kính chúc cô nhiều sức khỏe

Tiếp đến, tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ của Thư viện Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tận tình trong việc tìm kiếm tư liệu nghiên cứu, kiểm tra kết quả trùng lặp

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, quý thầy cô trong khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện học tập, nghiên cứu tốt để học viên hoàn thành khóa học

Sau cùng, tôi chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng hộ tôi hoàn thiện luận văn này Tôi xin trân trọng cảm ơn

Long An, ngày 23 tháng 11 năm 2021

Tác giả

Phùng Dương Hạnh

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt, ký hiệu

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CA DAO VÀ VĂN HÓA TRANG PHỤC NAM BỘ 11

1.1 Đôi nét về đất và người Nam Bộ 11

1.1.1 Lịch sử hình thành đất Nam Bộ 11

1.1.2 Điều kiện tự nhiên vùng đất Nam Bộ 14

1.1.3 Con người Nam Bộ 16

1.2 Đôi nét về văn hóa trang phục ở Nam Bộ 18

1.2.1 Khái niệm văn hóa trang phục 18

1.2.2 Văn hóa trang phục của người Nam Bộ 22

1.3 Đôi nét về ca dao Nam Bộ 24

1.3.1 Khái niệm ca dao 24

1.3.2 Khái niệm ca dao Nam Bộ 26

1.3.3 Đặc điểm nội dung ca dao Nam Bộ 26

1.3.4 Đặc điểm nghệ thuật ca dao Nam Bộ 28

1.4 Tình hình nguồn tư liệu khảo sát 30

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2 NỘI DUNG CA DAO NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA TRANG PHỤC 38

2.1 Đặc điểm của trang phục trong ca dao Nam Bộ 38

2.1.1 Về chất liệu và màu sắc 38

2.1.2 Về kiểu loại 43

2.1.3 Về tình trạng và cách sử dụng 54

Trang 6

2.2.1 Trang phục trong ca dao và lối ứng xử với môi trường tự nhiên của

người Nam Bộ 58

2.2.2 Trang phục trong ca dao và lối ứng xử với môi trường xã hội của người Nam Bộ 63

2.3 Trang phục trong ca dao và quan niệm thẩm mỹ của người Nam Bộ 68

2.3.1 Sự kết hợp giữa tiện lợi và giản dị 68

2.3.2 Sự ưu tiên nét đẹp phẩm chất hơn hình thức 75

Tiểu kết chương 2 79

Chương 3 NGHỆ THUẬT CA DAO NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA TRANG PHỤC 80

3.1 Một vài biểu tượng trong ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục 80

3.1.1 Biểu tượng áo 80

3.1.2 Biểu tượng khăn 95

3.1.3 Biểu tượng nón 99

3.1.4 Biểu tượng kiềng vàng, nhẫn vàng, đôi bông 101

3.1.5 Một vài biểu tượng khác 103

3.2 Một vài công thức truyền thống trong ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục 108

3.2.1 Công thức “Thương, trang phục bình dân, rách/ Không thương, có trang phục tốt, có vàng” 109

3.2.2 Công thức “Lén mẫu thân may áo” 112

3.2.3 Công thức “Nón không lành lặn… mượn tiền… mua nón lành…” 114

3.2.4 Công thức “Áo trắng không vắn không dài/ Sao anh không mặc (bận)….” 118

3.2.5 Công thức “Trang phục tốt, đẹp như rồng…” 120

Trang 7

3.3.1 Cách mở đầu bằng đặc điểm trang phục 123

3.3.2 Cách lập ý “Còn duyên, nón tốt/ Hết duyên, nón thường” 128

Tiểu kết chương 3 131

KẾT LUẬN 132

TÀI LIỆU THAM KHẢO 135 PHỤ LỤC PL1

Trang 8

Nxb Nhà xuất bản

Trang 9

Bảng 2.1 Chất liệu của trang phục trong ca dao Nam Bộ 38

Bảng 2.2 Màu sắc của trang phục trong ca dao Nam Bộ 42

Bảng 2.3 Kiểu loại trang phục trong ca dao Nam Bộ 44

Bảng 2.4 Tình trạng của trang phục trong ca dao Nam Bộ 54

Bảng 2.5 Cách sử dụng trang phục trong ca dao Nam Bộ 57

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tìm hiểu văn học nói chung và VHDG nói riêng dưới góc nhìn văn hoá là cách tiếp cận đã, đang được khẳng định và khá phổ biến Có thể nói ca dao là một trong những thể loại của VHDG biểu hiện rõ nhất đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người Việc tìm hiểu ca dao để góp phần làm rõ những đặc trưng

văn hoá dân tộc là có cơ sở về mặt lý luận và thực tiễn

Là một bộ phận của ca dao Việt Nam, ca dao Nam Bộ đã góp phần diễn tả và

tô điểm thêm vẻ đẹp văn hóa của vùng đất Nam Bộ - một miền đất mới Văn hóa Nam Bộ lại là sự kết tinh nhiều nguồn văn hóa của các dân tộc Việt, Chăm, Hoa, Khmer,…Con người từ nhiều vùng miền khác nhau đã đem nét văn hóa truyền thống của vùng miền, dân tộc mình theo những bước chân của mình đến mảnh đất Nam Bộ, kết thành những giá trị bất tử Nghiên cứu ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa chưa bao giờ là hết sức hút và hết giá trị

Nói đến văn hóa là nói đến những sáng tạo về vật chất và tinh thần của con người Trong những sáng tạo đó, “ăn, mặc, ở” – ba nhu cầu cơ bản và tất yếu của con người - dần dần đã hàm chứa nhiều nét văn hóa đặc sắc chứ không chỉ là những động thái sinh học bình thường nữa Trong đó, trang phục đã trở thành một người bạn đồng hành, vừa để che chở sưởi ấm, vừa thể hiện nhu cầu thẩm mĩ của mỗi cá nhân Từ việc lựa chọn kiểu dáng, chất liệu, màu sắc, cách kết hợp và hoàn cảnh sử dụng trang phục đều hàm chứa những ý nghĩa văn hóa của mỗi vùng, mỗi dân tộc Cũng có nhiều công trình nghiên cứu về các nét văn hóa phong tục, văn hóa ứng xử, văn hóa ẩm thực, văn hóa sông nước,…trong ca dao Nam Bộ và ca dao Việt Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa trang phục trong ca dao nói chung, trong ca dao Nam Bộ nói riêng Vì vậy,

chúng tôi chọn đề tài “Ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục” để góp

thêm một cách tiếp cận về giá trị của thể loại VHDG này ở Nam Bộ Dưới góc nhìn văn hóa trang phục, chúng tôi soi vào tác phẩm ca dao để tìm về cuộc sống sinh hoạt và lao động; tính cách, tâm hồn và những quan niệm thẩm mĩ của ông bà ta thuở trước

Trang 11

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Những công trình nghiên cứu ca dao dưới góc nhìn văn hóa

Từ khi hướng nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa xuất hiện và phát triển, khá nhiều những công trình, bài viết về tác phẩm VHDG dưới góc nhìn văn hóa được ra đời, trong đó thể loại ca dao vẫn được quan tâm bậc nhất

* Về nghiên cứu ca dao người Việt nói chung dưới góc nhìn văn hóa, ta có thể điểm qua các công trình sau:

Năm 2004, Lê Anh Dũng trong “Văn hóa dân gian phản ánh tín ngưỡng tổng

hợp của người Việt” đăng trên trang web http://www.nhipcaugiaoly.com đã trình

bày một cách khái quát về dấu ấn của Lão giáo, Nho giáo và Phật giáo cùng tín ngưỡng thờ Trời của người Việt đã đi vào kho tàng ca dao Việt Nam

Trên website: http://www.vusta.vn/vi/news/, Phan Thị Phượng (2010) trong

bài viết “Bàn về một khía cạnh tâm linh trong ca dao người Việt” đã cung cấp một

cách khái quát về những giá trị tâm linh thiết thực được in dấu trong ca dao người

Việt: “Ca dao cũng là một kho tàng lưu giữ những tín ngưỡng của người Việt từ xa

xưa rất phong phú, không những thế nó còn là pho sách khái quát được cả một vấn

đề lớn của xã hội” Trên cơ sở đó, tác giả đã làm rõ tín ngưỡng thờ cúng trong ca

dao người Việt

Trong luận văn “Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao người

Việt” của Nguyễn Thanh Trang (khóa 2014 của Đại học Khoa học xã hội và nhân

văn Hà Nội), các bài ca dao người Việt được khai thác từ góc nhìn văn hóa ứng xử

Về văn hóa ứng xử trong tình yêu, tác giả tìm ra đủ các cung bậc cảm xúc (hạnh phúc, đau khổ, đơn phương) với các cách ứng xử cụ thể như trách móc, hờn giận, thứ tha, cao thượng,…và những ước mong trong tình yêu của các chàng trai, cô gái qua ca dao Về văn hóa ứng xử trong hôn nhân qua ca dao, tác giả cũng cho thấy được những lối ứng xử tích cực (gắn bó, hòa hợp) lẫn tiêu cực (bội bạc, bất công,…) của người xưa trong các mối quan hệ vợ - chồng, mẹ chồng – nàng dâu,

mẹ ghẻ - con chồng, cha dượng – con của vợ, anh chị em dâu rể,…

Ở phần đầu của công trình “Văn hóa dân gian về tình yêu đôi lứa trong ca dao

người Việt” của Nguyễn Nghĩa Dân xuất bản năm 2015, Nxb Khoa học Xã hội, sau

Trang 12

khi đưa ra các khái niệm văn hóa, văn hóa dân tộc, văn hóa dân gian, định nghĩa ca dao, dân ca, ca dao trữ tình, tác giả đi sâu vào tìm hiểu vấn đề văn hóa dân gian về tình yêu lứa đôi được biểu hiện trong ca dao người Việt

Trong Tạp chí “Ngôn ngữ và Đời sống”, số 4 (234)-2015, Trần Thị Minh Thu

có bài viết “Ẩn dụ về con người trong ca dao Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa”

Tác giả đã tiến hành khảo sát ẩn dụ về con người trong ca dao dưới góc nhìn văn hoá với các biểu tượng hoa, con vật, cây và một số biểu tượng khác (thuyền bến, bờ sông; mây, núi, gió, trăng; hạt gạo, nước cà, bát sứ, bát đàn, của gối chăn, gương lược; giếng nước, cái chuông; cây đa, con đò,…) Qua đó, ta thấy được ca dao đã dùng biểu tượng để nói về con người từ hình thức bên ngoài đến những nỗi niềm thầm kín bên trong, mang nét văn hóa tinh tế trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam

Trong bài viết “Về dạng thức hát kết thúc trong hát đối đáp nam nữ người

Việt”, đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn, số 3(28), tháng 5/2015,

Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã khảo sát các dạng thức kết thúc trong hát đối đáp nam nữ người Việt ở Bắc, Trung, Nam về nội dung và nghệ thuật, chỉ ra một số điểm tương đồng và dị biệt trong những bài này Từ đó, tác giả liên hệ và trình bày vai trò của các dạng thức hát kết thúc trong tổng thể cuộc hát đối đáp, đặc biệt là trong văn hóa người Việt Dạng thức hát kết thúc là biểu hiện cho nét đẹp trong văn hóa giao tiếp người Việt Đó là sự lịch sự, trang trọng, thân thiện, hiếu khách; thái độ trọng tình, trọng nữ, trọng văn

Nguyễn Thị Ngọc Điệp cũng đã có bài viết “Hát mời trong dân ca đối đáp

người Việt dưới góc nhìn văn hóa”, đăng trên Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư

phạm Tp Hồ Chí Minh, tập 14, (2017) Bài viết đã phân tích những đặc điểm về nội dung và ngôn ngữ nghệ thuật của các bài hát mời (trầu, rượu, chè,…) trong dân ca đối đáp nam nữ người Việt Qua đó chúng ta thấy được rất nhiều những nét văn hóa đặc sắc của Việt Nam: văn hóa giao tiếp, văn hóa trầu cau, văn hóa của sự trân quý nghĩa tình,… bài viết đã góp phần lý giải được vì sao ca dao dân ca người Việt lại

có sức hấp dẫn mãnh liệt ở nhiều địa phương qua nhiều thời kỳ lịch sử đến thế

Trang 13

* Riêng về ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa, chúng tôi đã tìm được một

số công trình, bài viết sau:

Đào Văn Hội trong “Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao” do Nhà sách

Khai Trí xuất bản năm 1961, tại Sài Gòn đã phân chia ca dao thành sáu mục: tả cảnh, tu thân, tình gia tộc, phong tục thôn quê, ngoài xã hội và những câu hát vặt Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu phong tục miền Nam trong ca dao

Mai Văn Sang trong bài viết “Đôi nét về “văn minh miệt vườn” trong ca dao

Nam Bộ” đăng trên vanchuongviet.org số ngày 4/9/2005 đã phân tích những nét văn

minh miệt vườn được thể hiện cụ thể và sinh động trong ca dao Nam Bộ từ khung cảnh thiên nhiên, nhà ở, phương tiện đi lại, trong cảnh lao động, sinh hoạt đến lối sống giàu tình nghĩa, mến khách của người dân ở đây

Trong luận văn thạc sĩ “Văn hóa người Việt qua ca dao Nam Bộ” – trường

Đại học Cần Thơ – năm 2010, Cao Minh Liễu đã phân tích biểu hiện của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trong ca dao Nam Bộ cụ thể qua các phương diện: sinh hoạt đi lại – phương tiện giao thông; sinh hoạt lao động sản xuất; sinh hoạt ăn, mặc, ở; phong tục tập quán; tín ngưỡng; tôn giáo; lễ hội và diễn xướng dân gian; tính cách người Nam Bộ

Phan Thị Kim Anh cũng có bài viết về ca dao Tây Nam Bộ dưới góc nhìn văn

hóa giới mang tên “Người phụ nữ Việt miền Tây Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa giới

(khảo sát qua văn hóa truyền khẩu: Ca dao)” đăng trên Tạp chí VHDG số 1/2013

Bài viết nhìn nhận những vẻ đẹp hình thể, tâm hồn của người phụ nữ Tây Nam Bộ, hình ảnh người nữ với tình yêu và tình dục qua ca dao trong thế đối sánh với những

quan niệm về văn hóa giới ở miền Bắc và Trung Trong đó, tác giả nhận định: “Do

cái nhìn thông thoáng hơn về giới, nhất là giới nữ, cho nên người dân miền Tây Nam Bộ đã không ngại phô bày những vẻ đẹp về hình thể và tâm hồn người nữ và qua đó thể hiện niềm tự hào cũng như sức sống của người phụ nữ nơi đây” (Phan

Thị Kim Anh, 2013, trang 38)

Trong “Văn hóa dân gian về tình yêu đôi lứa trong ca dao người Việt” của

Nguyễn Nghĩa Dân (2015) đã giới thiệu ở trên, tác giả còn dành những trang viết đặc biệt để so sánh văn hóa dân gian về tình yêu, hôn nhân và vợ chồng trong hai

Trang 14

vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Qua đó, chúng ta thấy được tinh thần dân chủ, bình đẳng trong tự do yêu đương, hôn nhân, vợ chồng giữa đôi trai gái trong ca dao ở Nam Bộ rõ hơn ở Bắc Bộ và Trung Bộ

Năm 2015, Đoàn Thị Thùy Hương trong luận văn thạc sĩ “Yếu tố sông nước

trong văn học dân gian Nam Bộ (trường hợp ca dao)” – trường Đại học Trà Vinh –

đã đưa ra cái nhìn khái quát về biểu hiện của văn hóa sông nước trong đời sống vật chất và tinh thần của người Nam Bộ qua ca dao

Trong luận văn “Ứng xử của vợ chồng người Việt qua ca dao tục ngữ Nam

Bộ” (trường Đại học Trà Vinh – năm 2015), Lê Kim Chiều đã nghiên cứu văn hóa

ứng xử trong gia đình người Việt qua ca dao, tục ngữ Nam Bộ Công trình giúp chúng tôi thấy được tính chất dân chủ, bình đẳng, khoan hòa trong cách ứng xử của con người đất phương Nam

“Tín ngưỡng dân gian của người Việt” xuất bản năm 2017 của nhà xuất bản

Văn hóa – Nghệ thuật có bài viết “Tín ngưỡng thờ ông Thiên và tính cách người

Việt” (khảo sát qua ca dao – dân ca, tục ngữ miền Tây) của Trần Minh Thương

Bài viết đã khẳng định sức sống mãnh liệt của văn hóa tín ngưỡng trong đời sống tinh thần của người Nam Bộ xưa

Ngô Bích Phượng trong “Ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa phong tục”

(Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ, văn học và văn hóa Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2019) cũng đã từng bước đi vào bề sâu của văn hóa phong tục được ẩn chứa trong ca dao, ở các phương diện phong tục vòng đời con người như hôn nhân và tang ma; phong tục thờ cúng đa thần và thờ cúng người thân trong gia đình

2.2 Những công trình nghiên cứu ca dao dưới góc nhìn văn hóa trang phục

Việc nghiên cứu ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục đã được chú ý khá nhiều, đặc biệt là trong các công trình nghiên cứu ca dao người Việt nói chung; hay nghiên cứu trang phục trong ca dao từ ngôn ngữ, biểu tượng

Công trình “Từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao người Việt” của Lê

Thị Thúy Hiền, luận văn thạc sĩ Lý luận ngôn ngữ, trường Đại học Vinh, 2007 đã tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại và phân tích các đặc điểm cấu tạo, đặc điểm

Trang 15

định danh và đặc trưng ngữ nghĩa – văn hóa của từ ngữ chỉ trang phục nữ giới trong

ca dao người Việt Chúng tôi sẽ tham khảo một số cách phân loại trang phục ở đây

Lê Đức Đồng có bài viết “"Cái ăn", "cái mặc" trong ca dao Đồng bằng sông

Cửu Long” được đăng trên Báo Cần Thơ online (https://baocantho.com.vn/,

10/04/2010 - 20:41) Đây có thể xem là bài viết quan trọng và đề cập trực tiếp đến

“cái mặc” trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, tác giả nhận định sâu

sắc rằng: “Trong ca dao- dân ca vùng ĐBSCL, cái mặc thường được miêu tả đi liền

với cái đẹp, cái tình Chiếc áo bà ba mang những nét đặc trưng của con người Nam

bộ Đó không đơn thuần là chiếc áo quê mà còn mang hồn quê một thuở, mang tâm tình một thuở …Chiếc áo trở thành đề tài của mọi người khi nói về niềm tin, niềm

hy vọng và khát vọng đổi đời” Tuy nhiên, dung lượng bài viết này không nhiều,

việc phân tích ca dao cũng không nhiều

Hà Thị Du trong “Tìm hiểu trang phục người bình dân trong ca dao trữ tình

người Việt” (khóa luận tốt nghiệp khoa Ngữ văn, trường Đại học sư phạm Hà Nội

2, 2011) cũng đã đưa ra những đặc điểm của trang phục trong ca dao từ đặc điểm hình thức (chủng loại, chất liệu, màu sắc) cho đến đặc điểm vùng miền của trang phục người Bắc, Trung, Nam Sau đó, tác giả tiến hành phân tích ý nghĩa biểu đạt của một số hình ảnh trang phục tiêu biểu trong ca dao (dải yếm, chiếc áo, chiếc nón, chiếc khăn) Điểm chung của các hình ảnh trang phục đó là đều biểu đạt cho cái tình Công trình này dù chưa đề cập nhiều đến văn hóa trang phục người miền Nam, nhưng nó mang tính định hướng cao đối với đề tài của chúng tôi trong phương thức tiếp cận, khám phá tầng sâu giá trị của văn hóa trang phục, các biểu tượng trang phục trong ca dao Nam Bộ

Nguyễn Thị Hồng Vân trong bài viết “Trang phục của người bình dân qua ca

dao”, đăng trên trang http://phamngochien.com vào năm 2012, đã có nhiều đóng

góp trong việc nhìn nhận về trang phục của riêng tầng lớp bình dân qua ca dao Việt Nam nói chung mà chúng tôi có thể kế thừa Tác giả đã chú ý và tìm hiểu trang phục của nam giới và nữ giới Trang phục của nam giới gồm có chiếc khố, chiếc quần, áo cánh ngắn tứ thân, áo cánh ngắn năm thân Trang phục của nữ giới gồm

yếm, áo cánh (áo ngắn), áo dài tứ thân, áo dài kép năm thân, thắt lưng, khăn đội

Trang 16

đầu, nón Điểm chung là trang phục của nông dân thường có kiểu dáng, màu sắc, chất liệu phù hợp với công việc đồng áng, có giá thành phù hợp

Phan Thị Kim Anh trong“Người phụ nữ Việt miền Tây Nam Bộ từ góc nhìn

văn hóa giới (khảo sát qua văn hóa truyền khẩu: Ca dao)” đăng trên Tạp chí

VHDG số 1/2013 đã giới thiệu ở trên cũng có đoạn nhận xét về trang phục của nữ

giới trong ca dao Tây Nam Bộ mà chúng tôi cần kế thừa:“Về ăn mặc, …người Nam

Bộ nói chung và người Tây Nam Bộ nói riêng lại nhắc đến hình ảnh chiếc áo bà ba kín đáo, mộc mạc, giản dị gắn liền với cuộc sống lao động chịu thương, chịu khó của họ: “Mỹ An bần chát mà chua/ Chẳng hay người ấy có chua như bần/ Năm ngoái em còn e còn ngại/ Năm nay em kêu đại bằng mình/ Áo bà ba nút ốc chung tình ai may?” (Phan Thị Kim Anh, 2013, trang 38)

Luận văn thạc sĩ Ngữ Văn “Trường nghĩa trang phục trong ca dao người

Việt” chuyên ngành Ngôn ngữ học, trường Đại học Hải Phòng, năm 2014 của Mai

Như Quế đã nghiên cứu một cách có hệ thống về từ ngữ của trường trang phục và phân tích các nghĩa biểu trưng của từ ngữ thuộc trường nghĩa trang phục trong ca dao Việt Công trình giúp ích cho chúng tôi trong việc tìm hiểu các ý nghĩa biểu tượng của trang phục trong ca dao Nam Bộ

Nguyễn Đình Việt với “Ẩn dụ ý niệm “con người là trang phục” trong ca

dao, thành ngữ và tục ngữ Tiếng Việt” in trong Tạp chí Khoa học Trường Đại học

Sư phạm TPHCM, tập 17, số 7 (2020) Bài báo được viết dựa trên việc vận dụng lí thuyết về ẩn dụ ý niệm của Ngôn ngữ học tri nhận để phân tích các ẩn dụ như: con người/ bộ phận; địa vị; hoàn cảnh, tình cảm của con người là trang phục; từ đó, xác lập cấu trúc ẩn dụ ý niệm bậc trên: “Con người là trang phục” trong ca dao, thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt Bài báo cung cấp nhiều định hướng quan trọng cho chúng tôi trong việc tìm hiểu ý nghĩa và nhận ra tư duy, văn hóa của con người nói chung qua trang phục trong ca dao

Qua những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy rằng các tác giả đã tìm hiểu cả chiều rộng và chiều sâu, có cái nhìn hệ thống về văn hóa được biểu hiện trong ca dao Ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục đã được chú ý và nghiên cứu, tuy nhiên, chưa được hệ thống và chi tiết Cho nên khi triển khai đề tài

Trang 17

“Ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục”, chúng tôi vừa kế thừa kiến thức quý giá của người đi trước vừa hệ thống hóa, khơi sâu tìm hiểu và phân tích giá trị của văn hóa trang phục trong ca dao ở Nam Bộ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa là vấn đề đáng quan tâm

và rất đa dạng Tuy nhiên, trong giới hạn về thời gian nghiên cứu, người viết chỉ tiến hành khảo sát, phân tích biểu hiện của văn hóa trang phục trong ca dao người Việt ở Nam Bộ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Với luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu ca dao người Việt ở Nam

Bộ có yếu tố trang phục Cụ thể là phần khảo sát của chúng tôi được giới hạn trong các tư liệu sau đây:

- Tư liệu 1: Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát,

Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb TP Hồ Chí Minh

- Tư liệu 2: Ca dao Đồng Tháp Mười do Đỗ Văn Tân chủ biên, xuất bản năm

1984, Nxb Sở Văn hóa và thông tin Đồng Tháp

- Tư liệu 3: Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long của trường Đại

học Cần Thơ, xuất bản năm 1997, Nxb Giáo dục

- Tư liệu 4: Dân ca trên quê hương Long An do Sở văn hóa thông tin tỉnh

Long An kết hợp với Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tỉnh Long An sưu tầm, biên soạn được xuất bản năm 2003

- Tư liệu 5: Ca dao, hò, vè Vĩnh Long do Nguyễn Chiến Thắng (chủ biên),

xuất bản năm 2005, Nxb Trẻ, Sở Văn hóa thông tin tỉnh Vĩnh Long

- Tư liệu 6: Văn học dân gian Bạc Liêu do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất

bản năm 2011, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

- Tư liệu 7: Văn học dân gian Sóc Trăng do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất

bản năm 2011, Nxb Văn hóa – thông tin, Hà Nội

- Tư liệu 8: Văn học dân gian Bến Tre do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên),

xuất bản năm 2015, Nxb Giáo dục, Hà Nội

Trang 18

- Tư liệu 9: Văn học dân gian Tiền Giang (tập 2) do La Mai Thi Gia (chủ

biên) (2019), NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh

Trong luận văn, chúng tôi chú thích địa chỉ các ví dụ theo qui ước sau: Tư liệu 1: TL1; Tư liệu 2: TL2; Tư liệu 3: TL3; Tư liệu 4: TL4; Tư liệu 5: TL5; Tư liệu 6: TL6; Tư liệu 7: TL7; Tư liệu 8: TL8; Tư liệu 9: TL9 Kèm theo tư liệu là số trang,

ví dụ: TL5, 100, có nghĩa là: ví dụ này nằm ở tư liệu 5, trang 100

4 Đóng góp của đề tài

Việc tiếp cận ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa trước nay phần nhiều là

từ văn hóa ứng xử, văn hóa sông nước, văn hóa miệt vườn,… Công trình nghiên cứu tiếp cận ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục một cách hệ thống

và chi tiết thì vẫn chưa có Vì thế, xuất phát từ mục đích nghiên cứu “Ca dao Nam

Bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục”, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và đi sâu phân tích các biểu hiện của văn hóa trang phục trong ca dao Nam Bộ về mặt nội dung và nghệ thuật; từ đó khẳng định giá trị của ca dao Nam Bộ đối với đời sống VHDG dân tộc nói riêng và đời sống văn hóa Việt Nam nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chính mà chúng tôi sử dụng khi thực hiện đề tài:

- Phương pháp tiếp cận liên ngành: sử dụng kết quả nghiên cứu của các ngành văn hóa học, dân tộc học, … để khám phá các nét văn hóa trang phục trong ca dao Nam Bộ Từ đó, cảm nhận sâu sắc hơn đời sống tinh thần dân gian

- Phương pháp hệ thống: đặt ca dao Nam Bộ trong hệ thống thể loại VHDG Việt Nam nói chung; đặt văn hóa trang phục trong hệ thống văn hóa truyền thống Việt Nam nói chung để có cái nhìn hệ thống, toàn diện và sâu sắc hơn về ca dao Nam Bộ dưới góc nhìnvăn hóa trang phục

- Phương pháp thống kê: sử dụng kết quả thống kê nhằm có số liệu khách quan, chính xác, tạo lập nên cơ sở nghiên cứu ban đầu về ca dao Nam Bộ để có những kết luận khoa học, tránh sự võ đoán

- Phương pháp so sánh: tìm hiểu về nét văn hóa trang phục trong ca dao người Việt ở Nam Bộ trong sự so sánh với ca dao Bắc Bộ và Trung Bộ; với văn hóa trang

Trang 19

phục của người Chăm, Hoa, Khmer; từ đó làm nổi bật được giá trị của ca dao người Việt ở Nam Bộ, văn hóa trang phục người Việt ở Nam Bộ

- Các thao tác nghiên cứu: vận dụng thao tác phân tích, bình luận, tổng hợp, đối chiếu để minh họa cho những lập luận của cá nhân trên cơ sở khai thác phân tích các dẫn chứng trích từ những công trình sưu tầm, biên soạn ca dao Nam Bộ

6 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm ba phần (mở đầu, nội dung, kết luận) Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn của chúng tôi được triển khai thành ba chương

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CA DAO VÀ VĂN HÓA TRANG PHỤC NAM BỘ Trong chương một, luận văn đề cập một số vấn đề có tính khái quát Sau khi giới thiệu về mảnh đất, con người Nam Bộ, khái lược về văn hóa trang phục ở Nam Bộ, người viết tổng thuật các cách giới thuyết về khái niệm ca dao, ca dao Nam Bộ cùng các đặc điểm của ca dao Nam Bộ Cuối cùng, chúng tôi đã điểm qua nguồn tư liệu để khảo sát, phục vụ nghiên cứu Chương này đã tạo nhiều tiền đề

để chúng tôi đi sâu vào các nội dung nghiên cứu ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục ở hai chương tiếp theo

Chương 2 NỘI DUNG CA DAO NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA TRANG PHỤC Chương này tập trung khai thác ca dao người Việt ở Nam Bộ trên các phương diện nội dung dưới góc nhìn văn hóa trang phục Thông qua việc thống

kê, chọn lựa, khảo sát nguồn tư liệu, chúng tôi có thể rút ra kết luận về đặc điểm của trang phục trong ca dao Nam Bộ; từ đó thấy được lối ứng xử với môi trường và quan niệm thẩm mỹ của người Nam Bộ thông qua ca dao Nam Bộ

Chương 3 NGHỆ THUẬT CA DAO NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA TRANG PHỤC Chương này tập trung khai thác ca dao Nam Bộ ở các phương diện nghệ thuật dưới góc nhìn văn hóa trang phục, gồm biểu tượng và các công thức truyền thống

Cuối cùng, sau phần tài liệu tham khảo, luận văn còn có phần Phụ lục về các bài ca dao người Việt ở Nam Bộ được thống kê từ các tuyển tập và được phân loại dựa trên các loại trang phục ở Nam Bộ

Trang 20

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CA DAO

VÀ VĂN HÓA TRANG PHỤC NAM BỘ

1.1 Đôi nét về đất và người Nam Bộ

cổ Phù Nam, sự mở rộng ảnh hưởng của Chân Lạp, sự đấu tranh bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền của các chúa Nguyễn từ thế kỷ XVI-XVIII cũng như vương triều Nguyễn (1802-1945) Vùng đất này đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, với các thời kỳ lịch sử lớn: thời Phù Nam, thời Chân Lạp, đến Đàng Trong của chúa Nguyễn và Nam Bộ của Việt Nam bây giờ

Vào khoảng đầu Công nguyên, nước Phù Nam xuất hiện Phù Nam thời hưng thịnh là một đế chế gồm: toàn bộ phần phía nam bán đảo Đông Dương (Nam Bộ Việt Nam, Campuchia, một phần nam Lào), một phần Thái Lan và bán đảo Malacca, còn trung tâm là vùng Nam Bộ Việt Nam hiện nay Cư dân chủ yếu của khu vực trung tâm này là nhóm người Mã Lai – Đa Đảo ven biển đầy kinh nghiệm hàng hải và tài nghệ làm thủy lợi nên việc khai phá, canh tác vùng đồng bằng trũng thấp này rất thuận lợi

Vào cuối thế kỷ VI, Phù Nam có dấu hiệu suy yếu dần Vào đầu thế kỷ VII, một số nước do người Khmer xây dựng, là thuộc quốc của Phù Nam đã lợi dụng cơ hội này đánh chiếm vào vùng hạ lưu sông MeKong – vùng Nam Bộ Việt Nam Vậy

là, sau 627 năm, vùng đất Nam Bộ từ phụ thuộc Phù Nam chuyển sang bị phụ thuộc vào Chân Lạp Nam Bộ bấy giờ được đổi tên thành Thuỷ Chân Lạp để phân biệt với vùng đất Lục Chân Lạp – vùng đất gốc của nước Chân Lạp Đây là một bước ngoặt mới trong lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ

Trang 21

Sau đó, việc cai quản vùng đất Lục Chân Lạp trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn trong khâu tổ chức khai thác Do người Khmer với dân số ít đã quen sống ở vùng cao, nên bây giờ không có đủ lực lượng, kinh nghiệm và khả năng khai thác vùng đồng bằng rộng lớn, còn ngập nước và sình lầy này Hơn nữa, vào nửa cuối thế kỷ VIII, quân đội nước Srivijaya2 của người Java tấn công liên tục và lấn chiếm Thủy Chân Lạp, làm cho cả Thủy Chân Lạp gần như lệ thuộc vào Srivijaya2 Lúc này, Chân Lạp và Chămpa lại chiến tranh liên miên, việc cai quản và khai phá vùng Thủy Chân Lạp lại càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa Chân Lạp lúc này chỉ dồn sức phát triển ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mekong và mở rộng ảnh hưởng sang phía Tây Dấu ấn Chân Lạp trên vùng đất phía Nam còn lại không nhiều và ảnh hưởng văn minh Angkor ở vùng này cũng không đậm nét Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ vẫn còn thưa thớt; đất đai thì vẫn thế mà còn hoang sơ Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIV, và nhất là thế kỷ XVII, do sự can thiệp của nước Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc, rơi vào thời kì suy vong Dưới tình trạng này, nước Chân Lạp hầu như không có khả năng quản lý, khai thác vùng đất còn ngập nước ở phía Nam nữa Từ đầu thế kỷ XVII, người Việt ở Thuận – Quảng đến Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) đã đến vùng đất dần bị bỏ quên này

mà khai khẩn, lập ra những làng người Việt đầu tiên trên vùng này, mở ra một tương lai đầy hứa hẹn

Cũng từ đó, vùng đất Nam Bộ ngày càng được khai phá nhanh chóng qua các

sự kiện sau: Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho Quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II Từ đó, Chúa Nguyễn trở thành chỗ dựa cho vua Chân Lạp để đối phó với nước Xiêm Năm 1623, người Việt đã có mặt hầu hết ở khắp miền Đông Nam Bộ, Chúa Nguyễn đã lập thương điếm ở vị trí tương ứng với Tp

Hồ Chí Minh ngày nay để thu thuế Đến năm 1628, Chey Chetta II chết, nước Xiêm cùng chúa Nguyễn hỗ trợ cho các phe phái trong chính quyền Chân Lạp đấu đá nhau Người Việt lại thêm lần nữa dễ dàng khai phá những vùng đất hoang ở đồng bằng sông Cửu Long Chúa Nguyễn cũng nhanh chóng thiết lập quyền kiểm soát chính thức của mình ở nhưng nơi đã được khai phá, ổn định Cùng lúc này, một số người trung thành với nhà Minh chống nhà Thanh đến đây, giúp đẩy nhanh hơn nữa

Trang 22

quá trình khai phá vùng đất đồng bằng Nam Bộ Và quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt trên vùng đất Nam Bộ cơ bản đã hoàn thành từ 1757, khi đất Tầm Phong Long (tương đương với vùng Tứ Giác Long Xuyên) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa Nguyễn (để đền ơn chúa Nguyễn giúp họ bảo vệ được cư dân vùng đất Hà Tiên trước quân Xiêm)

Từ thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn đã thực thi chủ quyền bằng cách tiến hành

tổ chức các đơn vị hành chính, lập sổ sách quản lý dân đinh, ruộng đất và lập ra các loại thuế Năm 1698, Phủ Gia Định được thành lập gồm hai dinh là Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định) quản lý hơn 4 vạn hộ Sau năm 1774, Nam Bộ chia thành 4 dinh (Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ, Hà Tiên), dưới là phủ, dưới phủ có huyện, tổng hay xã Từ đó, tổ chức hành chính ở Nam Bộ cơ bản hoàn chỉnh

Như vậy, vùng đất Nam Bộ lúc đầu chỉ là một vùng hoang dại với hệ thống đất đai trũng, úng, sình lầy và sông rạch chằng chịt, bắt đầu từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại trở vào.Tuy nhiên, phải gần một thế kỷ sau, Nam

Bộ mới bước đầu được định hình một vùng văn hóa khi mà chúa Nguyễn tiếp nhận một đoàn người Hoa đến khai phá, định cư ở Biên Hòa – Đồng Nai (cuối thế kỷ XVII) và người dân từ Quảng Bình vào chia đặt doanh, huyện

Năm 1802, Triều Nguyễn được thành lập, tiếp tục sự nghiệp của các chúa Nguyễn Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập sổ địa bạ toàn Nam Bộ Triều định ổn định chính sách chính trị, quân sự, khuyến khích nhân dân phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng thuỷ lợi, phát triển

Cũng từ đó mà Nam Bộ chính là nơi hợp lưu của nhiều lớp, nhiều dòng văn hóa Trước hết là văn hoá Phù Nam (thế kỷ I – VII) rồi đến văn hoá Khmer (thế kỷ VII – XVII) Hai nền văn hóa này đã tiếp thu mạnh mẽ nền văn hoá Ấn Độ Tiếp đến là văn hoá Việt với sự kế thừa văn hoá từ vùng đồng bằng sông Hồng Sau đó, văn hóa Hoa, Chăm cũng có mặt và hình thành những nét văn hóa riêng độc đáo, góp thêm cho văn hóa Nam Bộ những màu sắc mới, sống động hơn Như vậy, theo thời gian, miền đất này đón nhận văn hóa Phù Nam, Khmer rồi sau này là Việt, Hoa, Chăm Các lớp văn hóa này nối tiếp nhau, có khi đan xen nhau, hòa hợp vào nhau theo chiều không gian

Trang 23

Nam Bộ vừa có bề dày tiến trình lịch sử văn hóa lại vừa là vùng đất giàu sức trẻ do các tộc người ở đây đang dày công gây dựng nên Con người ở đây trải qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội trong lịch sử, dần tạo nên những giá trị vùng văn hoá Nam Bộ như hiện nay với những nét đặc thù, đổi mới so với các vùng văn hóa khác ở Việt Nam

1.1.2 Điều kiện tự nhiên vùng đất Nam Bộ

Nam Bộ vốn từng là một vùng đất có rất ít người sinh sống Hầu hết là rừng rậm, cây cối đặc biệt là cổ thụ um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau Đi sâu vào

mới thấy ruộng đồng nhưng còn trống trải, ít cây cối Nhưng chỉ trong vài thế kỉ,

người Nam Bộ đã biến vùng đất hoang vu thành thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Sự khác biệt đó thể hiện ở khung cảnh làng mạc, cấu trúc nhà cửa, cơ cấu xã hội Đặc biệt là sự thay đổi rõ rệt về ngôn ngữ, tính cách, thói quen,…đã tạo nên diện mạo văn hóa đặc sắc riêng cho nơi đây

Nam Bộ bao gồm 2 bộ phận hợp thành là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ (theo

hệ thống phân loại 8 vùng địa lý – kinh tế của Việt Nam) Đông Nam Bộ, có diện tích khoảng 26000km2 nằm trong lưu vực sông Đồng Nai, bao gồm 6 tỉnh, thành phố là: Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu và Tp Hồ Chí Minh Tây Nam Bộ là vùng đất được khai phá muộn nhất trong lịch sử phát triển của đất nước, gồm 13 tỉnh/ thành phố: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau

Hai bộ phận trên của vùng Nam Bộ có đặc điểm khác hẳn nhau Đông Nam

Bộ là vùng đồng bằng cao bao gồm các thềm phù sa cổ, bán bình nguyên đất đỏ ba dan (bazan) Còn Tây Nam Bộ là khu vực đồng bằng châu thổ sông Cửu Long tương đối bằng phẳng ở phía tây Nam Bộ nằm trong lưu vực của hệ thống sông Đồng Nai – Vàm Cỏ và hệ thống sông MeKong Nguồn nước mặt nơi đây khá dồi dào với hệ thống sông ngòi và kênh đào chằng chịt mang nước dàn trải rộng khắp đồng bằng, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp

Đặc biệt, ta cần chú ý đến vùng đất Tây Nam Bộ Theo “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Quốc Vượng thì phía Tây Nam Bộ có diện tích khoảng 4.000 km2,

Trang 24

chủ yếu là vùng đồng bằng, xen với các vùng trũng như Đồng Tháp Mười ở hai bên sông Tiền, tứ giác Long Xuyên ở phía Tây sông Hậu, là những hồ nước thiên nhiên góp phần điều hòa lưu lượng cho sông Cửu Long vào mùa nước nổi tháng 9, tháng

10 Ngoài khơi là vùng biển nông, có nhiều đảo và quần đảo như Côn Sơn, Thổ Chu, Nam Du, Phú Quốc , cùng một vài đầy núi thấp ở phía Tây An Giang, Kiên Giang

Điều kiện địa lý tư nhiên của vùng Nam Bộ tương đối thuận lợi, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng đồng bằng rộng lớn, đất đai màu

mỡ, phù sa của các con sồng Tiền, Hậu luôn được bồi đắp qua các trận lũ hàng năm Bên cạnh đó, khí hậu của Nam Bộ cũng thuận hòa, chỉ hai mùa mưa nắng rõ rệt, không có lũ quét nên lúa và hoa màu luôn đạt năng suất cao trong các vụ canh tác Điều này rất thich lợi cho việc canh tác nông nghiệp lúa nước

Đất phù sa màu mỡ lại còn thêm đất đỏ bazan còn thích hợp tạo nên các vườn trái cây nổi tiếng với các loại đặc sản như sầu riêng, mít, bưởi, măng cụt, vú sữa, chôm chôm, dưa hấu,…; cho phép trồng được cả các loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu phộng, thuốc lá… và cây công nghiệp lâu năm như điều, ca cao,

hồ tiêu, cao su…

Hơn thế, “trên cơ thể tự nhiên của vùng Đất Chín Rồng được tưới tắm bởi

chín con rồng huyền thoại, dòng Cửu Long đã tạo nên một mạng lưới khoảng hơn 5000km sông rạch chằng chịt dọc ngang tựa như hệ mạch máu….” (Nguyễn Đăng

Khánh, 2019, trang 23) Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt giúp người dân đánh bắt, nuôi trồng thủy, hải sản và chế biến các sản phẩm liên quan đến thủy hải sản như khô, mắm,… đem lại nguồn lợi to lớn cho người dân ở khu vực này

Ngoài những ưu đãi của tự nhiên, nơi đây cùng đầy rẫy nhưng khó khăn, thách thức con người bởi đất hoang, phèn chua, nước mặn, nhiều thủ dữ, thiên tai, dịch hoạ,…

Chính môi trường sông nước đặc thù ở Nam Bộ, môi trường trồng lúa nước, cây ăn trái,… đã hình thành nhiều phong tục, tập quán; ảnh hưởng đến cả cách sáng tạo phương tiện đi lại, trang phục, thức ăn, thức uống,…

Trang 25

1.1.3 Con người Nam Bộ

Nhắc đến Nam Bộ là nhắc đến một vùng đất mới, được thiên nhiên ưu đãi, luôn dung nạp những người rời bỏ quê cũ tới đây sinh sống, lập nghiệp Đồng bằng Nam Bộ bao la, trù phú, là công sức khai tạo của người Khmer, người Việt, người Chăm, người Hoa Ít nhất cũng từ ba thế kỷ nay, người Việt, từ Bắc Bộ và Trung Bộ

đã đặt chân tới mảnh đất hoang vu, hiểm độc này, góp sức với những cư dân khác khai phá vùng này Trước tiên đó là những người nghèo lưu lạc, bần cùng bởi chế

độ bóc lột hà khắc của phong kiến, bởi cuộc chiến tranh Nam Bắc phân tranh dài dặc Họ còn là những người lính tráng, tội đồ bị đẩy vào để khai phá, mở rộng bờ cõi, là những kẻ giàu có, bỏ tiền, mộ phụ đi khai phá đất mới làm giàu Như vậy, có hai kiểu người Việt di dân từ miền Bắc và Trung vào miền Nam: một là tự phát, lẻ

tẻ (hoặc có gia đình theo); hai là đi theo các đợt di dân khẩn hoang mà triều Nguyễn

tổ chức Từ khoảng đầu thế kỷ XVI trở đi, đông đảo lưu dân các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm mới lần lượt tiến vào Nam Bộ, chia nhau khai khẩn

Nam Bộ vì vậy là nơi có nhiều thành phần tộc người sinh sống Sự đa dạng về thành phần tộc người phản ánh một bức tranh đa gam màu về các khía cạnh của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cư dân Nam Bộ Quá trình hình thành cộng đồng dân cư ở Nam Bộ gắn liền với quá trình khai hoang lập làng của các cộng đồng dân

cư nơi đây Từ cuối thế kỷ XIX, người Việt ở Nam Bộ đã giao lưu và tiếp biến với văn hoá Pháp Nền văn hoá Nam Bộ từ đó đã hình thành như một kết quả dung hợp giữa cái nền là văn hoá người Việt với những yếu tố tiếp biến từ văn hoá Chăm, Hoa, Khmer và văn hoá phương Tây

Từ những mảnh đất khác nhau, những hành trang văn hóa của đất Thăng Long, vùng Ngũ Quảng và văn hóa Trung Hoa, họ đã cùng nhau hội ngộ ở nơi đây, cùng chạm khắc nên cá tính miền Nam và thuần phong mĩ tục Việt Nam Họ ra đi vì những khắc nghiệt của cuộc sống nhiều thăng trầm biến động, đó là những nông dân nghèo khó nhưng gai góc, những tội đồ bướng bỉnh, những lính thú cứng đầu, và cả những người Hoa không hàng phục nhà Minh Ở họ vừa có cái nền tảng văn hóa nghìn năm nơi quê cha đất tổ, vừa có những thích ứng hòa nhập và biến cải thành một đời sống, tính cách, tâm hồn, tình cảm rất phương Nam

Trang 26

Vùng đất Nam bộ vốn là vùng rừng rậm hoang vu thú dữ tràn đầy, tứ bề hiu quạnh trước khi có sự khai phá của những lưu dân đến từ miền Trung Người đến đây khai phá đối mặt với rất nhiều hiểm nguy và nỗi lo sợ Họ vừa lo sợ trước cảnh tượng lạ lùng khi mới đến, vừa lo sợ thiên nhiên bí ẩn, có cả thú rừng, cọp um, sấu lội, đỉa đeo,… Cảnh tượng hoang vu, hiểm trở này chính là sợi dây gắn kết những con người xa lạ với nhau Họ ý thức được chia rẽ là chết nên phải nương tựa vào nhau, đoàn kết với nhau, tất cả hết lòng vì việc nghĩa Bởi vậy, người Nam Bộ nổi bật nhất là tính cách trọng nghĩa, khinh tài, nhân nghĩa trước sau với nhau trong quan hệ bằng hữu, trong tình làng nghĩa xóm, dân ấp, dân lân

Sống trong điều kiện khó khăn bởi đất hoang, phèn chua, nước mặn, ngày đêm phải lo đối phó với thủ dữ, thiên tai, dịch hoạ , con người Nam Bộ đã được tôi luyện thành người "hành hiệp trượng nghĩa" Họ sẵn sàng hy sinh tính mạng để làm tròn đạo nghĩa Với tính khí "ngang tàng", người vùng này nói một là một, hai là hai, không thay dổi, tình cảm luôn rõ ràng, dứt khoát, họ cũng không thiếu sự siêng năng, hết mình trong công việc, chơi thì cũng "tới bến" Nguyên do chủ yếu vì họ là những người tứ xứ đến vùng đất mới, không có nhiều người thân thích, vì thế mà họ hiểu và luôn thông cảm cho nhau Cũng chính tâm lý này mà người Nam Bộ luôn được đánh giá là có tính hào sảng, hiếu khách, trọng tình nghĩa

Thiên nhiên Nam Bộ khá hào phóng với con người Vùng đất này lại khá dễ dàng cho nhiều nguồn cư dân, tộc người di cư đến nên không có tâm lý phân biệt người chính cư và người ngụ cư như ở các vùng miền khác Vì vậy, họ cảm thấy được tự do, thoải mái; từ đó, hình thành nên sự gắn kết với đất Nam Bộ một cách tự nhiên mà bền chặt Tình yêu dành cho thiên nhiên, quê hương, đất nước đã lớn dần lên trong lòng những người Nam Bộ

Ngoài ra, họ còn có tính năng động sáng tạo, thể hiện rõ ở nhiều khía cạnh khác nhau như thích nghi với cuộc sống khắc nghiệt trên vùng đất mới Vừa tận dụng, vừa ứng phó với thiên nhiên, người Nam Bộ có thể tự sản xuất, tự đáp ứng cho mình mọi nhu cầu cần thiết nhất là ăn, mặc, ở,….Không chỉ tự cung, tự cấp, họ còn biến những hoạt động lao động thường ngày ấy thành nghề Họ sinh sống bởi rất nhiều nghề, chủ yếu là canh tác nông nghiệp lúa nước Bên cạnh đó, họ còn

Trang 27

trồng cây ăn trái, cây công nghiệp ngắn ngày và lâu năm; đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản và có cả các làng nghề thủ công truyền thống như điêu khắc, gốm, tranh sơ mài, chiếu cói, đan lát

Tóm lại, trên vùng đất mới còn hoang sơ, rừng thiêng nước độc, hùm beo, rắn rết đầy rẫy, nếu như con người không phát huy được tính cần lao, dũng cảm vốn có của người dân thì khó có thể tồn tại được Tính chất mới mẻ, hào phóng, cởi mở đã thể hiện ở tính cách, ở nếp ăn ở, mặc, giao tiếp của người Nam Bộ Họ mang trong mình những phẩm chất như yêu nước nồng nàn, hào phóng, hiếu khách, trọng nhân nghĩa, bộc trực, thẳng thắn, linh hoạt, năng động, sáng tạo,…Phẩm chất ấy chi phối rất nhiều đến các thế hệ sau, ảnh hưởng vào mọi mặt của đời sống văn hóa vật chất

và tinh thần Các yếu tố này lại luôn được cải biến để phù hợp hơn với tình hình mới Điều này đã tạo cho người dân Nam Bộ, văn hóa Nam Bộ có những nét độc đáo riêng so với các vùng miền khác

1.2 Đôi nét về văn hóa trang phục ở Nam Bộ

1.2.1 Khái niệm văn hóa trang phục

Về khái niệm văn hóa, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu và công trình nghiên cứu nhắc đến

Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam -

Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa –

Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do

con người sáng tạo ra trong lịch sử” (Nguyễn Như Ý, 1998, trang 1796)

Theo “Cơ sở văn hóa Việt Nam” do Trần Quốc Vượng chủ biên, “Văn hóa

bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ

và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản

và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và

không ngừng lớn mạnh” (Trần Quốc Vượng, 2005, trang 22)

Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương

Trang 28

tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” (Trần Ngọc

Thêm, 1999, trang 10)

Trong “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê (2011), “văn hóa là tổng thể nói

chung những giá trị vật chất và tinh thần của con người sáng tạo trong quá trình lịch sử” (Hoàng Phê, 2011, trang 1406)

Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: “Văn hóa

là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, trang 78,126.)

Như vậy, có thể kết luận rằng văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất, tinh thần, do con người sáng tạo, tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn

Về khái niệm trang phục, theo “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê (2011),

“Trang phục là quần áo dùng riêng cho một ngành, một nghề nào đó” và “Quần áo

là đồ mặc như quần, áo (nói khái quát)” (Hoàng Phê, 2011, tr 1312)

Trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm đã nhận định và phân loại trang phục như sau: “Theo chủng loại và chức năng, trang phục gồm có đồ mặc

phía trên, đồ mặc phía dưới, đồ đội đầu, đồ đi chân và đồ trang sức Theo mục đích, có trang phục lao động và trang phục lễ hội Theo giới tính, thì có sự phân biệt trang phục nam và trang phục nữ.” (Trần Ngọc Thêm, 1999, tr.203)

Từ đó, trong luận văn này, chúng tôi khai thác trang phục ở ý nghĩa cụ thể là những đồ dùng thường ngày để phục vụ cho nhu cầu mặc, làm đẹp của con người như áo, quần, giày, dép, khăn, nón, đồ trang sức,…Đồng thời, chúng tôi còn quan tâm cả đến những chất liệu tạo trang phục như gấm, lụa, vải, vóc,…

Về văn hóa trang phục, các nhà nghiên cứu thường xem xét trang phục và những vấn đề xung quanh cách sáng tạo, lựa chọn, sử dụng trang phục như một phong tục hoặc nằm trong văn hóa ứng xử của con người với môi trường

Trong “Những phong tục độc đáo ở Đông Nam Á”, Ngô Văn Doanh, Vũ

Quang Thiện đã nhắc đến quần, áo như một phong tục: “Nói đến áo, quần nghĩa là

Trang 29

nói đến phong tuc mặc, mà nói đến phong tục mặc nghĩa là nói tới một hiện tượng lịch sử rất phức tạp” (Ngô Văn Doanh, Vũ Quang Thiện, 1994, trang 147) Theo

đó, phong tục mặc phản ánh sinh động các giai đoạn ịch sử của một dân tộc hay một khu vực nên ít nhiều mang tính bảo thủ Tuy nhiên, nó cũng dễ biến đổi theo thị hiếu, theo mốt, theo những tác động từ bên ngoài Đặc biệt hơn, phong tục mặc còn mang các chức năng xã hội, thể hiện rõ sự khác biệt theo tuổi tác, giới tính cũng như địa vị của người mặc

Trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm không gọi chính xác là

“văn hóa trang phục” mà gọi đây là quan niệm “mặc”; xếp “mặc” vào phần lối ứng phó với môi trường tự nhiên Công trình này ghi nhận những quan niệm của con người về mặc và chất liệu may mặc mang đậm dấu ấn đời sống kinh tế, xã hội và lối

tư duy của con người

Trước hết, “mặc” có vai trò rất quan trọng đối với con người sau “ăn” Mặc giúp con người chống lại cái nóng, rét, mưa gió,…thể hiện tư duy thiết thực của con người Ngoài ra, mặc còn có ý nghĩa xã hội quan trọng, với mục đích trang điểm,

làm đẹp cho con người “Ăn mặc giúp con người khắc phục những nhược điểm về

cơ thể, về tuổi tác: Cau già khéo bổ thì non, Nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa”

Và cao nhất, Trần Ngọc Thêm nhận định: “Mỗi dân tộc có cách ăn mặc và trang

sức riêng, vì vậy, cái mặc trở thành biểu tượng của văn hóa dân tộc”. (Trần Ngọc Thêm, 1999, tr.200)

Từ đó, công trình đã nhận định về quan niệm mặc của người Việt Nam Trang phục của người Việt qua các thời đại bị chi phối, ảnh hưởng bởi khí hậu nhiệt đới nóng bức và công việc trồng lúa nước Chất liệu may mặc trong trang phục Việt cũng ghi dấu ấn văn hóa nông nghiệp rõ nét Quan niệm mặc của người Việt Nam

cũng thể hiện tư duy thiết thực “Nhân dân ta nói một cách đơn giản: Được bụng

no, còn lo ấm cật Vì vậy, cũng như trong chuyện ăn, quan niệm về mặc của người Việt Nam trước hết là một quan niệm rất thiết thực: Ăn lấy chắc, mặc lấy bền, và Cơm ba bát, áo ba manh, đói không xanh, rét không chết.” (Trần Ngọc Thêm,

1999, tr.200)

Trang 30

Gần đây nhất, quyển “Giáo dục văn hóa hiện đại cho học sinh trung học phổ

thông” do Bùi Thanh Truyền chủ biên (NXB Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh)

đã đề cập đến trang phục trực tiếp như một dạng văn hóa Khái niệm “văn hóa trang phục” được xác lập rõ ràng:

Văn hóa trang phục là tập hợp các giá trị vật chất và tinh thần của con người trong lĩnh vực đời sống gắn với quần áo và cách ăn mặc Theo nghĩa hẹp, văn hóa trang phục là hệ thống quan niệm, lựa chọn, sử dụng quần áo phù hợp mục đích và yêu cầu người dùng Theo nghĩa rộng, văn hóa trang phục là những giá trị thể hiện qua cách ăn mặc ở những môi trường, hoàn cảnh khác nhau gắn với

sự đánh giá về mặt đạo đức, giá trị (Bùi Thanh Truyền, 2019, tr 91)

Cũng trong công trình này, các tác giả đã đưa ra nhiều đặc điểm của văn hóa trang phục Do là một thành phần của tổng thể văn hóa, trang phục chịu tác động bởi các hệ thống giá trị quyền lực trong xã hội Trước hết, văn hóa trang phục mang đậm dấu ấn giới tính thể hiện ở phong cách, màu sắc, chất liệu và kiểu dáng Nhìn chung thì trang phục nam mang tính thực dụng, phù hợp với đa số tình huống hoàn cảnh, màu sắc thiên về trầm lạnh Ngược lại, trang phục nữ phong phú về kiểu dáng, phân biệt về hoàn cảnh, màu sắc thường có tính ấm nóng Thứ hai, địa vị xã hội cũng tác động sâu sắc đến văn hóa trang phục Thứ ba, yếu tố tôn giáo cũng ảnh hưởng đến văn hóa trang phục

Nhìn chung, theo công trình trên, văn hóa trang phục có ba đặc điểm Đặc điểm cơ bản nhất: CHÂN, tức đúng đắn – đúng nơi đúng lúc Điều này còn làm tăng giá trị giao tiếp, giúp người sử dụng thêm tự tin và trách nhiệm; thể hiện đặc điểm thuận tiện, tốt cho người dùng Đặc điểm thứ hai: THIỆN, tức cái tốt – tốt cho mình, tốt cho người Khi chọn đúng trang phục, người ta có được tâm thế thoải mái và ổn định nhất để tiến hành công việc Tính chất tốt của văn hóa trang phục, ngày nay, còn mang nghĩa rộng hơn – tốt cho môi trường Trước tình trạng nóng lên của trái đất, văn hóa trang phục ưu tiên chọn vật liệu, dùng phụ kiện gần gũi với tự nhiên nhằm giảm thiểu lượng chất thải ra môi trường Đặc điểm thứ ba: MĨ, tức cái đẹp -

kí hiệu, cộng đồng, linh động

Trang 31

1.2.2 Văn hóa trang phục của người Nam Bộ

Trong luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu ca dao người Việt ở Nam

Bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục của người Việt chứ không phải tất cả các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng có quan tâm, so sánh, phân tích về một số ảnh hưởng của văn hóa các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer đến văn hóa dân tộc Việt trong quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa

Do Nam Bộ thường có khí hậu nắng nóng, mưa nhiều nên trang phục của các dân tộc ở đây cũng phải phù hợp với thời tiết, thuận tiện trong lao động và sản xuất Con người Nam Bộ chủ yếu tận dụng thế mạnh của thiên nhiên, đặc biệt là từ nguồn thực vật để chế tạo trang phục đối phó với khí hậu nhiệt đới nóng bức Ngoài ra, việc chế tạo, sử dụng trang phục còn thể hiện được sự sáng tạo, khéo léo, linh hoạt, thiết thực của người dân nơi đây khi sống trong môi trường sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, nắng gắt còn mưa nhiều; trong điều kiện phải canh tác nông nghiệp lúa nước, trồng trọt cây ăn trái, cây công nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản,… trong không gian giao thoa văn hóa Nam Bộ Vì vậy, nhìn vào trang phục ta sẽ biết được mức sống, trình độ văn minh, đặc trưng văn hoá và phẩm chất người Nam Bộ

Về chất liệu may mặc, người bình dân Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng rất chuộng chất liệu tơ tằm Tơ tằm có thể dùng để dệt nên rất nhiều loại vải từ đơn giản đến phức tạp; biến hóa thành rất nhiều loại vải khác như gấm, vóc, lục, nhiễu,… Để tạo nên các mẫu trang trí y phục người ta sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau như dệt, gắn kim loại, hạt màu, thêu hoa văn, vẽ hoa văn trên vải, Tuy nhiên,

ở Nam Bộ, các hình thức trang trí trên quần áo khá đơn giản, thậm chí không trang trí gì đáng kể Thậm chí, trang phục của các dân tộc ít người ở Nam Bộ cũng đơn giản hơn, ít thêu vẽ cầu kì hơn trang phục cũng của các dân tộc này ở vùng khác

Về màu sắc, người Nam Bộ ưa chuộng các trang phục màu trầm, tối, đặc biệt

là màu đen Chất liệu nhuộm màu vải ở Nam Bộ đa phần là từ những nguyên liệu tự nhiên Các màu cánh kiến, màu chàm, màu điều, màu tía, màu xanh, đỏ, vàng, đen,…được nhuộm từ các loại cây điều, chàm, quao, củ nâu, …

Về kiểu loại, nhìn chung, người Nam Bộ không có quá nhiều loại trang phục Trang phục mặc trên chỉ có áo; trang phục mặc dưới có quần Trang phục lao động

Trang 32

và trang phục lễ hội chỉ có sự phân biệt màu sắc nhưng chưa nhiều và chưa cụ thể Trang phục dành cho nam giới và cho nữ giới cũng không khác nhau rõ rệt Phục trang tương ứng là đồ đội đầu (khăn, nón) và đồ trang sức (kiềng, nhẫn, đôi bông),

đồ đi chân cũng ít được chú trọng bởi người lao động chủ yếu đi chân đất

Cư dân Nam Bộ được tiếp xúc với nhiều luồng văn hoá khác nhau nên trang phục của họ cũng chịu những ảnh hưởng đáng kể Ngoài ra, với đặc tính thích cái mới, người Nam Bộ luôn tỏ ra nhanh nhạy theo các xu hướng của thời trang Cũng như đồng bào dân tộc Việt trên khắp cả nước, người Việt ở Nam Bộ từ nhiều đời qua vẫn thướt tha trong tà áo dài truyền thống Tuy nhiên, người Việt ở Nam bộ lại định hình nét văn hóa trang phục của mình với chiếc áo bà ba Có phần giống áo dài, áo bà ba Nam Bộ có hai tà áo nhưng ngắn hơn (qua thắt lưng), hai bên tà áo có túi, phần eo rộng giúp người mặc tự tin, thoải mái trong sinh hoạ Ngoài ra, chiếc áo

bà ba còn kết hợp với khăn rằn, nón lá để trở thành bộ ba bất ly thân của người Nam

Bộ

Chiếc khăn rằn có nguồn gốc từ người Khmer, thường có hai màu đen và trắng đan chéo nhau, tạo thành ô vuông nhỏ, trải dài khắp mặt khăn Người dân thường dùng khăn để đội, quàng, quấn, che, lau mồ hôi, nước mắt,…hoặc tặng cho nhau

Kế tiếp, nón lá được xem là phục sức đội đầu ưa chuộng của người bình dân Nam Bộ Nón lá Nam Bộ thường làm từ lá dừa, có hình chóp nhọn Lá nón được xếp trên một cái khung gồm các nan tre nhỏ uốn thành hình vòng cung, được ghim lại bằng sợi chỉ, hoặc các loại sợi tơ tằm, sợi cước Nón ở Nam Bộ ngoài được đội đầu che mưa, nắng thì còn dùng để quạt mát, làm duyên cho con người

Trong khi đó, người Khmer Nam bộ có nhiều trang phục đi lễ hội, lễ chùa, các

sự kiện trang trọng và trong sinh hoạt đời thường Có thể kể đến như váy xampot,

áo wên, áo srây hoặc áo tằm wong, khăn rằn kama… với màu sắc, hoa văn đặc trưng Đồng bào người Hoa ở Nam Bộ thường mặc áo xá xẩu, quần tiều (người nam) và áo sườn xám (người nữ) Đặc trưng trong trang phục của họ còn ở hoa văn trên vải, cài nút thắt…Phụ nữ Chăm nổi bật với bộ áo dài truyền thống và đặc biệt

là chiếc khăn ma-tơ-ra, vừa kín đáo vừa tạo nét ưa nhìn Đàn ông Chăm cũng mặc váy, đội khăn nhưng trang trí hoa văn, đường nét đơn giản hơn

Trang 33

Dù đặc điểm về trang phục giữa các dân tộc ở Nam Bộ có những nét khác nhau, nhưng không thể phủ nhận, trang phục phụ nữ của cả bốn dân tộc ở Nam Bộ còn có chỗ giao thoa gặp gỡ, rõ nét nhất phải kể đến là chiếc áo bà ba đen Đây có

lẽ là loại áo phù hợp với các điều kiện thời tiết, lao động ở miền đất này Người Khmer mặc áo bà ba phổ biến và thường xuyên như người Việt Phụ nữ Chăm Islam độ tuồi trung niên thì mặc áo bà ba kết hợp với chân váy Còn người Hoa khi làm rẫy cũng hay mặc áo bà ba Qua con đường giao tiếp văn hóa, áo bà ba trở thành chiếc áo tiêu biểu, đặc trưng của vùng Nam Bộ Dần dần, ở miền Nam, phần lớn phụ nữ Khmer đều mặc như phụ nữ Việt Các cô gái trẻ thường mặc quần lụa đen với áo bà ba, hoặc quần âu với áo sơ mi Còn phụ nữ lớn tuổi cũng giống như các bà má nông thôn Nam Bộ, quanh năm mặc bộ bà ba đen cùng với chiếc khăn rằn đội đầu hay vắt vai Khi lễ tết long trọng thì mặc áo dài đen tím cộng với quần đen Đặc biệt, người Khmer Nam Bộ vẫn sử dụng phổ biến chiếc khăn krăma cổ truyền, dệt bằng sợi bông Loại khăn này chính là khăn rằn, được phụ nữ các dân tộc Việt, Chăm rất ưa thích

Nhìn chung, văn hóa trang phục ở Nam Bộ luôn có liên quan đến văn hóa ứng

xử (tận dụng, ứng phó, hài hòa) với môi trường tự nhiên và xã hội Mỹ cảm về trang phục của người Nam Bộ thiên về sự đơn giản mà tiện lợi

1.3 Đôi nét về ca dao Nam Bộ

1.3.1 Khái niệm ca dao

Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa về ca dao như sau:

Dương Quảng Hàm trong công trình Việt Nam văn học sử yếu (1968) cho rằng: “Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn

lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình, phong tục của người bình dân”

Trang 34

Theo Ca dao Nam Bộ (1984): “Ca dao – dân ca trữ tình (hay sinh hoạt) là

những bài ca mà nội dung và hình thức diễn xướng của nó không nhằm mục đích nghi lễ và không kèm những động tác có tính chất nghi lễ” (Nhiều tác giả, 1984, tr

24)

Văn học 10, tập 1, phần Văn học Việt Nam (sách chỉnh lý hợp nhất năm

2000), (Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc, chủ biên) viết:

“Ca dao là lời dân ca tách khỏi điệu nhạc, dân ca là lời thơ dân gian đi kèm với điệu nhạc Tuy nhiên lời và nhạc gắn bó chặt chẽ với nhau Trong văn chương người ta đề cập tơi ca dao dân ca như là thơ dân gian

Ca dao – dân ca bao gồm: dân nghi lễ, dân ca lao động, ca dao – dân ca trữ tình

Ca dao – dân ca trữ tình là tiếng hát “đi từ trái tim lên miệng”, phản ánh trực tiếp những cảm xúc tâm trạng của con người, thái độ cảm xúc của con người đối với thực tại xung quanh Nó là tiếng nói của bản thân chủ thể trữ tình là tất

cả những gì biểu hiện qua chủ thể đó” (Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc, chủ

biên, 2000, tr 10, 11)

Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ ca dao dân ca nhận định: “Ca dao là một loại

thơ dân gian có thể ngâm được như các thể thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca.” (Vũ Ngọc Phan, 1999, tr 42)

Ở phần thứ nhất, chương ba, phần Ca dao trong công trình Văn học dân gian

Việt Nam tái bản lần thứ 12 do Đinh Gia Khánh chủ biên (2009), Chu Xuân Diên

cho rằng: “Ca dao là những bài hát thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay tám câu,

âm điệu lưu loát, phong phú… Theo cách hiểu thông thường, thì ca dao là lời các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành làn điệu dân ca.” (Đinh Gia Khánh, 2001, tr 436)

Từ điển thuật ngữ văn học, (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi

chủ biên, 2007) định nghĩa: “Ca dao còn gọi phong dao Thuật ngữ ca dao được

dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong

Trang 35

trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca” (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử –

Nguyễn Khắc Phi, 2007, tr 31)

Như vậy, xét về bản chất, ca dao và dân ca hầu như không có ranh giới rõ rệt

Dù ca dao được quan niệm rộng hẹp khác nhau nhưng không mâu thuẫn về bản chất Khái niệm ca dao dùng để chỉ phần lời của dân ca, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Hay có thể nói cách khác, ca dao là phần dân ca

đã bỏ đi tiếng đệm, luyến láy nhạc điệu Từ đó có thể hiểu: Ca dao là sáng tác trữ tình dân gian, là sản phẩm chung của cả dân tộc, thể hiện được thế giới nội tâm của

con người, khi diễn xướng thì có thêm âm thanh, nhạc điệu

1.3.2 Khái niệm ca dao Nam Bộ

Từ cơ sở lý luận về ca dao Việt Nam, chúng tôi đề xuất cách hiểu về ca dao Nam Bộ như sau: Ca dao Nam Bộ là những câu ca dao được sử dụng, lưu truyền ở

Nam Bộ hoặc được sáng tác ở Nam Bộ

Ca dao là không gian, là phương tiện mà các dân tộc, vùng miền thể hiện sinh động tính cách, tâm hồn, văn hóa truyền thống riêng của mình Ca dao Nam Bộ cũng thế, cũng sẽ mang âm hưởng riêng của mình Ca dao Nam Bộ tuy ra đời muộn hơn nhưng bản sắc riêng của nó lại khá đậm nét

Về hình thức và nội dung, ca dao Nam Bộ cũng như ca dao các miền khác, vừa có đặc điểm chung của ca dao dân tộc vừa có nét riêng gắn với hoàn cảnh tự nhiên, lịch sử, xã hội, văn hóa, các nét tâm lý, tính cách người địa phương

1.3.3 Đặc điểm nội dung ca dao Nam Bộ

Ca dao Nam Bộ gắn liền với cuộc sống người dân nơi đây: từ không gian sinh hoạt đời thường, dân dã đến không gian sinh hoạt cộng đồng nghi lễ, hội hè; đó là câu hò mênh mang sông nước, đó là bài ca dao đối đáp trong những ngày mùa, đó là câu hát nghi lễ trong ngày hội…

Cùng với ca dao các vùng, ca dao Nam Bộ cũng có các mảng chủ đề chung của ca dao dân tộc Nội dung của ca dao Nam Bộ tập trung thể hiện các chủ đề nằm trong chủ đề phản ánh chung của ca dao các vùng miền khác trên đất nước Việt Nam, bao gồm: tình cảm của con người đối với quê hương, đất nước; tình yêu lứa đôi; tình cảm gia đình; phong tục và các mối quan hệ xã hội

Trang 36

Nội dung của chủ đề về quê hương, đất nước, con người thường tái hiện được những đặc điểm về thiên nhiên, sản vật của mảnh đất Nam Bộ, những đặc điểm về ngoại hình, tính cách của người dân ở một số địa phương Nam Bộ Những bài ca dao này thường phản ánh những công việc như chèo ghe, đương đệm, tát nước, phát

cỏ, kéo gỗ, giã gạo, xay lúa Thông qua đó, chúng ta nhận biết được điều kiện tự nhiên ở Nam Bộ, các kinh nghiệm khai khẩn đất hoang, kinh nghiệm lao động (đặc biệt là nghề trồng lúa nước, trồng cây trái, đánh bắt nuôi trồng thủy hải sản,….) và những khát vọng, mơ ước, tài nghệ của nhân dân nơi đây, hướng đến một cuộc đời yên vui, hạnh phúc, thịnh vượng Từ đó, ca dao Nam Bộ ra đời những bài ca dao miệt vườn, ca dao sông nước, ca dao mở đất,…

Điều kiện sinh sống ở Nam Bộ buộc con người phải gắn bó mật thiết với thiên nhiên Với sự hùng vĩ, trù phú của thiên nhiên vùng Nam Bộ, con người có nhiều cơ hội để hòa mình vào tự nhiên hơn Thiên nhiên hoang sơ trở thành đối tượng chính trong công cuộc khẩn đất, khai hoang và khám phá vùng đất mới Con người và thiên nhiên gắn bó chặt chẽ với nhau trong một tổng thế phức tạp mà cũng thật đơn giản

Ca dao Nam Bộ phản ánh những nét đặc thù của vùng đất cực nam tổ quốc

Đó là hình ảnh chốn rừng rậm, khắc nghiệt: “Cà Mau khỉ khọt trên bưng/ Dưới sông

sấu lội, trên rừng cọp um”; sự giàu có của thiên nhiên “Ai ơi về miệt Tháp Mười/

Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn” và trên hết sự lao động của con người đã biến

mảnh đất hoang vu thành một vùng trù phú với nhiều sản vật nổi tiếng “Bến Tre

giàu mía Mỏ Cày/ Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn/ Bến Tre biển cá, sông tôm/ Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng” Đó là lịch sử đau thương mà

anh dũng “Bần gie đóm đậu sáng ngời/ Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai linh”

Về ca dao tình yêu lứa đôi, tình cảm gia đình và những mối quan hệ xã hội khác; nội dung cơ bản của nó là nhằm bộc lộ tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình, bộc lộ tình yêu tha thiết của họ với người yêu, cha mẹ, anh chị em, con cái, Ca dao Nam Bộ đã ghi nhận tình cảm của con người miền này, một tình cảm xuất phát

từ cuộc sống lao động vất vả nhưng rất đẹp và nên thơ Tình yêu của người lao động

nó giản dị trong sáng, mộc mạc chân thành như chính công việc lao động của họ

Trang 37

Từ đó, chúng ta có thể thấy văn hóa ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với hoàn cảnh sống Hình ảnh con người cùng với mọi cung bậc tình cảm được thể hiện sinh động qua ca dao Những biểu hiện tình cảm đó đã làm nổi bật những tính cách con người Nam Bộ Đó là sự bộc trực, thẳng thắn trong tình yêu

“Anh thương em từ thuở tóc bỏ lòng thòng/ Đến bây giờ một ngọn ba bốn vòng

cũng thương; “Thấy em nhỏ thó lại có duyên ngầm/ Anh phải lòng thầm ba bốn tháng nay”; “Con ếch ngồi dựa gốc bưng./ Nó kêu cái quệt, biểu ưng cho rồi ” Đó

là quan niệm trọng tình nghĩa hơn của cải vật chất bên ngoài: “Mới gặp nhau đây

chớ buông lời nói quẩy/ Tiền tài chẳng trọng mấy em quí nghĩa tào khang/ Miễn anh giữ đặng tấm lòng vàng đừng phai”,… Ngoài ra, đó còn là tính hài huớc lạc

quan, ngang tàng, phóng khoáng:“Đi ra gặp vịt cũng lùa/ Gặp duyên cũng kết gặp

chùa cũng tu”

1.3.4 Đặc điểm nghệ thuật ca dao Nam Bộ

Nằm trong hệ thống của ca dao Việt Nam, nên về hình thức ca dao Nam Bộ cũng như ca dao các miền khác Đó là hình thức lục bát, lục bát biến thể, song thất lục bát, kết hợp với những phương thức diễn đạt được sử dụng nhiều nhất là thể

phú, thể hứng và thể tỉ Đó còn là những công thức truyền thống quen thuộc: “Thân

em như…”, “Chiều chiều…”, “Ai về…”, “Ai lên…”, “Ai vô…”, “Thứ nhất… Thứ nhì…”, “Nhất cao… Nhất sâu…”, “Đâu bằng… Đâu hơn…”, v.v…Tuy nhiên, ca

dao Nam Bộ cũng có những nét riêng trong hình thức thể hiện

Về ngôn ngữ, tác giả dân gian Nam Bộ có lối sử dụng từ ngữ, cách thể hiện ngộ nghĩnh, thẳng thắn, giản dị, chân thật Trước hết, vốn từ của ca dao Nam Bộ được tạo nên bởi kho tiếng Việt toàn dân cùng các từ ngữ địa phương Đó là những

từ gọi tên các sự vật, sản vật mới; là những cách nói bị ảnh hương sâu đậm từ điều

kiện thiên nhiên nơi đây Trong câu “Chồng chèo thì vợ cũng chèo/ Hai đứa cùng

nghèo lại đụng với nhau”, từ “đụng” với ý nghĩa là “lấy nhau”, “kết duyên” cùng

nhau là minh chứng cho lối sử dụng phương ngữ Nam Bộ linh hoạt và đặc sắc Ngôn ngữ trong ca dao Nam Bộ cũng giàu tính so sánh và cụ thể Điều này có liên quan đến đặc điệm về hệ thống hình ảnh trong ca dao Nam Bộ mà chũng tôi sẽ trình bày ở dưới Nhìn chung, ca dao Nam Bộ hay sử dụng cách nói ví von đầy những

Trang 38

hình ảnh về sông nước, vườn cây: “Thân em như cá trong lờ/ Hết phương vùng vẫy

không biết nhờ nơi đâu” Sự mộc mạc, hồn nhiên, dung dị trong ca dao Nam Bộ

còn được tạo nên bởi cách sử dụng từ ngữ giàu tính hài hước, dí dỏm Tình cảm

chân thành của cô gái đang yêu thể hiện vô cùng dí dỏm, mạnh dạn, táo bạo, ít trau

chuốt trong câu: “Chuột kêu chút chít trong rương/ Anh đi cho khéo kẻo đụng

giường mẹ hay” Người bình dân hài hước nhưng rạch ròi trong tình yêu: “Bần gie, bần liệt, diệc đau chờ mồi/ Anh với em duyên nợ hết rồi/ Đi tìm chỗ khác đừng ngồi

kế em” Nhưng cũng có lúc họ đi đường vòng hài hước: “Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh/ Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương”

Ca dao Nam Bộ không thiếu những cách diễn đạt trau chuốt nhưng không nhiều và không đậm như trong ca dao Bắc Bộ Ngôn ngữ, cách nói của ca dao Nam

Bộ từ đó mà hình thành nên giọng điệu ở hai cực đặc trưng: nhỏ nhẹ, dịu dàng, hiền

lành nhưng cũng rất xông xáo, phóng túng, hài hước Bên cạnh đó, do tác động của

môi trường diễn xướng trên sông nước, đồng ruộng mênh mông, mỗi dòng thơ của những câu hò chèo ghe, hò cấy, … có thể kéo dài từ 9 đến hơn 20 chữ Vì vậy thể lục bát, song thất biến thể được ưa chuộng trong ca dao Nam Bộ

Về hình ảnh, trong ca dao Nam Bộ, do ảnh hưởng của điều kiện lịch sử, địa lý, hình ảnh ghe xuồng, sông rạch, tôm cá, cá sấu, cọp, con nước lớn, Châu Đốc, Nam Vang, đèn cầu tàu,…xuất hiện với tần số rất cao Khác với ở Bắc Bộ, những hình ảnh tiêu biểu thường xuất hiện trong ca dao là cây đa, bến nước, mái đình, luỹ tre, cổng làng… Hình ảnh của núi non, rừng rú, biển cả thì thường có trong ca dao Trung Bộ Trong ca dao Nam Bộ, hình ảnh sông nước và ghe xuồng, tôm, cá

thường được nhân vật trữ tình mượn làm cầu nối: “Không xuồng nên phải lội sông/

Đôi lòng nên phải ăn ròng bẹ môn; Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi/ Buôn bán không lời chèo chống mải mê” Ca dao Nam Bộ còn sử dùng nhiều hình ảnh cây bần, cây

mù u, sầu riêng, sầu đâu, trái khổ qua…để gợi nên những cảm xúc về thân phận con

người (vì ý nghĩa đặc biệt toát ra từ tên gọi của chúng): “Bướm vàng đậu đọt mù u/

Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn; Thân em như trái bần trôi/ Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu”,…

Trang 39

Về công thức truyền thống, ca dao Nam Bộ có những hệ thống nhóm chữ riêng, nảy sinh từ ngôn ngữ, cách nói của nhân dân Có thể kể đến là những bài ca

mở đầu bằng “Mảng coi…” biểu hiện nỗi trách hờn Những bài ca mở đầu bằng

“Hai đứa mình…” diễn tả sự gắn bó của đôi lứa Ngoài ra, còn có những kiểu câu

mở đầu như: “Mù u bông trắng lá quắn nhuỵ huỳnh…”, “Lầu nào cao bằng lầu ông

Chánh (hoặc ông Phó)…”, “Ba phen quạ nói với diều…”, “Nước mắm ngon dầm con cá đối (hoặc con hẹ),…”, “Phụng hoàng đậu nhánh vông nem (hoặc cẩm lai)…”, “Sông sâu sóng bủa làng cò…”, “Bần gie đốm đậu sáng ngời…”, Đờn cò lên trục kêu vang…”, Gió nam non thổi lên hang dế (hoặc hang chuột)…”, Khăn rằn nhúng nước ướt mem…”, “Ghe lên ghe xuống dầm dề…” v.v…

1.4 Tình hình nguồn tư liệu khảo sát

Trong quá trình sưu tầm, chúng tôi nhận thấy có khoảng cách khá lớn trong việc lưu giữ ca dao giữa hai tiểu vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ

Ở Đông Nam Bộ, hầu như khá ít những công trình sưu tầm, biên soạn ca dao riêng từng tỉnh nên chúng tôi tìm đọc các công trình địa chí của địa phương:

1 Địa chí Bình Dương (tập 4: Văn hóa – Xã hội), Phan Xuân Biên (2010),

Nxb Chính trị Quốc gia

2 Địa chí Bình Phước (tập 2: Kinh tế – Văn hóa – xã Hội), Lê Hữu Phước,

Giang Văn Khoa (2015), Nxb Chính trị Quốc gia

3 Địa chí văn hóa Tp Hồ Chí Minh (tập 2: Văn học – Báo chí – Giáo dục),

Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (1998), Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh

4 Địa chí Tây Ninh (Chương VI Đời sống Văn hóa – Xã hội), Viện Khoa

học Xã hội Nhân văn Tp Hồ Chí Minh (2006), Sở Văn hóa – Thông tin Tây Ninh Những công trình này được biên soạn công phu, chi tiết về địa lí, lịch sử, kinh

tế đặc biệt là truyền thống văn hóa – văn nghệ địa phương Mục ca dao dân ca được nhắc đến với nội dung chủ yếu là lịch sử vùng đất, vẻ đẹp quê hương và con người

Do đó, số lượng ca dao sưu tầm không đáng kể (tổng khoảng 80 bài); chủ yếu là ca dao về địa danh, ẩm thực chứ không có nhiều yếu tố trang phục trong đó, có vài bài trùng lại trong các tập sưu tầm về ca dao Nam Bộ nói chung mà chúng tôi đã chọn khảo sát phía dưới

Trang 40

Kết quả tìm hiểu về ca dao ở Tây Nam Bộ thì khác hẳn Số lượng, chất lượng các công trình đều đáng giá Mỗi tỉnh đều có những công trình ghi nhận lại lịch sử, địa lí, kinh tế, văn hóa, văn học địa phương, đặc biệt là các tuyển tập ca dao, dân ca

Do thời gian và điều kiện có hạn nên chúng tôi chưa thể tiến hành điều tra điền

dã ở các tỉnh của Nam Bộ Tuy nhiên, nguồn tư liệu ca dao Nam Bộ chúng tôi khảo sát, nghiên cứu cũng là từ những công trình điền dã công phu Từ một số nguồn tài liệu về ca dao Nam Bộ nói chung và các tỉnh ở Tây Nam Bộ, chúng tôi đã tuyển chọn những bài ca dao tiêu biểu, phù hợp với việc nghiên cứu ca dao của người Việt

ở Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa trang phục Tiêu chí lựa chọn các bài ca dao để khảo sát trong luận văn này là những bài có xuất hiện các từ ngữ chỉ kiểu loại trang phục: quần, áo (áo bà ba, áo ngắn, áo dài, áo tơi, áo bành tô, áo sơ mi,,…), khăn (khăn rằn, khắn xéo, khăn mùi xoa, khăn bàn…), nón, kiềng vàng, kiềng bạc, nhẫn, bông tai…) và liên quan đến bộ phận của trang phục (cúc/ nút, khuy, bâu, cổ, tay, vạt, vai, túi áo); chất liệu (vải, lụa, tơ, gấm, thun, vóc, nhiễu, nỉ, lá,….); màu sắc (đen, trắng, xanh, vàng, bạc, hồng, điều, đỏ, tía,…); cách sử dụng (đội, bận, mặc, vắt vai, lau, mang, che, quấn, choàng,…), tình trạng của trang phục (rách, vá, ướt, lành, mới, bung vành, đứt, cũ, phèn, mòn, thay lai, lủng đáy, thưa, hư,…) cùng các hoạt động có liên quan đến trang phục (thêu, dệt, đan, may, kim, chỉ, kéo,…) để hiểu rõ hơn về văn hóa trang phục

Tư liệu khảo sát chủ yếu về ca dao Nam Bộ là các công trình:

- Tư liệu 1: Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát,

Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb TP Hồ Chí Minh Tài liệu gồm 2760 bài ca dao với các chủ đề: tình yêu quê hương đất nước (152 bài); tình yêu nam nữ (1965 bài); tình cảm gia đình (278 bài); tình cảm cha mẹ – con cái (116 bài); các mối quan hệ khác (249 bài) Chúng tôi chọn được 114 bài

- Tư liệu 2: Ca dao Đồng Tháp Mười do Đỗ Văn Tân chủ biên, xuất bản năm

1984, Nxb Sở Văn hóa và thông tin Đồng Tháp Tài liệu gồm 915 bài ca dao với các chủ đề: đất nước- con người Đồng Tháp (65 bài), quan hệ gia đình- xã hội (83 bài), tình yêu- hôn nhân (658 bài), ca ngợi Đảng- Bác Hồ (16 bài), chống thực dân- đế quốc (93 bài) Chúng tôi chọn được 38 bài

Ngày đăng: 31/08/2023, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w